Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kì 1976-1980 là: "Kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Từng là nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải chống chịu với hai cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta khó theo kịp xu hướng kinh tế của thế giới Sau khi giành được độc lập, nước ta lại xây dựng nền sản xuất kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, vẫn sử dụng những chính sách kinh tế cũ không còn phù hợp, khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, đi sau những nền kinh tế khác hàng chục thập kỉ Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kì 1976-1980 là: "Kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầu của xã hội đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn" điều này chứng tỏ chúng ta chưa
có nền sản xuất hàng hóa hoàn hảo
Trong và sau thời kỳ Đổi mới ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương , đường lối để phát triển nền kinh tế quốc dân Trong đó việc phát triển nền kinh tế hàng hóa là nhiệm vụ cơ bản nhất Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ và đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường, thay thế cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều hạn chế Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu chung về nền kinh tế Việt Nam trước và sau “Đổi mới”, em đã
Trang 2quyết định lựa chọn đề tài: Đặc trưng nền kinh tế Việt Nam trước "đổi mới"
và yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá sau "đổi mới" Bố cục của tiểu luận
ngoài mở đầu, kết luận còn có các nội dung chính:
I ĐẶC TRƯNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC “ĐỔI MỚI”
II YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA VIỆT NAM
SAU “ĐỔI MỚI”
B NỘI DUNG
I ĐẶC TRƯNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC “ĐỔI MỚI”
1 Từ 1945-1975: Nền kinh tế trong thời kỳ chiến tranh
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công giữa lúc giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm vẫn còn rình rập Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cả dân tộc lại phải đứng lên dốc sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài 9 năm Với chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, hoà bình được lập lại nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Ở miền Bắc bắt đầu thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh thông qua khôi phục nhanh nông nghiệp và giao thông vận tải Nền kinh tế có nhiều thành phần tham gia
Trang 3Từ năm 1958, miền Bắc thực hiện cải tạo XHCN về kinh tế, hình thành
mô hình phát triển kinh tế tập trung và công hữu hoá tư liệu sản xuất, kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân từ trung ương Nhà nước thực hiện chế độ phân phối sản phẩm bằng tiền lương định mức và bao cấp qua tem phiếu Với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Nhà nước quan tâm phát triển giáo dục, y tế và xây dựng nhiều công trình công cộng Tính ưu việt của chế độ mới được phát huy mạnh mẽ, nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng và nhiều cơ sở công nghiệp nặng đầu tiên được xây dựng , nhưng từ năm 1964 bắt đầu bộc lộ các nhược điểm của mô hình kinh tế
Từ năm 1964, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu và vừa chi viện cho miền Nam Tình hình này kéo dài trong suốt 10 năm (1965-1975) Trong khi đó, cũng từ 1954, nền kinh tế miền Nam Việt Nam tiến theo mô hình thị trường, nhưng chủ yếu
là mô hình kinh tế phục vụ chiến tranh
Trang 42 Từ 1975-1986: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
2.1 Thời bao cấp
Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn
mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản Theo đó thì kinh tế tư nhân dần
bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy Mặc dù kinh tế chỉ huy đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kỳ bao cấp thường được dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm 1986 trên toàn quốc, tức là trước thời kỳ Đổi mới
2.2 Tình hình kinh tế Việt Nam thời bao cấp
Trong giai đoạn này, cơ cấu quản lý kinh tế của nước ta là tập trung bao cấp; theo đó, nền kinh tế tồn tại là nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy Đảng và Nhà nước chỉ chấp nhận hai thành phần kinh tế : thành phần kinh tế Nhà nước
và thành phần kinh tế tập thể Các thành phần kinh tế tư nhân không được phép tồn tại và hoạt động Nền kinh tế của một nước phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Sự phát triển của nền kinh tế cũng phản ánh sự phù hợp của hai yếu tố trên Ở nước ta giai đoạn này, trong
Trang 5khi lực lượng sản xuất còn mang tính chất phát triển không đồng đều, sản xuất nhỏ thủ công là phổ biến, trình độ phân công lao động và xã hội hoá rất thấp thì chúng ta lại xây dựng nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, không khai thác được năng lực sản xuất xã hội Nhà nước chỉ ưu tiên, chú trọng bảo hộ cho kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, coi hai thành phần kinh tế trên là kinh tế XHCN, còn các thành phần kinh tế khác bị coi là mầm mống của CNTB nên bị xoá bỏ hoàn toàn
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, Đảng ta
đã xác định đường lối kinh tế dựa trên đường lối phát triển chung của đất nước, trong đó có một vài điểm đáng lưu ý sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…” Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ của Đảng là chưa rõ ràng, hơn nữa, Đảng
đã phạm sai lầm trong việc xác định bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo XHCN, về việc áp dụng cơ cấu quản lý kinh tế… Trong khi
cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, công nghệ lạc hậu, nước ta còn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, Đảng lại chủ trương phát triển công nghiệp nặng Điều này không phù hợp với tình hình thực tiễn Chúng ta đã quá nóng
Trang 6vội trong những bước quá độ Nước ta có xuất phát điểm là một nước tiền TBCN tiến lên CNXH, vì thế trình độ phát triển của lực lượng sản xuất rất thấp, cần phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ Nhưng chúng ta lại thực hiện ngay những đường lối phát triển như một nước có nền kinh tế phát triển cao Điều này là không đúng với quy luật phát triển của lịch sử Nói chung trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, chúng ta đã sao chép rập khuôn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ cấu quản lý kinh tế của các nước XHCN Có thể nói, nền kinh tế mệnh lệnh – chỉ huy mang tính chất tập trung, quan liêu, bao cấp là phù hợp với hoàn cảnh có chiến tranh; bởi lúc đó mục tiêu chung và lớn nhất của cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng đất nước để tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN Vì thế, việc tập trung sức người sức của cho cuộc chiến tranh chính nghĩa là hết sức cần thiết Điều đó tạo nên sức mạnh to lớn của toàn dân, nhanh chóng hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để tiến tới cách mạng XHCN
Tuy nhiên, khi đất nước đã giành thống nhất, thời kỳ quá độ được thực hiện trong phạm vi cả nước, nền kinh tế tập trung bao cấp này không còn phù hợp với hoàn cảnh đất nước Nó làm nảy sinh tình trạng quan liêu hoá, và điều này đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ sự phát triển kinh tế và xã hội Kinh tế phát triển thụ động và thiếu linh hoạt, các nguồn lực không được khai
Trang 7thác triệt để, sản xuất kém hiệu quả do cách làm việc cứng nhắc… Và hậu quả tất yếu là năm 1979 và năm 1985-1986, nền kinh tế – xã hội nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng : tình trạng lạm phát trầm trọng (cao nhất là năm 1985 với
tỉ lệ lạm phát là 600%), sản xuất trì trệ, hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống của người lao động rất khó khăn… Điều này đã tạo áp lực lớn đối với
sự phát triển của đất nước
2.3 Cơ chế quản lý kinh tế
Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì
Trang 8về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định không
đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn các doanh nghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấp trên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu
2.4 Các hình thức bao cấp
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
- Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng
Trang 9hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
- Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
II YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA VIỆT NAM SAU
“ĐỔI MỚI”
1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hoá lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất Do phân
Trang 10công lao động xã hội nên mỗi người sản xuất sẽ làm một công việc cụ thể, vì vậy họ chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau Là có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động XH vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác Sự phân chia lao động XH sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người khi đó sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau Do đó, tất yếu dẫn đến trao đổi mua bán Sự phân công lao động cũng làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến
Nó thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó là cơ sở
để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ xã hội Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên
nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc; làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn
Trang 11Từ đó, nó xóa bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá Mác chỉ rõ: “Sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, mặc dầu ngược lại, sản xuất hàng hoá không phải là điều kiện tồn tại của sự phân công lao động xã hội”
2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất,
mà khởi thuỷ là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động
C.Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hoá” Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức
Trang 12sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định
Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao
3 Sản xuất hàng hóa quy mô lớn
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà
nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn
Sản xuất hàng hóa quy mô lớn có ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc
về quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu,…
Vì vậy, sản xuất hàng hóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế - xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay
Trang 134 Mô hình kinh tế mở
Nền kinh tế hàng hóa theo hướng hoà nhập vào thị trường khu vực và thế giới Cách mạng khoa học - công nghệ càng phát triển càng làm cho lực lượng sản xuất phát triển đạt trình độ xã hội hoá cao, dẫn đến quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng mở rộng Do vậy phát triển kinh
tế hàng hóa không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nước mà còn tính đến quan hệ kinh tế quốc tế, đến xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế Nền kinh tế hàng hóa của mỗi quốc gia muốn phát triển thuận lợi không thể không gắn với thị trường thế giới Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại
đã làm cho số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá tiêu dùng cho sản xuất
và tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng Mà bất cứ một nước nào dù là nước phát triển nhất cũng không thể sản xuất tất cả các loại hàng hoá Vì vậy mỗi nước phải tuỳ theo lợi thế của mình, lựa chọn những mặt hàng sản xuất có hiệu quả và cạnh tranh được trên thị trường thế giới Sản xuất hàng hoá ở nước ta chỉ có thể phát triển mạnh mẽ nếu thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài và những tiến bộ công nghệ kỹ thuật hiện đại của thế giới để khai thác những tiềm năng còn rất lớn trong nền kinh tế Muốn vậy con đường đúng đắn là phát triển kinh tế “ mở”: hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả