Đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với mục tiêu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, thìcon người và ngu
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiệnđại Đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với mục tiêu đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, thìcon người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sựphát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế Nghị quyết đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa”.
Bên cạnh đó, nguồn lực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cảcũng chính là con người - nguồn tiềm năng sức lao động Với những yêu cầu bức thiết
đó, trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hơn lúc nào hết, chúng tacần xem xét nguồn nhân lực Việt Nam đang bộc lộ những ưu điểm, hạn chế, và cầnkhắc phục như thế nào để xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao chấtlượng người lao động, phát huy nhân tố con người, phục vụ tốt nhất cho sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người, đặc biệt là trong sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, em đã chọn đề tài tiểu luận: “Quan điểm của triết học Marx – Lenin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở nước ta” để nghiên cứu Dù đã có
nhiều cố gắng và tìm tòi, song do kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận không tránh khỏinhững thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được phản hồi cũng như sự giúp đỡ của cô vàcác bạn để hoàn thiện bài tiểu luận hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA MARX – LENIN VỀ CON NGƯỜI
1 Khái niệm con người
Triết học Marx – Lenin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triếthọc, đồng thời khẳng định con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể
xã hội Hai yếu tố này gắn kết và thống nhất với nhau, trong cái tự nhiên chứa đựngtính xã hội và không có tính xã hội tách rời tự nhiên
Trước hết, tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩmcủa giới tự nhiên Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sựtồn tại của con người Yếu tố đó bao gồm cơ thể, nhu cầu của cơ thể và những quy luật
sinh học chi phối đời sống cơ thể con người Bởi vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”, con người là một bộ phận của tự nhiên.
Tiếp đó, đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với loài vật là mặt xã
hội Mặt xã hội bao gồm “tổng hòa những quan hệ xã hội”, những hoạt động xã hội,
đời sống tinh thần của con người Với biện pháp biện chứng duy vật, triết học Marxnhận thức vấn đề con người trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết làvấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất; hoạt động sản xuấtbiểu hiện tính xã hội của con người Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo racủa cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngônngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hìnhthành bản chất xã hội của con người
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển củacon người luôn luôn bị quyết định bởi hệ thống ba quy luật khác nhau, nhưng thốngnhất với nhau:
- Những quy luật quy định phương diện sinh học của con người
- Những quy luật hình thành hệ thống tâm lý, ý thức
- Những quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người
Trang 4Ba hệ thống trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sốngcon người, bao gồm cả mặt tự nhiên và mặt xã hội Mối quan hệ giữa hai mặt đó là cơ
sở hình thành hệ thống nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người,như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm
mỹ và hưởng các giá trị tinh thần
Trang 5Với phương pháp biện chứng duy vật, chúng ta thấy rằng hai mặt tự nhiên và xãhội trong con người có quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau Trong đó, mặtsinh học là nền tảng vật chất tự nhiên của con người, nhưng mặt xã hội mới giữ vai tròquyết định bản chất của con người Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vàonhau để tạo thành con người tự nhiên – xã hội.
2 Bản chất con người
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, trong tác phẩm “Luận cương về Fruerbach”, K.Marx đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.
Khi khẳng định bản chất xã hội của con người, triết học Marx – Lenin không phủnhận mặt tự nhiên trong đời sống con người, nó chỉ nhấn mạnh sự phân biệt giữa conngười với động vật trước hết ở bản chất xã hội
Luận đề trên chỉ rõ: con người vượt lên trên thế giới loài vật ở cả ba phương diệnkhác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính con người.Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ, con người mới thực sự bộc lộ bản chất xã hội củamình Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người
đã tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại, cũng như phát triển cả thể lựclẫn tư duy trí tuệ
Sự hình thành và phát triển đó là quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chấtcủa con người:
- Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Marx nhận thức vấn đề conngười trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất racủa cải vật chất Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khibắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức
cơ thể của con người quy định
- Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sốngvật chất của mình Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã thay đổi, cảibiến và tái sản xuất toàn bộ giới tự nhiên Tính xã hội của con người biểu hiện tronghoạt động sản xuất vật chất, và hoạt động đó là biểu hiện căn bản tính xã hội của conngười Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải, vật chất
và tinh thần để phục vụ đời sống của mình; hình thành, phát triển ngôn ngữ và tư duy;xác lập những mối quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành
Trang 6bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộngđồng xã hội.
Trang 73 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.Với tư các là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cảibiến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội
Trong quá trình cải biến giới tự nhiên, con người cũng làm nên lịch sử của chínhmình Con người là sản phẩm của lịch sử, nhưng cũng đồng thời là chủ thể sáng tạo ralịch sử của chính bản thân mình Bản chất của con người không phải là một hệ thốngđóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người K.Marx
đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của nhưng hoàn cảnh và của giáo dục quên rằng bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Angels cũng cho rằng: “Con người càng cách xa con vật (hiểu theo nghĩa hẹp) bao nhiêu thì lại càng tự làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải cho hoàncảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Con người tiếp nhận hoàn cảnh một cáchtích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau Đó là biệnchứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào củalịch sử xã hội loài người
II VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện
đại hóa ở nước ta hiện nay
1.1 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Theo quan điểm của Đảng ta, công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi một cáchcăn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xãhội, từ sử dụng lao động thủ công sang lao động với khoa học công nghệ tiên tiến, hiệnđại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm gắn liền với hiện đại hóa, bởi cuộc cáchmạng khoa học đã và đang diễn ra một số nước phát triển, chuyển dịch từ nền kinh tếcông nghiệp sang nền kinh tế tri thức Do đó, chúng ta cần phải tranh thủ ứng dụng cácthành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức để hiện đại hóanhững ngành, những khâu và những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt
Trang 86
Trang 91.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Người ta đã tổng kết ra hai con đường công nghiệp hóa khác nhau: Công nghiệphóa cổ điển và phi cổ điển Do có xu hướng rút ngắn thời gian hoàn thành, nước ta đitheo con đường công nghiệp hóa phi cổ điển Nói tới nhân tố quan trọng nhất trong quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, người ta vốn chỉ nhắc đến công nghệ hiện đại,nhưng kinh nghiệm của các nước đi theo con đường công nghiệp hóa phi cổ điển chothấy đó phải là con người
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là xu hướng phát triển của thế giới và cũng là con
đường tất yếu để nước ta đạt mục tiêu “Xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh” Sự thành công của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đòi hỏi ngoài môi
trường chính trị ổn định, còn phải có nguồn lực cần thiết như nguồn nhân lực, vốn, tàinguyên thiên nhiên và cơ sở vật chất Những nguồn lực này có mối quan hệ chặt chẽ
và cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhưng mức tác động vàvai trò của chúng lại không hề giống nhau Trong đó, nguồn nhân lực chính là độnglực phát triển Nguồn nhân lực có đủ về số lượng và mạnh về chất lượng thì côngnghiệp hóa - hiện đại hóa sẽ tất yếu phải tiến hành để đáp ứng điều kiện đó
Khi đặt nguồn nhân lực trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác và mức độchi phối của nó đến sự thành bại của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò quyết địnhcủa con người được biểu hiện ở những điểm sau:
- Trước hết, những nguồn lực đóng vai trò lớn trong sự phát triển của một quốcgia như vốn, tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý đều chỉ phát huy tác dụng khi kếthợp với nguồn lực con người, bởi con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, biết lợidụng và gắn kết chúng lại thành một sức mạnh tổng hợp Vì thế, người lao động là yếu
tố quan trọng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
- Thứ hai, các nguồn lực khác đều có thể bị cạn kiệt khi khai thác, nhưng nguồn lựccon người, mà cốt lõi là trí tuệ, lại là vô tận Điều đó biểu hiện ở chỗ nó không chỉ có khảnăng tự sản sinh về lượng, mà còn đổi mới và phát triển không ngừng về chất khi
được chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức của con người có quá trình phát triển vô tận
- Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn khi nó trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp Sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đangđưa các nước công nghiệp đến nền kinh tế trí tuệ Ở những nước này, lực lượng sảnxuất trí tuệ ngày càng phát triển và chiếm tới ½ tổng giá trị tài sản Giờ đây, sức mạnhcủa trí tuệ đạt đến mức con người có thể tạo ra những máy móc mô phỏng theo đặctính trí tuệ của chính mình Rõ ràng, nhờ những công nghệ và kỹ thuật hiện đại do conngười sáng tạo ra mà nhân loại đang chứng kiến sự biến đổi thần kỳ từng ngày
Trang 10- Cuối cùng, kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy sự thành công của công nghiệp hóa
- hiện đại hóa phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách, cũng như
tổ chức thực hiện, nghĩa là năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Trang 11Nguồn lực con người là yếu tố quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Câu hỏi công nghiệp hóa - hiện đại hóa thành công hay thất bại chỉđược trả lời khi yếu tố con người được đáp ứng Vì thế, giải phóng tiềm năng conngười để phát huy tối đa nguồn nhân lực là một trong những quan điểm đổi mới cótính đột phá trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổimới Việc định hướng đi vào sự phát triển con người và từ đó quyết định sự phát triểncủa mọi mặt đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều.
2 Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn nhân lực
có hiệu quả ở nước ta hiện nay
2.1 Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phù hợp theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau hơn 20 năm đổi mới, từ một nền kinh tế thấp kém, nước ta đã đi lên chủnghĩa xã hội với những thay đổi quan trọng, sở hữu nền kinh tế tương đối phát triển và
có vị thế được nâng cao trên trường quốc tế Tuy nhiên, trình độ người lao động - yếu
tố độc nhất của lực lượng sản xuất, vẫn còn hạn chế và chưa đáp ứng được công cuộcxây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Về kết quả đã đạt được, trong những năm qua, nền kinh tế - xã hội phát triển vànăng suất lao động cao đã cải thiện đáng kể đời sống nhân dân Việt Nam Đảng đãquan tâm tới Giáo dục đào tạo, khẳng định đây là quốc sách hàng đầu nhằm tạo điều
kiện thuận lợi để cả nước trở thành “một xã hội học tập” Trong quá trình học tập,
giảng dạy, các biện pháp “phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong họcsinh, sinh viên để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” đãđược thực hiện Do trình độ học vấn được nâng lên và quan hệ xã hội, giao lưu quốc tếđược mở rộng, nên tính tích cực xã hội, tính tự chủ và sự năng động, sáng tạo của conngười Việt Nam cũng ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạnchế Trước hết, chúng ta quá đề cao mặt xã hội mà nhẹ mặt tự nhiên, không quan tâmđúng mức tới nhu cầu vật chất và lợi ích cá nhân người lao động Có những nơi đồnghóa lợi ích cá nhân với chủ nghĩa cá nhân, nên đã không phát huy được tính tích cực
xã hội của người lao động, khiến vai trò cá nhân bị lu mờ và tài năng cá nhân khôngđược khuyến khích
Thứ hai, tình trạng quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ đang làm giảm
sự nhiệt tình và hăng say trong lao động, tác động không nhỏ tới niềm tin và sự phấnđấu rèn luyện của thế hệ trẻ ngày nay Cơ cấu đào tạo chưa hợp lý giữa các ngành, cácbậc học dẫn tới tình trạng vừa thừa vừa thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn cao Nhìnchung, việc đào tạo và sử dụng cán bộ ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, những nơi
Trang 12cần thì không có, còn những nơi có thì có quá nhiều, tạo ra sức ép và gây ra sự lãngphí rất lớn cho xã hội.
8
Trang 13Thứ ba, sự kết hợp các nguồn lực ở nước ta còn nhiều hạn chế Khí hậu Việt nam rấtthuận lợi cho việc trồng các loại cây nông, công nghiệp, nhưng hiệu quả khai thác đất đaicòn thấp, trong khi sức lao động ở Việt Nam còn dôi dư khá nhiều Tình trạng thiếu việclàm ở nông thôn, thất nghiệp ở thành phố đang gây ra sự lãng phí lớn về nguồn lực conngười ở nước ta hiện nay Cụ thể, tỉ lệ thất nghiệp năm 2009 là 5,1%, trong đó
ở nông thôn lên tới 6,1%, còn ở thành thị là 2,3% Ngoài ra, trên cả nước có 40.348 laođộng ở các làng nghề bị mất việc và khoảng 100.000 người khác phải giảm giờ làm,nghỉ luân phiên
Thứ tư, năng lực lao động của người Việt Nam còn hạn chế, số người đã qua đàotạo còn thấp, chủ yếu vẫn là lao động giản đơn Chất lượng đào tạo nguồn nhân lựccòn nhiều yếu kém, chương trình học không phù hợp với thực tế, khiến sinh viên thụđộng, thiếu sáng tạo hoặc đi làm trái ngành Người lao động chưa có tác phong côngnghiệp, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật và sở hữu cơ cấu trình độ chuyên môn bất hợp lý
Trước thực trạng đó, việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực - yếu tố quyếtđịnh sự thành công của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa có hiệu quả là mộtvấn đề bức thiết, nhất là trong thời đại khoa học công nghệ hiện nay Nếu chúng takhông nỗ lực một cách phi thường trong việc này thì sự nghiệp công nghiệp hóa – hiệnđại hóa khó có thể được thực hiện thành công Đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoahọc kêu gọi phải tiến hành một cuộc cách mạng về con người, mà thực chất là cáchmạng về lao động
2.2 Phát triển nguồn nhân lực cũng là yêu cầu và xu thế chung của
thế giới
Ngày nay, khi mà loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học công nghệlần thứ ba, thì nhân tố con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình pháttriển Phát huy yếu tố nguồn nhân lực là xu thế chung toàn cầu
Nguồn nhân lực có dồi dào hay không là do chính sách đào tạo Đào tạo, pháttriển nguồn nhân lực đòi hỏi trở thành quốc sách hàng đầu với các quốc gia Các nướcphát triển lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo hoặc tranh giành ngườitài với các nước khác Các nước đang phát triển phải tăng cường đầu tư kinh phí chokhoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máy chấtxám bằng những chính sách ưu đãi thích hợp
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển kinh tế, chúng tacũng cần hội nhập với nền kinh tế thế giới Nước ta đã tham gia rất nhiều tổ chức kinh
tế như ASEAN, APEC hay WTO, nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Do đó,việc nắm được hoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại để chủ động trong quá trình sảnxuất, kinh tế đối ngoại rất quan trọng Chúng ta phải xác định rõ ràng những chínhsách thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực