Là một bộ phận của thị trường tài chính, ngân hàng Trung Ương là chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ: Ngân hàng Trung Ương có nhiệm vụ cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng tha
Trang 1Mục lục
Phần 1: Phần mở đầu 2
Tính cấp thiết của đề tài: 2
Mục đích của việc nghiên cứu: 2
Đối tượng nghiên cứu: 2
Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu: 3
Phần 2: Nội dung 3
I. Lý luận chung về tiền tệ 3
1 Định nghĩa về tiền tệ 3
2 Sự phát triển các hình thái tiền tệ 3
2.1 Tiền tệ hàng hóa – Hóa tệ ( Commodity money ) 3
2.2 Tiền giấy ( Paper money ) 5
2.3 Các hình thức tiền tệ khác 6
II Ngân hàng Trung Ương Việt Nam 7
1 Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước Việt Nam 8
2 Mô hình hiện nay của Ngân hàng Trung Ương: 8
Nguyên nhân lựa chọn mô hình: 9
Lợi ích từ việc sử dụng mô hình Ngân hàng Trung Ương trực thuộc chính phủ của Việt Nam: .11 Hạn chế từ việc sử dụng mô hình: 11
Trang 2Phần1: Phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ đã lần lượt tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là của hoạt động sản xuất, lưu thông, trao đổi hàng hóa Nó có vai trò quan trọng, thúc đẩy quá trình sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu
Cùng với sự phát triển năng động của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to lớn về nguồn tài chính để đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Kinh tế càng phát triển thì quan hệ cung cầu nguồn tài chính lại càng tăng Là một bộ phận của thị trường tài chính, ngân hàng Trung Ương là chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ: Ngân hàng Trung Ương có nhiệm vụ cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ Việc nghiên cứu tìm hiểu vai trò của Ngân hàng Trung Ương trong việc kiểm soát thị trường tiền tệ sẽ đi sâu vào những thực trạng, những mặt được và cần khắc phục để tang cường hơn nữa phạm vi và hiệu quả điều tiết tiền tệ
của Ngân hàng Trung Ương Chính vì thế mà em đã chọn đề tài: Các hình thái của tiền
tệ và vị trí, vai trò của Ngân hàng Trung Ương.
Mục đích của việc nghiên cứu:
- Tìm hiểu về các hình thái của tiền tệ
- Tìm hiểu những đặc điểm của Ngân hàng Trung Ương Việt Nam
- Tìm hiểu vai trò của Ngân hàng Trung Ương trong bối cảnh kinh tế hiện nay
Đối tượng nghiên cứu:
- Tiền tệ qua các thời kì phát triển kinh tế
- Ngân hàng Trung Ương Việt Nam
Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu:
Giúp chúng ta hiểu được tiền tệ đang ngày một phát triển cùng với sự phát triển của ngành kinh tế, đòi hỏi cần có những chính sách cụ thể để điều tiết tiền tệ một cách hợp lí
Trang 3Trong đó Ngân hàng Trung Ương thể hiện tích cực vai trò đó Ngoài ra, bài tiểu luận còn cung cấp một lượng kiến thức vừa đủ về hệ thống Ngân hàng Việt Nam và vai trò của nó
Phần 2: Nội dung
I Lý luận chung về tiền tệ
1 Định nghĩa về tiền tệ
- Theo Các – Mác: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá
làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiển quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá”
- Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền tệ là bất cứ một phương tiện nào được xã hội chấp
nhận làm phương tiện trao đổi với mọi hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế
2 Sự phát triển các hình thái tiền tệ
Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem đã có những dạng tiền tệ nào trong lịch sử, chúng đã ra đời như thế nào và tại sao lại không còn được sử dụng nữa Bằng cách này chúng ta sẽ có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về khái niệm tiền tệ
2.1 Tiền tệ hàng hóa – Hóa tệ ( Commodity money )
a Hóa tệ phi kim loại
Hóa tệ phi kin loại là tiền tệ dưới dạng các hàng hóa ( trừ kim loại ) Đây là hình thái cổ nhất của tiền tệ, rất thông dụng trong các xã hội cổ xưa Trong lịch sử đã có rất nhiều loại hàng hóa khác nhau từng được con người sử dụng làm tiền tệ Đó là:
- Gỗ đàn hương ở Hawaii
- Lụa ở Trung Quốc
- Nô lệ ở Châu Phi, Nigeria, Ailen, …
- Bò, cừu ở Hy Lạp và La Mã
- Tuần lộc ở Nga
- Muối ở phía Nam Ba Lan, ở Tây Nam Nolivia, …
Tuy nhiên, hóa tệ phi kim loại có rất nhiều điểm bất tiện như: tính chất không đồng nhất,
dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản cũng như vận chuyển và chỉ được công nhận ở từng khu vực hay địa phương Vì vậy mà hóa tệ phi kim loại dần biến mất và được thay thế bằng dạng hóa tệ thứ hai: Hóa tệ kim loại
Trang 4b Hóa tệ kim loại
Hóa tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loại quý như vàng, bạc, đồng,…Ưu điểm của hóa tệ kim loại là: Chất lượng, trọng lượng có thể xác minh chính xác, dễ dàng hơn, bền hơn, dễ chia nhỏ, giá trị tương đối ít biến đổi,…
Một loại hóa tệ kim loại đặc biệt đã từng có thời gian thống trị rất dài trong lịch sử đó là tiền vàng Bởi tiền vàng có những ưu việt như sau:
- Những đặc tính lý hóa của vàng rất thuận lợi trong việc thực hiện chức năng tiền tệ:
Vàng không bị thay đổi về màu sắc và chất lượng dưới tác động của môi trường và cơ học nên tiện cho việc cất trữ Nó dễ chia nhỏ mà không ảnh hưởng tới chất lượng
- Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng của năng
suất lao động tăng lên như các hàng hóa khác
Tuy vậy, việc sử dụng tiền vàng ngày trở nên bất tiện vì một số những lí do sau đây:
- Khối lượng và chủng loại hàng hóa đưa ra trao đổi ngày càng đa dạng hơn trong khi
đó lượng vàng sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ ( nhu cầu về phương tiện trao đổi )
- Giá trị của vàng trở nên quá lớn, không thể dáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung
trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lần nhỏ như mua bán dịch vụ hoặc hàng hóa tiêu dùng,… Ngược lại trong những giao dịch với giá trị lớn thì tiền vàng lại cồng kềnh
Việc sử dụng tiền tệ hàng hóa bị xem như là một sự lãng phí những nguồn tài nguyên đã
có hạn Để dùng một loại tiền tệ hàng hóa thì sẽ phải cắt bớt các công dụng khác của hàng hóa đó hoặc dùng các nguồn lực khan hiếm để sản xuất bổ sung Ví dụ với việc sử dụng vàng làm tiền tệ, con người phải giảm nhu cầu dùng vàng làm đồ trang sức hoặc trong các ngành có sử dụng vàng làm nguyên liệu vì xã hội phải dành một phần lớn số lượng vàng hiện có để làm tiền tệ Chính vì vậy mà xã hội phải tìm cho mình một dạng tiền tệ mới phù hợp hơn Đó chính là hình thái tiền tệ thứ hai: Tiền giấy
2.2 Tiền giấy ( Paper money )
Trang 5Tiền giấy xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành Đây là các cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc
Tuy nhiên, tiền giấy ngày nay không còn khả năng đổi ngược trở lại tiền tệ kim loại ( tiền vàng ) như trước nữa
Một số lợi ích của việc dùng tiền giấy là:
- Tiền giấy dễ dàng cất trữ và vận chuyển.
- Tiền giấy có đủ các mệnh giá từ nhỏ tới lớn phù hợp với quy mô giao dịch.
- Về phía chính phủ, việc in tiền giấy tốn chi phí nhỏ hơn nhiều so với những giá trị mà
nó đại diện và có thể phát hành không phụ thuộc vào số lượng các hàng hóa dùng làm tiền tệ như trước đây
Tuy nhiên, tiền giấy cũng có những nhược điểm như: Không bền (dễ rách), chi phí lưu thông vẫn còn lớn, khi trao đổi hàng hóa diễn ra trên phạm vi rộng (giữa các quốc gia hay giữa các vùng xa nhau) thì đòi hỏi tốc độ thanh toán nhanh và an toàn thì tiền giấy vẫn tỏ
ra cồng kềnh và thiếu an toàn khi vận chuyển, có thể bị làm giả,…
2.3 Các hình thức tiền tệ khác
a Tiền ghi sổ
Tiền ghi sổ là những khoản tiền gửi không kì hạn ở ngân hàng, là tiền do hệ thống ngân hàng thương mại tạo ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Việc sử dụng đồng tiền ghi sổ được thực hiện bằng các bút toán ghi nợ và có trên các tài khoản tiền gửi không kì hạn ở ngân hàng Tiền ghi sổ là một công cụ thanh toán linh động và góp phần thích ứng với các nhu cầu của giao dịch
Có hai công cụ chủ yếu trong việc huy động các khoản tiền ghi sổ là Séc và chuyển khoản: Séc là chi phiếu lập trên mẫu in sẵn do chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho
Trang 6người bán để thanh toán các khoản tiền : vật tư, hàng hóa hay chi phí dịch vụ,… Chuyển khoản là một lệnh mà theo đó khách hàng ủy quyền cho ngân hàng ghi nợ vào tài khoản của mình một số tiền và ghi có vào tài khoản của một người khác
Tiền ghi sổ có những ưu điểm như sau:
- Giảm bớt một cách đáng kể các chi phí về lưu thông tiền mặt: in tiền, bảo quản, vận
chuyển, đếm, đóng gói,…
- Nhanh chóng và thuận lợi cho các chủ nhân tham gia thanh toán qua ngân hàng.
- Bảo đảm an toàn trong việc sử dụng đồng tiền, hạn chế được những hiện tượng tiêu
cực phát sinh trong khi tiếp xúc trực tiếp với tiền
- Tiền ghi sổ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Trung Ương trong việc quản lí và
điều tiết lượng tiền cung ứng…
b Tiền điện tử
Tiền trong các tài khoản ở ngân hàng được lưu trữ trong hệ thống máy tính của ngân hàng dưới hình thức điện tử (số hóa) Đồng tiền trong hệ thống như vậy được gọi là tiền điện
tử hoặc tiền số Tính chất đặc trưng của tiền điện tử giống như tiền giấy thật, tức là người mua hàng sẽ trả 1 số tiền nào đó cho người bán hàng và sẽ không có bất cứ phương thức nào để lấy thông tin về người mua hàng
Một số hình thức giao dịch tiền điện tử hiện nay:
- Thẻ rút tiền ATM: Thẻ ATM được dùng để rút tiền hoặc chuyển khoản thông qua máy
rút tiền tự động ATM
- Thẻ tín dụng (credit card): Đó là một tấm thẻ bằng nhựa cứng, hình chữ nhật Các tổ
chức phát hành thẻ tin dụng đảm bảo rằng họ sẽ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch
vụ cho người bán thay cho người sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng của thẻ Số tiền
đó được người mua thanh toán lại cho các tổ chức này sau một thời gian nhất định Hàng năm người sử dụng thẻ tín dụng sẽ phải trả cho tổ chức phát hành một khoản phí sử dụng, ngoài ra còn phải trả phí thanh toán hộ cho mỗi lần thanh toán thẻ
- Thẻ ghi nợ (debit card): Về hình thức tương tự như thẻ tín dụng Tuy nhiên khác với
thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ không phải là công cụ để vay tiền mà để tiêu tiền trong tài khoản Gần đây người ta thường nhắc đến một thẻ cao cấp hơn gọi là thẻ thông minh (smart card) Thẻ thông minh thực chất là dạng thẻ ghi nợ, chỉ khác là trên thẻ có găn
Trang 7them một bộ phận xử lí (con chip máy tính) cho phép lưu trữ ngay trên thẻ một số lượng tiền số (digital cash) Tiền số này có thể nạp từ tài khoản ngân hàng vào thẻ thông minh qua các máy ATM, máy tính cá nhân hoặc bằng các điện thoại có trang bị
bộ phận nạp tiền Các thẻ thông minh cao cấp hơn còn gọi là Super Smart Card còn cho phép ghi lại các giao dịch của người sử dụng thẻ và có màn hình hiển thị, thậm chí là cả bàn phím
- Tiền mặt điện tử: Đây là một dạng tiền điện tử được sử dụng để mua sắm hàng hóa
hoặc dịch vụ trên Internet Những người sử dụng loại tiền này có thể tải tiền từ tài khoản của mình ở ngân hàng về máy tính cá nhân rồi khi duyệt Web mua sắm có thể chuyển tiền từ máy tính của mình đến máy tính của người bán hàng để thanh toán
II Ngân hàng Trung Ương Việt Nam
Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung Ương chính là trái tim của nền kinh tế Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một Ngân hàng Trung Ương thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của Ngân hàng Trung Ương cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, Ngân hàng Trung Ương cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
1 Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước Việt Nam
1951 – 1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương
đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính, Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước, Phát triển tín dụng ngân hàng
1955 – 1975: Cả nước kháng chiến chống Mỹ, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau: Củng cố thị trường tiền tệ, Phát triển công tác tín dụng
1875 – 1985: Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã được quốc
hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động như một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
Trang 81986 đến nay: Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về
ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính) Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung Ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối
và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
2 Mô hình hiện nay của Ngân hàng Trung Ương:
Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các
tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nguyên nhân lựa chọn mô hình:
Xét về bản chất: Ngân hàng Trung Ương vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc Ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ -tính dụng – ngân hàng Tức mục đích là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhàm đảm bảo cho lưu thông tiền tệ ổn định, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiểm soát lạm phát
Trang 9Dựa vào chức năng của Ngân hàng Trung Ương ta thấy ở bất cứ mô hình nào Ngân hàng Trung Ương cũng có chứ năng độc quyền phát hành tiền giấy, nên tiêu thức phát hành độc quyền giấy bạc Ngân hàng bị loại trừ
Dựa vào chức năng điều hành lưu thông tiền tệ, quản lý hệ thống Ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô hay vấn đề được bàn luận sôi nổi hiện nay là kiềm chế lạm phát thì ở mỗi
mô hình lại cho một kết quả khác nhau
Về tiêu thức phân biệt giữa các mô hình tựu chung lại chính là sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương với chính phủ
Chúng ta sẽ dựa trên hai tiêu thức trên nhằm liên hệ với mô hình Ngân hàng Trung Ương tại Việt Nam
Mối liên hệ của hai tiêu thức trên là sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương sẽ ảnh hưởng đến khả năng quản lý ổn định kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Trung Ương Nhưng độc lập không có nghĩa là tách ra khỏi Chính phủ, mà nó thể hiện bởi 3 tiêu thức cơ bản là mức
độ quyết định của Ngân hàng Trung Ương trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, mức độ tự chủ về ngân sách, ảnh hưởng của áp lực chính trị tác động vào các vấn đề tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Trung Ương Tính độc lập sẽ khác với việc hiểu đơn giản là độc lập về mặt vị thế
Việc lựa chọn mô hình nào, Ngân hàng Trung Ương độc lập như thế nào không những chỉ dựa vào những tiêu thức trên mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế
-xã hội và thể chế chính trị của từng nước
Nước ta có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Kinh tế thị trường” mang tính khách quan, “định hướng xã hội chủ nghĩa” mang tính chủ quan, để đưa một
sự việc khách quan thành chủ quan cần có sự tác động của một chủ thể bên ngoài và đó không ai khác chính là chính phủ, điều này càng xác định rõ hơn việc lựa chọn mô hình Ngân hàng Trung Ương của nước ta Để đạt được mục tiêu chiến lược của quốc gia thì việc Ngân hàng Trung Ương trực thuộc chính phủ là … hợp lý! Tuy nhiên không vì lựa chọn mô hình này ma ta làm lơ với sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương, nếu không
Trang 10chúng ta sẽ phải chịu hậu quả nặng nề trước sự biến động không ngừng của thị trường tài chính nói riêng hay cả nền kinh tế toàn cầu nói chung Để tồn tại trước những chấn động không ngừng này bắt buộc Ngân hàng Trung Ương phải có phản ứng nhanh nhạy trước những biến động đó, mà sự nhanh nhạy, linh hoạt này lại gắn liền với sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương Do đó dù lựa chọn mô hình Ngân hàng Trung Ương trực thuộc chính phủ thì cũng rất cần thiết nâng cao tối đa tính độc lập của Ngân hàng Trung Ương, bởi có thế Ngân hàng Trung Ương mới đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô hiệu quả, đặc biệt trong giai đoạn kiềm chế lạm phát hiện nay Thực sự đề tài chỉ giới hạn ở việc liên hệ với VIệt Nam nên nhóm không đi sâu vào phân tích sự độc lập của Ngân hàng trung ương nhưng nhóm cũng cung cấp một số thông tin nhỏ về vấn đề này Theo một nghiên cứu được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào tháng 12/2004, về cơ bản, các Ngân hàng Trung Ương trên thế giới được phân thành 4 cấp độ độc lập tự chủ gồm: (i) Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động; (ii) Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động; (iii) Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành; và (iv) Độc lập tự chủ hạn chế
Sau đây là một số nhận xét cũng như đề xuất về việc tăng tính độc lập của Ngân hàng Trung Ương: Một trong những lý do ảnh hưởng lớn đến tính độc lập của Ngân hàng Trung Ương chính là mục tiêu của chính phủ về chính sách tiền tệ - tài chính – ngân hàng Ý kiến ở đây không phải về mục tiêu là gì và mục tiêu phù hợp không mà ý kiến của nhóm muốn nói về mục tiêu như thế nào Có nghĩ là việc đưa ra mục tiêu thiếu tính
cụ thể, nhất quán, gây xung đột nhiều Về việc nâng sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương tới mức tách bạch khỏi chính phủ có lẽ nước ta vẫn chưa đủ điều kiên về khả năng quản lý cũng như cơ sở hạ tầng Và cũng không đảm bảo việc tách bạch khỏi chính phủ
có mang lại hiệu quả cao đối với các mục tiêu do chính phủ đề ra không
Lợi ích từ việc sử dụng mô hình Ngân hàng Trung Ương trực thuộc chính phủ của Việt Nam:
- Tạo được sự đồng bộ trong mục tiêu phát triển kinh tế với chính phủ.