Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản và phổ biến trên thế giới là sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu tr
Trang 1I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Mội vài khái niệm
a Nền kinh tế độc lập tự chủ
Trước đây, khi nói đến nền kinh tế độc lập tự chủ người ta thường liên tưởng tới một nền kinh tế tự lực cánh sinh, “tự cấp tự túc”, biệt lập, khép kín, ít giao lưu hợp tác với bên ngoài, trong đó phải có đủ các ngành kinh tế, phải có cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh, phải tự đảm bảo được mọi nhu cầu trong nước, hay ít nhất phải là những nhu cầu thiết yếu Và chỉ với nền kinh tế như vậy, chủ quyền quốc gia mới được đảm bảo, mới không bị lệ thuộc vào bên ngoài và mới tự quyết định được các vấn đề của đất nước
Đại hội Đảng IX quan niệm rằng ‘Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh:
có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp
lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường ’
Qua đó có thể thấy rằng nền kinh tế độc lập là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước khác hoặc một tổ chức kinh tế nào về đường lối, chính sách phát triển không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ để áp đặt, khống chế, làm hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc
Nền độc lập, tự chủ là nền kinh tế trước biến động của thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế của nền kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn
có khả năng cơ bản duy trì ổn định và phát triển; trước sự bao vây chống phá
Trang 2của các thế lực thù địch vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ, không
bị rối loạn
b Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản và phổ biến trên thế giới là
sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực
và toàn cầu trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo nguyên tắc, quy định chung
Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế trước kia chỉ đơn thuần là những hoạt động giảm thuế, mở rộng thị trường còn ngày nay nó được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế
- tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư
Như vậy hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh ngày nay không đơn thuần là giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế mà đã được mở rộng cho tất
cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế- thương mại, nhằm mục tiêu mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và
vô hình đối với trao đổi thương mại quốc tế từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh
tế như hàng hoá xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt và tăng dần hiệu qủa kinh tế theo quy mô
2 Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang trở thành một xu thế khách quan và tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, không kể nước đang phát triển hay phát triển, nước giàu hay nước nghèo Bước vào thế kỉ XXI, việc hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề mang tính thời đại và mang tính sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Đặc trưng nổi bật của hội nhập kinh
tế là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thế, trong đói
Trang 3mỗi quốc gia là một bộ phận có quan hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú Với nhu cầu không giới hạn của con người, một quốc gia dù lớn, dù giàu đến đâu cũng không thể tự sản xuất, cung cấp tất cả những sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của quốc gia đó.Do đó, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu khách quan trong điều kiện hiện nay
Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc nhau về vốn, công nghệ, nguyên liệu và thị trường, nó tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dân kinh tế phát triển dưới những hình thức ngày càng tinh vi, nguy hiểm không kém gì chủ nghĩa thực dân kiểu cũ Trong xu thế này, quốc gia nào có chiến lược, chính sách, biện pháp và công
cụ quản lý hợp lý sẽ mang lại lợi ích, sự phát triển về kinh tế cho quốc gia đó
và ngược lại sẽ có thể mang lại những kết quả xấu Vì vậy, đi song song với hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có sự thống nhất nhận thức về giữ độc lập,
tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập Đây là một mối lo ngại lớn của các nước đặc biệt là các nước đang phát triển, vì hầu hết các nước này
có xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, khoa học công nghệ còn kém, năng suất lao động còn thấp dẫn đến việc khó tránh khỏi bị lệ thuộc vào các nước có nền kinh tế phát triển, để tránh khỏi những tác động tiêu cực do hội nhập kinh tế quốc tế gây ra, cần xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, vững mạnh chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế đến nền kinh tế của mỗi quốc gia Để làm được điều này, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cần phải phát huy tính độc lập, tự chủ, phát huy nội lực của nền kinh tế, phải lấy nội lực của quốc gia làm yếu
tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế, và cũng cần coi trọng, lợi dụng các yếu tố bên ngoài để hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của nền kinh
tế
Trang 4 Như vậy, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế là 2 quá trình cần diễn ra một cách song song, có sự liên hệ chặt chẽ,
hỗ trợ lẫn nhau
TỰ CHỦ GẮN VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM.
1 Chủ trương của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế.
Chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rõ qua các Văn kiện đại hội Đảng:
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996), khái niệm "hội nhập" được chính thức đề cập cùng với chủ trương: "xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hợp tác nhiều mặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực Tăng cường hoạt động ở Liên hợp quốc, trong Cộng đồng các nước sử dụng tiếng Pháp, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác"
Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) đã chỉ rõ mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường
Đại hội IX nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Đại hội đề ra nhiệm vụ: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh
Trang 5thần phát huy tối đa nội lực, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường
Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) tiếp tục khẳng định "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế", đồng thời "mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác", nhấn mạnh chủ động và tích cực hội nhập kinh tế, còn đối với các lĩnh vực khác chỉ mới chủ trương mở rộng hợp tác
Đại hội XI của Đảng ta đã giải quyết nhiều vấn đề trọng đại, trong
đó có việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 (gọi tắt là Chiến lược 2011-2020) Một trong những nội dung trọng tâm thể hiện cả trong Cương lĩnh 2011 lẫn trong Chiến lược 2011-2020 là đường lối “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) đã xác định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh
Đại hội XII của Đảng đã nêu ra được một số chủ trương cụ thể: Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức; Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật; Nâng cao năng lực cạnh tranh; Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; Tăng cường quốc phòng, an ninh; Nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế; Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc; Giải quyết tốt các vấn đề xã hội; Giải quyết tốt các vấn đề môi trường; Đổi mới
tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
Trang 62 Thực trạng về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
a Thành tựu
Trong 30 năm đổi mới, nhờ ra sức xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử:
Việt Nam đã được Liên Hợp quốc đưa ra khỏi nhóm nước kém phát triển,
đã trở thành nước có thu nhập trung bình Việt Nam là một trong số ít nước chuyển đổi thành công từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước mà vẫn giữ được sự ổn định chính trị - xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô Từ chỗ thiếu lương thực, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới Từ chỗ khan hiếm hàng hóa, hiện nay trên thị trường mọi thứ hàng hóa được mua bán, đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán của nhân dân
và các doanh nghiệp Từ chỗ siêu lạm phát, hiện nay chỉ còn 1 chữ số Một trong những thắng lợi lớn của nền kinh tế nữa, đó là bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư trong sản xuất nông nghiệp Đồng thời, phát huy tính tự chủ của các hộ nông dân, nhờ vậy mà giải phóng được sức sản xuất, tăng nhanh sản lượng hàng hoá, nhất là lương thực - thực phẩm để xoá đói, giảm nghèo và đẩy mạnh xuất khẩu Bộ mặt nông thôn Việt Nam
đã thay đổi rõ rệt về nhiều mặt, tuy chưa đều giữa các vùng
Chúng ta đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế - xã hội Thị trường không ngừng được mở rộng, nguồn vốn tài trợ và đầu tư vào nước ta không ngừng gia tăng Nếu đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước
và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 220 nước và vùng lãnh thổ Tổng kim ngạch ngoại thương đã lớn hơn rất nhiều
so với tổng sản phẩm trong nước Đã thu hút được hơn 200 tỷ USD vốn đầu
Trang 7tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với trên 13 nghìn dự án đã được cấp phép và
đã giải ngân được trên 80 tỷ USD Năm 2013, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng tăng lên với nhiều dự án lớn, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới Trong bối cảnh nguồn vốn tài trợ chính thức cho phát triển (ODA) của thế giới giảm, ta vẫn nhận được hơn 33
tỷ USD viện trợ từ các nước và các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB Trong năm 2011, khi nền kinh tế thế giới phải đối mặt với những khó khăn gay gắt, kim ngạch xuất khẩu của nước ta vẫn tăng trên 30%; các nhà tài trợ vẫn cam kết dành cho Việt Nam khoản tài trợ 7,4 tỷ USD Hiện Việt Nam có 51 nhà tài trợ lớn, trong đó có 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương Kết quả này chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đạt được thành công đáng ghi nhận
Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang trong quá trình đàm phán 6 FTA với những đối tác quan trọng hàng đầu của thương mại thế giới gồm TPP, FTA với EU, Hàn Quốc và các nước trong liên minh thuế quan Nga - Belaruts - Kazakhstan và Hiệp định đối tác kinh
tế toàn diện khu vực Trên phương diện đa phương, các cam kết trong WTO gần như đã được thực hiện đầy đủ và đã có thể có đánh giá tương đối toàn diện, chi tiết tác động của các cam kết gia nhập Trên bình diện khu vực, Việt Nam cũng hội nhập ngày càng sâu với ASEAN, hướng tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 201 Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với một số đối tác quan trọng,
cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động tăng lên rõ rệt Dự kiến trong giai đoạn 2011 - 2020, việc làm mới tạo ra tiếp tục tăng bình quân 2,4
- 2,8%/năm (tương đương 1,1 - 1,3 triệu việc làm) Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm còn 4,78% vào năm 2015 và 4,23% vào năm 2025
Trang 8Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tốc độ tăng trưởng GDP của nhiều quốc gia suy giảm, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được
tỷ lệ tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 tăng 5,42%, cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và năm 2014 tăng 5,98% Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo tiền đề để nước ta phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới”
Sức mạnh về mọi mặt” của đất nước đã tạo tiền đề vật chất - tinh thần quyết định cho việc giữ vững, bảo đảm độc lập, tự chủ của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại
b Hạn chế
Bên cạnh rất nhiều những thành tựu mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong chủ trương về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế còn rất nhiều những hạn chế cần phải khắc phục:
Thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, đôi khi lúng túng
Sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn yếu so với các nước, kể cả nhiều nước trong khu vực
Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm bộc lộ những yếu kém cơ bản của nền kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng vẫn chưa được cải thiện về căn bản
Nhìn chung Việt Nam vẫn là nước nhập siêu “trường kỳ”, đặc biệt từ Trung Quốc, Việt Nam vẫn chưa chủ động trong xuất khẩu khiến Việt Nam
bị “thua” ngay cả ở những mặt hàng có thế mạnh như gạo, cà phê Trên thực
Trang 9tế, Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng đẳng cấp không cải thiện Năng suất, năng lực cạnh tranh chưa có sự cải thiện rõ rệt, nguồn nhân lực vừa thừa (lao động chưa qua đào tạo, thiếu kỹ năng) vừa thiếu (lao động chất lượng cao), chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Thực tế này là một trở lực đối với mục tiêu độc lập, tự chủ về kinh tế
Nguyên nhân chính dẫn đến các hạn chế nêu trên trước hết do các doanh nghiệp chưa thực hiện đúng, đủ, kịp thời các quan điểm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, còn tồn tại tư duy của người sản xuất nhỏ, manh mún Quá trình chuẩn bị các điều kiện cho hội nhập chưa kịp thời, phù hợp
Bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện các dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô: các khoản nợ công, nợ của Chính phủ có xu hướng gia tăng, đe dọa trực tiếp an ninh tài chính quốc gia; tỷ lệ lạm phát cao hơn tỷ lệ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm; hiệu quả đầu tư thấp; sức cạnh tranh của nền kinh
tế không được cải thiện Những điểm đó nói lên rằng, nền kinh tế đã có những bước phát triển nhanh, nhưng nội lực nền kinh tế quốc gia vẫn còn yếu kém và dễ bị tổn thương trước những biến động bất lợi từ bên ngoài Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh không luôn đồng nghĩa với nền kinh tế mạnh, nhất
là khi Việt Nam đang ở trong một thế giới hội nhập và cạnh tranh khốc liệt
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1 Cơ hội và thách thức
a Cơ hội
Chúng ta đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế - xã hội Thị trường không ngừng được mở rộng, nguồn vốn tài trợ và đầu tư vào nước ta không ngừng gia tăng Nếu đầu thập niên 90 của thế
kỷ trước, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 220 nước và vùng lãnh thổ Tổng kim ngạch ngoại thương đã lớn hơn rất nhiều so với tổng sản phẩm trong nước Đã thu hút được hơn 200 tỷ USD vốn đầu tư
Trang 10trực tiếp nước ngoài (FDI) với trên 13 nghìn dự án đã được cấp phép và đã giải ngân được trên 80 tỷ USD
Cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động tăng lên rõ rệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO Dự kiến trong giai đoạn 2011 - 2020, việc làm mới tạo ra tiếp tục tăng bình quân 2,4 - 2,8%/năm (tương đương 1,1 - 1,3 triệu việc làm) Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm còn 4,78% vào năm 2015 và 4,23% vào năm 2020
Với việc chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, nền kinh tế nước ta đã hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu Các cam kết với WTO là khuôn khổ chung để chúng ta đẩy mạnh cải cách trong nước, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó, Ðại hội XI của Đảng (năm 2011) đã nâng tầm chủ trương thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI (tháng 4-2013), để khẳng định rằng hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội
Từ chỗ đứng ngoài, nước ta đã là thành viên của hơn 70 tổ chức khu vực
và thế giới Từ chỗ chỉ có các hiệp định kinh tế song phương dựa trên nguyên tắc lỏng lẻo, nước ta đã tiến tới có các hiệp định kinh tế mang tính thể chế cao hơn trên cả cấp độ song phương, đa phương khu vực và toàn cầu, trong
đó có những hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại Việt Nam -Liên minh châu Âu (VEFTA), thể hiện sự tích cực, chủ động đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng
b Thách thức