1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong các hộ gia đình ngoại thành hà nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã hữu hòa huyện thanh trì thành phố hà nội)

125 191 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Xã hội học với đề tài “ Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong các hộ gia đình ở ngoại thành Hà Nội hiện nay Nghên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THU QUỲNH

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE

NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH

Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

(Nghên cứu trường hợp tại xã Hữu Hòa- huyện Thanh Trì-

thành phố Hà Nội )

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THU QUỲNH

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE

NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH

Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

(Nghên cứu trường hợp tại xã Hữu Hòa- huyện Thanh Trì-

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Xã hội học với đề tài

“ Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong các hộ gia đình ở ngoại

thành Hà Nội hiện nay (Nghên cứu trường hợp tại xã Hữu Hòa- huyện Thanh Trì- thành phố Hà Nội)” ngoài sự nỗ lực của bản thân, Tôi đã nhận được rất

nhiều sự giúp đỡ để hoàn thiện luận văn

Trước tiên Tôi xin được cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Mai, nguyêncán bộ Viện xã hội học đã về hưu, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dạy

dỗ và giúp đỡ Tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa

Xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Những người đãdạy dỗ, giúp đỡ Tôi trong những năm qua, cho Tôi kiến thức để Tôi có thểhoàn thành luận văn này

Cuối cùng Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè vànhững người thân đã luôn ở bên giúp đỡ và động viên Tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài

Một lần nữa Tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ dẫn và giúp đỡ quý báu của tất cả mọi người!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Người thực hiện

Lê Thu Quỳnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: Ban Chủ nhiệm Khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đồng kính gửi: Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp khoa Xã hội học.Tôi tên là: Lê Thu Quỳnh, học viên chuyên ngành Xã hội họcQH2014

Trong quá trình thực hiện Luận văn Tôi đã nhận được sự hướng dẫn

và chỉ bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn - PGS.TS Nguyễn Xuân Mai,điều đó thực sự đã trở thành động lực giúp Tôi hoàn thành đề tài luận văn tốtnghiệp đúng thời hạn Trong quá trình thực hiện đề tài Tôi luôn đề cao tínhtrung thực và nghiêm túc của người làm nghiên cứu

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả luận văn là trung thực và xuất phát từ tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu Nếu có dấu hiệu của việc sao chép, vi phạm nghiên cứu của người khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Người thực hiện

Lê Thu Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa nghiên cứu 3

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 15

7 Phương pháp nghiên cứu 15

1.2.1 Lý thuyết cơ cấu xã hội 31

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 32

1.2.3 Lý thuyết vai trò 36

1.2.4 Lý thuyết vai trò bệnh của Talcott Parsons 39

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi 41

1.4 Khái lược về địa bàn nghiên cứu 45

1.4.1 Điều kiên tự nhiên 45

1.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 45

Trang 6

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

48

2.1 Các đặc điểm của người cao tuổi 48

2.1.1 Các đặc điểm về nhân khẩu học, xã hội của người cao tuổi 482.1.2 Các đặc điểm về đời sống của người cao tuổi50

2.2 Người cao tuổi và gia đình trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

65

2.2.1 Tình hình sức khỏe của người cao tuổi tại địa phương 65

2.2.2 Người cao tuổi tự chăm sóc sức khỏe 73

2.2.3 Gia đình trong chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi 76

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 89

2.3.1 Các đặc điểm nhân khẩu xã hội, thu nhập và mức sống của người caotuổi 89

2.3.2 Nguồn lực tham gia chăm sóc người cao tuổi91

2.3.3 Kiểu hộ gia đình của người cao tuổi 93

2.3.4 Độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm y tế) 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.5 Tình trạng sức khỏe thể chất của người cao tuổi (%) 66

Bảng 2.6 Tình trạng sức khỏe thể chất của người cao tuổi theo độ tuổi (%)

67Bảng 2.7 Tình trạng sức khỏe tinh thần của người cao tuổi theo độ tuổi (%)

68Bảng 2.8 Các loại bệnh thường gặp của người cao tuổi (%) 71

Bảng 2.9 Người hỗ trợ người cao tuổi nhiều nhất trong sinh hoạt hàng ngày (%)

76Bảng 2.10 Người hỗ trợ người cao tuổi nhiều nhất theo độ tuổi (%) 77Bảng 2.11 Người chăm sóc chính cho người cao tuổi khi ốm đau (%) 80Bảng 2.12 Người chi trả tiền điều trị/ thuốc men chủ yếu theo trình độ học

vấn và giới tính của người cao tuổi (%) 83

Bảng 2.13 Mối liên hệ giữa mô hình sắp xếp cuộc sống với mức độ chăm sóc

sức khỏe người cao tuổi (%) 94

2 Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ người cao tuổi có bảo hiểm y tế (%) 60

Biểu đồ 2.2 Các biện pháp nâng cao sức khỏe của người cao tuổi theo mức

sống (%) 74

Trang 9

Biểu đồ 2.3 Những khó khăn của gia đình trong chăm sóc sức khỏe người

cao tuổi (%) 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, NCT trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có

xu hướng tăng nhanh Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn già hóa dân sốvới một tốc độ rất nhanh.Vào thời điểm 2016 có khoảng 7% dân số Việt Nam,tương đương 6,5 triệu người từ 65 tuổi trở lên, và có trên 10% dân số 60 tuổitrở lên Vào năm 2040 số người từ 65 tuổi trở lên dự báo sẽ tăng gấp 3 và đạt18,4 triệu người, chiếm 17% dân số Nói theo cách khác, tỷ lệ phụ thuộc, tức

là số người từ 65 tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi lao động, dự báo

sẽ tăng gần gấp 3, từ 10% hiện nay lên 26% vào năm 2040 [31] Khác vớinhiều nước, Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số trong điều kiện thunhập bình quân đầu người còn rất thấp Điều đó có nghĩa là năng lực tàichính và hành chính cần có để quản lý quá trình này bị hạn chế Già hóa dân

số sẽ có những khó khăn, thách thức lớn trong việc thực hiện chính sách,đảm bảo các nhu cầu trong cuộc sống, đặc biệt là nhu cầu chăm sóc sức khỏengười cao tuổi

Thực tế cho thấy, quá trình già hóa dân số không chỉ liên quan tới rủi ro

tử vong ngày càng cao do những biến đổi về mặt sinh học mà còn liên quantới hạn chế về chức năng hoặc nguy cơ với đau ốm kinh niên ngày càng tăng.Sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của NCT Phân tích của Sidell(1995) (theo trích dẫn của Sim, 2001) cho thấy ốm đau sẽ dẫn đến mất tự chủ

và độc lập trong cuộc sống, làm giảm sự năng động, mất sự tôn trọng và sự tựtin Đối với NCT, sự tổn thương về tinh thần do sức khỏe yếu còn nghiêmtrọng hơn hao tổn vật chất Vì vậy, NCT luôn cần được chăm sóc

Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có 72,9% người cao tuổi sống

ở nông thôn và phần lớn trong số này là nông dân và làm nông nghiệp, 21%người cao tuổi được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí hoặc mất sức và 70% cònlại sống chủ yếu bằng nỗ lực của chính mình Chính vì vậy, khi đất nước

Trang 11

chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt vớinhiều khó khăn, phải thích nghi với nhiều thay đổi chưa từng có trước đây.Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố vàtác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều, đó chính là điều kiệnthuận lợi để bệnh tật phát sinh, phát triển Ngoài ra, ở người cao tuổi bệnhthường phát triển chậm chạp, âm thầm khó phát hiện và khi mắc bệnh thườngmắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng Vì vậy,đối với người cao tuổi, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe toàn diện như việcrèn luyện nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần, khám phát hiện và điềutrị bệnh kịp thời là rất cần thiết

Chăm sóc sức khỏe cho NCT vẫn được xem là một trong các hoạt động

vốn có của gia đình Ngạn ngữ “ trẻ cậy cha, già cậy con” có thể coi là một

biểu hiện của triết lý phổ biến về quan hệ giữa các thế hệ và sự hỗ trợ lẫnnhau của những thành viên trong gia đình Con cái chăm sóc cha mẹ già,không chỉ là nghĩa vụ mà được coi như công việc thiêng liêng, phẩm chất cao

quý cần có, được coi như một thứ “đạo”, ở đây là “đạo hiếu” Việc giáo dục và nhận thức về “ chữ hiếu” dường như đã ăn sâu trong tiềm thức cũng như trong

nhận thức của nhiều thế hệ Nhận thức này có thể đã định hướng và chi phốihành vi không chỉ của các cá nhân trong phạm vi gia đình mà cả ở phạm vicộng đồng và xã hội

Hữu Hòa là nằm ở phía Tây Nam huyện Thanh Trì là một xã ở ngoạithành cách trung tâm thành phố khoảng 20km, đang trong quá trình đô thịhóa Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, giađình nhiều thế hệ bắt đầu có xu hướng chuyển thành gia đình hạt nhân Mặtkhác dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa ngày càngnhanh, người dân sống ở xã có xu hướng di dân vào trung tâm thành phố đểtìm kiếm việc làm đặc biệt là những thanh niên trẻ làm quy mô gia đình giảm,phụ nữ trở thành lao động chính, dẫn tới sự hỗ trợ từ phía gia đình trong chăm

Trang 12

sóc sức khỏe NCT là rất hạn chế Đây là một gánh nặng đối với NCT và làmcho nhu cầu chăm sóc về tinh thần của NCT từ con cái không được đáp ứngnhư mong đợi

Trong bối cảnh của một xã hội chuyển đổi, các giá trị và chuẩn mựctruyền thống có sự thay đổi, đảo lộn Cấu trúc gia đình biến đổi theo hướnghạt nhân hóa và các cố kết cộng đồng trở nên lỏng lẻo… Thêm vào đó, nhữngxáo trộn trong đời sống gia đình do quá trình di cư đem lại đang tiềm ẩn, tácđộng xấu đối với NCT [3] Phải chăng sự phát triển, thu hẹp quy mô gia đìnhtruyền thống đang làm suy yếu vai trò chăm sóc chủ đạo của gia đình, đặc biệt

ở vùng nông thôn, trong bối cảnh hệ thống ASXH chưa bao phủ rộng ? Vìthế, câu hỏi nghiên cứu đặt ra cho nghiên cứu này là thực trạng chăm sóc sứckhỏe cho NCT trong các hộ gia đình ngoại thành đang diễn ra như thế nào?Các yếu tố nào tác động tới chất lượng chăm sóc sức khỏe cho NCT? Chính

vì vậy mà tôi chọn đề tài “Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong các hộ gia đình ở ngoại thành Hà Nội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Hữu Hòa- huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội).

2 Ý nghĩa nghiên cứu

2.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn này góp phần mang lại một góc nhìn mới về thực trạng chămsóc sức khỏe người cao tuổi trong các hộ gia đình tại xã Hữu Hòa- huyệnThanh Trì- thành phố Hà Nội qua việc nhận diện những đặc điểm nhân khẩuhọc, đời sống của người cao tuổi cũng như những hoạt động chăm sóc sứckhỏe người cao tuổi của gia đình và bản thân người cao tuổi trong sinh hoạthàng ngày và khi ốm đau Trên cơ sở đó luận văn góp phần làm sáng tỏ cácquan điểm lý luận về người cao tuổi và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ngày nay, NCT trở thành vấn đề toàn cầu và đang là mối quan tâm củacộng đồng quốc tế bởi người cao tuổi đang ngày càng gia tăng về số lượng và

Trang 13

đang có xu hướng tăng nhanh do tác động của hai yếu tố: tuổi thọ bình quântăng cùng với sự tiến bộ của y học và tăng trưởng kinh tế Kéo theo đó là vấn

đề chăm sóc sức khỏe đối với NCT cũng được quan tâm một cách toàn diện.Chăm lo cho sức khỏe của NCT là một trong những nhiệm vụ quan trọngkhông chỉ của cá nhân, gia đình và toàn xã hội Vì vậy, kết quả nghiên cứu sẽ

là một gợi ý và có thể được cung cấp cho cán bộ địa phương, cộng đồng đểnhận thức rõ hơn về thực trạng chăm sóc sức khỏe cho NCT trong các hộ giađình, trên cơ sở đó chỉ ra những vấn đề mà gia đình và cộng đồng cần quantâm để chăm sóc và phát huy vai trò của NCT ngày càng tốt hơn

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trước hiện tượng già hóa dân số mang tính toàn cầu, mới xuất hiệntrong thế kỷ XX và trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số choviệc phát triển KT-XH và an sinh xã hội, các nghiên cứu dân số NCT đã đượctiến hành từ những năm 50 của thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển, đãchuyển sang giai đoạn “ Gìa hóa dân số” Nhiều viện nghiên cứu và các tổchức xã hội đã nghiên cứu NCT trên phương diện, đặc biệt là những đặc điểmtâm lý và sinh lý của lứa tuổi Thời gian đó chủ yếu là các tài liệu, bài viết vàcác công trình nghiên cứu về NCT nói riêng Sau này những nghiên cứu dân

số NCT cũng đã được thực hiện tại các quốc gia đang phát triển khi các quốcgia này bắt đầu chuyển sang cơ cấu dân số già hóa Đã có nhiều công trìnhnghiên cứu trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu về NCT và chăm sóc NCThiện nay:

3.1 Những nghiên cứu về già hóa dân số

Có thể nói rằng vấn đề về NCT luôn được quan tâm chú ý Chính vìthế, các nghiên cứu về NCT cũng xuất hiện rất sớm Liên Hợp Quốc cũng đãtiến hành nhiều nghiên cứu về lĩnh vực già hóa dân số nói chung và NCT nóiriêng của thế giới Các nghiên cứu được định kỳ công bố các công trình dựbáo sự già hóa dân số nói chung cho toàn thế giới, từng khu vực và cụ thể cho

Trang 14

từng quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc Ở Châu Âu, những nghiên cứu

về NCT được tiến hành từ những năm 1980 với những đề tài như: “ Quà tặng

các cụ già, bàn về biện pháp để kéo dài cuộc sống” của M.J.Tenon (1815);

“Bàn về tuổi thọ loài người và về lượng sống trên thế giới” của P.Fluorons

(1860); “ Tuổi già xanh tươi” của Alexando (1919) Những nghiên cứu này đã

điều tra thực trạng sống của NCT cũng như tình trạng sức khỏe cho NCT đểkéo dài tuổi thọ cũng như giúp cho NCT có được cuộc sống thoải mái hơn.Tại khu vực Châu Á, nhiều nước cùng khu vực, đặc biệt là Nhật bản, HànQuốc cũng đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu về già hóa dân số, người caotuổi để xác định những chính sách, giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởngtiêu cực của già hóa dân số

Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ NCT so vớitổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân sốViệt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 Với sự thayđổi về cơ cấu dân số sẽ tạo ra những thách thức cũng như cơ hội cho ViệtNam Dự báo dân số cũng cho thấy tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóngtrong thời gian tới khi tốc độ tăng của dân số cao tuổi ngày càng lớn Nếunăm 2009, cứ hơn 7 người trong độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ 1 NCT thì đến năm

2049, tỷ số này chỉ là 2, tức là giảm hơn 3 lần Quá trình già hóa dân số ở ViệtNam là sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng NCT ở độ

tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn (NCT trong gia đình Việt

Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân).

Các nghiên cứu về NCT trong những năm gần đây đều chỉ ra rằng hiệntượng già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ cao ở Việt Nam Đa số NCT ởViệt Nam đang sống ở vùng nông thôn và chỉ có một số lượng nhất định trong

số họ được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp mất sức hoặc các trợ cấp xã hộikhác Một tỷ lệ khá cao NCT vẫn còn làm việc dưới nhiều hình thức khácnhau Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, trong số

Trang 15

7.664.300 NCT (60 tuổi trở lên) trên toàn quốc, có 2.696.668 người đang làmviệc (chiếm 35.2% số người cao tuổi), trong đó nam giới cao tuổi (41.7%)đang làm việc tạo thu nhập nhiều hơn nữ giới (30.3%) Có 18.6% người 65tuổi trở lên di cư tham gia lực lượng lao động

Nghiên cứu “ Hoàn cảnh của Người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm

2001, do Help Age International (HAL) phối hợp với Hội NCT Việt Nam, BộLĐTBXH, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học và Trung tâmnghiên cứu Hỗ trợ NCT thực hiện Nghiên cứu được tiến hành ở 5 tỉnh / thànhphố: TP Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận và Phú Yên Nghiên

cứu chỉ ra rằng “ Già trong xã hội Việt nam trước hết là các thay đổi về chất,

sau đó là những thay đổi trong quan niệm của NCT về chính bản thân họ, những quan niệm của người khác về họ, và sự thay đổi vai trò” [18] NCT

nghèo vẫn phải tiếp tục lao động cho đến khi nào sức khoẻ của họ còn chophép, bất chấp những giới hạn về thể chất, đóng góp nhiều việc quan trọng

cho gia đình và cộng đồng Tác giả cũng đã chỉ ra rằng “ Những vấn đề quan

tâm hàng đầu của NCT nghèo là sức khoẻ và chăm sóc y tế; sự đáp ứng nhu cầu về lương thực, nước sinh hoạt, quần áo và nhà ở; thiếu tiền và cơ hội việc làm tạo thu nhập; bị phân biệt và không được kính trọng Bên cạnh đó

NCT còn phải chịu hậu quả của nhiều bất lợi như không còn bạn đời, không

có gia đình, sức khoẻ kém, thiếu tiền bạc và không của cải”.[18]

Trong cuốn sách “ Trong miền an sinh xã hội- Nghiên cứu về tuổi già

Việt Nam” xuất bản năm 2005 của Bùi Thế Cường đã giúp người đọc có một

hình dung tổng quát về những đặc điểm của NCT thông qua số liệu khảo sáttại Đồng bằng sông Hồng theo thủ tục chọn mẫu cho phép đại diện cho vùngnghiên cứu Bên cạnh đó tác giả cũng đã trình bày hiện trạng những nguồnlực vật chất cơ bản của NCT Đồng bằng sông Hồng hiện nay, dựa trên số liệu

cuộc khảo sát RRDES 1996 Phân tích cho thấy “ nổi bật ba nguồn vật chất

chính mà NCT Đồng bằng sông Hồng đang tựa vào Đó là tự lập (lao động

Trang 16

bản thân hoặc tài sản đã tích luỹ từ trước), giúp đỡ của con cái và trợ cấp nhà nước” Đặc biệt hơn là tác giả đã mô tả về những dàn xếp đời sống gia

đình cho NCT [3]

Bài viết “Người cao tuổi và gia đình” của Trần Thị Vân Anh (số

2-2008) Dựa trên số liệu Điều tra về Gia đình Việt Nam năm 2006 đã phân tích

cơ cấu nguồn sống của NCT hiện nay và nêu một số vấn đề kiên quan đến

chính sách đối với họ Kết quả cho biết “NCT hiện dựa vào nhiều nguồn sống

đa dạng, trong đó chu cấp của con cháu là nguồn quan trọng nhất đối với hầu hết các nhóm NCT” Về tầm quan trọng của chính sách chăm sóc NCT,

các vấn đề đặt ra trao đổi bao gồm đối tượng của chính sách bảo trợ, việc kếthợp giữa gia đình, nhà nước và thị trường trong việc chăm sóc họ Tác giả chorằng cần có các giải pháp giảm dần sự lệ thuộc của NCT vào chu cấp của concháu, tăng tỷ lệ hưởng trợ cấp và xây dựng một cơ cấu cân đối hơn giữa cácnguồn Đây cũng là gợi ý nhằm giúp cuộc sống của NCT ổn định hơn trên cơ

sở đáp ứng tốt hơn các nhu cầu cuộc sống hàng ngày

Một nghiên cứu khác“Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam:

Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ Dân số Liên

hợp quốc (UNFPA) khởi xướng trong khuôn khổ chương trình Kế hoạch MộtLiên hợp quốc cũng đã đề cập đến vấn đề già hóa dân số, và những và thựctrạng dân số cao tuổi ơ Việt Nam xét theo các khía cạnh nhân khẩu học, cuộcsống gia đình, sức khỏe và dịch vụ chăm sóc sức khỏe; lao động việc làm vàcác chế độ an sinh xã hội cho NCT như hệ thống hưu trí và chương trình trợcấp xã hội cho NCT với các vấn đề về độ bao phủ, mức độ tiếp cận, phân phối

và giảm nghèo Đồng thời phân tích một số chính sách, chương trình quantrọng dành cho NCT đã và đang được thực hiện ở Việt Nam để thấy đượcnhững điểm tích cực cũng như những sự thiếu hụt về mặt chính sách và thực

hiện chính sách ở Việt Nam [29] Trong phần 2- Đời sống gia đình, văn hóa

tinh thần của người cao tuổi của Báo cáo có tập trung làm rõ đời sống của

Trang 17

NCT Báo cáo chỉ ra rằng “ Đời sống văn hóa gia đình, văn hóa và tinh thần

cho biết nhiều hàm ý về phúc lợi của NCT được thể hiện qua tình trạng hôn nhân, việc sống cùng hay không sống cùng với con, cháu Vợ/ chồng của NCT

có thể là nguồn hỗ trợ và chia sẻ chủ yếu về vật chất, tinh thần như chăm sóc khi bị đau ốm hoặc dễ tổn thương” [31, tr.22] “Một điểm đáng chú ý là trong những năm qua tỷ lệ NCT sống với con cái với vị thế là người sống phụ thuộc

ở mọi lứa tuổi lại có xu hướng giảm đi nhanh chóng Điều này có thể là do vị thế kinh tế của NCT đã được cải thiện, nhưng cũng có thể là do mô hình gia đình ở Việt Nam đang thay đổi theo xu hướng mà ở đó con cái ngày càng độc lập với cha mẹ Tỷ lệ NCT sống cô đơn tăng từ 3,47% năm 1992/93 lên 6,14 năm 2008” [31, tr 23] Báo cáo cũng chỉ ra “Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

và trợ cấp xã hội là 3 trụ cột chính dành cho NCT hiện nay” [31,tr.42] Rõ

ràng qua đây, chúng ta có thể thấy sự hỗ trợ, trợ cấp của nhà nước đang đóngvai trò ngày càng quan trọng trong việc hỗ trợ, chăm sóc NCT, mặc dù vẫncòn nhiều bất cập trong việc thực hiện Vợ/chồng NCT là nguồn trợ giúp chủyếu cho họ lúc ốm đau, có vấn đề, con cái thì ngày càng tách biệt với cha mẹ

Như vậy chúng ta có thể thấy, NCT là một vấn đề được rất nhiều nhànghiên cứu quan tâm Tuy nhiên các nghiên cứu về NCT thời gian trước vàgần đây mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một

số đặc thù, hoạt động kinh tế, tạo thu nhập, chế độ an sinh đảm bảo cuộcsống, vai trò của gia đình, cộng đồng, nhà nước và những dịch vụ tư nhân hỗtrợ đời sống cho họ

3.2 Những nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Trong những năm gần đây, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho NCT tronggia đình, cộng đồng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm Những nghiêncứu không chỉ phản ánh được tình trạng sức khỏe, bệnh tật của NCT mà cònlàm rõ được vai trò của gia đình trong chăm sóc sức khỏe về cả mặt thể chất,mặt tinh thần cũng như quan hệ xã hội cho họ:

Trang 18

Các cuộc nghiên cứu, điều tra về NCT cũng đã phản ánh tình hình sức khỏe của họ nói chung, hay sức khỏe theo giới nói riêng VNAS thu thập

số liệu từ tháng 10 – 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố đại điện cho 6 vùng sinhthái của Việt Nam (bao gồm Thái Nguyên, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội,Nam Định, Huế, Đắk Lắk, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang và TP Hồ ChíMinh) Hơn 4.000 người đại diện cho nhóm dân số cận cao tuổi và cao tuổi(từ 50 tuổi trở lên) đã được mời tham gia cuộc điều tra này Tại thời điểmđiều tra, có tới trên 50% số NCT được phỏng vấn cho rằng, tình trạng sứckhỏe hiện tại là yếu hoặc rất yếu Đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau lưng làcác triệu chứng thường gặp nhất NCT Gần 40% NCT được chẩn đoán cóbệnh huyết áp Trên 30% được chẩn đoán viêm khớp Tiếp theo là một sốbệnh như tim mạch, răng miệng, viêm phế quản hoặc bệnh phổi mãn tính,song tỷ lệ mắc các bệnh này không quá 20% NCT ở thành thị mắc tiểu đườngcao hơn nông thôn Tỷ lệ NCT gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hàngngày như ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo hay đi đại tiểu tiện là 30% Hơn80% NCT bị chấn thương trong vòng 12 tháng qua được điều trị bởi cán bộ y

tế Trong số NCT phải trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, gần 50%trong số họ không đủ tiền chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Mộtđiểm đáng lưu ý là tỷ lệ NCT nam được vợ chăm sóc chiếm 65,5%, trong khi

đó NCT nữ được chồng chăm chỉ có 20,1% Đây là một yếu tố về bất bìnhđẳng giới cần được quan tâm [11]

Nghiên cứu “Thực trạng sức khỏe và đời sống người cao tuổi ở Hải

Dương, Quảng Bình và Đắk Lắk” TS Nguyễn Thế Huệ - GĐ Trung tâm

nghiên cứu Dân số và Phát triển, Viện Khoa học Xã hội VN đăng trên Tạp chíDS&PT, số 10/2004, Website Tổng cục DS-KHHGĐ (năm 2004) cũng đãlàm rõ được tình trạng sức khỏe của NCT, và những vấn đề cần lưu tâm Điềutra tại 3 tỉnh cho thấy mô hình gia đình của NCT phổ biến là hai vợ chồng caotuổi sống cùng con cháu (chiếm 45,5%), hai vợ chồng cao tuổi sống với nhau

Trang 19

(chiếm 31,3%), một cụ cao tuổi sống với con cháu (chiếm 16%) Tình trạngNCT sống cô đơn không nơi nương tựa chiếm tỷ lệ nhỏ (6,3%) Lương hưu làmột khoản thu nhập quan trọng của NCT, chiếm 36,5% Tuy nhiên, tỷ lệ NCT

có lương hưu ở khu vực nông thôn còn thấp so với khu vực thành thị, 23,2% sovới 49,7% Ngoài ra các khoản trợ cấp mất sức, trợ cấp xã hội ở khu vực nôngthôn cũng thấp hơn Nghiên cứu mới chỉ mô tả thực trạng sức khỏe và đời sốngvật chất của NCT mà chưa tập trung chỉ ra vai trò của gia đình trong việc chămsóc sức khỏe cũng như đời sống vật chất và tinh thần cho họ [13]

Gia đình vẫn luôn là nguồn hỗ trợ chính đối với NCT khi họ ốm đau.Tuy nhiên sự quan tâm, thăm hỏi và chăm sóc của con cháu đối với NCTcũng có những mức độ khác nhau Số liệu Điều tra gia đình Việt Nam năm

2006 cho thấy, khi cha mẹ ốm đau, những người con gái về thăm hỏi cha mẹ

đẻ cao hơn con trai đôi chút (64.4% so với 60.1%) Những người con ở nhómtuổi cao hơn có tỷ lệ chăm sóc cha mẹ nhiều hơn nhóm tuổi trẻ Theo kết quảĐiều tra gia đình Việt Nam năm 2006 trong 12 tháng qua có 95.9% số người

có con đã tách hộ về thăm cha mẹ Do tác động, ảnh hưởng của kinh tế, tínhchất công việc, hoàn cảnh sống khác nhau nên việc thăm cha mẹ cũng khácnhau Có 28% thăm hỏi cha mẹ hàng ngày, 21.5% thăm hỏi vài lần trong tuần,17.8% thăm hỏi một vài lần trong tháng, 24.3% thăm hỏi một vài lần trongnăm và 8.1% thăm hỏi vài năm 1 lần Nghiên cứu của Hirschman và VũMạnh Lợi cũng cho kết quả tương tự trong số những con trưởng thành, theo

đó khoảng 60% sống gần cha mẹ, thăm nom họ hàng ngày hoặc ít nhất cũngmột lần trong tuần Như vậy, gia đình vẫn là chỗ dựa, là chủ thể chính chămsóc sức khỏe về cả mặt thể chất lẫn tinh thần cho NCT [11]

Khi phân tích số liệu khảo sát gia đình Hà Nội (2011) , phân tích riêng

trong nhóm NCT về sự giúp đỡ/ hỗ trợ của người con được coi là “ thân nhất”

(có mức độ gặp mặt, liên lạc nhiều nhất trong năm), thấy rằng: trong số 202

NCT trả lời, có 29.2% xác định người con “ thân nhất” là con trai cả; 25.2%

Trang 20

là con trai thứ; 18.8% là con gái thứ; 17.8% là con gái cả; 3.5% chỉ có 1 con;2% là con dâu cả và 0.5% là con dâu thứ Không có người con rể nào (trưởnghoặc thứ) được xác nhận trong diện này [9]

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003) về “

Thực trạng người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Hà Tây” cho thấy NCT ở Hà Tây thỏa mãn tinh thần chủ

yếu là vui chơi cùng con cháu (81.4%) NCT ở nông thôn sinh hoạt cùng concháu thường xuyên hơn người cùng nhóm ở thành thị (83.5% so với 77,4%).NCT ở thành thị tiếp cận với thông tin, tham quan, du lịch, thể dục thể thao vàsinh hoạt đoàn thể một cách thường xuyên hơn nông thôn Tỷ lệ NCT ở thànhthị tham gia các hoạt động Đảng, chính quyền cao hơn ở nông thôn và namtham gia nhiều hơn nữ Đa số NCT (80.7%) đều hài lòng với sự chăm sóc củagia đình, con cháu

Trong nghiên cứu “Một số vấn đề chăm sóc sức khỏe người già hiện nay

ở Hải Hưng” của tác giả Dương Chí Thiện đăng trên Tạp chí xã hội học số 4

năm 1993 đã đề cập tới các vai trò của gia đình, của các tổ chức xã hội và hệthống y tế đối với vấn đề chăm sóc NCT Việc chăm sóc sức khỏe cho NCTkhông chỉ thu hẹp trong phạm vi của vấn đề y tế mà hàm chứa trong nó cả vấn

đề kinh tế xã hội rộng lớn, đặc biệt là vai trò của gia đình và các tổ chức xãhội trong công cuộc nâng cao chất lượng sống cho họ trong xã hội hiện nay.Với việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho NCT, tuy mới chỉ là bước đầunhưng đó là bước tiến quan trọng và cơ bản của nước ta trên con đường thựchiện một hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT phù hợp với quá trình phát triểncủa xã hội hiện nay Gia đình có vai trò rất to lớn trong đảm bảo mọi mặt chotoàn bộ cuộc sống NCT Các quan hệ gia đình như quan hệ giữa cụ ông, cụ

bà, quan hệ giữa các cụ và con cháu có ảnh hưởng rất to lớn đến tình cảm,tâm trạng của họ Tuy nhiên, một vấn đề đang được đặt ra hiện nay là sốlượng NCT người cao tuổi phải sống cô đơn ngày càng gia tăng, mặc dù con

Trang 21

cái của họ đang sống (vì nhiều lý do không thể chăm sóc các cụ) hoặc họkhông có con cái, khi họ ốm đau già yếu.[29]

3.3 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Luận án tiến sỹ “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc

người cao tuổi Việt Nam của Phạm Vũ Hoàng Trong phần 1.4 đã đề cập đến

các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NCT đó là nguồn lực tham giachăm sóc NCT và kiểu hộ gia đình mà họ đang sinh sống Tác giả cho rằng “

chăm sóc không chính thức vẫn đóng vai trò chính Hầu hết NCT đều có nguyện vọng được chăm sóc tại nhà Những người chăm sóc chính cho NCT thường chính là phụ nữ Tuy nhiên nguồn lực tham gia chăm sóc cho NCT đang thay đổi - nhu cầu về cán bộ điều dưỡng chăm sóc NCT sẽ tăng đột biến trong bối cảnh lực lượng lao động giảm và phụ nữ ngày một tham gia tích cực hơn trong các hoạt động kinh tế- xã hội” [12] Bên cạnh đó kiểu hộ gia

đình cũng ảnh hưởng đến chăm sóc NCT “ Việc thu hẹp của hình thái gia

đình mở rộng làm suy yếu hình thức chăm sóc không chính thức sẽ đòi hỏi sự chăm sóc chính thức của Nhà nước và xã hội”[12] Tác giả đã chỉ rõ kiểu hộ

gia đình, nguồn lực chăm sóc NCT đã ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc,mức độ chăm sóc NCT cũng giảm dần

Trong “ Chiến lược sống của người cao tuổi trước những biến đổi của

gia đình nông thôn hiện nay” của Bế Quỳnh Nga đăng trên tạp chí xã hội học

số 1 (89) năm 2005 cũng chỉ ra rằng “ Con cháu và người thân (gia đình và

họ hàng) là những yếu tố tạo nên mạng lưới sơ cấp cho NCT, những yếu tố quan trọng đầu tiên người già phải nghĩ đến khi sắp xếp cuộc sống của mình” Một nghiên cứu cho biết NCT đồng bằng sông Hồng phần lớn sống

với con cái 73.75% Khoảng 7% sống độc thân, tỷ lệ này khá cao ở nôngthôn, ở phụ nữ và các cụ trên 70 tuổi Khoảng 57% sống trong hộ gia đình bathế hệ (Bùi Thế Cường, 1999) Hơn nữa, NCT sống chung hoặc sống riêngđều được con cái hỗ trợ về tiền bạc, lao động…

Trang 22

Như vậy chúng ta có thể thấy, có rất nhiều công trình nghiên cứu vềNCT và chăm sóc sức khỏe cho họ Các công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đềNCT, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cho NCT dưới nhiều quan điểm và góc

độ khác nhau Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu kể trên, các tácgiả đều tập trung mô tả những đặc điểm về nhân khẩu xã hội của NCT như

độ tuổi, trình độ hôn nhân, tình trạng học vấn, mô tả tình trạng sức khỏe vàbệnh tật của nhóm này Đồng thời các nghiên cứu trên cũng đã làm rõ vai tròcủa gia đình trong hoạt động sống hàng ngày của NCT người cao tuổi Tuynhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân tích một sốkhía cạnh như sự hỗ trợ của gia đình mà chưa đi sâu phân tích toàn diện vềchăm sóc sức khỏe cho NCT Vậy thì thực trạng chăm sóc sức khỏe NCTtrong các gia đình đang diễn ra như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đếnchất lượng chăm sóc sức khỏe NCT? Đó là những câu hỏi mà luận văn muốnlàm sáng tỏ

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng rõ thực trạng chăm sóc sứckhỏe NCT trong các hộ gia đìnhtại xã Hữu Hòa – huyện Thanh Trì- thành phố

Hà Nội hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Tìm hiểu các đặc điểm nhân khẩu xã hội và đời sống cơ bản của NCT đểchỉ ra những vấn đề cấp thiết nhất của chăm sóc sức khỏe NCT trong thực tiễn

-Tìm hiểu về thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình

ở xã Hữu Hòa hiện nay

- Tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe NCThiện nay

- Đề xuất phương hướng, một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình trong các năm tới

Trang 23

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình ở xã HữuHoà hiện nay

có một tỷ lệ khá lớn đang được hưởng một phần trợ cấp xã hội Đây là bathôn có số lượng NCT nhiều nhất, đồng thời có tỷ lệ NCT sống chung với giađình nhiều nhất

Trang 24

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Những đặc điểm cơ bản của NCT gồm những đặc điểm nào?

- Thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình đang diễn

ra như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc sức khỏe NCThiện nay?

- Những khuyến nghị có được từ nghiên cứu này?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

Luận văn tiếp cận việc chăm sóc sức khỏe NCT theo khía cạnh đáp ứngcác nhu cầu cơ bản của NCT trong cuộc sống để NCT sống vui, sống khỏe vàsống có ích Nghiên cứu đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT toàndiện, với hai chủ thể cơ bản trong chăm sóc sức khỏe NCT là gia đình và bảnthân NCT để chứng minh các giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết 1: Gia đình và bản thân NCT tại xã Hữu Hòa đóng vai trò

chủ động và chủ đạo trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tuy nhiên họcũng gặp nhiều khó khăn

Gỉa thuyết 2: Đặc điểm nhân khẩu xã hội, sức khỏe và nhu cầu chăm

sóc của NCT; nguồn lực và việc tổ chức chăm sóc của các chủ thể; cấu trúc

và quy mô gia đình; tính bền vững và độ bao phủ của hệ thống ASXH lànhững yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT hiệnnay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lenin trong đóchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lí luận

Trang 25

cho việc nghiên cứu đề tài Thông qua đó mọi hành vi, hiện tượng xảy rađược nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, khoa học và chính xác.

Quan điểm toàn diện: Đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống

thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chúng qua lại giữacác bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tácđộng qua lại giũa sự vật đó với sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhậnthức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn

V.I Lenin cho rằng: “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao

quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hê và quan hệ giao tiếp của sự vật đó” Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối

liên hệ, “ cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi

phạm sai lầm” [2,tr.76-77]

Nghiên cứu về “ Thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia

đình ở ngoại thành Hà Nội hiện nay- Nghiên cứu trường hợp tại xã Hữu huyện Thanh Trì- Hà Nội” được nhìn nhận không phải là hiện tượng ngẫu

Hòa-nhiên Khi nghiên cứu vấn đề này thì tác giả đã tìm hiểu và phân tích thựctrạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình trên cả 3 mặt chăm sócsức khỏe về thể chất, chăm sóc sức khỏe về tinh thần và chăm sóc về mặtquan hệ xã hội Qua đó thấy được vai trò của gia đình trong chăm sóc sứckhỏe cho NCT hiện nay Đồng thời tác giả cũng tìm hiểu về các yếu tố tácđộng đến việc chăm sóc sức khỏe NCT hiện nay như: Nhu cầu chăm sóc củaNCT; nguồn lực chăm sóc; cấu trúc và quy mô gia đình; tính bền vững của hệthống ASXH; tốc độ già hóa dân số…

Quan điểm lịch sử- cụ thể: Yêu cầu khi xem xét sự vật hiện tượng phải

đặt nó trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tíchxem những điều kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất,

Trang 26

đặc điểm của sự vật, hiện tượng Phải phân tích cụ thể mọi tình hình cụ thểảnh hưởng đến sự vật, hiện tượng [2, tr.77]

Khi nghiên cứu vấn đề chăm sóc sức khỏe cho NCT thì việc vận dụngquan điểm lịch sử cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng Ở mỗi thời kỳ, mỗi giaiđoạn, hoàn cảnh lịch sử khác nhau thì hình thức, chủ thể, mô hình chăm sócsức khỏe cũng có sự khác nhau Vào những thời kỳ trước thì gia đình đóngvai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe NCT, Nhà nước đóng vai trò

hỗ trợ phụ trợ, vậy thì trong xã hội hiện nay (dưới tác động của nhiều biến đổikinh tế-xã hội sâu sắc) vai trò đó có sự thay đổi không? Do đó tùy vào từngthời điểm, từng hoàn cảnh lịch sử nhất định mà thực trạng chăm sóc sức khỏeNCT sẽ có những nét đặc thù, mức độ chăm sóc, nội dung chăm sóc, sự biếnđổi vai trò của các chủ thể chăm sóc

7.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học

7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Thu thập các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài, sách và báocáo nghiên cứu đã được xuất bản, công bố là nguồn tài liệu quan trọng đểxác định những nội dung và vấn đề đã được khai thác, trên cơ sở đó tìm ranhững nét mới cần được tập trung phân tích Ngoài ra cũng tìm hiểu nhữngnguồn tư liệu phổ thông không mang tính chất nghiên cứu ví dụ báo viết,báo mạng v.v nhằm tìm ra những vấn đề mang tính thời sự có liên quanđến chăm sóc NCT, về các chính sách về NCT Các tài liệu này được tổnghợp, phân tích để làm rõ thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trên các nộidung NCT tự chăm sóc sức khỏe và gia đình trong chăm sóc sức khỏeNCT, phát huy vai trò của NCT, những yếu tố tác động đến việc chăm sócsức khỏe NCT hiện nay Bên cạnh đó, có sử dụng báo cáo của địa phươngtrong những năm gần đây để lấy số liệu về tình hình người cao tuổi tại địa

Trang 27

bàn nghiên cứu Để từ đó có sự sàng lọc thông tin và cái nhìn tổng quát vềvấn đề nghiên cứu.

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Khung hướng dẫn phỏng vấn sâu được thiết kế riêng cho mỗi nhóm đốitượng Đây là phương pháp kỹ thuật được sử dụng để thu thập được nhữngthông tin trường hợp, chi tiết liên quan tới nhận thức, ý kiến, thái độ, quanđiểm, tình cảm, động cơ, lòng tin, chính kiến Phỏng vấn sâu là một quá trìnhkhai thác, tìm kiếm, khám phá và thường gắn với một số ít đối tượng nghiêncứu Phương pháp này giúp thu thập thông tin cập nhật và sát thực tế, lý giải

về vấn đề luận văn đang quan tâm

Địa điểm phỏng vấn: Tại 3 thôn Hữu Lê, Xóm Chùa và thôn Hữu Trungthuộc xã Hữu Hòa- huyện Thanh Trì- thành phố Hà Nội

Đối tượng phỏng vấn và số lượng phỏng vấn: Nghiên cứu đã thực hiện

16 phỏng vấn sâu, trong đó:

- Người cao tuổi: Phỏng vấn 10 người cao tuổi dưới hình thức tròchuyện nhằm tìm hiểu sâu hơn những đặc điểm về đời sống của người caotuổi, hoạt động chăm sóc sức khỏe của bản thân, của gia đình trong sinh hoạthàng ngày và khi ốm đau, cũng như những khó khăn mà người cao tuổi, giađình người cao tuổi gặp phải khi chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

- Chủ thể chăm sóc người cao tuổi: Phỏng vấn 06 chủ thể, nhằm tìmhiểu về hoạt động chăm sóc sức khỏe của gia đình đối với người cao tuổi,những khó khăn của gia đình trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

7.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Bảng hỏi thu thập thông tin kinh tế-xã hội được thiết kế cho nhómNCT Phương pháp trưng cầu ý kiến sẽ giúp thu được nguồn thông tin phongphú và có chất lượng, cung cấp tần suất thông tin liên quan tới những vấn đềquan tâm Bảng hỏi được thiết kế chia thành các phần như sau:

Trang 28

Phần 1: Thu thập thông tin cá nhân người trả lời: giới tính, nghềnghiệp, nơi ở, tình trạng hôn nhân, điều kiện, mức sống của gia đình.

Phần 2: Thu thập thông tin để nghiên cứu thực trạng chăm sóc sứckhỏe NCT trong các hộ gia đình ở ngoại thành Hà Nội hiện nay trên haiphương diện NCT tự chăm sóc sức khỏe và gia đình trong chăm sóc sứckhẻo NCT

Phần 3: Thu thập thông tin để biết được sự ảnh hưởng của các yếu tốbên ngoài đến việc chăm sóc sức khỏe NCT như: nguồn lực tham gia chămsóc, kiểu hộ gia đình, sự bền vững của hệ thống an sinh

* Chọn mẫu.

Do hạn chế nguồn lực và thời gian, mẫu khảo sát định lượng trên địabàn xã Hữu Hòa là 120 NCT trong độ tuổi từ 60-80 tuổi Cơ cấu mẫu đượcthực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Việc chọn mẫu được tiếnhành dựa trên những bước như sau:

Bước 1: Rà soát, lập danh sách tất cả NCT hiện đang sinh sống tại 3thôn: Thôn Hữu Lê, Thôn Hữu Trung và xóm Chùa của xã Hữu Hòa trongbáo cáo tình hình dân số của UBND xã Hữu Hòa (trừ những người không cókhả năng giao tiếp)

Bước 2: Đánh số thứ tự NCT trong danh sách Lấy ngẫu nhiên mộttrong hai người đầu tiên Tiếp đó cứ cách 1 người tiếp theo trong danhsách lại chọn một người cho đến khi đủ cỡ mẫu 120 người (bao gồm cảnhóm dự phòng)

7.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin

Ở đề tài này, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để tiến hành phântích và xử lý thông tin thu được

Trang 29

8 Khung lý thuyết

Thực thi chính sách chăm sóc NCT của địa phương

NCT tự chăm sóc sức khỏe

Gia đình trong chăm sóc sức khỏe NCT

Trang 30

Mô tả khung lý thuyết

Những chủ thể chủ yếu chăm sóc NCT là gia đình, cộng đồng, nhànước, thị trường Tuy nhiên trong khuôn khổ hạn chế của luận văn cao học xãhội học, đề tài tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thực trạng chăm sóc sứckhỏe cho NCT trong các hộ gia đình trên cả hai phương diện: NCT tự chămsóc sức khỏe và gia đình trong chăm sóc sức khỏe NCT Cùng với quá trìnhphát triển, sự thu hẹp quy mô gia đình truyền thống làm suy yếu hình thứcchăm sóc không chính thức Chăm sóc NCT chịu tác động của các yếu tố như:cấc đặc điểm nhân khấu xã hội, đời sống, thu nhập, mức sống của NCT nguồnlực tham gia chăm sóc, kiểu hộ gia đình, sự bền vững của hệ thống an sinh xãhội…

Trang 31

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ

NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Sức khỏe

Từ xưa tới nay người ta thường quan niệm rằng sức khỏe có nghĩa là cơ

thể không có bệnh tật và ngành Y tế là ngành chuyên chữa bệnh

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sự

lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa “ngày nào cũng tập

thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” [11]

Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO đã đưa ra định nghĩa: “Sức khỏe là

một trạng thái sảng khoái đầy đủ về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội, nó không chỉ bó hẹp vào nghĩa là không có thương tật hay bệnh tật xã hội” [14] Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe

là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập củacon người, ảnh hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần,sản xuất nòi giống của xã hội Không có sức khỏe thì không thể lao động cónăng suất cao, ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nó là kháiniệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và sự tham giacủa bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng nhất định Mỗi cá nhân phải

có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lý, tạo ra sức khỏe chobản thân và gia đình

Như vậy có thể hiểu một người hoàn toàn khỏe mạnh phải là một người

có đầy đủ sức khỏe về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội tốt đẹp

Cụ thể: Một người được xem là có sức khỏe thể chất không những không cóthương tật, bệnh tật mà các hoạt động về thể lực cũng như tất cả các hoạtđộng sống đều ở trạng thái tốt nhất và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh,lứa tuổi…; sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn

Trang 32

hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái,bình an trong tâm hồn và biết chấp nhận những căng thẳng trong cuộc sốngcũng như cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hòahợp giữa cá nhân, những người xung quanh và môi trường, để đạt được trạngthái hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội tức là phải có thu nhập đủ sống, ansinh xã hội được đảm bảo, thiết lập và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp, thuậnlợi với người thân trong gia đình, bạn bèm, đồng nghiệp, hàng xóm rộng hơn

là cộng đồng và xã hội… kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích củangười khác đồng thời được cống hiến cho cộng đồng, xã hội và được mọingười thừa nhận

Có được một cơ thể khỏe mạnh là mơ ước- mục tiêu- mục đích mà mọingười hướng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái ngưỡng

đó Tất cả những yếu tố về sức khỏe thể chết và sức khỏe tinh thần, quan hệ

xã hội được kết hợp một cách hài hòa và đảm bảo sẽ làm nên vẻ đẹp sáng

ngời của một con người, như cha ông ta đã từng khẳng định “Bàn tay ta làm

nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm” Các yếu tố này có mối quan

hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếumột trong các thành tố trên sẽ không làm nên sức khỏe con người Vì vậy,mỗi chúng ta cần có sự chăm lo phát triển một cách hợp lý, hài hòa, cân đốigiữa các yếu tố để đạt đến một trạng thái sức khỏe tốt và có cuộc sống lýtưởng nhất

Dựa vào định nghĩa trên thì sức khỏe được cho là bao gồm tình trạngcủa cả tinh thần lẫn thể chất Để hoàn thiện khái niệm về sức khỏe, chúng tacần nhìn nhận rõ ràng mối tương quan giữa tinh thần và thể chất Do đó chúng

ta có thể bổ sung cho đầy đủ hơn cho định nghĩa về sức khỏe như sau: “Sức

khỏe của một người là kết quả tổng hòa của tất cả các yếu tố tạo nên tinh thần và thể chất của con người ấy”

Trang 33

1.1.2 Người cao tuổi

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về NCT Một số nghiên cứu vềNCT sử dụng tuổi nghỉ hưu như một tiêu chí xác định NCT Cách này cóthuận lợi là tuổi nghỉ hưu đã được quy định bởi các văn bản pháp quy ở mỗinước và là cái mốc đánh dấu bước kết thúc của giai đoạn lao động tích cựctrong cuộc đời của mỗi người Tuy nhiên, điểm bất lợi là đối với nhiều người,chẳng hạn như người tự sản xuất kinh doanh và lao động tự do thì tuổi nghỉhưu không có ý nghĩa cụ thể, họ có thể cũng vẫn lao động, mức độ nghỉ ngơi

có thể tăng hoặc không, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng người mà ítliên quan tới tuổi nghỉ hưu Ngoài ra, ngay đối với những người làm công ănlương thì tuổi nghỉ hưu cũng không phù hợp với nhiều trường hợp bởi cónhững người về nghỉ trước độ tuổi này hoặc có nhiều người còn làm việc sau

độ tuổi này Ở Việt Nam, theo Luật Lao động, nam giới nghỉ hưu ở tuổi 60

trong khi nữ giới lại nghỉ trước đó 5 năm, ở tuổi 55

Thứ hai, xem xét từ góc độ sinh học, NCT là các cá nhân mà sự lão hóa

của cơ thể đã bộc lộ ở các mức khác nhau, thể hiện cụ thể ở tuổi thọ của họ.Một số quốc gia công nghiệp hoá có tuổi thọ trung bình cao như Nhật Bản,Đức, Mỹ, Thuỵ Điển, Hàn Quốc…, người cao tuổi được tính bắt đầu từ tuổi 65

Ở một số nước công nghiệp kém phát triển hơn như Trung Quốc, Thái Lan,Malaixia, Ấn Độ…, những người 60 tuổi được coi là NCT Tại Việt Nam,Pháp lệnh về người cao tuổi (2000) và Luật về người cao tuổi Việt Nam được

Quốc hội thông qua năm 2009 qui định “những người từ 60 tuổi trở lên là

người cao tuổi”

Thứ ba, từ góc độ kinh tế, tuổi già là thời điểm mà người lao động ít

còn khả năng độc lập về kinh tế và do đó cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ xãhội, có nghĩa là họ trở thành những người phụ thuộc về mặt xã hội Từ khíacạnh này, một hệ thống các dịch vụ hay còn gọi là ngành chăm sóc sức khỏe,dịch vụ phúc lợi đối với NCT ra đời và ngày càng phát triển Tiêu chí này có

Trang 34

thuận lợi là đưa một cơ sở chung đối với người cao tuổi là nhu cầu được chămsóc Tuy nhiên, tiêu chí này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhóm đối tượng có khảnăng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc Trong khi đó, nhóm người không cókhả năng này và phải dựa vào các hình thức hỗ trợ khác như từ người thân,gia đình hoặc cộng đồng, thậm chí tự chăm sóc ở nước ta là không nhỏ.

Thứ tư, xem xét từ góc độ các quan hệ xã hội Cách xác định này có lợi

thế là dựa vào một trong các đặc điểm khá rõ ràng của người cao tuổi là giảmdần các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và tăng dần sự phụ thuộcvào các thành viên xã hội khác để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình Tuynhiên, theo một số nhà nghiên cứu thì việc xem xét các mối quan hệ xã hội vàogiai đoạn sau của cuộc đời từ góc độ của sự lệ thuộc về bản chất cũng là mộthình thức của phân biệt tuổi tác Nói cách khác, cách xác định này coi người caotuổi ở mức độ nào đó như những người yếu thế, bởi vì họ là những thành viên xãhội không đầy đủ, khác với những người còn tham gia vào lao động sản xuất

Các cách xác định NCT nêu trên cho thấy việc định nghĩa thế nào làNCT không đơn giản Mỗi cách xác định đều có những ưu thế và nhữngnhược điểm nhất định Việc sử dụng bất cứ cách xác định nào cũng cần ý thứcmột cách đầy đủ đến các nhược điểm hoặc hạn chế của nó để tránh những hệquả có thể của các biện pháp can thiệp được xác định dựa trên định nghĩa này

Để đơn giản và thống nhất trong nghiên cứu và phân tích số liệu liênquan đến người cao tuổi, tôi lấy khái niệm người cao tuổi được định nghĩachính thức trong Luật về người cao tuổi Việt Nam được Quốc hội thông qua

năm 2009: “NCT là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ

60 tuổi trở lên, là người từng trải, có kinh nghiệm và uy tín; là nguồn lực nội sinh quý giá của dân tộc cần được tiếp tục phát huy; là người mà thể chất, sức khỏe và tinh thần ngày càng giảm sút theo sự tăng lên của tuổi tác” [19].

Nhằm nêu bật được các vấn đề xã hội của từng nhóm tuổi, nghiên cứu tiến

Trang 35

hành phân tích các vấn đề của người cao tuổi theo các nhóm tuổi cụ thể, từ

60-65 tuổi, 66-70 tuổi, 71-75 tuổi, 76 tuổi trở lên Khái niệm "người cao tuổi"được sử dụng thay cho khái niệm "người già" bởi trên thực tế, nhiều người trên

60 tuổi vẫn tham gia nhiều hoạt động và khái niệm này bao hàm sự kính trọng,động viên hơn cụm từ "người già"

Như vậy, trong phạm vi đề tài này, NCT được xác định dựa trên tiêuchí tuổi Cụ thể là tất cả những người từ 60 tuổi trở lên được coi là NCT Điều

đó phù hợp với Luật người cao tuổi và các chính sách hiện hành đối với nhóm

xã hội này Cách xác định đó có điểm thuận tiện là dựa trên số liệu về nămsinh, người nghiên cứu có thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận đối tượng cầnđiều tra Tuy nhiên, nó cũng bao hàm một số hạn chế như đã nêu của cách xácđịnh thuần túy dựa vào tuổi thọ Để khắc phục phần nào bất cập này, ở nhữngchỗ thích hợp, các đặc điểm khác biệt của các nhóm NCT sẽ được lưu ý trongviệc phân tích các số liệu điều tra

1.1.3 Chăm sóc sức khỏe

Việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trước hết phải do chính bản thân mỗi

cá nhân thực hiện Tục ngữ cũng đã dạy: “Tiền bạc là của con, địa vị là tạm

thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của chính mình”

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên

có thể hiểu chăm sóc sức khỏe là những hoạt động nhằm nâng cao sức khỏecủa con người

Khi nói đến chăm sóc sức khỏe NCT, cách hiểu thường là chăm sócsức khỏe về cả mặt thể chất lẫn tinh thần Theo Từ điển bách khoa quốc gia “

Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân” [12]

Theo Tổ chức y tế thế giới WHO thì nâng cao sức khỏe chính là sự hỗtrợ mà trong đó quan trọng nhất là tạo khả năng cho người dân kiểm soát và

Trang 36

nâng cao sức khỏe của mình [11] Chi tiết hơn, nguyên lý thực hiện nâng caosức khỏe thể hiện ở 3 hoạt động chắnh đó là:

Xây dựng chắnh sách: là hoạt động nhằm thúc đẩy sự hoàn thành các

chắnh sách mang lại sức khỏe cho người dân [11]

Tạo khả năng là hoạt động nhiều mặt bao gồm môi trường thuận lợi,

cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội giúp ngườidân có khả năng chọn lựa những điều kiện có lợi cho sức khỏe.[11]

Phối hợp liên ngành là tạo điều kiện phối hợp các ban ngành, đoàn

thể, tổ chức xã hội, tập thể nhằm tăng cường phối hợp để tạo được hiệu quảtốt cho sức khỏe người dân đến mức cao nhất Ba hoạt động trên nói lên cơ

chế nâng cao sức khỏe là Ộ môi trường lành mạnhỢ, Ộ tự chăm sócỢ, và Ộ trợ

giúp lẫn nhauỢ [11]

Như vậy chăm sóc sức khỏe cho NCT là phòng, chống sự già hóa quásớm, để phòng và chữa trị các bệnh tuổi già bằng nhiều biện pháp khác nhauqua đó nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe (về cả thể xác lẫn tinh thần), giảmthiểu các bệnh mãn tắnh, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già Các nhucầu chăm sóc của NCT gồm chăm sóc sức khỏe tâm thần, tâm lý, phục hồi vềthắnh lực và thị lực, chăm sóc vệ sinh răng miệng, dinh dưỡng đầy đủ, hợp lư

và an toàn, phục hồi chức năng, nhà ở, môi trường sống và phòng, chốnggiảm các yếu tố nguy cơ Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là những yêu cầu cấpthiết của NCT không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộckhá nhiều vào chất lượng, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cậnvới các cơ sở chăm sóc sức khỏe của từng người

Trong phạm vi đề tài này, chăm sóc sức khỏe NCT bao gồm tổng thểcác hoạt động từ tự rèn luyện và chăm sóc của chắnh NCT và con cháu chămsóc sức khỏe cho NCT tại gia đình đến chăm sóc y tế khi NCT mắc bệnh đểNCT khỏe mạnh, ắt bệnh tật Việc chăm sóc sức khỏe không chỉ là trách nhiệmcủa gia đình, Nhà nước và xã hội mà còn là trách nhiệm của chắnh NCT

Trang 37

1.1.4 Gia đình

Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, lànhân tố cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Gia đình như một tế bào tựnhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội Gia đình là môi trường quan trọnghình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huyvăn hóa truyền thống tốt đẹp, phòng, chống bạo lực gia đình và ngăn ngừa các

tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình Gia đình là một hình thức tổ chức đờisống cộng đồng của con người, một thiết chề văn hóa – xã hội đặc thù, đượchình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệhuyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục … giữa các thành viên Gia đìnhluôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viêntrong gia đình

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinhhọc, tâm lý, văn hóa, kinh tế… khiến cho nó không giống với bất kỳ mộtnhóm xã hội nào Từ mỗi góc độ nghiên cứu hay mỗi khoa học khi xem xét

về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp vớinội dung nghiên cứu và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đếnvới gia đình

Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2010 định nghĩa: “ Gia

đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa

họ với nhau theo qui định của Luật này” (Chương 1- Điều 8- Khoản

10-Những quy định chung)

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vìvậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như mộtthiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa

con người: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà

Trang 38

các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người

Dưới khía cạnh xã hội học về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng

có thể phân chia gia đình thành hai loại:

Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được

coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ Đó làmột nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới mộtmái nhà, thường từ ba thế hệ trở lên Dạng cổ điển của gia đình lớn là giađình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ Nó liên kết ít nhất là vài giađình nhỏ và những người lẻ loi Các thành viên trong gia đình được xếp đặttrật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ôngcao tuổi nhất trong gia đình Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợchồng, con cái và bố mẹ của họ nữa Trong gia đình này, quyền hành không ởtrong tay của người lớn tuổi nhất

Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm

người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mốiquan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con Do vậy, cũng

có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ Gia đình nhỏđầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, cáccon); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó khôngđầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉngười vợ với người chồng hoặc chỉ của người cha hoặc người mẹ với các

con Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia

đình Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển

Trang 39

Trong phạm vi đề tài này, gia đình được hiểu là “ một nhóm xã hội nhỏ

mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên đặc biệt là với NCT trong gia đình”

1.1.5 Hộ gia đình

Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồmmột hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhânkhẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể

có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung

Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những ngườitrong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôidưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai Hộ có thể là một người, có thể rất nhiềungười Hộ có ý nghĩa về mặt thống kê nhân khẩu học, còn gia đình là phạmtrù xã hội học Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, mỗi gia đình sống trongmột ngôi nhà riêng tạo thành một hộ riêng

Hộ gia đình được phân loại như sau: Hộ một người (01 nhân khẩu) Là

hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn Hộ hạt nhân: Là loại

hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 1 hay 2 thế hệ) vàđược phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không

có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ Hộ mở rộng: Là

hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ gia đình với giađình hạt nhân Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những người thânkhác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác; Hộ hỗn hợp: Là trườnghợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng

Trong phạm vi đề tài này hộ gia đình được hiểu là: một đơn vị xãhội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ănchung (nhân khẩu)

Trang 40

1.2 Các lý thuyết tiếp cận

1.2.1 Lý thuyết cơ cấu xã hội

Xã hội được coi như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các bộ phận

có quan hệ qua lại với nhau Xã hội tồn tại trong mối quan hệ qua lại giữacác nhóm xã hội khác nhau với các vai trò và vị thế của nó Lý thuyết cơ cấu

xã hội cho phép nhìn nhận NCT là một nhóm xã hội, một bộ phận hợp thànhcủa cơ cấu nhân khẩu xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng với những đặcthù riêng Mặt khác, NCT cũng là một nguồn lực trong tổng thể các nguồnlực mà xã hội có được Cách tiếp cận này cho phép xem xét người cao tuổinhư một nhóm xã hội với các mối liên hệ, với vị thế, vai trò đặc thù Góc độnày cũng cho phép phân tích nhóm NCT trong xã hội từ các khía cạnh cơcấu xã hội-nhân khẩu với cơ cấu giới tính, lứa tuổi, học vấn, nghề nghiệphay tình trạng hôn nhân Đồng thời, phân tích được người cao tuổi có vaitrò, tác động như thế nào trong các mối quan hệ giữa NCT với gia đình,cộng đồng và xã hội.[14]

Việc xác định các đặc trưng nhân khẩu – xã hội của NCT giúp đánhgiá các đặc trưng cơ bản của người cao tuổi đồng thời xác định rõ đượcnhóm NCT yếu thế hơn về trình độ, năng lực Cũng từ góc độ cơ cấu xã hội,NCT được xem xét từ hai góc độ: nhóm/bộ phận này có mối quan hệ với các

bộ phận khác như thế nào, qua đó giúp cho việc giải thích vị trí vai trò củangười cao tuổi trong mối quan hệ với các nhóm xã hội khác Đây là những

cơ sở rất quan trọng cho việc xây dựng các chính sách xã hội đối với ngườicao tuổi, giúp cho NCT có được cuộc sống xứng đáng với những đóng gópcủa họ cho xã hội, gia đình, cộng đồng và phát huy vai trò của NCT tronghoàn cảnh mới

Ngày đăng: 05/05/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w