Năm 1982, đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kì 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mấ
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong quá trình CNH-HĐH đất nước, quá trình phát triển quá độ của
xã hội cùng với những công nghệ tiên tiến vượt bật Việc sản xuất hàng hóa với chất lượng và số lượng không ngừng được thay đổi Sản xuất hàng hóa
là một quá trình tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Năm 1982, đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kì 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầu của xã hội đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn" điều này chứng tỏ chúng ta chưa có nền sản xuất hàng hóa hoàn hảo Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường và nền sản xuất hàng hóa tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản đã đạt đươc những thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động Cũng nhờ sản xuất hàng hóa, quản lý xã hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế với khả năng sáng tạo, sự thách thức và đua tranh phát triển Trước tình hình đó, trong Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường và nền sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Bước những bước đầu tiên vào nền kinh tế thị trường đầy khó khăn, phức tạp, nền kinh tế đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân nhắc, sáng tạo, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam Chính vì vậy viêc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của sản xuất hàng hóa là một viêc làm giúp
ta hiểu sâu hơn về quá trình ra đời của hàng hóa Từ đó liên hệ đối với bản thân và đối với nước ta, nhằm làm cho quá trình sản xuất hàng hóa của nước ta ngày càng phát triển với chất lượng cao hơn Để tìm hiểu kĩ về vấn
đề này em xin chọn đề “Lịch sử ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa trên thế giới và Việt Nam” Trong quá trình làm bài chắc chắn em
không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy (cô)
để bài tập lớn của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG
I LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN THẾ GIỚI
1 Sơ lược về lịch sử ra đời và phát triển sản xuất hàng hoá
Sản xuất hàng hoá ra đời từ sản xuất tự cấp tự túc và thay thế nó trong quá trình lịch sử lâu dài ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá là sản xuất giản đơn chỉ giữ vai trò phụ thuộc Tuy nhiên chính sản xuất hàng hoá giản đơn đã tạo khả năng phát triển lực lượng sản xuất thiết lập các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó vốn tách biệt nhau Quan hệ hàng hoá phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ phong kiến tan rã và góp phần thúc đẩy quá trình đó diễn ra mạnh mẽ hơn Hình thức điển hình nhất, cao nhất, phổ biến nhất của sản xuất hàng hoá là sản xuất hàng hoá TBCN
2 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
2.1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội tức là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân
chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng
mở rộng hơn, đa dạng hơn
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm
Trang 32.2.Sự tách biệt kinh tế
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất tức
là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh
tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ Cụ thể, sản xuất hàng hoá ra đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho
những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập
với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa
Cả hai điều kiện không được thiếu một điều nào, thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
3.Các giai đoạn phát triển của sản xuất hàng hóa
Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hóa xuất hiện từ thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, tồn tại và phát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo
Sản xuất hàng hóa phát triển cao nhất, phổ biến nhất trong chủ nghĩa
tư bản và trở thành hình thức sản xuất hàng hóa điển hình, nổi bật trong lịch sử
Sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại và phát triển dưới chủ nghĩa xã hội
vì dưới chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau và
Trang 4hàng hóa xuất hiện rồi tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội, là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người Nó có nhiều ưu thế, tiến bộ so với sản xuất tự cấp tự túc mà cho tới nay chưa có hình thức sản xuất xã hội nào có ưu thế hơn nó Tuy nhiên, ở các xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có vai trò và giới hạn khác nhau
4 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán Theo chủ nghĩa
Marx-Lenin thì trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau
là sản xuất tự cung, tự cấp( tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến Trong khi đó, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất
ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã
hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa The chủ nghĩa Marx-Lenin thì mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội
là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa
Trang 5Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không
phải giá trị sử dụng
5 Ưu thế, ý nghĩa
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người Bởi vậy nó có nhiều ưu
thế, và là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sản
xuất tự cấp tự túc:
Nó làm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội Nó thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh tróng làm cho sự phân công chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hoá chặt chẽ hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau của những người sản xuất hình thành thị trường trong nước và thế giới
Nó thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó là cơ sở
để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ xã hội Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng đủ, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy hơn
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng
mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn
Trang 6Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao
Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn
II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM
1 Các giai đoạn phát triển của sản xuất hàng hóa ở Việt Nam
Từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn thời kì phong kiến tới nền kinh tế hàng hóa sau này, nền sản xuất hàng hóa của nước ta đã không ngừng biến đổi và phát triển
Thời kì phong kiến, trình độ lao động, năng suất lao động nước ta chưa cao, chính sách bế quan của một số triều đại kìm hãm sự lưu thông hàng hóa Sở hữu về tư liệu lao động nằm trong tay một số ít người ở tầng lớp trên Tóm lại, ở thời kỳ này, nền sản xuất hàng hóa ở nước ta mới chỉ xuất hiện, chưa phát triển
Trong thời kỳ bao cấp trước đổi mới, nền kinh tế hàng hóa đồng thời là nền kinh tế kế hoạch Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa Biến hình thức tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực sản xuất , thủ tiêu cạnh tranh và lưu thông thị trường Sự nhận thức sai lầm của nước ta thười kỳ này đã khiến nền kinh tế suy sụp, sức sản xuất hàng hóa xuống dốc không phanh Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, có năm còn giảm Năm 1977 tăng 2,8%, năm 1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 gảm 1,4%, bình quân 1977-1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa với tốc độ
Trang 7tăng trưởng dân số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người sụt giảm 14%
Từ năm 1986, sau khi Đảng và Nhà nước đã kịp thời chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa, nền kinh tế sản xuất hàng hóa nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ Thời kỳ này có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1986-2000: Giai đoạn chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước Thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần được công nhận và bước đầu phát triển Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu trên
cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển nông nghiệp toàn diện Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, thời kỳ này nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại chưa giải quyết được Điều này khiến nền kinh tế chậm phát triển chiều sâu
Giai đoạn 2000-2007: Đây là giai đoạn nền kinh tế hàng hóa ở nước ta phát triển mạnh mẽ GDP liên tục tăng mạnh Năm 2003 tăng 7,3%, 2004 tăng 7,7%, 2005 tăng 8,4%, 2006 tăng 8,2% Tốc độ tăng trưởng năm 2007
là 8,5%, cao nhất kể từ năm 1997 đến nay Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam phát triển nền kinh tế hàng hóa dễ dàng hơn khi có cơ hội mở rộng thị trường ra thế giới
Giai đoạn 2007-nay: nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu chững lại tăng trưởng GDP giảm xuống và lạm phát kéo dài Các chính sách đưa ra không đem lại hiệu quả
Trang 8-Đến năm 2015, mức tăng trưởng cao hơn mức tăng 5,98% của năm
2014 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế
-Năm 2016, GDP ước tính tăng 6,21% so với năm 2015 và đến năm
2017, tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%, vượt chỉ tiêu 6,7% do Quốc hội đề ra
và là mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua
Nguồn ảnh: https://news.zing.vn/kinh-te-viet-nam-2017-qua-nhung-con-so-post807606.html
2 Đặc điểm của nền sản xuất hàng hoá ở nước ta
Nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển, lại bỏ qua giai đoạn TBCN nên nền sản xuất hàng hoá của ta không giống với nền sản xuất hàng hoá của các nước khác trên thế giới với những đặc trưng tiêu biểu:
Thứ nhất: Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ
một nền kinh tế hàng hoá kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang một nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp đến cao
Trang 9Xuất phát từ thực trạng có thể nói là rất tiêu điều của nền kinh tế nước ta: Kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội kém, trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, khả năng cạnh tranh gần như không có, đội ngũ nhà doanh nghiệp tầm cỡ thiếu trầm trọng, bên cạnh đó thì thu nhập của người làm công ăn lương cũng như của nông dân thấp kém khiến dung lượng hàng hoá trên thị trường có sự thay đổi rất chậm chạp, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thấp Từ sự thật không mấy sáng sủa này, buộc ta phải có chiến lược phát triển để vượt qua thực trạng của nền kinh tế, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta
Thứ hai: Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại
nhiều thành phần Từ thực trạng nền kinh tế hàng hoá kém phát triển do nhiều nhân tố song nhân tố gây hậu quả nặng nề nhất là sự nhận thức không đúng đắn dẫn đến nôn nóng xoá bỏ nhanh các thành phần kinh tế, thực chất
là xoá bỏ điều kiện tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, làm mất khả năng cạnh tranh và tác dụng tích cực của nền kinh tế hàng hoá Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém Cơ cấu ngành theo hướng phát triển kinh tế dịch vụ đang dần chiếm ưu thế cao trong nền kinh tế hàng hoá thu hút một số lượng lớn lao động Từ đó cơ cấu công- nông nghiệp và dịch vụ sớm hình thành theo định hướng chuyển dịch kinh tế mà Đại hội Đảng VIII
đã đề ra Nó đảm bảo cho mọi người, mọi doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đều được tự do kinh doanh theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp Nó còn làm cho các chủ thể kinh tế được hoạt động theo cơ chế tự chủ, hợp tác cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật
Trang 10Thứ ba: Nền kinh tế hàng hoá theo cơ cấu kinh tế “mở”giữa nước ta
với các nước trên thế giới
Trước kia với cơ cấu kinh tế “khép kín”, với tình trạng “bế quan toả cảng”, luẩn quẩn sau luỹ tre làng nên kinh tế nước ta lâm vào bế tắc, kém phát triển có thể nói là lạc hậu nhất thế giới Vì vậy sự ra đời của nền kinh
tế hàng hoá TBCN đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động trong sự gắn bó với thị trường thế giới Do sự phân bố phát triển không đều về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và thế mạnh giữa các nước từ quy luật phân công
và hợp tác lao động quốc tế, đời sống mang tính quốc tế hoá …dẫn đến nhu cầu khách quan là mở cửa nền kinh tế hàng hoá để đạt được hiệu quả cao
và phát triển với tốc độ nhanh nền kinh tế
Thứ tư: Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN với vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước và sự quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
Trong các thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
do bản chất vốn có và lại nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt và trọng yếu, nên đảm bảo cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng XHCN Tuy nhiên vai trò của nó chỉ được khẳng định khi nó phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế khác, nó sớm chuyển đổi cơ chế quản lý theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả để đứng vững và chiến thắng trong môi trường hợp tác và cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế
Nền kinh tế hàng hoá bên cạnh mặt tích cực là làm thay đổi bộ mặt của đất nước không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định về mặt xã hội như: phá sản, khủng hoảng , áp bức bất công, tàn phá môi trường, phân hoá giầu nghèo Chính vì vậy cần phải có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nước ta do chịu ảnh hưởng lâu dài của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp nên những công cụ để Nhà nước đIều hành vĩ mô nền