1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHỦNG HOẢNG KINH tế bản CHẤT, tác ĐỘNG đến TOÀN THẾ GIỚI và bài học CHO nền KINH tế VIỆT NAM

23 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 48,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khủng hoảng lan rộng ra tất cả các lĩnh vựckhác trở thành cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội…Vào những năm 2007 - 2008, cả thế giới chao đảo vì một trong những cu

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 1825, cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên đã nổ ra ở nước Anh Trongcơn hoảng loạn này, nền kinh tế Anh được miêu tả là “chỉ còn 24 giờ nữa

sẽ quay về thời hàng đổi hàng”

Từ năm 1929 đến hết các năm 1930, Đại khủng hoảng hay còn gọi là "Đạisuy thoái", là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra và lấn sang đầu thập

kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào

29 tháng 10 năm 1929 Cuộc khủng hoảng lan rộng ra tất cả các lĩnh vựckhác trở thành cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội…Vào những năm 2007 - 2008, cả thế giới chao đảo vì một trong những cuộckhủng hoảng tài chính tồi tệ nhất lịch sử bắt nguồn từ nước Mỹ

Những dấu mốc trên đã cho thấy rằng: sự phát triển của nền kinh tế luôn đikèm với những nguy cơ rủi ro châm ngòi cho những cuộc suy thoái, khủnghoảng nghiêm trọng, tác động xấu trực tiếp đến đời sống và sản xuất Hệlụy của những cuộc khủng hoảng ấy tuy được khắc phục sau nhiều nỗ lực

và thời gian, nhưng vẫn còn lưu lại trong một vài góc khuất của nền kinhtế

Chính vì lý do trên, em xin chọn đề tài nghiên cứu là “Khủng hoảng kinh tế: Bản chất, tác động đến toàn thế giới và những bài học cho nền kinh

tế Việt Nam” Trong bài tiểu luận này, em xin được làm rõ bản chất của

khủng hoảng kinh tế, điểm qua những cuộc khủng hoảng lớn cùng tác độngcủa chúng để có cơ sở rút ra những kinh nghiệm, bài học để giảm thiểunguy cơ cũng như hậu quả của khủng hoảng kinh tế Bài tiểu luận đượctrình bày với bốn phần chính:

Phần I: Khái quát về khủng hoảng kinh tế

Trang 2

Phần III: Tác động nói chung của khủng hoảng kinh tế

Phần IV: Bài học từ khủng hoảng kinh tế cho nền kinh tế Việt Nam.

Bài tiểu luận này được xây dựng dựa trên những nguồn thông tin thamkhảo đáng tin cậy về kinh tế và từ những kiến thức hữu ích của bộ môn

“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” mà em đã được họctrên giảng đường Tuy vậy vì hiểu biết của em còn nhiều hạn chế nênkhông thể tránh khỏi việc thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của

cô để có thể đưa ra một sản phẩm hoàn thiện nhất

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thùy Ngân

Trang 3

NỘI DUNG

Phần I KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

1 KHÁI NIỆM “KHỦNG HOẢNG KINH TẾ”

Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầmtrọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế

Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạmthời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong

xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tưbản mới

2 BẢN CHẤT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỦNG HOẢNG KINH

TẾ TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản:

Trong chủ nghĩa tư bản, nền sản xuất đã xã hội hóa cao độ, vì vậy khôngthể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế Sau khi đại công nghiệp cơ khí ra đời,sản xuất tư bản bị ảnh hưởng bởi những cuộc khủng hoảng lặp đi lặp lại saumột khoảng thời gian nhất định, hay nói cách khác là những cuộc khủnghoảng “có tính chu kỳ” Loại hình khủng hoảng đầu tiên và phổ biến nhấttrong sản xuất tư bản chủ nghĩa là “khủng hoảng thừa” Khủng hoảng thừaxảy ra khi các nhà sản xuất mải miết chạy theo lợi nhuận, sản xuất ồ ạt màkhông tính toán tới sức tiêu dùng của thị trường, dẫn đến tình trạng hànghóa ế thừa, không thể bán được trong khi hàng triệu người lao động rơi vàotình cảnh đói khổ bởi họ không có khả năng chi trả cho hàng hóa

Trang 4

Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, cùng với quá trình tích tụ và tậptrung tư bản, cùng với cuộc chạy đua giành lợi nhuận, của quá trình hoànthiện kỹ thuật, cải tiến công nghệ, bản thân chủ nghĩa tư bản đã tạo ramâu thuẫn giữa tính chất xã hội của quá trình sản xuất và hình thức chiếmhữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chínhmâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn này biểu hiện ra thànhcác mâu thuẫn sau:

 Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặtchẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội

Vì mục đích thu được nhiều lợi nhuận, các nhà tư bản tìm mọi cách đểgiảm chi phí sản xuất, đua nhau đầu tư vào các ngành có lợi nhuận cao.Điều này dẫn đến sự mất cân đối giữa các ngành sản xuất, gây rối loạncung cầu hàng hóa Tình trạng trên kéo dài lâu sẽ dẫn tới khủng hoảng kinhtế

 Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích luỹ, mở rộng không có giới hạn của

tư bản với sức mua ngày càng co hẹp của quần chúng do bị bần cùng hoá.Các nhà tư bản do muốn có được lợi nhuận siêu ngạch đã ra sức mở rộngsản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng sức cạnh tranh

 Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê

3 ĐẶC ĐIỂM CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG CHỦNGHĨA TƯ BẢN

Chủ nghĩa tư bản có thể tạo ra sự tăng trưởng cao bởi nhà tư bản có thể, và

có ý muốn, tái đầu tư lợi nhuận vào các công nghệ và thiết bị tư bản mới.Marx coi tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họthưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất Nhưng Marx cho rằng chủ nghĩa tưbản có khuynh hướng khủng hoảng mang tính chu kỳ Ông cho rằng cùng

Trang 5

mới, và ngày càng ít hơn vào lao động Bởi Marx tin rằng giá trị thặng dư

bị chiếm đoạt từ lao động là nguồn gốc của lợi nhuận, ông kết luận rằng tỷsuất lợi nhuận phải giảm thậm chí khi nền kinh tế tăng trưởng Khi tỷ suấtlợi nhuận giảm dưới một mức nào đó, kết quả sẽ là một sự giảm phát haykhủng hoảng trong đó một số lĩnh vực của nền kinh tế sẽ sụp đổ Marx chorằng trong một cuộc khủng hoảng kinh tế như vậy giá lao động cũng sẽ sụtgiảm, và cuối cùng khiến không thể đầu tư vào các kỹ thuật mới và sự tăngtrưởng của các lĩnh vực của nền kinh tế

Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủnghoảng sau Chu kỳ kinh tế gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phụchồi và hưng thịnh

 Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới, ở giai đoạnnày, hàng hoá ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xínghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống Tưbản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản ,lực lượng sản xuất bịphá hoại nghiêm trọng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dướihình thức xung đột dữ dội

 Tiêu điều: đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, khôngcòn tiếp tục đi xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đìnhđốn, hàng hóa được đem bán hạ giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơiđầu cơ Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bảncòn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công, tăngcường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làmcho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá Việc đổi mới tư bản cốđịnh làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiệncho sự phục hồi chung của nền kinh tế

Trang 6

 Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sảnxuất Công nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy

mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên

 Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt qua điểm cao nhất màchu kỳ trước đã đạt được Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xínghiệp được mở rộng và xây dựng thêm Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàngtung tiền chi vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội Do

đó, lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do tăng cường vai trò điều tiết của nhànước tư bản độc quyền nên chu kỳ khủng hoảng ở các nước tư bản sauchiến tranh đã có những thay đổi sâu sắc, thể hiện ở những điểm chủ yếusau:

 Thứ nhất, khủng hoảng kinh tế không gay gắt: Từ sau chiến tranh, khủnghoảng kinh tế ở các nước đều không dữ dội như trước chiến tranh, sản xuấtcông nghiệp chỉ giảm tương đối nhẹ (mức giảm cao nhất cũng chỉ là 21 %,còn thấp nhất có cuộc khủng hoảng chỉ giảm 1,4%)

 Thứ hai, vật giá leo thang trong khủng hoảng: Trước chiến tranh, khi

“khủng hoảng thừa” nổ ra vật giá giảm sút rất nhanh và do đó tỷ suất lợinhuận cũng giảm xuống Sau chiến tranh, khi khủng hoảng kinh tế nổ ra vậtgiá chỉ giảm nhẹ, sang đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX vật giá lại tăng lên vàđặc biệt là sang thập kỷ 70 ngay trong thời kỳ khủng hoảng vật giá leothang mạnh, tốc độ tăng giá tái mức hai con số ở nhiều nước Đây là hiệntượng chưa hề có trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ trướcchiến tranh

 Thứ ba, sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng trung gian, khủng hoảng

cơ cấu

 Khủng hoảng trung gian là cuộc khủng hoảng nhẹ xảy ra giữa haicuộc khủng hoảng lớn

Trang 7

 Khủng hoảng cơ cấu là cuộc khủng hoảng xảy ra trong từng ngành,từng lĩnh vực riêng biệt, như: khủng hoảng năng lượng, nguyên liệu,khủng hoảng dầu mỏ, khủng hoảng tiền tệ.

Nguyên nhân của khủng hoảng cơ cấu là do:

Một là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ sinh ra những ngành kinh

tế mới mới như công nghiệp năng lượng, công nghiệp vật liệu, đồng thời nócũng làm suy thoái những ngành nghề truyền thống

Hai là, trước chiến tranh, các nước tư bản phát triển đã lấy rất nhiều

nguyên vật liệu sản xuất từ các nước lạc hậu, sau chiến tranh, các nước lạchậu đó đều giành được độc lập ở những mức độ khác nhau Họ muốn tìmcách thoát khỏi sự lệ thuộc vào các nước tư bản Do đó họ đã dùng nhiềubiện pháp khác nhau, trong đó phổ biến nhất là giảm quy mô khai thác,giảm sản lượng cung ứng trên thị trường thế giới Chính điều này đã gây ra

cú sốc cho những nước tư bản đã từng nhập khẩu nguyên liệu từ các nướcnày

Ba là, nhiều nhà nước tư bản độc quyền đã lạm dụng chính sách tài chính,

tiền tệ như công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Việc này dẫn đến cáccuộc khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ

 Thứ tư, dấu hiệu để nhận biết tiêu điều và phồn thịnh không rõ ràng.Đây cũng là kết quả tất yếu của sự xuất hiện các cuộc khủng hoảng trunggian, khủng hoảng cơ cấu Các cuộc khủng hoảng này đã làm giảm biên độdao động của chu kỳ tái sản xuất, vì vậy rất khó phân định ranh giới giữatiêu điều và phục hồi cũng như ranh giới giữa phồn thịnh và khủng hoảng

Có khi nền kinh tế chỉ xuất hiện sự suy thoái nhẹ sau đó lại thoát ra rấtnhanh và kinh tế lại tăng trưởng trở lại

Trang 8

Phần II NHỮNG CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LỚN TRÊN THẾ GIỚI

1 CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐẦU TIÊN CỦA THỊ TRƯỜNG MỚI NỔINĂM 1825

Khủng hoảng thường bắt đầu bằng một niềm hi vọng mới Ở thời điểmnhững năm 1820, khi các nước Mỹ Latinh giành lại độc lập từ tay Tây BanNha, các nhà đầu tư đã đổ xô đầu tư vào nước Anh – một thị trường mớinổi đang phát triển như vũ bão với hoạt động xuất khẩu lớn mạnh thuộchàng bậc nhất tại thời điểm đó

Xứ Wales là kho nguyên vật liệu thô khổng lồ cho sản lượng 3 triệu tấnthan đá mỗi năm và xuất khẩu quặng sắt ra khắp thế giới Manchester thìtrở thành thành phố công nghiệp đầu tiên của thế giới, biến những nguyênvật liệu thô thành các sản phẩm có giá trị cao hơn như hóa chất hay máymóc Trong thời kỳ từ 1820 đến 1825, sản lượng công nghiệp của Anh tăngtrưởng tới 34%

Kết quả là, những người Anh giàu tiền mặt muốn tìm nơi để đầu tư Thời

đó, nguồn cung trái phiếu chính phủ rất dồi dào Tuy nhiên, lợi suất tráiphiếu chính phủ Anh đã giảm từ 5% trong năm 1822 xuống còn 3,3% trongnăm 1824 Với lạm phát ở quanh mức 1% từ năm 1820 đến 1825, lợi suấtthực của trái phiếu chính phủ là rất thấp Đây là loại tài sản an toàn nhưngkhá nhàm chán

Trong bối cảnh ấy, nhà đầu tư đứng trước một loạt lựa chọn mới hấp dẫnhơn nhưng cũng nguy hiểm hơn Đến những năm 1820, London đã thay thếAmsterdam trở thành trung tâm tài chính của châu Âu và nhanh chóng thuhút các chính phủ nước ngoài đến huy động vốn

Thị trường trái phiếu toàn cầu tăng trưởng như vũ bão Năm 1820, trên thịtrường London chỉ có duy nhất một loại trái phiếu nước ngoài Đến năm

Trang 9

1826, con số tăng lên 23 Nợ được phát hành bởi chính phủ Nga, Phổ vàĐan Mạch đem lại lợi suất khá tốt và bán rất chạy.

Tuy nhiên, những khoản đầu tư làm nhà đầu tư thích thú nhất nằm ở Tânlục địa Đế chế Tây Ban Nha sụp đổ, các thuộc địa cũ được tự do và nhữngquốc gia độc lập ra đời Từ năm 1822 đến 1825, Colombia, Chile, Peru,Mexico và Guatemala phát hành thành công 21 triệu USD trái phiếu (tươngđương 2,8 tỷ USD theo giá trị hiện nay) ở London

Không chỉ có vậy, cổ phiếu của các công ty khai mỏ đến từ nước Anh và có

kế hoạch khám phá châu Mỹ Latinh trở thành mặt hàng được ưa chuộng.Giá cổ phiếu của Anglo Mexican tăng vọt từ 33 lên 158 USD chỉ trong 1tháng

Khủng hoảng bắt đầu

Tuy nhiên, khoảng cách lại trở thành một vấn đề lớn Phải mất 6 tháng đểtới Nam Mỹ và quay trở lại Chính điều này đã khiến cho các thương vụđược ngã giá dựa trên những thông tin không chuẩn xác Trường hợpnghiêm trọng nhất là cú lừa ngoạn mục về trái phiếu “Poyais” “Poyais” làmột “đất nước” không hề có thực do Gregor MacGregor “sáng tạo” ra, tuynhiên ông vẫn bán được trái phiếu “Poyais” và cả quyền sử dụng đất giả.Nhà đầu tư thường không kiểm tra thông tin kỹ lưỡng Hầu hết thông tin vềTân lục địa đến từ các nhà báo được trả thù lao để xúc tiến đầu tư cho cácquốc gia

Do gắn chặt với thị trường trái phiếu và các công ty khai mỏ, các ngânhàng Anh bị ảnh hưởng nhiều nhất Người gửi tiền bắt đầu lao đi tìm tiềnmặt Hiện tượng tiền bị rút ra ồ ạt xảy ra vào khoảng tháng 12/1825.NHTW Anh ra tay cứu giúp các ngân hàng gặp nạn và cả các doanhnghiệp Tuy nhiên, nhiều ngân hàng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu của

Trang 10

người gửi tiền Năm 1826, hơn 10% các ngân hàng ở Anh và xứ Wales phásản

Điều đáng chú ý nhất ở cuộc khủng hoảng năm 1825 là quan điểm vềnhững điều cần phải làm Một số đổ lỗi cho sự cẩu thả của nhà đầu tư: họ

đã đầu tư vào trái phiếu của các quốc gia mà họ không biết chút thông tinnào về chúng hoặc những công ty khai mỏ khai thác ở những nơi không hề

có quặng Rõ rang là nhà đầu tư bắt buộc phải kiểm tra đầy đủ thông tintrước khi rót tiền vào các thị trường mới nổi hay vào bất cứ nơi nào

4 ĐẠI KHỦNG HOẢNG (NHỮNG NĂM 1930)

Đại khủng hoảng (The Great Depression) là thời kỳ suy thoái kinh tế toàncầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ

1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối) Cuộc khủnghoảng 1929 – 1933 là một cuộc đại khủng hoảng có quy mô lớn nhất, mức

độ trầm trọng nhất của thế giới tư bản chủ nghĩa Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ vànhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cảcác nước phát triển Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùytheo từng nước Nó bị coi là "đêm trước" của Chiến tranh thế giới thứ hai.NGUYÊN NHÂN

Đây là cuộc khủng hoảng “thừa” do sản xuất ồ ạt, chạy đua theo lợi nhuậntrong những năm 1924 – 1929, dẫn đến tình trạng hàng hóa ế thừa trong khingười lao động không có tiền mua

CÁC TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI KHỦNG HOẢNG

Trang 11

Khủng hoảng kinh tế đã tàn phá nặng nề nền kinh tế các nước tư bản chủnghĩa Mức sản xuất bị đẩy lùi lại hàng chục năm Hàng trăm triệu người(công nhân, nông dân và gia đình họ) rơi vào tình trạng đói khổ.

Đại khủng hoảng là một cuộc khủng hoảng cơ cấu, người Mỹ nhắc đến nónhư là một nỗi kinh hoàng, sự đau đớn Mỹ khi đó là nước tư bản phát triểnnhất, nhưng hệ thống phân phối xã hội của Mỹ lúc đó rất bất công, phầnlớn thu nhập quốc dân chỉ tập trung trong tay một số ít người, lợi nhuậntăng từ 1922 – 1929 là 76% thì lương công nhân chỉ tăng 33%, viên chứctăng 42% Trong lúc đó, lợi tức của các cổ đông tăng trên 100% Người laođộng không được hưởng phần xứng đáng của họ trong chỉ số tăng của nềnkinh tế Tất cả đưa đến một cuộc khủng hoảng thừa, đưa đến hiện tượngcác nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, họ tự tay phá nhà máy,đánh đắm tàu, đổ của cải xuống biển… để giữ giá Khủng hoảng kinh tếdẫn đến nạn đói nghiêm trọng ở Mỹ

Không chỉ dừng lại ở thị trường chứng khoán, cuộc khủng hoảng lan rộng

ra tất cả các lĩnh vực khác trở thành cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế,chính trị, xã hội… Hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người bị mấtnhà cửa Đỉnh cao của cuộc khủng hoảng này là năm 1932, sản xuất than bịđẩy lùi xuống mức năm 1904; sản xuất gang bị đẩy lùi xuống mức năm

1876 Có những chỉ số bị đẩy lùi xuống những năm cuối thế kỷ 19, thunhập quốc dân giảm xuống 1/2

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế này, vật giá ở Mỹ giảm 23,6%, Anh giảm15,7%, Đức giảm 23,4%, Nhật giảm 26,4%

GIẢI PHÁP ĐƯỢC ĐƯA RA

Một số nước tư bản châu Âu như Anh, Pháp tìm cách thoát ra khỏi khủnghoảng bằng những chính sách cải cách kinh tế - xã hội Trong khi đó, các

Ngày đăng: 05/05/2020, 15:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w