1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy luật giá trị và sự biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường

15 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 109,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, muốn thực hiện được điều đó, đòi hỏi nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia là phải được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bất kì một quốc gia nào trên thế giới đều muốn tạo dựng được những chính sách cũng như những chủ trương đúng đắn để phát triển nền kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn, từ đó đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân ngày càng ổn định, phong phú hơn Tuy nhiên, rõ ràng là, những chính sách ấy không phải một sớm một chiều mà có được Thực tế đã cho thấy những khó khăn rất lớn trong việc phát triển kinh tế Bởi vậy, muốn thực hiện được điều đó, đòi hỏi nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia là phải được dựa trên một nền tảng cơ

sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, trong đó quan trọng nhất là quy luật giá trị Quy luật giá trị gây ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, thông qua sự điều tiết của nó đối với nền sản xuất hàng hóa, rồi

từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển nền kinh tế của đất nước Hơn thế nữa, đối với một đất nước đang trước những khó khăn lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế như Việt Nam thì việc áp dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế lại càng quan trọng Vì vậy với vai trò là một

thành viên tương lai của nền kinh tế Việt Nam, em xin chọn đề tài “Quy luật giá trị và sự biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường” để

nghiên cứu và mong rằng có thể áp dụng nó một cách khoa học và hiệu quả

để tối ưu nhất ưu điểm của nó trong tương lai

Vì em còn nhiều hạn chế về kiến thức nên bài tiểu luận của em không tránh khỏi những sai sót về cả nội dung và hình thức Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô để bài tiểu luận thêm phần hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

NỘI DUNG

I TỔNG QUAN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ

1 Khái niệm và nội dung của quy luật giá trị

1.1 Quy luật giá trị là gì?

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất của sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động khách quan, không lệ thuộc vào ý muốn của con người Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này

1.2 Nội dung của quy luật giá trị

Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá và dịch vụ do các doanh nghiệp, những người sản xuất hàng hoá tư nhân sản xuất ra Các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau nhằm giữ vững và mở rộng thêm địa vị của mình trên thị trường Kinh tế thị trường càng phát triển thì quyền lực của thị trường đối với người sản xuất càng mạnh Như vậy, nền kinh tế thị trường có những quy luật kinh tế ràng buộc và chi phối hoạt động của những chủ thể kinh tế

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất, liên quan trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hoá Quy luật giá trị quy định việc sản xuất

và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết Quy luật ấy là khách quan, đảm bảo sự công bằng hợp lý, bình đẳng giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá Quy luật giá trị thể hiện sự vận động thông qua sự vận động của giá cả thị trường Giá cả thị trường lên xuống một cách tự phát xoay quanh giá trị hàng hoá và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hoá

Trang 3

2 Biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường

2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị trường

Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất

và sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả

hàng hoá Để hiểu rõ vấn đề này, cần xem xét những trường hợp thường

xảy ra trên thị trường hàng hoá:

- Trường hợp thứ nhất: Giá cả nhất trí với giá trị (cung và cầu trên thị trường nhất trí với nhau, sản xuất vừa khớp với nhu cầu của xã hội) Do dựa trên chế độ tư hữu, sản xuất hàng hoá tiến hành một cách tự phát, vô chính phủ, nên trường hợp này hết sức hiếm và ngẫu nhiên

- Trường hợp thứ hai: Giá cả cao hơn giá trị (cung ít hơn cầu, sản xuất không thoả mãn được nhu cầu của xã hội nên hàng hoá bán chạy và lãi cao) Do đó, những người sản xuất loại hàng hoá đó sẽ mở rộng sản xuất; nhiều người trước kia sản xuất loại hàng hoá khác cũng chuyển sang sản xuất loại này Tình hình đó làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác

Trường hợp thứ ba: Giá cả thấp hơn giá trị (cung cao hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cầu xã hội, hàng hoá bán không chạy và

bị lỗ vốn) Tình hình đó buộc một số người sản xuất ở ngành này phải rút bớt vốn chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động giảm đi ở ngành này

Như vậy, tư liệu sản xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tự phát vào các ngành sản xuất khác nhau Ở đây ta thấy rằng sự biến động của giá cả xung quanh giá trị không những chỉ rõ sự biến động

về kinh tế mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế Việc điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động trong từng lúc có xu hướng phù hợp với yêu cầu

Trang 4

của xã hội, tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất.

Đó là biểu hiện vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị

Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất mà điều tiết cả lưu thông hàng hoá Giá cả của hàng hoá hình thành một cách tự phát theo quan hệ cung cầu Cung và cầu có ảnh hưởng đến giá cả, nhưng giá cả cũng có tác dụng khơi thêm luồng hàng, thu hút luồng hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao Đây là tác dụng của quy luật ở khâu trao đổi , trong quá trình tái sản xuất thì sự điều tiết này có lợi, bởi vì đó là sự điều tiết từ nơi có nhu cầu thấp đến nơi có nhu cầu cao, giúp phân phối hợp lý các nguồn hàng giữa các vùng kinh tế, giúp cân đối giữa cung và cầu các loại hàng hoá trong nền kinh tế Vì thế, lưu thông hàng hoá cũng do quy luật giá trị điều tiết thông qua sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị

2.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động.

Nếu thời gian lao động cá biệt ít hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết thì người sản xuất hang hóa sẽ thu được lãi, và ngược lại, nếu thời gian lao động cá biệt nhiều hơn thời gian lao động xã hội cần thiết thì người sản xuất hàng hóa sẽ bị lỗ không thu về được toàn bộ lao động đã hao phí Do đó, để tránh bị phá sản và giành ưu thế trong cạnh tranh, mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giảm thời gian lao động cá biệt xuống dưới mức thời gian lao động xã hội bằng cách cải tiến kỹ thuật, hợp

lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động Kết quả là, theo thời gian, kỹ thuật của toàn xã hội được cải tiến Như vậy, quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất và sản xuất phát triển

2.3 Phân hoá những người sản xuất hàng hoá nhỏ và nảy sinh quan

hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết nhưng lại bán hàng hoá

Trang 5

theo mức hao phí xã hội cần thiết nên họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận và mua sắm thêm được nhiều tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh thuê nhiều lao động làm việc và họ trở thành người giàu Ngược lại, những người sản xuất ra hàng hoá có mức hao phí lao động cá biệt hơn hao phí mức lao động xã hội cần thiết thì khi bán hàng sẽ bị thua lỗ, dẫn đến phá sản, trở thành người làm thuê và trở thành người nghèo Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ,

là cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản trong lịch sử

II THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA NƯỚC TA THỜI GIAN QUA

VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI

1 Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị và biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế ở nước ta thời gian qua

Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá Mô hình kinh tế của nước ta được xác định là: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN

1.1 Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị ở nước ta thời gian qua

Mác từng khẳng định ở đâu có kinh tế sản xuất thì ở đó có quy luật giá trị Hiện nay nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn hình thành và phát triển cơ chế thị trường cho nên việc vận dụng quy luật giá trị là một điều tất yếu không tránh khỏi Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, quy luật giá trị lại được phát hiện và áp dụng theo nhiều cách rất phong phú và đa dạng phù hợp với đặc điểm của từng thời kì

Trước khi đổi mới, cơ chế kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập trung bao cấp Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế một cách có kết hoạch mang nhiều yếu tố chủ quan Điều này đã phủ nhận tính khách quan của quy luật

Trang 6

giá trị làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng động của xã hội Nền kinh tế rơi vào tình trạng kém phát triển

Sau khi đổi mới quy luật giá trị được nhà nước vận dụng vào kế hoạch hoá mang tính định hướng Nhà nước phải dựa trên tình hình định hướng giá cả thị trường để tính toán vận dụng quy luật giá trị vào việc xây dựng

kế hoạch Do giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện riêng của giá trị, nhưng

nó còn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khác như quy luật cung cầu Tình hình kinh tế nước ta trong thời gian qua:

a) Tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào tăng trưởng GDP

Nhờ thực hiện đổi mới kinh tế, vận dụng đúng các quy luật kinh tế Từ năm 1991 nền kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng với tốc độ khá cao Từ năm 1998, tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là yếu kém về cơ cấu và thể chế cũng như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á

Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế đã có chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông - lâm - ngư nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2015 ước tính tăng 6,28% so với cùng kỳ năm 2014, trong

đó quý I tăng 6,08%; quý II tăng 6,44% Trong mức tăng 6,28% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,36%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,09%, đóng góp 2,98 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,90%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 8,07% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp tăng thấp ở mức 1,90%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,30%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm

Trang 7

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,53% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng cùng kỳ của một

số năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao với 9,95%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung (đóng góp 1,57 điểm phần trăm); ngành khai khoáng tăng cao ở mức 8,18% (cùng kỳ năm trước giảm 1,13%) Ngành xây dựng tăng 6,60%, cao hơn mức tăng 6,11% của cùng kỳ năm 2014

Trong khu vực dịch vụ, mức tăng của một số ngành có tỷ trọng lớn như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,35% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,90%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,85%; hoạt động kinh doanh bất động sản có cải thiện hơn, đạt mức tăng 2,72%, cao hơn mức tăng 2,51% của cùng kỳ năm trước với những tín hiệu khả quan: Thị trường bất động sản ấm lên, tỷ lệ giao dịch bất động sản thành công tăng, lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm, các điều kiện cho vay mua nhà được nới lỏng

Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế, cũng có những chuyển dịch đáng lưu ý là:

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có hai hình thức

sở hữu, hai loại hình kinh tế chủ yếu là xí nghiệp quốc doanh và tập thể,

chỉ có một ít là loại hình kinh tế cá thể, chưa có kinh tế tư nhân và kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài Nhờ đổi mới, mở cửa hội nhập (bắt đầu từ năm 1986), cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ

Cơ cấu thành phần kinh tế về lao động đang làm việc, nếu năm 1986, lao động khu vực Nhà nước là 15,5%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 84,5% thì đến năm 2013, khu vực Nhà nước chỉ còn chiếm 10,3%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 86,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%

b) Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

Trang 8

Trong nửa đầu của năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 158,6 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, xuất khẩu đạt 77,77 tỷ USD, tăng 9,3% và nhập khẩu đạt 80,84 tỷ USD, tăng 16,7% dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2015 ở mức 3,07 tỷ USD

Các mặt hàng xuất khẩu chính là: các loại điện thoại và linh kiện (14,6

tỷ USD), hàng dệt may (10,26 tỷ USD), dầu thô (4,7 triệu tấn).v.v

Các mặt hàng nhập khẩu chính: máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (11,19 tỷ USD), sắt thép (3,82 tỷ USD), xăng dầu (5.04 triệu tấn).v.v

c) Lạm phát

Từ năm 2004 đến 2011, lạm phát ở nước ta có xu hướng gia tăng, cao điểm đã lên mức 2 con số, do đó, chống lạm phát là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô Song, từ năm

2012 đến năm 2013, lạm phát có xu hướng ổn định dưới mức 7%

Ngay từ đầu năm 2014, Chính phủ đã tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó, kiểm soát lạm phát là một trong những trụ cột quan trọng Kết quả này lại tiếp tục được thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2014, chỉ tăng 1,84% so với tháng 12/2013, chỉ bằng 26,2% chỉ tiêu mức lạm phát của Quốc hội đặt ra (7%) và bằng 37% mức dự kiến lạm phát của Chính phủ (5%)

Nếu xét mức lạm phát bình quân, thì cả năm 2014 so với năm 2013 tăng 4,09%, dù xét theo chỉ tiêu nào, thì kết quả này cũng là điều đáng ghi nhận Đây là mức lạm phát thấp nhất trong 10 năm trở lại đây và khá bất ngờ đối với các dự báo của nhiều cơ quan chức năng, các tổ chức và chuyên gia kinh tế

d) Đầu tư

Trang 9

Vốn đầu tư năm 2013 có sự chuyển dịch theo hướng khai thác các nguồn lực của các thành phần kinh tế ở trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tỷ trọng vốn đầu

tư của khu vực Nhà nước đã giảm từ 54,3% (thời kỳ 1996-2000) xuống còn 39,3% (thời kỳ 2011-2013); của khu vực ngoài Nhà nước tương ứng tăng

từ 24,1% lên 38,1%; của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 15,7% (thời kỳ 2001-2005) lên 22,6% (thời kỳ 2011-2013)

e) Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Một trong những tác động quan trọng nhất của chuyển đối nói chung và của tăng trưởng kinh tế nói riêng là cải thiện chỉ số GDP bình quân đầu người GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028 USD, tương đương 169 USD/tháng, tăng trưởng 5,98% so với năm 2013, cao hơn

so với mục tiêu của Chính phủ đặt ra là 5,8%

Thu nhập của nhóm dân cư tăng đã làm thay đổi chất lượng đời sống của họ: Ngoài chi tiêu cho đời sống hàng ngày, nhiều hộ gia đình còn tích lũy xây dựng nhà ở, mua sắm đồ dùng lâu bền và các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền khác nên chất lượng cuộc sống đã được cải thiện rõ rệt Cũng theo kết quả của các cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình nêu trên thì tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tăng từ 17,2% năm 2002 lên 27,8% năm 2008 và 49,2% năm

2010 Tỷ lệ hộ sinh sống trong nhà tạm giảm từ 24,6% năm 2002 xuống còn 13,1% năm 2010 Tỷ lệ hộ có xe máy tăng từ 32,3% năm 2002 lên 64,8% năm 2008; tỷ lệ hộ có tủ lạnh tăng từ 10,9% lên 31,5%; tỷ lệ hộ có ti

vi màu tăng từ 52,7% lên 86,6%; tỷ lệ hộ có máy vi tính tăng từ 2,4% lên 10,9%; tỷ lệ hộ có máy giặt tăng từ 3,8% lên 13,1%; tỷ lệ hộ có máy điều hòa nhiệt độ tăng từ 1,1% lên 4,4%; tỷ lệ hộ có ô tô tăng từ 0,1% lên 0,4%;

tỷ lệ hộ có điện thắp sáng tăng từ 86,5% lên 97,6%; tỷ lệ hộ dùng nước hợp

vệ sinh cho ăn uống tăng từ 78,1% lên 92,1%

Trang 10

So sánh mức thu nhập giữa thành thị nông thôn và các vùng có sự chênh lệch đáng kể, nếu năm 2002 thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) một tháng ở nông thôn là 275,1 nghìn đồng thì đến năm 2012

là 1579,4 nghìn đồng (gấp 5,74 lần so với năm 2002); còn ở khu vực thành thị TNBQĐN một tháng năm 2012 là 2989,1 nghìn đồng gấp 4,80 lần so với năm 2002 (622,1 nghìn đồng) Mặc dù thu nhập của thành thị vẫn cao hơn ở nông thôn nhưng tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người qua các năm ở giai đoạn này của khu vực nông thôn luôn cao hơn khu vực thành thị.Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị với nông thôn giảm 17,4%; từ 2,3 lần năm 2002 giảm xuống còn 1,9 lần năm 2012 Riêng thời

kỳ từ 2006 đến 2008 hệ số này dường như chững lại, không có sự biến đổi

là do tốc độ tăng thu nhập của 2 khu vực tương đương nhau Tuy nhiên, mức chệnh lệch tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người hàng tháng giữa hai khu vực lại đang ngày càng tăng lên Nếu như năm 2002, chênh lệch này chỉ là 347 nghìn đồng, thì đến năm 2012, nó đã lên đến 1.409,7 nghìn đồng

Năm 2014, dân số Việt Nam là 90,7 triệu người đứng thứ 13 trên thế giới

Lao động nông nghiệp trong các giai đoạn tăng giảm không đều So với năm 2000, lao động nông nghiệp năm 2009 giảm 5.752 người, bình quân hàng năm giảm 12,2% Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực: tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm từ 62,82% năm 2000 xuống 52,27% năm 2005 và xuống 49,2% năm 2009; tỷ trọng lao động ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 26,12% năm 2000 lên 32,1% năm 2005, sau đó giảm xuống 28,0% năm 2009; tỷ trọng lao động ngành dịch vụ tăng liên tục trong cả giai đoạn từ 11,06% năm 2000 lên 22,8% năm 2009

Ngày đăng: 05/05/2020, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w