- Theo định nghĩa của Lênin về vật chất thì: + Vật chất là một phạm trù triết học, tức phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng, đổi mới ở nước ta hiện nay, để có thể xây
dựng được một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” thì tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lớn lao và quan trọng
nhất của Đảng và nhân dân ta Câu hỏi đặt ra là chúng ta phải làm thế nào để thực hiện được mục tiêu đó? Trên thực tế là nước ta đã đi lên Xã hội Chủ nghĩa
và bỏ qua giai đoạn Tư bản Chủ nghĩa, tại Đại hội VII của Đảng ta lần đầu tiên
đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta Có như thế chúng ta mới có thể dần dần tìm hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của Cách mạng Xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình nước ta” Đó là, mọi sách lược, chiến lược cách mạng của chúng ta phải
được xuất phát từ thực tế khác quan, phát huy tính năng động chủ quan và đồng thời chống chủ quan duy ý chí
Trên cơ sở đó, em xin phép được lựa chọn đề tài tiểu luận: “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước
ta hiện nay” Lựa chọn đề tài tiểu luận này, em mong muốn được tìm hiểu kĩ
hơn về Triết học Mác – Lênin phần chủ nghĩa duy vật biện chứng, cụ thể hơn là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức Đồng thời, tìm hiểu sự vận dụng nó vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Trang 2NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Vật chất
- Trước tiên, ta phải tìm hiểu xem “vật chất” là gì? Vật chất là một
phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2.500 năm và có nhiều quan điểm triết học về nó Trong khuôn khổ bài tiểu luận, ta sẽ tìm
hiểu khái niệm “vật chất” theo quan điểm triết học Mác – Lênin Theo V.I.Lênin, “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
- Theo định nghĩa của Lênin về vật chất thì:
+ Vật chất là một phạm trù triết học, tức phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
+ Vật chất tồn tại khách quan, tức tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, dù cho con người có nhận thức được nó hay không
+ Vật chất có thể gây nên cảm giác ở con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
- Quan điểm triết học của Lênin về vật chất đã khắc phục được những thiếu xót của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan điểm về xã hội Chúng ta có thể thấy rằng, định nghĩa triết học của Lênin về vật chất là hoàn toàn triệt để
Trang 3- Sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động, vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm mọi sự biến đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy Thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của nó, vận động của vật chất là tự thân vận động
- Dựa trên thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân
chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: vận động cơ giới, vận động vật lý, vận động hóa, vận động sinh vật, vận động xã hội Các hình
thức vận động cao được ra đời trên cơ sở các hình thức vận động thấp nhưng các hình thức vận động thấp không chứa đựng các hình thức vận động cao Mỗi sinh vật thường chứa đựng nhiều hình thức vận động khác nhau nhưng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất Các hình thức vận động có thể chuyển hóa cho nhau tuân theo quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
- Vận động và đứng im: Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, là sự vận động trong trạng thái cân bằng, trong sự ổn định tương đối, khi mà những tính chất cơ bản của vật chất chưa có sự biến đổi cơ bản, sự vật hiện tượng vẫn là nó, chưa bị phân hóa thành cái khác Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối: một sự vật được coi là đứng
im khi ta xem xét nó trong một quan hệ xác định, một hình thức xác định Đứng im chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian xác định
- Sự tồn tại của vật chất cũng gắn với không gian và thời gian Không gian, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định
và tồn tại trong các mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, v.v… Vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại
Trang 4ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ở ngoài vật chất vận động
1.1.2 Ý thức
- Nguồn gốc của ý thức:
+ Nguồn gốc tự nhiên: nhân tố tạo thảnh nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc của con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người, từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú
và sâu sắc
Sự tác động của thế giới khách quan lên óc người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo
Phản ánh là sự ghi lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
+ Nguồn gốc xã hội: có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của
ý thức nhưng trong đó cơ bản nhất và trực tiếp nhất là nhân tố lao động và ngôn ngữ
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào các đối tượng của thế giới tự nhiên nhằm thay đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu của con người Lao động dẫn đến sự hình thành con người, hoàn thiện các giác quan, quan trọng nhất là trí óc Nhờ lao động mà con người chuyển từ 4 chi sang 2 chi, từ ăn thực vật sang
ăn động vật, từ ăn sống sang ăn chín… Nhờ lao động mà con người
Trang 5phát hiện ra các thuộc tính của sự vật và từ đó nhận thức được chúng
Từ trong quá trình lao động, ngôn ngữ ra đời do nhu cầu giao tiếp
và trao đổi thông tin Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung, truyền tải ý thức Ngôn ngữ là phương thức tồn tại và là công cụ chyển tải tư duy ý thức Ngôn ngữ giúp tổng kết thực tiễn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, truyền lại kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định
sự ra đời và phát triển của ý thức là nhân tố lao động và ngôn ngữ
- Bản chất của ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào
bộ óc con người thông qua hoạt động thực tiễn Theo C.Mác, ý thức
“chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội
1.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.2.1 Vật chất quyết định ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là
sự phản ánh đối với vật chất
- Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức: ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất
Trang 6Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức hoặc là chính bản thân thế giới vật chất, hoặc là những dạng tồn tại của vật chất nên vật chất là nguồn gốc của ý thức
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức: ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thứ được quyết định bởi vật chất
- Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức: sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất quyết định cả nội dung, hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức
1.2.2 Ý thức tác động trở lại vật chất
- Mặc dù ý thức chịu sự tác động của vật chất nhưng bản thân nó lại có tính độc lập, tương đối:
+ Ý thức có thể lạc hậu hơn so với sự biến đổi của thế giới vật chất + Ý thức có khả năng vượt trước dựa trên những tiền đề, điều kiện có thật của thế giới vật chất
+ Ý thức có tính kế thừa tri thức của thế hệ trước đến thế hệ sau
- Ý thức tác động trở lại vật chất mạnh mẽ theo 2 hướng:
+ Nếu ý thức phản ánh đúng các quá trình vật chất và chỉ đạo con người hoạt động theo sự phản ánh đó thì sẽ thúc đẩy quá trình vật chất phát triển
+ Nếu ngược lại mà phản ánh sai lệch thì nó sẽ kìm hãm quá trình vật chất phát triển
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể thấy: không bao giờ và không ở đâu ý thức lại quyết định vật chất Trái lại, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo của ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật
Trang 7chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức
2 Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1 Xuất phát từ thực tế khách quan đề ra đường lối, phương
hướng phát triển phù hợp với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội ở Việt Nam
Theo quy luật khách quan của lịch sử loài người, cũng như Chủ nghĩa Tư bản đã thay thế chế độ phong kiến, Chủ nghĩa Xã hội nhất định
sẽ thay thế Chủ nghĩa Tư bản Ở nước ta, Chủ nghĩa Xã hội cũng sẽ được xây dựng thành công trong sự gắn bó giữa độc lập dân tộc với Chủ nghĩa
Xã hội Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là phải xuất phát từ đâu và đi theo con đường nào? Câu trả lời chỉ có thể là phải xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước Việt Nam và con người Việt Nam, của dân tộc và lịch sử trong bối cảnh khu vực thế giới hiện đại, theo quy luật chung mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu ra
2.1.1 Thực trạng đất nước
Thực tế là nước ta đã đi lên Chủ nghĩa Xã hội từ một nền kinh tế thấp Đó là tình trạng sản xuất nhỏ, kinh tế tự nhiên, kinh tế hiện vật còn khá phổ biến, kỹ thuật thô sơ, thủ công nửa cơ khí Sản xuất hàng hóa còn chưa trở thành phổ biến, thị trường bị chia cắt, thậm chí có nơi, có lúc khép kín cả trong kinh tế đối ngoại Ngoài những yếu tố chủ quan, còn có những yếu tố khách quan dẫn đến tình trạng trì trệ của nền kinh tế như chiến tranh, bối cảnh quốc tế… Song chúng ra vẫn mắc những sai lầm chủ
Trang 8quan trong việc quản lý cán bộ, phát triển lực lượng sản xuất Triết học Mác – Lênin cho ta thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất, thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải Trước tình hình kinh tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh
nghiệm lớn trong đó có: “Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng
và hoạt động theo quy luật khách quan” Đảng đã đề ra đường lối đổi
mới, mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta
2.1.2 Đường lối, phương hướng phát triển rút ra từ thực tế khách
quan
Đảng đã nhận thức được rằng trước thời kì đổi mới, chúng ta đã xem nhẹ thực tế phức tạp khách quan của thời kì quá độ, chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa là quá lình lịch sử lâu dài
và trải qua nhiều chặng đường Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội 10 năm 2001 – 2010 của Đảng ta đã khẳng định: “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có thể tuần tự vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình
độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho khoa học và công nghệ thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu trong phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa học và công nghệ” Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay,
chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp cận nhanh chóng với
Trang 9tri thức và công nghệ mới của thời đại để từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bởi nhân tố con người là nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất
Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Từ đó, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kinh tế của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại đạt tới mức xã hội hóa gắn liền với xây dựng quan
hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Muốn đảm bảo cho nền kinh tế thị trường có điều kiện tồn tại và phát triển, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại một cách tất nhiên
và khách quan của các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh…trong nền kinh tế Vì nó là cái khách quan nên chúng ta phải chú ý không nên đi ngược lại nếu không thì chẳng bao giờ có thể xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Nhưng bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường là: phát triển nhanh lực lượng sản xuất, nâng cao mức sống, mức thu nhập của người lao động lên thì mặt trái của nó trong một vài năm trở lại đây đang biểu hiện ngày một rõ nét Sự chênh lệch thu nhập dẫn đến phân hóa giàu nghèo trong lao động, tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức của một số cán bộ, công chức nhà nước…Trước thực tế đó, Đảng
Trang 10và Nhà nước cần có những biện pháp phân phối hợp lý, không chỉ có phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế mà còn phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn nhân lực khác vào sản xất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Ngoài ra cần có những biện pháp khuyến khích làm giàu một cách chính đáng, điều tiết thu nhập, cải cách cơ bản chế độ tiền lương Đối với người nghèo và có hoàn cảnh khó khăn cần có chính sách xã hội hợp lý, mặt khác cần kiên quyết chống những thu nhập bất chính
Về mặt kiến trúc thượng tầng, chúng ta cũng kế thừa và chọn lọc để xây dựng nhà nước hiến pháp của xã hội chủ nghĩa điều khiển nền kinh tế
thị trường Chúng ta xác định mục tiêu: “Chủ nghĩa Xã hội mà nhân dân
ta xây dựng là một chế độ Xã hội Chủ nghĩa vì con người và do con người” Để tiến hành mục tiêu xây dựng thành công Xã hội Chủ nghĩa
phải gắn liền với tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, phải ra sức
thực hiện các chính xác xã hội Đảng ta đã khẳng định: “Chính xác xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội”, bởi “không có đầu tư nào có lợi như đầu tư cho con người” Chính
sách xã hộ của Đảng được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống: quan tâm chăm sóc đối với những người có công với cách mạng, chính sách đền ơn đáp nghĩa…Trong kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho người lao động, cải cách chế độ tiền lương theo hướn xóa bỏ thu nhập bình quân, tiền tệ hóa tiền lương, khuyến khích tài năng, đầu tư đúng mức cho các ngành: y tế, giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, nghiên cứu khoa học Thực hiện chính sách dân số là một mục tiêu hết sức quan trọng trong điều kiện quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta hiện nay Nhưng dù sao
đó cũng mới chỉ là những chủ trương, đường lối với tình hình trong nước Vậy còn quốc tế thì sao?