1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và ứng dụng trong việc phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng

18 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 56,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUXuất phát từ tính cấp thiết, ý nghĩa thực tiễn của nguyên lý mối liên hệ phổ biến trong cuộc sống, đặc biệt ngày nay vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề vô cùng nhức n

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Xuất phát từ tính cấp thiết, ý nghĩa thực tiễn của nguyên lý mối liên hệ phổ biến trong cuộc sống, đặc biệt ngày nay vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề vô cùng

nhức nhối và được mọi người quan tâm, em chọn “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và ứng dụng trong việc phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

Mục đích của tiểu luận là góp phần làm rõ lý thuyết và thực tiễn của phép biện chứng

về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

Để đạt được mục đích nói trên, nhiệm vụ của tiểu luận là:

1 Phân tích phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

2 Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

Tiểu luận tập trung nghiên cứu các đối tượng: phép biện chứng, nguyên lý về mối liên

hệ phổ biến

Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm hai phần:

Một là Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến.

Hai là Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường

sinh thái

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

I PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

1 Biện chứng và phép biện chứng

1.1 Biện chứng là gì?

Biện chứng là khái niệm chỉ sự liên hệ, vận động, chuyển hóa và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống

1.2 Phép biện chứng

1.2.1 Khái niệm:

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy, khái quát thành hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù khoa học

1.2.2 Các hình thức phép biện chứng:

Phép biện chứng gồm hai hình thức:

a, Phép biện chứng duy tâm: là học thuyết nghiên cứu biện chứng của thế giới tinh thần với tư cách là cái có trước sinh ra biện chứng của thế giới vật chất, khái quát thành hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù khoa học

b, Phép biện chứng duy vật:

Khái niệm phép biện chứng duy vật: là học thuyết nghiên cứu biện chứng của thế

giới vật chất với tư cách là cái có trước sinh ra biện chứng của thế giới tinh thần, khái quát thành hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù khoa học nhằm xác lập một hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn

Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

Trang 3

Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học Với đặc trưng

này, phép biện chứng duy vật không chỉ có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điểm Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen, mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại

Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, do đó nó khoong chỉ dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới Mỗi nguyên lí, quy luật trong phép biện chứng duy vật của

chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới

2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật,

Trang 4

hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng

2.2 Tính chất của các mối liên hệ

- Tính khách quan của các mối liên hệ

Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của

nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thưc tiễn của mình

- Tính phổ biến của các mối liên hệ

Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trính khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trucsheej thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với

hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

- Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ

Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữa vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác,

Trang 5

cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của

sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau

Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong nhưng điều kiện không gian và thời gian cụ thể

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến rút ra quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần

phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn

V.I.Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”

Trang 6

II VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN ĐỂ PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI.

1 Vấn đề tăng trưởng kinh tế

1.1 Tăng trưởng kinh tế là gì?

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định Nó thể hiện sự thay đổi

về số lượng, chất lượng, quy mô của một nền kinh tế theo chiều hướng đi lên Tăng trưởng kinh tế dài hạn là điều kiện tiên quyết tạo nên những tiến bộ về kinh tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế đang được xem là nhiệm vụ cấp thiết quan trọng nhất ở hầu hết các quốc gia

1.2 Các hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986, Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Nó được tiến hành toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Để đất nước có thể hội nhập với thế giới, chính phủ đã và đang đẩy mạnh các chính sách như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, đầu tư phát triển khoa học công nghệ, chính sách thương mại tự do Từ đó thu được những thành quả không nhỏ cho công cuộc phát triển kinh tế

2 Môi trường sinh thái

2.1 Khái niệm

Trang 7

Sinh thái được hiểu là nhà ở, nơi cư trú, sinh sống trong khi môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó Qua

đó có thể hiểu môi trường sinh thái là “bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống” Đối với con người, môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có mối liên hệ tới sự sống của con người,

sự tồn tại và phát triển của xã hội

2.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sinh thái

Môi trường cung cấp cho ta không gian để sống, nguồn tài nguyên để sản xuất

và cũng chính là nơi chứa đựng rác thải Vì vậy, bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ

sự sống của chúng ta Bảo vệ môi trường sinh thái là giữ cho môi trường luôn trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, cải thiện môi trường, đồng thời ngăn chặn, khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên tạo ra, khai thác và

sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên Đây chính là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách của mỗi quốc gia, là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của bất kì tổ chức, cá nhân nào Có bảo vệ tốt thì cuộc sống chúng ta mới phát triển tốt đẹp bền vững và lâu dài

3 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái thông qua phép biện chứng

3.1 Mối liên hệ

Giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đó chính là mối quan hệ biện chứng bao gồm hai mặt thống nhất và mâu thuẫn

Trang 8

Tăng trưởng kinh tế được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó là cái tồn tại chủ quan Trong khi đó, môi trường sống sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức của con người Tuy nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, con người có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm môi trường tốt lên hay xấu đi Môi trường chịu tác động của con người, tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc vào con người, do đó có thể nói môi trường chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại Hai yếu tố này thống nhất với nhau về mục đích trong quá trình phát triển một chỉnh thể là tự nhiên - xã hội Điều đó được thể hiện qua một số khía cạnh như sau:

 Về tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên: nước giàu và nghèo có sự chênh lệch

về việc nhìn nhận mức độ tiêu dùng nguồn tài nguyên Cụ thể, đối với nước giàu thì sự phát triển kinh tế bền vững phải gắn với cắt giảm đáng kể mức độ tiêu dùng lãng phí

về năng lượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi nước nghèo chỉ chú tâm vào việc khai thác để xuất thô một cách cạn kiệt Phát triển kinh tế giúp nâng cao đời sống người dân đồng thời cũng nâng cao nhận thức con người, ý thức bảo vệ môi trường tăng lên

 Về bầu khí quyển: tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho con người tạo nên những máy móc, công cụ sản xuất ít gây ảnh hưởng đến môi trường Các khu công nghiệp đang cố gắng giảm thiểu lượng khí thải bay vào bầu khí quyển Nhiều nhà máy, khu

xử lí rác thải được xây dựng cũng góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ môi trường

 Về môi trường nước: kinh tế càng phát triển, hệ thống xử lí nước sạch càng hiện đại,

Trang 9

máy móc xử lí rác thải giúp giảm lượng rác đổ ra biển, hồ, sông…Kinh tế phát triển, nguồn nước cũng được bảo vệ an toàn Như vậy, xét về một khía cạnh nào đó thì phát triển kinh tế đã tác động tích cực đến bảo vệ môi trường

Ngược lại, môi trường sinh thái trong lành, ổn định cũng là điều kiện, cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế vì: Môi trường sinh thái trong lành giúp con người cảm thấy thoải mái, hưng phấn trong cuộc sống, đảm bảo sức khoẻ tốt cũng là cách để làm việc hiệu quả Bảo vệ môi trường sinh thái tạo nên môi trường sống ổn định, phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng chính là phát triển nền kinh tế lâu dài

Từ đó, có thể thấy sự phát triển kinh tế xã hội một cách tiến bộ khi có sự kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu là phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Mặc dù vậy, thực trạng đang dần chứng tỏ mặt mâu thuẫn trong mối liên hệ của hai vấn đề trên Trên thế giới, nền kinh tế đang phát triển chóng mặt, chính điều đó kéo theo nhiều hệ luỵ xấu và mối hiểm hoạ đến môi trường Tài nguyên không phải là vô hạn, nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không cải tạo môi trường thì sẽ đến lúc tăng trưởng phải dừng lại do sự suy thoái của môi trường Đó cũng là lúc con người phải gánh chịu hậu quả

do chính họ gây ra Ngược lại nếu tăng trưởng kinh tế đồng hành với bảo vệ môi trường thì không những đời sống con người ngày càng được cải thiện mà chính môi trường cũng được cải thiện do khi nền kinh tế phát triển ngân sách cho những dự án bảo vệ sinh thái tăng lên, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ dần được thay thế bằng những nguồn tài nguyên mới do con người tự tạo nên

Trang 10

Hiện nay, môi trường đang là vấn đề nóng của toàn nhân loại Thực trạng cho thấy, khí hậu ngày càng khắc nghiệt, khó đoán, mưa bão lũ quét thất thường Con người đã tác động quá nhiều đến môi trường sinh thái Thiên nhiên ban tặng cho con người nhiều thứ nhưng bản thân chúng ta không biết giữ gìn mà đang tự tay huỷ hoại chúng Những số liệu càng chứng minh tính thuận chiều của tăng trường kinh tế và suy thoái môi trường:

 Trong gần 20 năm thực hiện chủ trương chính sách đổi mới, Việt Nam gặt hái không ít thành tựu kinh tế: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trung bình hơn 7%/năm Trong công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm 1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bình 12,9%/năm, trong đó thời kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm

Tỷ trọng công nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, từ mức 22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000

 Chất thải rắn của nền công nghiệp là một mối đe dọa lớn với môi trường.Trong quá trình sản xuất và chế biến các loại kim loại như đồng, niken, kẽm, bạc, vàng…, các kim loại nặng như chì, asen, crom, đồng và kẽm bị thải ra môi trường Việc quản lí chất thải rắn lại gặp nhiều khó khăn, do không có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu

chất thải độc hại trước khi xử lí, không có nhà máy xử lí chất độc Ngoài ra, quá trình công nghiệp còn thải ra một lượng nước thải khá lớn Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước, biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà

Trang 11

máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt…xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng

kể Như ở Trung Quốc, gần đây, ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm (Trung Quốc) gây ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô nhiễm dầu gấp 50 lần mức độ cho phép Không chỉ nước thải, khí thải là nhân tố không nhỏ gây ô nhiễm môi trường Những khí thải như CO2, NOx, CH4, CFC,… ngày càng làm

ô nhiễm không khí Ví dụ ở nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trung bình tại các điểm đo đều vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần Tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí, nồng độ bụi đo được trong 1h từ 4 đến 4,7 mg/m3 , gấp 13 đến 16 lần trị số cho phép Nồng độ chất độc hại trong không khí xung quanh các nhà máy và khu công nghiệp đều vượt tiêu chuẩn cho phép 1,5 đến 2,5 lần

 Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng phát triển thì nhu cầu khai thác các thành phần môi trường để làm nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất ngày càng tăng Quá trình này thể hiện mối liên hệ cơ bản giữa phát triển và môi trường đồng thời cũng là một vấn đề nan giải Việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hao kiệt về tài nguyên, mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng môi trường Nạn khai thác gỗ trái phép gây ra sự suy nghiêm trọng độ che phủ của rừng Nếu như năm 1945 độ che phủ nước ta đạt 43% thì tính đến tháng 12 năm 2000 độ che phủ rừng chỉ còn 29,8% và đang ngày càng bị thu hẹp

 Đối với nông nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay vẫn dựa vào chủ yếu tài nguyên, nông sản và hàng sơ chế Kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thuỷ sản chiếm tới 63% kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên đi đôi với sự gia tăng

Ngày đăng: 05/05/2020, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w