1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo cứu phật thuyết quán vô lượng thọ phật kinh sớ diệu tông sao hội bản

156 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 22,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác trên phương diện tư tưởng tôn giáo, chúng tôi thấy rằng Pháp môn Tịnh Độ và kinh luận Tịnh Độ, đặc biệt là tác phẩm hội tập Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ THỊ VÂN

KHẢO CỨU PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG

THỌ PHẬT KINH SỚ DIỆU TÔNG SAO HỘI BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH HÁN NÔM

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ THỊ VÂN

KHẢO CỨU PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG

THỌ PHẬT KINH SỚ DIỆU TÔNG SAO HỘI BẢN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm

Mã số: 60220104

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Ngọc Vương

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự

nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ.

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy GS TS Trần Ngọc Vương người đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô trong Khoa Văn Học, Ngành Hán Nôm Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân Văn, các thầy cô Viện Hán Nôm đã tận tình truyền đạt nhưng kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng tri ân đến Sư thầy Thích Minh Tâm, các quý đạo hữu Phật tử, thiện hữu thập phương đã không ngừng hỗ trợ, động viên, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 01 tháng 11 năm 2017

Học viên thục hiện

Đỗ Thị Vân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận văn

Đỗ Thị Vân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 4

2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu 8

4.Phương pháp nghiên cứu 9

5.Nhiệm vụ, mục tiêu và đóng góp của luận văn 9

6.Bố cục luận văn 10

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ VÀ BẢN KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ 11

1.1 Giới thiệu về pháp môn Tịnh Độ 11

1.1.1 Duyên cớ Phật nói pháp môn Tịnh Độ 11

1.1.2 Khái quát về quá trình lưu hành và truyền bá pháp môn Tịnh Độ ở Việt Nam hiện nay 13

1.2 Giới thiệu chung về hệ thống kinh điển sách luận Tịnh Độ 18

1.2.1 Sơ lược hệ thống Kinh điển đề cập đến Pháp môn Tịnh Độ trong Tam tạng kinh điển 18

1.2.2 Tịnh Độ tam kinh 30

1.2.3 Tịnh Độ ngũ kinh 32

1.2.4 Luận Tịnh Độ 33

1.2.5 Một số sách chú giải Kinh điển Tịnh Độ tiêu biểu 33

1.2.6 Khái quát tình hình truyền bá và lưu hành kinh sách Tịnh Độ ở Việt Nam 34

1.3 Lịch sử dịch thuật và truyền thừa Kinh Quán Vô Lượng Thọ 35

CHƯƠNG 2: KHẢO CỨU VĂN BẢN PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT KINH SỚ DIỆU TÔNG SAO HỘI BẢN 37

2.1 Vấn đề Tác giả 37

2.1.1 Ngài Cương Lương Da Xá - Dịch Kinh Phạn ngữ 37

2.1.2 Thiên Thai Trí Giả Đại Sư – Thuật Sớ 38

Trang 6

2.1.3 Tứ Minh Sa Môn Tri Lễ - Thuật Sao 40

2.1.4 Nhật Đông Sa Môn Thực Quán – Phân Hội 41

2.1.5 Đường Sa Môn Thiện Đạo – Tập Kí 42

2.2 Vấn đề Văn bản tác phẩm 43

2.2.1 Tình trạng văn bản hiện tại 43

2.2.2 Vấn đề niên đại tác phẩm 49

2.2.3 Duyên cớ khắc in và lưu truyền bản Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản 51

2.2.4 Đặc trưng ý nghĩa cấu trúc Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sơ Diệu Tông Sao Hội Bản 55

2.2.5 Mô hình cấu trúc chi tiết Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản 70

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT KINH SỚ DIỆU TÔNG SAO HỘI BẢN 90

3.1 Giải thích đề kinh 91

3.2 Phần tự 92

3.2.1 Chứng tín tự 92

3.2.2 Phát khởi tự 93

3.3 Phần chính tông 99

3.3.1 Định thiện 99

3.3.2 Tán thiện 110

3.3.3 Lợi ích của người thụ trì và truyền bá pháp môn 118

3.4 Phần lưu thông 119

3.4.1 Khải thỉnh lưu thông 119

3.4.2 Nêu y báo chính báo lập đề kinh 119

3.4.3 Dặn dò cách thụ trì 119

3.4.4 So sánh hiển bày sự thù thắng và khuyên người phụng hành 119

3.4.5 Hiển thị công đức niệm Phật 120

3.4.6 Phó chúc lưu thông 120

Trang 7

3.4.7 Nghe pháp hoan hỉ 120

3.5 Thuyết kinh tại Kỳ Xà Quật 120

KẾT LUẬN 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 129

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đạo Phật đến Việt Nam từ rất sớm, ngay từ những triều đại mở đầu nền độclập quốc gia, Đạo Phật đã phát huy được vai trò và giá trị của mình Hệ thống kinhđiển Phật học được các triều đại phong kiến quan tâm khải thỉnh và khắc in Hiệnnay, số lượng kinh điển thư tịch Phật giáo bằng Hán Văn còn lại đang gặp phảinhiều vấn đề khó khăn, giá trị của những tác phẩm đó đang đứng trước nguy cơquên lãng Do nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm cả yếu tố chủ quan lẫn kháchquan Nguyên nhân khách quan như: Rất nhiều sách vở thư tịch đã bị ngọn lửachiến tranh thiêu chụi, thời tiết khí hậu nóng ẩm số lượng thư tịch bị mục nát tươngđối nhiều, cho đến công tác bảo quản, điều kiện bảo quản không tốt cũng là nguyênnhân dẫn đến sự mai một dần các nguồn thư tịch Hán văn quan trọng …Tuy nhiên,cái nguy hại nhất theo chúng tôi là yếu tố con người Đó là do sự khác biệt về ngônngữ, dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thư tịch Hán văn, những nguời cóthể trực tiếp đọc hiểu những tác phẩm này không có nhiều Cho nên vấn đề đặt ravới người làm công tác Hán Nôm là: Làm thế nào để kết nối, đưa những thư tịchcủa cổ nhân đến gần hơn với mọi người và khai thác được những giá trị của nhữngthư tịch ấy Mặt khác trên phương diện tư tưởng tôn giáo, chúng tôi thấy rằng Pháp

môn Tịnh Độ và kinh luận Tịnh Độ, đặc biệt là tác phẩm hội tập Phật Thuyết Quán

Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản có vị trí quan trọng đối với

người tu hành trong việc áp dụng phương pháp hành trì và nghiên cứu tư tưởngTịnh Độ Tông Cho nên, việc nghiên cứu một tác phẩm Hán văn Phật giáo có giá trịlớn, đóng góp vào kho tàng Kinh tạng Việt dịch, không chỉ có giá trị về mặt tôngiáo mà còn có ý nghĩa lớn với khoa học nghiên cứu dịch thuật, văn hóa xã hội Đây

là lí do thứ nhất tác giả lựa chọn đề tài luận văn “Nghiên cứu Phật Thuyết Quán Vô

Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản”.

Lí do thứ hai, tác phẩm hội tập Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản là bộ sách quí, có thể nói là bộ tổng tập hệ thống sách

chú giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ, giữ vai trò quan trọng thiết yếu đối với người

Trang 9

học Phật nói chung và các hành giả tu Tịnh Độ nói riêng Vì đây là bộ hội tập đầy

đủ nhất cho Kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong ba bộ kinh quan trọng của Tịnh

Độ Tông (Đại A Di Đà và A Di Đà Kinh) Sách này hội đủ các đời dịch thuật chúgiải, từ Chính Kinh, Sớ, Diệu tông sao và tập kí, trình bày chú giải một cách lớplang, một mạch chính kinh được chú giải bằng lời Sớ do ngài Trí Giả soạn thuật,sau đó là lời Sao của Ngài Tri Lễ lại giải độc lại chính Kinh và phần Sớ, tổng kết lạitoàn đoạn bằng lời tập kí trình bày nghĩa lí của ngài Thiện Đạo Bằng sự logic, côngtác văn bản học tỉ mỉ, phương thức giải độc văn bản của ngài Thực Quán cho bộ hộitập này có giá trị học thuật lớn, giá trị giáo học và tư tưởng quan trọng Một tácphẩm có giá trị lớn như vậy, không có lí do gì chúng ta lại không nghiên cứu, khaiphát nghiên cứu giá trị nội dung và giá trị học thuật

Thứ ba, tác phẩm hội tập này là thư tịch quí phải đến thời Pháp mới xuất hiện

ở trường Viễn Đông Bác Cổ và quí giá hơn để khắc in lưu truyền bộ tổng tập này là

biết bao nhân lực vật lực tận tâm gia công mới thành tựu Bộ hội tập Phật Thuyết

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản này được các vị tổ sư

đánh giá cao, bộ sách quí nước ta chưa từng thấy có, mãi đến thời Pháp thuộc, khiPháp thành lập Trường Viễn Đông Bác Cổ với sự xuất hiện của rất nhiều đầu sách,trong đó cả hệ thống kinh điển sách luận nhà Phật cũng có mặt Một bộ Tạng thưquan trọng đó là Tam Tạng Kinh của Nhật Bản cũng được du nhập vào nước ta

Trong lời tựa Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội

Bản (quyển thủ, tr1), Hòa Thượng Thanh Hanh có bày tỏ rằng: “Thường suy nghĩ rằng: Vân Thê đại sư, “Đại khái từ khi có Phật pháp đến nay, là tập đại thành của Thiên Thai tông Đối với Tam tạng thánh giáo, có rất nhiều trước thuật Trong số những trước thuật đó, giáo môn Tịnh Độ riêng có Quán Kinh Sớ Ắt là lấy quán tâm quán Phật mà cắt nghĩa, nhờ thế đắc được Phật tâm vi diệu, khế hội ý chỉ của kinh.

Kế tiếp sau đó pháp sư Tri Lễ, làm Diệu Tông Sao để phát huy sáng tỏ nghĩa sớ Đều là khéo làm khéo thuật vậy Có thể khen là một nhà giáo quán, muôn đời tôn kính ngưỡng mộ Kẻ hậu học này, trước có đọc trước tác của các nhà, từng thấy dẫn nhiều Quán Kinh Sớ Sao, biết rằng pháp quán rất thâm huyền, nhưng chưa

Trang 10

từng thấy sách này, trong nước thì thiếu hẳn Vẫn lấy để lòng chuyện ấy, thường ôm khát vọng may ra thì gặp được Đến năm Khải Định thứ sáu, được biết trong trường Bác Cổ của Pháp ở Hà Nội có bản Tam Tạng Phật kinh của Nhật Bản, liền đích thân đến, tận mắt chứng kiến Sau về sai các đệ tử trong sơn môn, đến tận nơi xin phép người Pháp sao lấy mục lục… Nhân vì tôi kiểm duyệt mục lục thấy bản sớ sao kinh này, và bản tập kí của Hòa thượng Thiện Đạo, thì rất lấy làm vui mừng, coi như là của báu còn sót lại, ý muốn hợp khắc” (常常! 常常常常常:常常常常常常常常常常常常常常常

常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常 常常常常常常常 常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常常) Một bộ kinh sách được chư vị tổ sư đề cao coi trọng như vậy,việc khắc in lưu truyền là cả sự hi sinh cống hiến về cả nhân lực vật lực của các bậctiền bối đi trước, kẻ hậu học chúng ta há lại để cho viên ngọc trân quí ấy bị quênlãng mai một được Cho nên, với tấm lòng cầu đạo tha thiết, mong muốn hoằngtruyền pháp môn Tịnh Độ, đem đến an lạc cho muôn người, kẻ hậu học hèn kém

chẳng ngại sự ngu dốt mạnh dạn lựa chọn khảo cứu bộ hội tập Phật Thuyết Quán

Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản, nhằm khai thác giá trị nội

dung triết lí Phật học Tịnh Độ Tông được thể hiện trong tác phẩm, nghiên cứu nhậnđịnh tính giáo học, giá trị học thuật trên các phương diện văn bản học, giải độc,ngôn ngữ học của tác phẩm, cống hiến vào kho tàng thư tịch Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề tu đạo và hoằng đạo đối với mỗi hành giả tu Phật là hai vấn đề quantrọng, có quan hệ mật thiết với nhau Triệt để tư tưởng từ bi – trí tuệ, lấy tự lợi – lợitha làm động lực cho lộ trình tiến tu đạo nghiệp, những người con Phật trên khắpnăm châu luôn nâng cao ý thức về xứ mệnh “Sứ giả Như Lai, hành Như Lai xứ, tác NhưLai sự”, luôn nỗ lực, tinh tiến trên bước đường tìm cầu chân lí, vượt thoát sinh tử

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu được các Tổ sư đề cao là lưu giữ hoằngtruyền giáo pháp của Đức Phật Đối với vấn đề lưu truyền giáo pháp có hai phương

Trang 11

diện: Một là phiên dịch kinh điển, sách luận cho phù hợp với ngôn ngữ từng quốc

độ, vừa là lưu giữ lại lời dạy của Đức Phật cho đời sau, vừa là để người học Phật có

cơ hội tiếp cận rộng rãi hơn, toàn diện hơn với chân lí Đức Phật; Thứ hai, rộngtruyền lời dạy của Đức Phật, đưa giáo pháp từ bi – trí tuệ của Phật đến với tất cảmọi loài chúng sinh, mở rộng trên khắp hành tinh, nhằm đem đến an vui, hòa bình

và hạnh phúc cho toàn nhân loại

Công tác nghiên cứu dịch thuật hệ thống kinh điển Phật học nói chung, hệthống kinh điển sách luận Tịnh Độ nói riêng, thời đại nào cũng được chú trọng,nhận được nhiều sự quan tâm của giới xuất gia cũng như tại gia Hệ thống kinhđiển, sách luận Tịnh Độ được dịch sang Việt văn tương đối phong phú Các bậc tổ

sư Tịnh Độ ở Việt Nam đã có một số dịch thuật và trước tác vô cùng giá trị, đượccoi là nền tảng cho tư tưởng Tịnh Độ tông, nhằm hoằng truyền giáo nghĩa Tịnh Độ,

hỗ trợ cho việc hành trì pháp môn Tịnh Độ, đem lại lợi ích thành tựu sở nguyện sở

tu Một số Kinh điển, sách luận Tịnh Độ mang tính nền móng cho Tịnh Độ Tông ở

Việt Nam như: Bộ Kinh Tam Bảo, Đường về cực lạc của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Di Đà Kinh sớ sao của Hòa Thượng Thích Hành Trụ, Kinh Di Đà Lược Giải

Viên Trung Sao của Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ, Liên Tông bảo giám của Thượng

Tọa Thích Minh Thành, Kinh Đại Thừa Vô Lượng Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình

Đẳng Giác của Đại Đức Thích Như Hòa …

Nói đến hệ thống kinh điển Tịnh Độ là nói đến ba bộ kinh trọng yếu: Đại bản

A Di Đà Kinh, Tiểu bản A Di Đà Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Tuy

nhiên, phần lớn các kinh điển Tịnh Độ được lựa chọn dịch sang Việt văn, phần

nhiều liên quan đến Đại bản A Di Đà Kinh và Tiểu bản A Di Đà Kinh, riêng về

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh xuất hiện ít Ba bộ kinh này đối với Tịnh Độ pháp

môn đóng vai trò như kiềng ba chân không thể thiếu đi phần nào Trên thực tế hai

bộ Kinh A Di Đà dường như được biết đến nhiều hơn so với bộ Quán Vô Lượng

Thọ Kinh Với mong muốn hoằng truyền, xiển dương pháp môn Tịnh Độ, đem đến

cho người tu kẻ học cái nhìn toàn diện hơn về pháp môn Tịnh Độ, chúng tôi đã tiến

hành khảo cứu tác phẩm Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông

Trang 12

Sao Hội Bản là bản tổng tập toàn diện nhất về hệ thống chú giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ Bản hội tập này là tổng tập của các đời Tổ sư Tịnh Độ Trung Hoa và

Nhật Bản chú giải cho Kinh Quán Vô Lượng Thọ Từ Ngài Cương Lương Da Xá

dịch kinh từ Phạn ngữ sang Hán ngữ, tiếp đến là Thiên Thai Trí Giả Đại Sư thờiTrần - Tùy bên Trung Quốc thuật Sớ, thời Đường Sa Môn Thiện Đạo tập kí, thờiBắc Tống Tứ Minh Sa Môn Tri Lễ thuật Sao, thời Thiên Hoàng Nguyên Linh NhậtĐông Sa Môn Thực Quán phân hội Bản hội tập này đến với Việt Nam vào thờiNửa phong kiến nửa thuộc địa, do Hòa Thượng Thích Thanh Hanh khởi xướng khắc

in Từ đó đến nay đã hơn trăm năm, một khoảng thời gian không quá dài nhưngcũng không ngắn để một tác phẩm tuyệt hảo như vậy bị quên lãng Thời gian lịch

sử, những đổi thay thời cuộc, binh hỏa chiến tranh, có những cái đã bị che lấp đi,quên lãng đi một cách không đáng có, nhưng tất cả những giá trị của nó vẫn vẹnnguyên, như viên ngọc quí còn sót lại giữa biển cát sỏi khô cằn Thật tiếc là trongsuốt hơn 100 năm qua đã chưa có sự quan tâm đích đáng với nó, cũng chưa có bảnViệt văn nào giải mã sách này và truyền bá đến mọi người Nhưng cũng như ngọcquí một khi tìm thấy thì sẽ trở thành vô giá, đem đến lợi ích cho muôn người, luận

văn “Khảo cứu Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội

Bản” là đề tài mới hướng tiếp cận mới cho việc nghiên cứu giá trị lợi ích của Pháp

môn Tịnh Độ qua pháp môn tu quán

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu

Đối tương nghiên cứu và phạm vi tư liệu chính trong luận văn này là Quán

Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản, tàng bản Chùa Vĩnh Nghiêm,

Bản scan tại Thư Viện Quốc Gia, số hiệu R5056, R5057, R5058 Gồm 5 quyển,cộng thêm phần thủ và phần tự, phụ lục ghi danh công đức

Ngoài ra, để thực hiện các mục tiêu đề ra của luận văn, căn cứ theo giới hạn thờigian và dung lượng cho phép của luận văn Thạc sĩ chúng tôi cũng tham khảo cáckinh điển, sách luận Phật giáo, đặc biệt là Kinh điển sách luận Tịnh Độ tông

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp văn bản học: Để tìm hiểu các vấn đề văn bản tác phẩm

Trang 13

Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Phương pháp phiên dịch học và ngôn ngữ học

5 Nhiệm vụ, mục tiêu và đóng góp của luận văn

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi xác định nhiệm vụ chính là giải quyết tốtvấn đề minh giải văn bản, mô phỏng giới thiệu đặc trưng cấu trúc tác phẩm và nêu

lên nội dung cơ bản của Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông

Sao Hội Bản, nhằm cung cấp cho người đọc thông tin cơ bản nhất về bộ hội bản quí

giá này Đồng thời hướng tới nhiệm vụ mục tiêu sau khóa luận này là đưa đến chobạn đọc cũng như hành giả tu tập, nghiên cứu Phật học bản dịch thuật hoàn chỉnhcủa tác phẩm này Qua đó, giúp cho người đọc tiếp cận với bộ hội bản qui mô và giátrị, người đọc có được cái nhìn khái quát về cấu trúc cũng như nội dung tập sáchnày Do vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát vấn đề văn bản tác phẩm, cùng nhữngđánh giá, phân tích mang tính tổng quan về đặc thù, cũng như những giá trị tácphẩm mang lại Mở ra một hướng mới cho việc tu tập Tịnh Độ, vì thông thường ápdụng trì danh niệm Phật, mà phép quán Tây Phương Thập lục thì ít người thực hiện,nhằm đáp ứng nhu cầu ngày nay, thông qua bộ kinh này người thực hiện muốn kếthợp hai xu hướng Thiền Tịnh song tu, mà chư vị Tổ trước đã đặt ra, nhằm đem lạinhiều lợi ích về tri thức, đặc biệt là giúp hành giả tu tập đắc lực hơn Tuy rằng, kẻhậu học kém cỏi mà lại mang tâm nguyện lớn, sợ rằng cũng không tránh khỏi điềuthất thố trái lời Phật ý tổ, nhưng mong rằng với tâm huyết của kẻ hậu học hoằngdương Tịnh Độ lợi ích quần sinh, thì đề tài này sẽ là món ăn mới cho người tu họcTịnhĐộ nói riêng, học Phật nói chung, rất mong nhận được sự chỉ giáo sửa chữađóng góp của chư vị thiện hữu

6 Bố cục luận văn

Phần mở đầu: Nêu lên các mục về Lí do lựa chọn đề tài, lịch sử vấn đề nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương nghiên cứu, cơ sở khoa học cho việc thực hiện luận văn.

Phần nội dung: Gồm 3 chương

Trang 14

Chương một: Giải quyết các vấn tổng quan về pháp môn Tịnh Độ, sự truyền thừa và hệ thống kinh điển

Chương hai: Giải quyết các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn về tác giả, tác phẩm, duyên cớ khắc in lưu truyền, niên đại tác phẩm,

… Chương ba: Giải quyết vấn đề nội dung tác phẩm truyền tải, cấu trúc tác phẩm, ý nghĩa nội dung và hình thức tác phẩm.

Phần kết luận: Đưa ra những nhận xét đánh giá của người thực hiện đề tài,

cũng như những đóng góp và hướng phát triển tiếp theo trong nghiên cứu.

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ VÀ BẢN KINH

QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ

Chương này trình bày các vấn đề tổng về pháp môn Tịnh Độ trên ba phươngdiện: Sự hình thành và lưu truyền pháp môn Tịnh độ nói chung và Pháp môn Tịnh

Độ ở Việt Nam nói riêng; Kinh điển Tịnh Độ; Quá trình hình thành, lưu truyền vàchú giải của Kinh Quán Vô Lượng Thọ Bao gồm các mục cụ thể như sau:

1.1 Giới thiệu về pháp môn Tịnh Độ.

1.1.1 Duyên cớ Phật nói pháp môn Tịnh Độ

Đức Phật nói rằng: “Phật và chúng sinh cùng một thể tính bình đẳng khôngphân biệt” Nếu nhận chân được thể tính sáng suốt nhiệm màu ấy thì sẽ không có

“Tịnh” và “Nhơ”, không có “Phật” và “Chúng sinh”, tất cả đều thanh tịnh sáng suốt

Dù là ngọn cỏ hạt cát cũng đều là Tịnh Độ, dù là cõi Sa Bà ác trược hay TâyPhương Cực Lạc thì cũng đều là cõi Tịnh Độ, mỗi niệm mỗi hơi thở đều là tịnhniệm, đều là Di Đà – Thích Ca, mọi cử chỉ động chân cất tay đều là Pháp thân chưPhật Nhân do khí bẩm vật dục che lấp, tam độc thiêu đốt, Phật tuệ sáng suốt củachúng sinh ngày một mờ tối, xa rời Phật tính, cho rằng Phật và chúng sinh có cao cóthấp Tâm chạy theo cảnh, đắm vào hình sắc, “tâm viên ý mã” trôi nổi theo qui luậtbiến đổi “sinh - trụ - dị - diệt”, bởi vậy mà mới phân cao thấp, nhân ngã, Tịnh độ uế

độ, mới có đau khổ và an vui Từ đó mà phân ra chúng sinh, Phật, Thánh, đường đicũng khác, tám nạn ba đường, trôi lăn trong sáu ngả, lặn hụp trong ba cõi, từ mê nàyđến mê khác, cứ quay tròn trong vòng sinh tử hàng trăm nghìn kiếp chưa biết baogiờ ra khỏi Do vậy, Đức Phật khai thị nhân địa của Đức Phật A Di Đà, để chỉ dạycho chúng sinh pháp môn niệm Phật tam muội, chỉ rõ Tịnh độ làm nơi trở về NiệmPhật để trở về với Phật tính vẳng lặng thanh tịnh, đầy đủ năng lực độ mình độngười, viên thành đạo quả, vào Tam - ma - địa thành đẳng chính giác, như người mêtỉnh giấc mộng dài

Tại sao Phật nói pháp môn Tịnh độ? Như chúng ta đã biết, thuốc không phânđắt rẻ, hễ chữa lành bệnh thì gọi là diệu dược Pháp không phân biệt cao thấp, cứ

Trang 16

giúp người giải thoát an vui thì là diệu pháp Bệnh thì có muôn nghìn thứ, căn cơ cónhiều bậc thượng trung hạ khác nhau, do đó mà Đức Phật nói ra 84000 pháp môn đểgiáo hóa chúng sinh Phàm công dụng của thuốc cốt là chữa lành thân bệnh, pháp đểchữa lành tâm bệnh Bởi vậy vạn pháp đều cùng một thể, Tịnh Độ là pháp môn thâunhiếp mọi căn cơ, đó là con đường tắt đi đến cõi Cực Lạc “hoành siêu tam giới”.Nơi đó không có tên đường ác, không có tiếng khổ, thuần là công đức phúc tướngtrang nghiêm Người sinh ở nước đó không còn thoái chuyển nơi đạo vô thượngchính đẳng chính giác, thường được cùng với các bậc thượng thiện tri thức, siêng tutinh tiến Đặc biệt là hạnh nguyện tiếp dẫn tất thảy chúng sinh niệm Phật của Đức

Phật A Di Đà Tuệ Viễn Đại sư từng dạy: “Những tên gọi của tam muội trong giáo

pháp có rất nhiều, nhưng công đức cao dễ tiến tu, niệm Phật đứng đầu”, do vậy

biết rằng Tịnh Độ là pháp môn tối thắng, phù hợp với căn cơ của muôn người Bấtluận già trẻ gái trai ai ai cũng chỉ cần một niệm nhất tâm bất loạn thì đều được tiếpdẫn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì thấy lợi ích vi diệu đó, mà vì tất cả chúng sinhnói ra pháp môn Tịnh Độ, nhằm giúp người tu hành sớm được thành tựu Hơn nữa,người tu hành muốn được thành Phật tất phải học nhiều pháp môn và trải qua thời

gian ba A tăng kì kiếp như Thiện Tài trong Kinh Hoa Nghiêm cầu pháp ở khắp mọi

nơi Nhưng chúng sinh ở cõi Sa Bà ác trược có nhiều chướng ngại, lại khôngthường được gặp Phật, cho nên sự thành công là rất khó Phật muốn đảm bảo chongười tu hành chắc chắn có kết quả như ước nguyện và để an lòng những người lo

sợ pháp khó tu khó chứng mà thoái chuyển tâm Bồ đề Bởi vậy, Phật đã nói phápmôn Tịnh Độ chỉ chuyên niệm danh hiệu Phật Pháp này muôn người tu muôn

người chứng, như trong Tứ Liệu Giản, Vĩnh Minh Đại Sư, vị tổ thứ 6 Liên Tông,

đời Tống đã nói:

“Không Thiền có Tịnh Độ Muôn người tu muôn người chứng Thấy được Phật Di Đà

Lo gì không khai ngộ”

Trang 17

Khi đã sinh sang cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, việc tu hành trở nênthuận lợi, thường được gặp Phật, luôn ở cùng các bậc thượng thiện căn, cảnh giới anlạc tất thảy đều thuận theo ý nguyện, tất cả đều hiện pháp vi diệu, thẳng đến thànhPhật mà không bao giờ còn thoái chuyển.

Hơn thế nữa, Pháp môn Tịnh độ ứng hợp với căn cơ của chúng sinh trongtam thời giáo Thời chính pháp chúng sinh nhiếp nơi Luật mà thành tựu sự tu hành.Thời Tượng pháp chúng sinh nhiếp nơi Thiền mà thành tựu quả vị tu chứng Riêngthời Mạt pháp chúng sinh chỉ có nương nơi pháp môn niệm Phật cầu sinh Tịnh độ

mà thành tựu được Như vậy, đặt trong bối cảnh thời kì Mạt pháp này, chúng sinhcăn tính độn lụt chiếm phần nhiều, số người thượng căn thượng trí có thể đốn ngộkhông xuất hiện, Tịnh độ là pháp môn tối diệu xứng hợp với căn cơ của chúng sinh,thâu nhiếp tất thảy mọi căn cơ và dù dụng công nông sâu có khác nhưng nhất địnhđều có được những thành tựu tu tập Trong Phật Quang Đại Từ Điển (tr6153 - 6165)

có ghi: “Tông nghĩa của Tông này là lấy hành nghiệp trong tâm hành giả tu Tịnh

Độ làm nội nhân, lấy nguyện lực của Đức Phật A Di Đà làm duyên bên ngoài Nếu nội nhân và ngoại duyên ứng hợp với nhau thì sinh về nước An Lạc” Do vậy, Tịnh

độ pháp môn được Đức Phật nói ra vì lòng thương sót chúng sinh, đây là pháp mônduy nhất không cần ai thưa hỏi Phật tự thuyết giảng (vô vấn tự thuyết)

1.1.2 Khái quát về quá trình lưu hành và truyền bá pháp môn Tịnh Độ ở Việt Nam hiện nay.

Tịnh Độ là một trong những pháp môn tu tập phổ biến đối với người Phật tửtại nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Giáo nghĩa Tịnh Độ tôngthuộc hệ tư tưởng Đại thừa và xuất hiện vào thời kỳ Phật giáo phát triển

Tịnh Độ nói theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là một trong những phương tiệnthiện xảo của Phật nhằm cứu vớt chúng sinh ra khỏi nhà lửa tam giới, thoát khỏibiển khổ sinh tử luân hồi, trầm luân đau khổ một cách nhanh chóng Nhất là trongthời mạt pháp, khi các kinh điển hoại diệt hết, chúng sinh chỉ có thể y cứ vào pháp

môn Tịnh Độ để tu tập đạt đến giải thoát mà thôi Trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng: “Về đời mai sau, khi các kinh đạo đã diệt hết

Trang 18

rồi, ta dùng sức từ bi thương sót, riêng lưu lại kinh này thêm một trăm năm nữa Chúng sinh nào gặp được kinh này, tùy theo sở nguyện đều được độ thoát” (Đương

lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh, chỉ trụ bách tuế

Kì hữu chúng sinh, trị tu kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ) Đây được coi

là lời huyền kí Đức Phật giành riêng cho chúng sinh đời Mạt pháp

Tịnh Độ được truyền ở Trung Quốc từ đầu thế kỉ thứ nhất, nhưng đến thế kỉthứ ba mới chính thức hình thành và phát triển thành tông phái Đến thời Diêu Tần,Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch một loạt các kinh điển Phật giáo từ tiếngPhạn sang tiếng Hán, một số kinh điển Tịnh Độ cũng được phiên dịch Thời Lưu

Tống, Ngài Cương Lương Da Xá dịch Kinh Quán Vô Lượng Thọ từ tiếng Phạn sang

tiếng Hán

Đến thời Đông Tấn, pháp môn này được phát triển rộng rãi, nhờ vào cônghoằng dương của Huệ Viễn Đại sư (334 - 416) Ngài căn cứ theo ý chỉ của Tịnh ĐộTam kinh lập ra Tịnh Độ Tông, mở Bạch Liên Xã nơi chùa Đông Lâm Hội này quy

tụ những người chuyên niệm Phật A Di Đà, bất luận hàng tại gia hay xuất gia Từ

123 vị sáng lập, số người tham gia ngày một đông nhiều và mau chóng lan rộngthành phong trào niệm Phật, cầu sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Từ đó cho đếnngày nay, pháp môn Tịnh Độ hoằng truyền ngày một rộng rãi và phổ cập tới mọitầng lớp trong xã hội

Sự truyền thừa pháp môn Tịnh Độ không giống như các pháp môn khác Nhưđối với Thiền tông, người trước truyền tâm ấn cho người sau, nó mang tính tiếp nối.Đối với Tịnh Độ tông, mỗi vị tổ sau khi mất, căn cứ vào công lao trong việc xiểndương giáo pháp và các thụy tướng vãng sinh, để được xưng tôn lên ngôi vị tổ.Người được coi là tổ đầu tiên của Tịnh Độ tông là ngài Huệ Viễn Kể từ ngài HuệViễn truyền xuống các ngài như Thiện Đạo, Từ Mẫn, Thừa Viễn, Pháp Chiếu …cho đến Đại sư Ấn Quang có 13 vị tổ Tịnh Độ Trung Hoa Ngoài ra, còn có rấtnhiều các bậc tôn đức tu tập có công phu, góp sức lớn vào việc hoằng truyền phápmôn và đều có thoại tướng vãng sinh

Trang 19

Trong Phật Quang Đại Từ Điển trang 1587 có ghi: “Vị Tăng ở đời Lưu Tống

thuộc Nam Triều, người Hoàng Long Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên tinh giới luật Trong năm Vĩnh Sơ (420-422), Sư đến Quảng Đông, dừng chân ở Đài Tự Sau đó,

Sư đến chùa Tiên Sơn đất Giao Chỉ, thường tụng Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán

Vô Lượng Thọ, phát nguyện vãng sinh Tây Phương Năm Hiếu Kiến thứ 2 (455), Sư vào núi tự thiêu rồi tịch Mọi người trong thôn thấy toàn thân Sư sáng chói, ngồi trên lưng con nai bằng vàng đi về phương Tây Thâm cảm sự lạ lùng ấy, mọi người thu nhặt tro xương của Sư, dựng tháp cúng dàng” Nếu căn cứ theo lời này thì Tịnh

Độ Tông đến với Việt Nam khá sớm, trước cả Thiền Tông vì đến năm 580 Ngài Tỳ

Ni Đa Lưu Chi mới đến Việt Nam và chắc chắn người dân Việt Nam đã tiếp nhậnảnh hưởng tư tưởng Tịnh Độ của Ngài Đàm Hoằng Như vậy, thời kì này Tịnh Độpháp môn đã được lưu truyền ở đất Giao Châu và chùa Tiên Sơn (Phật Tích) đượccoi là chốn tổ Tịnh Độ đầu tiên ở Việt Nam, Ngài Đàm Hoằng là vị Sơ tổ Tịnh Độ ởViệt Nam

Thời Đinh – Tiền Lê khoảng năm 973 – 979 Đinh Liễn khi khắc cột kinh A3

(GS Hà Văn Tấn kí hiệu) có ghi: “Đệ tử là Suy thành Thuận Hóa, Tĩnh Hải quân

Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn, vì vong đệ là Đại đức Đính Noa Tăng Noa không làm điều trung hiếu, không thờ cha và anh, lại có lòng ác, trái với sự yêu thương và khoan dung, anh không thể bỏ qua, nên đã làm tổn hại đến tính mệnh của Đại đức Đính Noa Tăng Noa, để trọn vẹn tình nhà nghĩa nước Lời người xưa rằng đã tranh quan thì không nhường, ra tay trước mới là hay, đến nỗi ra tình hình như vậy Nay nguyện làm 100 cột kinh để cúng cho vong đệ và những hồn ma của người chết trước đây và sau này, cầu cho tất cả giải thoát, không phải tranh giành kiện tụng Trước hết là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi làm chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu”, như

vậy việc khắc cột Kinh của Đinh Liễn cầu siêu cho em Đại đức Đính Noa Tăng Noa

và cầu an cho vua cha Đinh Tiên Hoàng, đánh dấu sự nghiệp in khắc Kinh điển Phậtgiáo ở nước ta, trong đó Đức Phật A Di Đà được liệt vào vị Phật thứ 7 trong bảy vị

Trang 20

Phật Mật Tông, có công năng giải trừ nghiệp chướng và làm cho chúng sinh đượcgiải thoát.

Đến thời Lý, vua Lý Thánh Tông năm 1057 cho tạc tượng Phật A Di Đàbằng đá quí thiếp vàng, tôn thờ tại chùa Thiên Phúc - Tiên Sơn – Phật Tích vẫn cònđến ngày nay Thiền sư Không Lộ (1052 -1119) đời 21 dòng Thiền Vô Ngôn Thôngcho đúc tượng Phật Di Đà thờ tại chùa Quỳnh Lâm – Đông Triều - Quảng Ninh.Thiền sư Tịnh Lực (1112 – 1175) đời thứ 27 dòng Thiền Vô Ngôn Thông đã tu tậppháp môn Niệm Phật Tam Muội và chứng Niệm Phật Tam muội

Thời nhà Trần, Vua Trần Thái Tông (1218 – 1277) trong Khóa Hư Lục có

chia niệm Phật làm ba bậc: Thượng căn niệm Phật thuộc Thật tướng niệm Phật,Trung căn niệm Phật thuộc Quán tưởng niệm Phật, Hạ căn niệm Phật thuộc trì danhniệm Phật Đến ngài Huyền Quang (1254 – 1334) cho xây dựng Đài Cửu PhẩmLiên Hoa tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), phương pháp hành trì cứ quay một vòng,niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật Hiện nay, ở chùa Động Ngọ vẫn còn Cốikinh và Bi kí ghi rằng kiến tạo Cửu Phẩm Liên Hoa năm 1692

Thời Hậu Lê, Ngài Như Trừng Lân Giác (1696 – 1733) dòng Lâm Tế xiểndương tư tưởng Thiền Tịnh Mật song tu rất phát triển Đại sư Phổ Tịnh (1741 –1830) tu tập Tịnh tông khi tịch có để lại bài kệ:

“Kinh niên tĩnh tọa đại hùng phong Thật thị thân cùng đạo bất cùng Lục tự chuyên trì thân thụ kí Lưu truyền hậu thế hiển tông phong”

(Bao năm tĩnh tọa nơi núi rừngThực là thân hết đạo chẳng cùngSáu chữ chuyên niệm thân thụ kíLưu truyền đời sau sáng tổ tông)Đến cuối thời Nguyễn bắt đầu từ Tổ Tâm Viên khởi xướng hoằng dươngTịnh Độ Pháp môn, Tăng tục khắp nơi theo về tu học rất đông Đến Hòa Thượng Bồ

Đề Nguyên Biểu (1836 – 1906) kế thừa sự nghiệp hoằng dương Tịnh Độ pháp môn

Trang 21

của Tổ Tâm Viên năm 1887 Ngài lập ra Hội Liên Xã Niệm Phật và sáng tác quyển

Liên Xã Niệm Phật Qui Ước, nói rõ lí do thành lập hội, ghi nhận sự vãng sinh của

các hành giả trong hội, phương pháp hành trì, các câu vấn đáp về ý nghĩa niệm Phật,trình bày sơ lược ý chỉ chư tổ Tịnh Độ, lễ sám nghi Tịnh Độ, danh sách hành giảtham gia hội và Niệm Phật công cứ Trong khoảng 30 năm hoằng truyền, pháp mônTịnh Độ dần lan rộng khắp miền Bắc, các tổ đời sau kế thừa và phát huy như TổThanh Hanh khắc rất nhiều bộ kinh Tịnh Độ để lưu truyền, tổ Trung Hậu, tổ Bà Đá,

tổ Trí Hải là những trụ cột cho Phật pháp giai đoạn chấn hưng Phật giáo thời nửaphong kiến nửa thuộc địa sang thời đầu chủ nghĩa xã hội, cho đến nay sức ảnhhưởng của trào lưu tư tưởng đó vẫn rất lớn Mặc dù pháp môn Tịnh Độ ở Việt Namkhông ghi lại dòng truyền thừa, cũng chưa hình thành tông phái chính thức nhưTịnh Tông Trung Hoa nhưng chính sự phù hợp giữa tông chỉ tu hành, phương pháp

tu hành và người thực hành, pháp môn này đã đi sâu vào lòng người con Phật, đượcnhiều người tiếp nhận, sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật” là lời xướnghỏi thân thuộc của hàng Phật tử khi gặp mặt chào hỏi, ai ai cũng niệm lên trước khibắt đầu mọi lời cầu nguyện lễ bái Tịnh Độ vô hình trung đã trở thành pháp mônphổ cập cho tất cả mọi người, mọi tầng lớp, mọi lúc mọi nơi

Ở Đàng Trong pháp môn Tịnh Độ xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ tổ NguyênThiều từ Trung Quốc sang, hoằng truyền Tịnh Độ pháp môn, năm 1678 xây dựngchùa Thập Tháp Di Đà đến năm 1683 khánh thành vua Lê Hi Tông sắc ban biểnvàng “Thập Tháp Di Đà Tự” Năm 1911, Thiền sư Tâm Tịnh trùng tu chùa TâyThiên - Huế cho đúc tượng Phật A Di Đà thờ và đến năm 1926 được vua Khải Địnhsắc ban biển vàng “Sắc Tứ Tây Thiên Di Đà Tự” Tiếp theo phong trào đó là HòaThượng Thích Trí Tịnh, Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong suốt cuộc đời tu tậpcủa các ngài đã có nhiều cống hiến cho việc xiển dương pháp môn Tịnh Độ, đưapháp môn Tịnh Độ phổ cập đến với mọi người con Phật ở Việt Nam cũng như đồngbào xa hương Năm 1955, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh thành lập hội Cực Lạc LiênHữu tại chùa Vạn Đức (Thủ Đức, Gia Định), Ngài làm hội trưởng, Hòa ThượngHuệ Hưng làm liên phó, Đại đức Tịnh Đức làm thư kí, pháp môn Tịnh Độ được

Trang 22

truyền khắp miền Đông, miền Tây Nam Bộ Đến năm 1968, Hòa Thượng ThíchThiền Tâm cùng giúp sức hoằng dương Tịnh Độ, ngài đã soạn dịch nhiều sách Tịnh

Độ, lập ra Hương Nghiêm Tịnh Viện tại Lâm Đồng làm đạo tràng chuyên tu Tịnh

Độ Các tác phẩm dịch thuật kinh điển và các trước tác của các Ngài đã là nền tảngcho tư tưởng Tịnh Độ ở Việt Nam, là cơ sở cho kẻ hậu học tu hành pháp môn Tịnh

Độ, truyền bá pháp môn Tịnh Độ thời cận đại cho đến ngày nay Năm 1971, HòaThượng Bửu Huệ chùa Huệ Nghiêm chủ trương Thiền Tịnh song tu, lập ra hai tịnhthất luân phiên nhập thất tịnh tu trong suốt 20 năm

Cho đến nay, Pháp môn Tịnh Độ ngày càng được khẳng định vai trò và giữ

vị trí là pháp môn chính yếu, giành được sự quan tâm và đánh giá cao, được phầnlớn người xuất gia cùng như Phật tử tại gia lựa chọn Có thể nhận thấy tông môncác Tông phái Thiền học như Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng… đều có xu hướng

tu Tịnh Độ, niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ, hầu hết các chùa đều trở thành đạo tràngTịnh Độ

1.2 Giới thiệu chung về hệ thống kinh điển sách luận Tịnh Độ

Phật giáo được truyền vào Trung Quốc từ cuối thế kỉ thứ nhất, nhưng nhữngkinh điển Tịnh Độ phải đến thế kỉ thứ III mới bắt đầu được phiên dịch Thời Ngụy

năm 250 ngài Khương Tăng Khải dịch Vô Lượng Thọ Kinh Thời Tôn Quyền, cư sĩ Chi Khiêm dịch Đại A Di Đà Kinh Đến thời Diêu Tần thế kỉ thứ IV ngài Cưu Ma

La Thập dịch A Di Đà Kinh Ngài Phật Đà Bạt Đà La, một trong 18 bậc đại hiền ở

Lô Sơn dịch Tân Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Phật Tam Muội Kinh Ngài Trí Nghiễm dịch Tịnh Độ Tam Muội Thời Lưu Tống thế kỉ V ngài Cương Lương Da

Xá dịch Quán Vô Lượng Thọ Kinh Thế kỉ thứ VI, ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch Vô

Lượng Thọ Kinh Luận Đến ngài Thế Thân trước tác Vãng Sinh Tịnh Độ Luận thì hệ

thống Kinh luận Tịnh Độ tương đối hoàn chỉnh

1.2.1 Sơ lược hệ thống Kinh điển đề cập đến Pháp môn Tịnh Độ trong Tam tạng kinh điển

Tam tạng Kinh điển là tổng tập tất cả giáo pháp Đức Phật và các Thánh Đệ

tử đã truyền dạy bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng Những bài Kinh Đức

Trang 23

Phật thuyết giảng trong suốt 49 năm trụ thế hoằng pháp, mượn cửa phương tiện đểdẫn dắt chúng sinh dứt ác làm lành, tu nhân công đức, vượt thoát khổ đau trong sinh

tử luân hồi Kho tàng Phật pháp ấy dẫu không phải là tất cả giáo pháp chứng ngộ

của Đức Phật: “Những cái mà ta thấy biết như lá cây trong rừng, những cái ta đã

nói chỉ như nắm lá trong tay”, thế nhưng bấy nhiêu cũng đã là vô cùng cho chúng

sinh tu học Cửa pháp rộng lớn, 84000 nghìn pháp môn tương ứng với căn cơ củatất thảy chúng sinh, diệt trừ 84000 trần lao phiền não, đó là những con số ước chừngcho sự rộng sâu giáo pháp Đức Phật Trong những pháp môn đó, Tịnh Độ pháp mônvới căn lượng Đại thừa thâu nhiếp mọi căn cơ thượng trung hạ, số lượng kinh điểnnhắc tới Tịnh Độ trong Tam tạng Kinh điển tương đối nhiều và nằm ở những bộkinh mang nội dung tư tưởng trọng yếu giáo pháp Đức Phật Xin lược qua như sau:

1.2.1.1 Đại bản A Di Đà Kinh

Đại bản A Di Đà Kinh là bộ kinh Đức Phật giảng nói chi tiết về nhân địa tu

hành của Đức Phật A Di Đà từ khi còn là Tỷ Khiêu Pháp Tạng1 phát 48 đại nguyện,cho đến thành tựu đạo quả A Di Đà Phật giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc BàiKinh này được nói tại Thành Vương Xá, núi Linh Thứu, thánh chúng đương cơ là

Bồ Tát Di Lặc và A Nan tôn giả Từ một bản phạn văn khi được dịch ra Hán văn thì

có 5 dị bản: Vô Lượng Bình Đẳng Trang Nghiêm Thanh Tịnh Giác Kinh; Vô Lượng

Thọ Kinh; A Di Đà Kinh; Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh; Bảo Tích Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội.

1.2.1.2 Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

Kinh này được Đức Phật nói tại Thành Vương Xá, núi Kỳ Xà Quật vì HoàngHậu Vi Đề Hi vợ vua Tần Bà Sa La mà giảng nói Nội dung kinh nói về thế giớiCực Lạc, Đức Phật A Di Đà và 16 phép quán tưởng niệm Phật để sinh về TâyPhương Cực Lạc

1 Pháp Tạng Tỉ Khiêu (Dharmakara): là phap danh của Đức Phật A Di Đà khi chưa thành Phật Kinh Vô Lượng Thọ gọi là Pháp Tạng Kinh Bình Đẳng Giác gọi là Đàm – ma – ca – lưu, dịch nghĩa là Pháp Bảo Tạng Kinh Đại A Di Đà gọi là Đàm- ma – ca Luận Trí Độ gọi là Pháp Tích.

Trang 24

1.2.1.3 Phật Thuyết A Di Đà Kinh

Khi Đức Phật ở nước Xá vệ, trong Tinh xá Kỳ Hoàn, đã gọi Tôn giả Xá LợiPhất mà chỉ bày về Đức Phật A Di Đà, mô tả cảnh sắc Tây Phương và khuyến tấnmọi người phát tâm niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ Đây còn được gọi là Tiểu bản A

Di Đà, là bản kinh tóm gọn đầy đủ nhất về cảnh giới Cực Lạc và phương pháp cầusinh Được sử dụng làm thời công phu chính trong hệ thống kinh Tịnh Độ

1.2.1.4 Cổ Âm Thanh Vương Kinh

Kinh này được Đức Phật nói tại thành Chiêm Ba Đại Nội dung nói về việcnếu hàng tại gia hay xuất gia thụ trì danh hiệu Phật A Di Đà, đến khi lâm chung sẽđược Đức Phật A Di Đà và Thánh chúng đến tiếp dẫn

1.2.1.5 A Di Đà Phật Kệ Kinh

Kinh này là một loạt các bài kệ tán, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xưng tánkhen gợi Đức Phật A Di Đà Bao gồm: 195 lời khen và 54 lạy, sau mỗi bài kệ làmột lạy

1.2.1.6 Hoa Nghiêm Kinh

Kinh Hoa Nghiệm gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh,được Đức Phật nói cho hàng Bồ Tát trong 21 ngày Đây là bộ kinh bí yếu của chưPhật, nội dung hàm chứa tinh túy triết lí Đại Thừa, chỉ bày thế giới Hoa tạng của bađời chư Phật Chủ trương “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”, pháp giới trùngtrùng duyên khởi

- Quang Minh Giác Phẩm Thứ 9:

Trong phẩm này có thuật, Bồ Tát Văn Thù đứng trước Phật nói kệ rằng:

“Khi đi đứng lúc nằm ngồiThường niệm công đức của PhậtNgày đêm chớ để tạm quênPhải nên siêng tu như vậy”

- Hiền Thủ Phẩm Thứ 12:

Trang 25

Nội dung phẩm Hiền Thủ này là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói hạnh thanh tịnhkhông trược loạn đại công đức rồi, nhưng vì muốn hiển thị công đức của tâm Bồ

Đề, nên dùng kệ hỏi Bồ Tát Hiền Thủ Trong đó có chép rằng:

“Thấy người lâm chung khuyên niệm PhậtLại chỉ tượng Phật bảo chiêm ngưỡngKhiến người sinh lòng kính tin PhậtNên được thành quang minh Như Lai”

- Thập Địa Phẩm Thứ 26:

Phẩm này được Phật nói ở điện Ma Ni Bảo Tạng, trong cung của Tha Hóa Tự Tạithiên Vương, cho các hàng Bồ Tát khắp 10 phương, trong đó Bồ Tát Kim Cương

Tạng làm thượng thủ Trong Phẩm Thập Địa này có nói: “Từ bậc ban đầu cho đến

bậc sau cùng, mỗi địa đều nói rằng tất cả chỗ làm của Bồ Tát đều không rời niệm Phật”.

- Nhập Pháp Giới Phẩm Thứ 39:

Phẩm Nhập Pháp Giới này thuật lời Trưởng giả Giải Thoát chỉ dạy Thiện Tài về

pháp môn Tịnh Độ: “Ta nếu muốn thấy Đức Phật A Di Đà ở cõi An Lạc tùy ý liền

thấy được”.

- Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Thứ 39:

Đức Vân Tỷ khiêu nói với Thiện Tài rằng: “Ngài chứng được niệm Phật tam

muội và đây là lời của ngài thuật lại công dụng của Niệm Phật tam muội mà ngài

đã chứng được: Ta được môn “Ức niệm nhất thiết chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ kiến””

- Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Thứ 40:

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện này là nói Bồ tát Phổ Hiền khuyến tấn Thiện Tài

cùng chư Bồ tát tu mười nguyện lớn Đến khi mạng chung, thân căn hư rã, quyếnthuộc tiền của đều lìa tan, chỉ có nguyện lớn này theo mãi không rời, sẽ đưa ngườivãng sinh Cực Lạc thế giới Đến Cực Lạc liền thấy Đức Phật A Di Đà, cùng thấyVăn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc các vị đại Bồ Tát Tự thấy mình sinh tronghoa sen, được Phật A Di Đà Thụ Kí Đã được thụ kí, có sức trí tuệ, tùy cơ của

Trang 26

chúng sinh trong vô lượng thế giới ở mười phương mà giáo hóa lợi ích Nhẫn đến

có thể vào trong biển đại khổ phiền não cứu vớt chúng sinh làm cho ra khỏi và đềuđược sinh về Cực Lạc thế giới của Đức Phật A Di Đà

1.2.1.7 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Kinh này được Phật thuyết giảng trên núi Linh Thứu cho chúng đệ tử từ Bồ Tát,Thanh Văn, trời, người, A tu la Nội dung kinh này chỉ bày nhất Phật thừa, với bốnkhoa “khai – thừa – chuyển – hợp” giáo nghĩa kinh này hội tất cả qui về một Phậtthừa gọi là “Hội tam qui nhất” Tức là các phương tiện tu tập có chia ra Thanh Vănthừa, Độc Giác thừa hay Bồ Tát thừa là để phù hợp căn cơ của hành giả, thực chấtđều qui về một Phật thừa Trong Phẩm Dược Vương, Đức Phật Thích Ca có đề cập

đến pháp môn Tịnh Độ như sau: “Nếu có chúng sinh nào muốn cầu sinh sang thế

giới Cực Lạc ở bên Phương tây, đến chỗ Đức Phật Vô Lượng Thọ Quang, nhưng chưa quyết định mà nếu được nghe danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhất tâm xưng niệm thì khi lâm chung sẽ có tám đại Bồ Tát đến tiếp dẫn Người đó

tự nhiên thấy mình sinh trong hoa sen, nhiều màu sắc đẹp, liền được thấy Phật A Di

Đà cùng hàng thánh chúng…”

1.2.1.8 Thủ Lăng Nghiêm Kinh

Thủ Lăng Nghiêm Kinh hay còn gọi là Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh hoặc Lăng-nghiêm kinh, được Đức Phật nói ra trong Đại định, từ đỉnh đầu Đức

Phật phóng ra, nói cho ngài Văn Thù Sư Lợi, nhân sự kiện A Nan gặp nạn Ma Đăng

Già Trong đó, Phẩm Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông trong Kinh Lăng

Nghiêm, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát bạch Phật về nhân địa tu hành pháp môn niệm

Phật: “Con nhớ hằng hà xa kiếp xưa, có Đức Vô Lượng Thọ Quang ra đời, rồi đến

Phật Vô Biên Quang ra đời Trong cùng một kiếp có 12 đức Như Lai nối nhau ra đời Đức Phật sau cùng là Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy con phép niệm Phật tam muội Ví như một người chuyên nhớ một người chuyên quên, hai người như thế dầu

có gặp nhau cùng như không gặp, dầu có thấy nhau cũng như không thấy Hai người nhớ nhau thời nhớ in sâu, thì đời đời như hình với bóng không xa rời nhau Chư Phật thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con… Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật

Trang 27

niệm Phật, hiện tiền và đương lai tất định thấy Phật, cách Phật không xa Chẳng cần phương tiện, tự được tâm trí khai thông Như người ướp dầu thơm, tự thấy thân

có hơi hương, đấy gọi là hương quang trang nghiêm Nhân địa con đây do tâm niệm Phật, nhập vô sinh nhẫn Nay con ở thế giới Sa Bà tiếp người niệm về Cực Lạc Tịnh Độ…”

1.2.1.9 Bảo Tích Kinh

Kinh Bảo Tích gọi đủ là Đại bảo Tích Kinh, được Đức Phật thuyết giảng tại

núi Kì Xà Quật, nơi thành Vương Xá cho ngài Đại Ca Diếp, gồm có 49 hội 77phẩm Đời sau có người dịch một hội, người dịch một số hội mà ấn hành thành từngbản riêng Đến thời Đường Bồ Đề Lưu Chi dịch 36 hội 39 quyển, rồi kết hợp với sốhội và quyển dịch trước, gộp lại thành toàn bản 49 hội 120 quyển

Trong đó, có phẩm Đức Phật nói cho Vua Tịnh Phạn cùng dòng họ Thích,

đối đáp về pháp môn Tịnh Độ: “Tất cả chúng sinh đều là Phật Phụ vương nên

niệm Tây phương thế giới A Di Đà Phật, thường siêng tinh tiến sẽ được thành Phật” Vua hỏi: “Thế nào tất cả chúng sinh là Phật? Đức Phật nói: “Tất cả quyết vô sinh, không lay động, không thủ xả, không tướng mạo, không tự tính Nên an trụ tâm mình trong Phật pháp này chớ tin nơi khác” Bấy giờ Đức vua cùng bảy vạn

người giòng họ Thích nghe Phật giảng, tin hiểu vui mừng ngộ Vô sinh nhẫn ĐứcPhật mỉn cười mà nói kệ rằng:

“Họ Thích có trí quyết địnhThế nên ở nơi Phật phápQuyết định tin, tâm an trụSau khi bỏ thân người đâyĐược sinh về Cực LạcGần gũi Phật A Di ĐàChứng vô úy thành Bồ đềMột phẩm, Đức Phật Thích Ca bảo Bồ Tát Di Lặc phát tâm 10 điều, được vãng sinh Cực Lạc:

- Ở nơi chúng sinh có tâm đại bi, không bức não

Trang 28

- Ở nơi chúng sinh có tâm đại từ, không tổn hại

- Có tâm thủ hộ Phật pháp, không tiếc thân mạng

- Có tâm thắng nhẫn, không chấp trước đối với tất cả pháp

- Có tâm ý nhạo thanh tịnh, không tham lợi dưỡng cung kính tôn trọng

- Có tâm luôn cầu Phật trí không lúc nào quên

- Có tâm tôn kính chúng sinh không hề khinh rẻ

- Có tâm quyết định nơi Bồ Đề phần, không mê theo thế luận

- Vun trồng thiện căn với tâm thanh tịnh không tạp nhiễm

- Khởi tâm niệm Phật xa lìa các tướng

Đây là Bồ Tát phát tâm 10 điều Nương nơi tâm này sẽ được vãng sinh Nếuthành tựu một trong 10 tâm ấy mà hồi hướng cầu vãng sinh Cực Lạc thế giới củađức Phật A Di Đà thì quyết định được sinh

1.2.1.10 Ban Chu Tam Muội Kinh

Ban Chu Tam Muội Kinh gọi đủ là Đại Ban Chu Tam Muội Kinh, Đức Phật

nói tại Tinh xá Trúc Lâm, cho Bồ Tát Hiền Hộ và các đệ tử, trời, người Trong

phẩm Thưa hỏi Đức Phật nói cho Bồ Tát Hiền Hộ về pháp tu Tịnh Độ: “Nếu Sa

Môn hay Bạch y nghe tây phương A Di Đà Phật, rồi thường niệm được nhất tâm trong một ngày đêm hay bảy ngày đêm Sau bảy ngày thấy A Di Đà Phật Ví như chỗ thấy trong chiêm bao, không biết là đêm hay ngày, không phân là trong hay ngoài, không phải vì tối mà không thấy, không phải vì nhà vách ngăn che mà chẳng thấy… bèn thấy Đức Phật A Di Đà, nghe Phật ấy nói kinh đều thụ trì được cả, rồi ở trong chính định đều có thể vì người thuyết pháp đầy đủ”.

1.2.1.11 Quán Phật tam muội Kinh

Kinh này là Bồ tát Văn Thù tự thuật lại túc nhân được niệm Phật Tam muội, tương

lai được sinh Tịnh Độ Đức Phật thụ kí rằng: “Ông sẽ vãng sinh Cực Lạc thế giới”.

1.2.1.12 Đại Tập Kinh Phẩm Hiền Hộ

Đại Tập Kinh Phẩm Hiền Hộ gọi đủ là Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Hiền Hộ Phần, gồm 5 quyển, Xà – na - quật – đa đời Tùy dịch Đức Phật nói tại

Tinh xá Trúc Lâm, thành Vương Xá, Đức Phật phóng hào quang tập hợp đại chúng,

Trang 29

Bồ Tát Hiền Hộ là đương cơ Đồng bản với Kinh Ban Chu Tam Muội nhưng dịch sau Trong đó, Đức Phật bảo đại chúng rằng: “Người cầu Vô thượng Bồ Đề nên tu

niệm Phật thiền tam muội” Và nói kệ:

“Nếu người xưng niệm Phật A Di ĐàGọi đó là vô thượng thâm diệu ThiềnLúc chí tâm tưởng tượng được thấy PhậtChính là đắc Pháp bất sinh bất diệt”

1.2.1.13 Thập Trụ Đoạn Kết Kinh

Lúc bấy giờ trong pháp hội có bốn ức chúng, tự nghĩ rằng chết đây sinh kia,dây dưa không dứt, chính ái dục là nguồn của sinh tử, nên muốn sinh về cõi không

ái dục Đức Phật nói rằng: “Cách đây về phương Tây có đức Phật hiệu Vô Lượng

Thọ, cõi ấy thanh tịnh không có dâm, nộ, si; liên hoa hóa sinh không do bào thai của cha mẹ, các ông nên cầu sinh”.

1.2.1.14 Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh giới Kinh

Như Lai bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh gọi đủ là Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới, Đức Phật nói dưới gốc Bồ Đề khi mới thành đạo, cho

các hàng Bồ Tát đương cơ, Bồ Tát Phổ Hiền thuyết giảng, Bồ Tát Đức Tạng thưahỏi Trong đó, nội dung nói về vấn đề Bồ Tát biết rõ tất cả pháp đều duy tâm, đượctùy thuận nhẫn, hoặc nhập Sơ địa Mạng chung liền sinh về trong Cực Lạc Tịnh Độ,hay Diệu Hỉ thế giới

1.2.1.15 Tùy Nguyện Vãng Sinh Kinh

Tùy Nguyện Vãng Sinh Kinh gọi đủ là Kinh Phật Thuyết Quán Đỉnh Tùy Nguyện Vãng Sinh Thập Phương Tịnh Độ, còn gọi là Kinh Phổ Quảng Bồ Tát Nội

dung kinh giải đáp câu hỏi: “Vô lượng cõi Phật, sao lại chỉ chuyên cầu sinh Cực

Lạc thế giới?” có hai vấn đề: Một là vì nhân thù thắng, do thập niệm làm nhân; Hai

là vì duyên thù thắng, do 48 điều nguyện phổ độ chúng sinh

1.2.1.16 Xưng Dương Chư Phật Công Đức Kinh

Xưng Dương Chư Phật Công Đức Kinh gọi đủ là Phật Thuyết Xưng DươngChư Phật Công Đức Kinh, được nói tại núi Linh Thứu, nước Ma – duyệt – kì, ngài

Trang 30

Xá Lợi Phất làm đường cơ Kinh này, Đức Phật có khen gợi Phật A Di Đà như sau:

“Nếu ai được nghe danh của Vô Lượng Thọ Như Lai nhất tâm tin ưa Lúc người này mạng chung, Đức A Di Đà Phật và chư Thánh hiện ra trước mắt, ma chướng không làm hoại loạn được tâm chính giác của người này Nếu ai thụ trì tụng niệm Kinh này, sẽ được phúc vô lượng, khỏi hẳn tam đồ, sau khi mạng chung vãng sinh cõi Đức Phật ấy”.

1.2.1.17 Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ Kinh

Kinh này được Đức Phật nói tại Tinh xá Kì Hoàn, nước Xá Vệ, cho chúng đệ

tử, trong đó đương cơ là ngài Xá Lợi Phất Nội dung kinh Đức Phật dạy: “Lại nữa,

này Xa Lợi Phất! Nếu có các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân lòng tin trong sạch, được nghe danh hiệu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Vô Lượng Thọ và thế giới Cực Lạc công đức trang nghiêm như vậy, nghe xong tư duy: Hoặc một ngày một đêm, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc sáu, hoặc bảy ngày, hệ niệm chẳng loạn thì các thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân đó, lúc lâm chung được Phật Vô Lượng Thọ và Vô lượng Thanh văn đệ tử, Bồ Tát chúng của Ngài vây quanh trước sau, đến đứng trước mặt, từ bi gia hộ, khiến tâm không loạn.

Xả mạng xong, người này theo Phật chúng hội vào thế giới Cực Lạc, cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ”

1.2.1.18 Đại Vân Kinh

Đại Vân Kinh gọi đủ là Kinh Đại Phương Đẳng Vô Tưởng, hoặc Đại Vân Vô Tưởng Kinh, Đức Phật nói cho Đại Bồ Tát Đại Vân Mật Tạng, giải thích cho các

Phạm Chí về các vấn đề Nhất thiết trí, Phật Trong đó, Đức Phật dạy rằng: “Này

Thiện nam tử, về hướng Tây của thế giới Sa Bà này có một cõi gọi là An Lạc Giáo chủ là Phật Vô Lượng Thọ, hiện nay thường vì chúng sinh mà tuyên giảng chính pháp Đức Phật ấy đương bảo một vị Bồ tát rằng: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở cõi

Sa Bà đang nói kinh Đại Vân cho những chúng sinh phúc mỏng độn căn, ông nên qua đó chí tâm nghe pháp Điềm lành hiện ra đây chính là vì vị Bồ Tát ấy sắp đến đây Này Thiện nam tử! Ông xem các vị Bồ Tát ở cõi An Lạc thân cao năm vạn sáu nghìn do tuần”

Trang 31

1.2.1.19 Lăng Già Kinh

Kinh Lăng Gia được Đức Phật nói trên đỉnh núi Ma La Dà bên biển lớn trongthành Lăng Già, cho chúng Đại Bồ Tát và Đại Tỉ Khiêu, Bồ Tát Đại Huệ làm

thượng thủ đương cơ Trong kinh Đức Phật khai thị cho Bồ Tát Đại Huệ rằng: “Này

Đại Huệ! Ông nên biết sau khi Ta diệt độ, có vị danh đức Tỷ Khiêu ở xứ Nam Thiên Trúc, hiệu là Long Thọ Tỷ Khiêu ấy dẹp được sự tranh chấp của các tông về Hữu với Vô, để nêu cao pháp Vô thượng Đại thừa của Ta Vị ấy chứng bậc Sơ Hoan Hỷ địa và vãng sinh nước An Lạc”.

1.2.1.20 Tọa Thiền Tam Muội Kinh

Kinh này gọi đủ là Tọa Thiền Tam Muội Pháp Môn Kinh, gồm 2 quyểnthượng hạ, Tăng – già – la – sát soạn, Ngài La Thập thời Diêu Tần dịch, nội dungnói về 48 pháp đối trị các món phiền não như dâm dục, sân giận, si mê,… Trong đó

có nói cốt tủy của Bồ Tát khi tham thiền: “Bồ Tát tọa thiền không niệm tất cả, chỉ

niệm một Đức Phật bèn chứng được Tam muội”.

1.2.1.21 Văn Thù Bát Nhã Kinh

Văn Thù Bát Nhã Kinh gọi đủ là Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma ha Bát Nhã

Ba la mật kinh hoặc Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát nhã Ba la mật kinh, được Đức

Phật nói tại Tinh xã Kì Hoàn, nước Xá Vệ, nói cho Thanh văn đệ tử và chư Bồ Tát,Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là thượng thủ đương cơ Trong

kinh, Đức Phật bảo Bồ tát Văn Thù: “Muốn chóng thành quả Vô thượng Bồ Đề,

phải tu nhất hạnh Tam muội Người muốn nhập nhất hạnh Tam muội phải ở chỗ vắng vẻ rảnh rang, nhiếp tâm chính niệm để tâm nơi một Đức Phật rồi chuyên xưng danh hiệu, nên ngồi ngay thẳng hướng về Đức Phật ấy Nếu có thể chuyên niệm một Đức Phật nối luôn, bèn ở trong chính niệm thấy được Chư Phật trong mười phương

ba đời Công đức niệm một Đức Phật với công đức niệm vô lượng Đức Phật như nhau không khác Nếu được nhất hạnh tam muội, thời được trí tuệ biện tài, tất cả pháp môn đều thấu rõ Ngày đêm, tuyên giảng không ngừng, không dứt Sức đa văn biện tài của A Nan trăm nghìn phần vẫn không bằng một phần của người được nhất hạnh Tam muội này”.

Trang 32

1.2.1.22 Đại Tập Kinh

Tên đầy đủ là Kinh Đại Phương Đẳng Địa Tập, đại phương đẳng là gọichung kinh Đại thừa Đức Phật ở khoảng giữa hai cõi Dục giới và Sắc giới tập hợprông rãi Chư Phật, Bồ Tát ở mười phương rồi thuyết pháp Đại thừa, đó gọi là Đại

tập kinh Trong kinh này có dạy rằng: “Thời mạt pháp, ức ức người tu hành không

có một người được giải thoát, chỉ nương pháp môn niệm Phật mà ra khỏi luân hồi”.

Kinh lại nói: “Nếu người chuyên niệm Phật hoặc ngồi mà niệm, hoặc đi mà

niệm, trong suốt 49 ngày, thì hiện đời được thấy Phật, liền được vãng sinh”.

1.2.1.23 Kinh Trường - Tăng Nhất A Hàm

Kinh A Hàm là chỉ cho thánh điển của Phật giáo Nguyên thủy: Kinh Trường

A hàm, Tăng nhất A hàm, Tạp A hàm, Trung A hàm Trong kinh này, Đức Phật có

đề cập đến pháp môn Tịnh Độ như sau: “Này các Tỉ Khiêu hãy tu hành một pháp.

Hãy truyền bá một pháp Khi đã tu hành một pháp, thì thành tựu pháp thần thông, dứt hết những tư tưởng não loạn, chứng quả Sa môn và thể nhập Niết Bàn Thế Nào

là tu hành một pháp? Đó là Niệm Phật” Đức Phật cũng giải thích rõ rằng: “Niệm Phật về giới thanh tịnh không tỳ vết, như Kim cương không thể phá hoại Về định không giảm thiểu, không còn phiền não tâm vắng lặng hoàn toàn Về tuệ thành tựu trí tuệ không giới hạn, không chướng ngại, không sợ hãi Về giải thoát, nguyên nhân sinh tử trong ba đường ác là tham ái không còn, không còn tái sinh, không còn sinh tử luân hồi Về giải thoát tri kiến, biết được căn tính chúng sinh, nên hóa

độ hoặc không nên hóa độ Biết rõ chúng sinh thác nơi này sinh qua cõi khác, được giải thoát hay không giải thoát, Như Lai đều biết rõ….”

1.2.1.24 Kinh Mi Tiên Vấn Đáp

Trong kinh này, phần vấn đáp thứ 49, có ghi lời vấn đáp của Đức vua

Milinda với Tỉ Khiêu Na Tiên như sau: “Tỉ Khiêu Na Tiên hỏi Vua Milinda: Một

cục đá ném xuống sông thì sao? Đáp: Bị chìm Tỉ Kiêu Na Tiên lại hỏi: Đem hàng chục tảng đá để lên chiếc tàu chở hàng trăm tấn thì sao? Vua đáp: Đá không chìm nhờ tàu đỡ Tỉ Khiêu Na Tiên nói rằng: Cũng thế, chúng sinh tạo nghiệp nhưng khi

Trang 33

gặp Phật, nhất tâm Niệm Phật, cận tử nghiệp chuyển hóa nội tâm thì được Phật độ, không bị sa đọa cũng như vậy….”

1.2.1.25 Kinh Pháp Bảo Đàn

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn phần nghi vấn, Lục Tổ Huệ Năng có đoạn đối

đáp với Thứ Sử như sau:

Thứ sử hỏi: Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A Di Đà, nguyện sinh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sinh nơi cõi kia chăng? Nguyện vì phá cái nghi này.

Tổ đáp: Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói Thế Tôn ở trong thành

Xá Vệ nới Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng cách đây không xa Nếu luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười ác và tám

tà, liền là nói xa, nói xa vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người thượng trí Người

có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy có mau chậm Người mê niệm Phật cầu sinh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm mình, sở dĩ Phật nói: Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh Sử quân, người phương Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sinh về phương Tây, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sinh cõi nào? Phàm ngu không rõ tự tính không biết trong thân có Tịnh độ, nguyện đông, nguyện tây, người ngộ ở chỗ nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tuy chỗ mình ở hằng được an lạc Sử quân tâm địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách đây không xa Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sinh khó đến Nay khuyên thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tính thường hằng bình trực, đến như trong khảy móng tay, liền thấy đức Phật A Di Đà.

Sử quân, chỉ hành mười điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sinh, không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón tiếp Nếu ngộ được đốn pháp vô sinh, thấy Tây Phương chỉ trong khoảnh khắc sát na Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sinh thì con đường xa làm sao đến được Huệ Năng vì mọi người dời cõi Tây Phương trong khoảng sát na ở trước mắt khiến cho quí vị được thấy, quí vị có muốn thấy hay chăng?

Trang 34

1.2.2 Tịnh Độ tam kinh

Tịnh Độ Tam kinh bao gồm: Đại Bản A Di Đà Kinh, Tiểu bản A Di Đà Kinh

và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Quan điểm này lấy ba Kinh này làm chính kinh cho Pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật cầu sinh Tây Phương Cực Lạc Trong đó, Đại

bản A Di Đà Kinh và Tiểu Bản A Di Đà Kinh là nói về phép trì danh niệm Phật cầu

sinh Tịnh Độ Quán Vô Lượng Thọ Kinh là hiển bày về phép Quán tưởng niệm

Phật Ba bản kinh này là Kinh gốc của những người tu theo pháp môn Tịnh Độ vàKinh này do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra chứ không phải chư Tổ về sautạo ra ba kinh này Sau đây xin giới thiệu sơ lược:

Tây Không lão nhân trong lời bạt Tây Phương Mỹ Nhân Truyện nói rằng: “Kinh

Đại A Di Đà, lấy nguyện lực để sáng tỏ pháp, tức là lấy nguyện lực mà hiển bày sự tu” Đại bản Kinh A Di Đà gồm 4 phần chính yếu như sau:

- Cơ duyên Phật nói kinh Đại bản A Di Đà

- Nhân Địa của Đức Phật A Di Đà và 48 đại nguyện

- Nói về cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước Cực Lạc Bao gồm:Quang minh vô lượng, Thọ mạng vô lượng và thánh chúng vô lượng, Đường

sá, lầu gác, ao thất bảo vi diệu, ao sen hương sen vi diệu, thai sen vi diệu Lại

có cả y phục, thức ăn tự nhiên vi diệu hóa thành Tất cả đều do công đức tạothành trang nghiêm

- Lợi ích của việc hành trì tụng kinh niệm Phật, quán xét

1.2.2.2 Kinh Tiểu Bản A Di Đà

Kinh Tiểu bản A Di Đà là bản rút ngắn của Đại Bản A Di Đà Đây là kinh

nói về y báo chính báo của đức Phật A Di Đà nơi thế giới Cực Lạc ở phương Tây vàcũng là một trong ba bộ kinh Tịnh Độ quan trọng, lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc,

Trang 35

Nhật Bản, Việt Nam Kinh này trình bày phương pháp nhất tâm niệm danh hiệuPhật A Di Đà, khi lâm chung sẽ được Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng tiếpdẫn về cõi Tây Phương Cực Lạc Trong kinh miêu tả thế giới Cực Lạc đẹp đẽ trangnghiêm, có Đức Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp Tây Không Lão nhân trong

lời bạt sách Tây Phương Mỹ Nhân Truyện nói rằng: “Kinh A Di Đà, lấy niệm Phật

để sáng tỏ pháp, tức là dùng niệm Phật để hiển bày sự tu” Nguyên bản tiếng Phạn

của kinh này vẫn còn tồn tại, và người ta cũng còn tìm thấy những bản dịch sangHán Văn của hai dịch giả lừng danh là Cưu Ma La Thập và Huyền Trang Đây làmột trong hững bộ kinh tụng niệm chính của hành giả mỗi ngày

1.2.2.3 Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Kinh Quán Vô Lượng Thọ là bộ kinh nói rõ phép quán tưởng niệm Phật.

Kinh này lấy cảnh tịnh của cõi Phật là chính yếu, lấy trí quán tưởng, hành vi diệulàm chỗ hướng đến, lấy thật tướng Di Đà làm thể, lấy bỏ ác làm thiện làm dụng.Cho nên, thấy rõ vô lượng công đức cùng trang nghiêm, tất cả hạnh thù thắng đềudẫn trở về Cực Lạc Đại sư Trí Giả tông Thiên Thai phân định giáo pháp có nhận

định rằng: “Kinh Quán Vô Lượng Thọ là giáo lí chân thật sau cùng của Đại Thừa,

dùng ba pháp quán để lắng đọng tâm tư” Tây Không lão nhân trong lời bạt Tây Phương Mỹ Nhân Truyện nói rằng: “Kinh Quán Vô Lượng Thọ, lấy quán tưởng để sáng tỏ pháp, tức là dùng quán tưởng mà hiển bày sự tu” Điều đó cho chúng ta

một lời khẳng định về giá trị nội dung, nghĩ lí của kinh này trong hệ thống kinh điểnPhật giáo nói chung, hệ thống Kinh điển Đại thừa nói riêng giữ vị trí hết sức quantrọng và là phương tiện cứu kính giúp hành giả thành tựu sở nguyện tu hành

Kinh Quán Vô Lượng Thọ này được Đức Phật Thích Ca nói ra dựa trên sự

kiện lịch sử thời Ngài còn tại thế Đây được coi như mốc son đánh dấu nguyên dokhởi phát tông Tịnh Độ Khi đó, Phật ở thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật, sốngười tham dự có: 1250 vị Đại Tỷ khiêu, 32000 vị Bồ Tát, đứng đầu là Đại Trí VănThù Sư Lợi Bồ Tát Nhân vì Thái tử A Xà Thế nghe theo bạn ác là Đề Bà Đạt Đa,bắt cha là vua Tần Bà Sa La, mẹ là Hoàng hậu Vi Đề Hi bỏ ngục Hoàng hậu nhấttâm cầu Phật, khi Phật hiện đến, bà cầu xin được về cõi an lành, hạnh phúc Phật

Trang 36

dùng thần lực cho bà thấy các cõi Tịnh Độ, nhưng bà chỉ chọn cõi Cực Lạc của ĐứcPhật A Di Đà Phật đã chỉ cho bà phương pháp thực tập để được sinh về cõi này, đó

là dùng 16 phép quán tưởng, tùy theo nguyện lực quán tưởng của mỗi người mà sẽsinh vào một trong chín phẩm vãng sinh

Mười sáu phép quán tưởng đó là: Quán mặt trời lặn; Quán nước; Quán đáysông; Quán cây cối; Quán nước cam lộ; Quán thế giới thực vật; Quán nước và đáynước; Quán tòa sen; Quán báo thân Tây phương tam thánh; Quán ứng thân của tamthánh; Quán A Di Đà trong Tịnh Độ; Quán Tam Thánh trong Tịnh Độ; Quán phẩmthượng căn trong Tịnh Độ; Quán phẩm trung căn trong Tịnh Độ; Quán phẩm hạ căntrong Tịnh Độ Thực hiện phép quán tưởng này, nhằm giúp hành giả thực hành Tịnh

Độ ngay trong hiện tại, thấy cảnh Cực Lạc ngay nơi mình và chắc chắn sẽ đượcvãng sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc

1.2.3 Tịnh Độ ngũ kinh

Tịnh Độ ngũ kinh là nói năm bộ kinh được coi là chính yếu của tông Tịnh

Độ, bao gồm Tịnh Độ Tam kinh: Đại bản A Di Đà Kinh, Tiểu bản A Di Đà Kinh và

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Thêm vào hai phẩm của hai bộ kinh đại thừa nữa là: Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện trong Kinh Hoa Nghiêm và Chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong Kinh Lăng Nghiêm Hai phẩm này nằm

trong hai bộ Kinh tư tưởng Đại thừa mà lại chỉ bày pháp môn Tịnh Độ, để nhấnmạnh lợi ích siêu vượt của pháp môn Tịnh Độ, trong việc nhất tâm chuyên hướngniệm Phật thành Phật Mặc dù không phải là một bộ kinh riêng biệt khai mở vềPháp môn Tịnh Độ như Tinh Độ Tam Kinh nhưng việc nhận định đánh giá, rút haiphẩm này từ hai bộ Kinh lớn ra, gộp lại thành Tịnh Độ Ngũ Kinh cho thấy vai trògiá trị của Pháp môn Tịnh Độ trong hệ thống giáo lí Đức Phật Một pháp môn Tịnh

Độ viên đốn nhất thừa, thâu tóm toàn bộ hệ thống tư tưởng Đại Thừa Phật Giáo, làchỗ qui tông cho các pháp môn Cho thêm hai phẩm này vào Tam kinh Tịnh Độ làchỗ dụng minh chứng cho pháp môn chân thật, tâm tông của pháp môn Tịnh Độ.Hai Phẩm này cũng được đưa vào trong thời khóa công phu, tụng niệm hằng ngày

Trang 37

của các hành giả, và được tụng sau khi tụng Tam kinh Tịnh Độ cũng như hầu hếtcác kinh khác.

1.2.4 Luận Tịnh Độ

Vãng Sinh Tịnh Độ Luận vốn gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sinh Kệ, thuộc loại Tông Kinh luận Luận này dựa vào Kinh Vô Lượng Thọ lập

nghĩa nên còn được gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Luận, do Ngài Thế Thân trước tác.

Ngài Thế Thân là một luận sư rất nổi tiếng, Ngài đã từng trước tác 500 luận Tiểu

thừa, và sau lại làm ra 500 luận Đại thừa Vãng Sinh Tịnh Độ Luận là một trong số

500 bộ luận Đại thừa Trong Vãng Sinh Tịnh Độ Luận, Ngài Thế Thân đã chỉ rõ

phương pháp lễ bái, tán thán, tác nguyện, quán sát và hồi hướng Giúp cho các hànhgiả hiểu và thực hành Pháp môn Tịnh Độ một cách chân chính và dễ dàng hơn, sớmthành tựu công phu tu hành

1.2.5 Một số sách chú giải Kinh điển Tịnh Độ tiêu biểu

Kinh A Di Đà Sớ Sao của Đại sư Liên Trì, tổ thứ tám Liên Tông (tức la Ngài

Châu Hoằng) Cuốn này dung hòa Sự lẫn Lý, gồm nhiếp khắp ba căn và lời dẫn giảirất là uyên áo Sách này được viết vào triều Minh Đã được Hòa Thượng ThíchHành Trụ dịch ra Việt văn

Di Đà Kinh Yếu giải do Đại sư Trí Húc, tổ thứ chín Liên Tông (tức Ngài

Ngẫu Ích), được soạn vào cuối triều Minh Đã được cụ Tuệ Nhuận dịch sang Việtvăn

Kinh Di Đà Lược Giải Viên Trung Sao, do Ngài U Khê soạn vào đời Minh.

Đã được Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ dịch sang Việt văn

Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Kí, do Ngài Ngẫu Ích Trí Húc

Đại sư chú giải vào đời Thanh, Pháp sư Tịnh Không giảng thuật Đã được Đại ĐứcThích Như Hòa dịch sang Việt văn

Ngoài ra, hệ thống sách chú giải kinh Tịnh Độ và luận giải pháp môn Tịnh

Độ vẫn còn rất nhiều như: Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa của Pháp sư Tịnh Không; Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú của Pháp sư Tịnh Không; Vạn Thiện Đồng

Qui của Vĩnh Minh Đại sư (cuốn này tập hợp lời dạy về Tịnh Độ rất thiết yếu); Trúc

Trang 38

Song Tùy Bút Lục của Liên Trì Đại sư; Long Thư Tịnh Độ;… Một số sách chú giải Quán Vô Lượng Thọ Kinh xin trình bày ở phần dưới.

1.2.6 Khái quát tình hình truyền bá và lưu hành kinh sách Tịnh Độ ở Việt Nam

Bộ Kinh Tam Bảo (trong đó có Tiểu bản A Di Đà) do Hòa Thượng Thích Trí

Tịnh dịch, ấn hành năm 1950 được coi là bộ Kinh Tịnh Độ đầu tiên khơi nguồn chophong trào dịch thuật và truyền bá kinh sách Tịnh Độ ở Việt Nam (Trước đó, các

kinh sách Tịnh Độ đều khắc in Hán bản) Bộ sách Đường về Cực Lạc của Hòa

Thượng Thích Trí Tịnh được ấn hành năm 1953, đã trở thành nền tảng vững trắchơn cho Tông môn Tịnh Độ ở Việt Nam Năm 1955, Hòa Thượng Thích Trí Tịnhthành lập hội Cực Lạc Liên Hữu tại chùa Vạn Đức (Thủ Đức, Gia Định), hội nàychuyên niệm hồng danh và hoằng dương pháp môn Tịnh Độ Từ năm 1955 – 1964,Hòa Thượng Thích Thiền Tâm cùng giúp sức hoằng dương Tịnh Độ, ngài đã soạndịch nhiều sách Tịnh Độ Kể từ đó tông môn Tịnh Độ được định hình rõ ràng tạiViệt Nam Hệ thống sách Tịnh Độ được Việt dịch ngày càng phong phú đa dạng,một số dịch giả có cống hiến như ĐĐ Thích Như Hòa, HT Thích Như Điển…

Hệ thống kinh điển, sách luận Tịnh Độ do Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

dịch và trước thuật như: Dịch: Quán Vô Lượng Thọ Kinh; Hương quê Cực Lạc;

Tịnh Độ thập nghi luận; Lá thư Tịnh Độ; Niệm Phật Ba la mật kinh; Liên Tông thập tam tổ; Tịnh Độ hoặc vấn Soạn thuật: Tịnh học tân lương (1,2,3); Niệm Phật thập yếu; Mấy điệu sen thanh (1,2,3,4,5,6,7); Tây phương nhật khóa; Tịnh Độ pháp nghi; Niệm Phật Tam muội

Hệ thống kinh điển, sách luận Tịnh Độ do Hòa Thượng Thích Như Điển

dịch: Tư tưởng Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ tông Nhật Bản; Những bản kinh căn bản

của Tịnh Độ tông Nhật Bản; Nhật Liên tông Nhật Bản …

Hệ thống kinh điển, sách luận Tịnh Độ do Đại Đức Thích Như Hòa dịch:

Chú giải Kinh Phật thuyết Đại thừa Vô Lượng Thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác; Phật thuyết A Di Đà Kinh yếu giải giảng kí …

Có thể nói rằng Pháp môn Tịnh Độ ở Việt Nam đã bắt đầu được kết nối lại

và ngày càng được định hình Tuy nhiên phần lớn kinh điển sách luận nguồn chính

Trang 39

vẫn do chuyển ngữ từ Trung Quốc, những sách trước thuật vẫn còn rất hạn chế.Sách có nội dung nghi lại thoại tướng vãng sinh của các tổ sư Việt Nam tu hànhpháp môn Tịnh Độ rất hiếm chỉ còn cuốn Liên Xã Niệm Phật của Tổ Bồ Đề NguyênBiểu, đang lưu giữ tại sơn môn Bồ Đề - Hà Nội Thời cận hiện đại, chỉ có HòaThượng Thích Trí Tịnh, Hòa Thượng Thích Thiền Tâm có ghi lại thoại tướng vãngsinh sau khi viên tịch Việc ghi lại hành trạng tu hành và vãng sinh công cứ của cáchành giả tu Tịnh Độ rất cần thiết vì nó là minh chứng cho công năng lợi ích củapháp môn Tịnh Độ, góp phần khuyến tiến mọi người phát tâm tu hành Tịnh Độpháp môn niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, người đã phát tâm tu hành Tịnh Độ thì tâmcàng thêm kiên cố, càng thêm tinh tiến

1.3 Lịch sử dịch thuật và truyền thừa Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phạn bản xuất phát từ Đức Phật nói tại Thành

Vương Xá, núi Kì Xà Quật, cho Bồ Tát Di Lặc, Tôn giả A Nan cùng 1250 vị Đại Tỷkhiêu, 32000 vị Bồ Tát đứng đầu là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Nhân duyên nói là do

A Xà Thế nghe theo Đề Bà Đạt Đa bắt giam vua cha Tần Bà Sa La, mẹ là Hoànghậu Vi Đề Hy Trong cảnh u bế đầy dẫy đau khổ đó, Hoàng hậu Vi Đề Hy đã khẩncầu Đức Phật nói cho các cảnh giới Tịnh Độ của mười phương chư Phật Hoàng hậuchỉ chọn cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, Đức Phật đã nói cho 16phép quán tưởng niệm Phật để sinh về thế giới Cực Lạc Đến nay, bản Phạn văn của

Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã không còn, chỉ còn bản Hán Văn Ngài Cương Lương

Da Xá dịch Kinh Quán Vô Lượng Thọ từ Phạn văn sang Hán văn Ngài Thiên Thai

Trí Giả Đại Sư thuật Sớ Tứ Minh Sa Môn Tri Lễ thuật Sao Nhật Đông Sa Môn Thực

Quán phân Hội Quán Kinh Tứ Thiếp sớ, do tổ thứ hai Tịnh Độ Tông Thiện Đạo Hòa

Thượng thời Đường tập kí, đã được Thầy Thích Pháp Chánh dịch năm 2009

Quán Vô Lượng Thọ Kinh là một trong ba bộ kinh Tịnh Độ quan trọng, song

hành cùng với Đại bản A Di Đà và Tiểu bản A Di Đà Trải qua thời gian lịch sử lâu

dài, kinh này luôn nhận được sự quan tâm của các bậc thượng thủ các thời, ra sứclàm chú giải, truyền thừa rộng khắp trên đất nước Trung Hoa rộng lớn, cho đếnnhiều quốc gia như Nhật Bản, Việt Nam Được biên vào Đại Tạng kinh là kho lưu

Trang 40

giữ Kinh điển muôn đời như Đại Tạng Kinh Hán, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng

Kinh Với nhiều bộ chú giải quan trọng như: Quán Kinh Sớ của Thiên Thai Trí Giả, Quán Kinh Sớ Sao của Tri Lễ Đại sư, Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ của Ngài Thiện Đạo, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản của Sa môn

Thực Quán

Cuốn kinh Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao

Hội Bản là tổng tập tất cả bề dầy chú giải cho Kinh Quán Vô Lượng Thọ qua thời

gian lịch sử lâu dài Bộ Hội Bản Quán Kinh này đến với Việt Nam khá muộn vào

thời Pháp thuộc, Tổ Thích Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm, mới sai các đệ tử saochép và khắc in lại từ bản Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh của Nhật, lưu trữ tạitrường Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội Từ đó, đến nay đã lâu không thấy lưu truyền,nay xem lại trong Thư viện Quốc Gia để tìm hiểu khảo sát, mong tìm lại giá trị xưa

giới thiệu về đối tượng nghiên cứu của luận văn Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ

Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản, việc dẫn dắt đi từ tổng quan đến chi tiết,

giúp người đọc có cái nhìn khát quát, định hình vai trò giá trị của tác phẩm Phật

Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao Hội Bản trong hệ thống

kinh điển Phật giáo nói chung và Kinh điển Tịnh Độ nói riêng

Ngày đăng: 05/05/2020, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w