1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căng thẳng tâm lý của học sinh lớp 12 trước kỳ thi THPT quốc gia

137 179 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những hệ quả do căng thẳng đem lại cho các em học sinh THPT được các tác giả đi trước phát hiện thấy, với những tác động của sự phát triển văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ ngày na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

THÁI PHƯƠNG LINH

CĂNG THẲNG TÂM LÝ Ở HỌC SINH LỚP 12 TRƯỚC KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

THÁI PHƯƠNG LINH

CĂNG THẲNG TÂM LÝ Ở HỌC SINH LỚP 12

TRƯỚC KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THU HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự

hướng dẫn của PGS TS Trần Thu Hương

Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn có xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 23 tháng 8 năm 2017

Tác giả

Thái Phương Linh

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể các thầy cô khoa Tâm lý trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đây

Để có được công trình này tôi không thể quên sự giúp đỡ tận tình của các ban giám hiệu, các giáo viên cùng các em học sinh thuộc 3 trường THPT Kim Liên, THPT Đống Đa, THPT Cao Bá Quát, trên địa bàn Hà Nội

đã dành cho chúng tôi trong các lần lấy số liệu

Sau cùng, nhưng không bao giờ là ít quan trọng nhất, tôi đặc biệt cảm

ơn gia đình đã luôn luôn dành thời gian cần thiết để tôi có thể thực hiện đến cùng công trình này Trong những tháng cuối thực hiện phần việc còn lại, nếu không có sự giúp đỡ của họ tôi không thể chuyên tâm cho công việc của mình

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Thái Phương Linh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CĂNG THẲNG Ở HỌC SINH LỚP 12 TRƯỚC KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu về vấn đề căng thẳng ở học sinh Trung học phổ thông 7

1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước về căng thẳng và sự căng thẳng ở học sinh trung học phổ thông 7

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về căng thẳng và sự căng thẳng ở học sinh trung học phổ thông 11

1.2 Một số vấn đề lý luận về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 14

1.2.1 Lý luận về căng thẳng 14

1.2.2 Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 17

1.2.3 Lý luận về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi trung học phổ thông quốc gia 19

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 27

Chương 2TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Tổ chức nghiên cứu 31

2.1.1 Một vài nét về địa bàn nghiên cứu 31

2.1.2 Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu 32

2.1.3 Quy trình thực hiện nghiên cứu: các đợt nghiên cứu, cách thức tiến hành 33

2.1.4 Tiến trình nghiên cứu: 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 33

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 35

Trang 7

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CĂNG THẲNG Ở HỌC SINH LỚP 12 TRƯỚC KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC

GIA 44

3.1 Thực trạng căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 44

3.1.1 Mức độ lo lắng của học sinh lớp 12 trước kì thi trung học phổ thông Quốc gia 44

3.1.2 Mức độ chán nản của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 50

3.2 Ứng phó của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 59

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia 70

3.3.1 Yếu tố khách quan 70

3.3.2 Đánh giá chủ quan 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Phụ lục 87

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu 32

Bảng 2.3 Cách tính điểm trắc nghiệm PHQ-9 41

Bảng 3.1: Mức độ lo lắng của học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia 44

Bảng 3.2 Mức độ lo lắng của các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia theo nam – nữ 45

Bảng 3.3 Mức độ lo lắng của các em học sinh lớp 12 trước kì thi 46

THPT Quốc gia theo phân ban 46

Bảng 3.4 Mức độ lo lắng của các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia theo khu vực 47

Bảng 3.5: Biểu hiện lo lắng của học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia – kết quả khảo sát đợt 1 48

Bảng 3.6: Biểu hiện lo lắng của học sinh lớp 12 trước kì thi 49

THPT Quốc gia đợt 2 49

Bảng 3.7: Mức độ chán nản của học sinh lớp 12 trước kì thi 51

THPT Quốc gia 51

Bảng 3.8 Mức độ chán nản của các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia theo nam – nữ 52

Bảng 3.9 Mức độ chán nản của các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia theo phân ban 52

Bảng 3.10 Mức độ chán nản của các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia theo khu vực 53

Bảng 3.11: Biểu hiện chán nản của học sinh lớp 12 trước kì thi 54

THPT Quốc gia đợt 1 54

Bảng 3.12: Biểu hiện chán nản của học sinh lớp 12 trước kì thi 57

THPT Quốc gia đợt 2 57

Bảng 3.13: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó với căng thẳng 60

Trang 9

Bảng 3.15: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó tích cực với căng thẳng đợt 2 63

Bảng 3.16: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó tiêu cực với căng thẳng đợt 1 64

Bảng 3.17: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó tiêu cực với căng thẳng đợt 2 66

Bảng 3.18: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó lảng tránh với căng thẳng đợt 1 67

Bảng 3.19: Tỉ lệ học sinh lớp 12 ứng phó lảng tránh với căng thẳng đợt 2 68

Bảng 3.20: Tỉ lệ học sinh lớp 12 có khó khăn về cảm xúc 73

Bảng 3.21: Tỉ lệ học sinh lớp 12 có khó khăn về hành vi 74

Bảng 3.22: Tỉ lệ học sinh lớp 12 có khó khăn về tăng động 76

Bảng 3.23: Tỉ lệ học sinh lớp 12 có khó khăn về hoà nhập xã hội 76

Bảng 3.24: Tổng điểm khó khăn của học sinh lớp 12 77

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 sẽ thể hiện mối tương quan này: 69 Hình 3.2: Hỗ trợ của cha mẹ cho học sinh lớp 12 trước kì thi 71

THPT Quốc gia Error! Bookmark not defined

Hình 3.3: Hỗ trợ của thầy cô cho học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia 72 Hình 3.4 Các khó khăn ảnh hưởng tới mức độ lo lắng của học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia 78 Hình 3.5 Các khó khăn ảnh hưởng tới mức độ chán nản của học sinh lớp

12 trước kì thi THPT Quốc gia 79

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật và công nghệ, xã hội hiện đại đem đến cho con người nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng mang tới cho họ nhiều thách thức và áp lực hơn trong cuộc sống Những áp lực đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng căng thẳng diễn ra khá phổ biến ở mọi xã hội, mọi nền văn hóa, mọi đối tượng, không loại trừ độ tuổi nào

phải đối diện với rất nhiều khó khăn, áp lực trong học tập, đặc biệt là những kì thi lớn và quan trọng đòi hỏi các bạn học sinh cần có các kĩ năng ứng phó thích hợp để vượt qua khó khăn và tránh khỏi hậu quả do những cách ứng phó tiêu cực gây ra do ở độ tuổi còn trẻ, còn thiếu hiểu biết, kinh nghiệm sống còn ít, kĩ năng sống cũng chưa được chú trọng trong nhà trường phổ thông, nên không ít bạn trẻ đã không kiểm soát được những hành động tiêu cực của mình, và gặp phải hoặc gây ra những hậu quả đáng tiếc như bạo lực học đường, tự làm hại bản thân, tự tử cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên (tuổi từ 18 đến 25) lần 2 do Tổng cục dân số và Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2008 – 2010 với 10.044 mẫu khảo sát trên 63 tỉnh thành Việt Nam cho thấy: 73,1% thanh thiếu niên đã từng có cảm giác buồn chán; 21,3% đã từng có cảm giác thất vọng về tương lai và

có 4,1% đã từng nghĩ đến chuyện tự tử Điều đáng nói là so với cuộc điều tra lần thứ nhất (năm 2003 – 2005), các tỉ lệ này đều đã tăng đáng kể, đặc biệt tỉ lệ thanh thiếu niên đã từng có cảm giác buồn chán đã tăng từ 32,6% lên 73,1% Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của học sinh

là do áp lực học tập với phần lớn thời gian dành cho hoạt động học tập trên lớp và ở nhà (Lê Thị Thanh Thủy, 2009; Phạm Thanh Bình, 2007) Trong nghiên cứu trên 65 học sinh lớp 12 có dấu hiệu bị căng thẳng ở trường THPT chuyên ngữ - ĐHQGHN và THPT Lê Quý Đôn, tác giả Lê Thị Thanh Thủy (2009) đã tìm thấy 89,2% học sinh cảm thấy căng thẳng vì

Trang 12

thời gian dành cho việc học quá nhiều và có 49,2% học sinh ở mức độ rất căng thẳng Trong số những học sinh ở mức độ rất căng thẳng với việc học tập, có tới 32,3% học sinh thấy thực sự căng thẳng với việc chuẩn bị kì thi tốt nghiệp và chọn trường thi cao đẳng, đại học Thực trạng này đặt ra vấn

đề là cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về căng thẳng của học sinh nói chung, ở học sinh lớp 12 nói riêng để hiểu rõ và xây dựng các biện pháp, chương trình nhằm giúp các em hình thành cách ứng phó tích cực với kì

Từ năm 2015, bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế thi mới khi gộp hai kì thi là Kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và Kì thi tuyển sinh đại học và cao đẳng thành kì thi Trung học phổ thông Quốc gia Kì thi này xét cho thí sinh hai nguyện vọng: tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng Việc thay đổi này đã tạo ra những khó khăn cũng như tạo ra những áp lực riêng cho các em học sinh

Căng thẳng nói chung, căng thẳng trong học tập ở học sinh THPT nói riêng là vấn đề đã được nhiều tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau trên những đối tượng khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về căng thẳng trên học sinh lớp 12 khi đối mặt với một

kì thi lớn như kì thi Trung học phổ thông Quốc gia hoàn toàn chưa có Với những hệ quả do căng thẳng đem lại cho các em học sinh THPT được các tác giả đi trước phát hiện thấy, với những tác động của sự phát triển văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ ngày nay, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia là vô cùng cần thiết

Từ những lý do nên trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài

“Nghiên cứu về căng thẳng tâm lý ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia” Cũng qua nghiên cứu này, chúng tôi mong

muốn đề xuất được một số kiến nghị giúp các em học sinh lớp 12 hình thành những cách ứng phó tích cực với căng thẳng trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm trợ giúp học sinh ứng phó tích cực và giảm thiểu căng thẳng khi đối mặt với kì thi

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biểu hiện căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng

ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học Phổ thông Quốc gia

3.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 252 học sinh lớp 12 thuộc 3 trường THPT trên địa bàn Hà Nội: THPT Kim Liên, THPT Đống Đa, THPT Cao

Bá Quát (Hà Đông)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 căng thẳngcăng thẳngkì THPT Quốc gia ở

4.2 Nghiên cứu thực trạng biểu hiện căng thẳng và các phương thức ứng phó với căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học Phổ thông Quốc gia ở các thời điểm khác nhau Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới căng thẳng

4.3 Đề xuất một số kiến nghị giúp học sinh giảm thiểu căng thẳng và ứng phó tích cực với căng thẳng

5 Giới hạn nghiên cứu

5.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát các em học sinh lớp 12 thuộc 3 trường THPT trên địa bàn Hà Nội; trong đó có 2 trường thuộc nội thành Hà Nội (THPT Kim Liên và THPT Đống Đa) và 1 trường thuộc ngoại thành Hà Nội (THPT Cao Bá Quát – Hà Đông)

5.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Trang 14

Đề tài giới hạn nghiên cứu một số chiều cạnh căng thẳng học sinh lớp

12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia, bao gồm: mức độ biểu hiện một số cảm xúc tiêu cực của căng thẳng (lo lắng, chán nản), cách ứng phó với căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng dựa trên sự đánh giá chủ quan của các em Các chiều cạnh này được xem xét ở các thời điểm khác nhau: cách 7 tháng trước kì thi (tháng 11/2016) và cách 3 tháng trước

kì thi (tháng 3/2017)

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia, một bộ phận học sinh lớp 12 trong nghiên cứu này có các biểu hiện căng thẳng khác nhau biểu hiện lo lắng, chán nản.Có sự khác nhau về mức độ biểu hiện căng thẳng của học sinh lớp 12 ở những giai đoạn khác nhau: càng gần kì thi, căng thẳng của các em càng căng thẳngkì, và lảng tránh đa phần các em sử dụng cách ứng phó tích cực và lảng tránh, tuy nhiên vẫn có một số lượng nhỏ các

em sử dụng những các ứng phó tiêu cực

- Các yếu tố khách quan (cha mẹ, thầy cô) có ảnh hưởng nhiều nhất đến mức độ biểu hiện căng thẳng và cách ứng phó với căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp thống kê toán học

8 Đóng góp của luận văn

- Kết quả nghiên cứu lý luận đã khái quát hoá được các hướng nghiên

cứu về căng thẳng ở học sinh nói chung và học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia nói làm sáng tỏ được các vấn đề: khái niệm căng thẳng, căng thẳng ở học sinh lớp 12, các biểu hiện căng thẳng của học sinh lớp 12,

Trang 15

ứng phó của học sinh lớp 12 với căng thẳng, các yếu tố ảnh hưởng tới căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia

- Kết quả nghiên cứu thức tiễn cho thấy: Khoảng 40% học sinh lớp 12

trước kì thi THPT Quốc gia có các biểu hiện của căng thẳng là lo lắng, chán nản Mức độ của các cảm xúc tiêu cực này tăng lên khi kì thi gần

Đa phần học sinh đã có những ứng phó tích cực với căng thẳng, bên cạnh đó còn có cách ứng phó lảng tránh cũng được học sinh lựa chọn Các cách ứng phó này không có sự khác biệt giữa các lần khảo sát Nói cách khác các em học sinh duy trì cách thức ứng phó với kì thi cho dù có sự thay đổi về thời gian Số liệu điều tra cũng cho thấy học sinh nam thường sử dụng những cách ứng phó tiêu cực hơn học sinh nữ Với những học sinh càng có mức độ lo lắng, chán nản, khó khăn cao thì càng có nhiều ứng phó tiêu cực, lảng tránh Kết quả này cũng cho thấy sự thiếu hụt của các kỹ năng ứng phó với các cảm xúc tiêu cực

- Có sự tương quan giữa mức độ biểu hiện của căng thẳng (lo lắng, chán nản) với các hỗ trợ xã hội như cha mẹ, thầy cô, bạn bè và kĩ năng ứng phó Khi càng nhiều hỗ trợ xã hội cha mẹ, thầy cô, bạn bè học sinh càng có

xu hướng sử dụng các cách ứng phó tích cực Tuy nhiên, sự quan tâm, chia

sẻ từ cha mẹ, thầy cô lại làm mức độ của các cảm xúc tiêu cực như lo lắng, chán nản lại có xu hướng tăng lên

Trang 16

9 Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi trung học phổ thông quốc gia

Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi trung học phổ thông quốc gia

Kết luận và kiến nghị

Phụ lục

Trang 17

cố xảy ra xung quanh họ, phải đưo ng đầu với nhiều tình huống khó kha n phức tạp khác nhau Do đó, bất cứ ai cũng có thể bị căng thẳng - trạng thái

ca ng thẳng về ta m lý với các mức đọ khác nhau Chính những điều này đã thúc đẩy ngày càng có nhiều nghiên cứu về căng thẳng

Có thể nói, nghiên cứu căng thẳng nói chung đã xuất hiện trên thế giới

từ thế kỷ 17 Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, nghiên cứu căng thẳng có những thành tựu nhất định từ việc đưa ra định nghĩa, tiêu chí để xác định căng thẳng, các thang đo, trắc nghiệm đánh giá và các phương pháp nghiên cứu căng thẳng và tập trung vào nhiều nhóm đối tượng khác nhau Ở nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào những nghiên cứu về căng thẳng của học sinh lứa tuổi THPT

1.1.1 Một sốghiên cứu về căng thẳng và căng thẳng ở học sinh trung học phổ thông

Trên thế giới, các nghiên cứu về căng thẳng học đường rất đa dạng, tập trung vào nhiều khía cạnh và lĩnh vực như: các hiểu hiện của căng thẳng, tìm hiểu nguyên nhân, tìm hiểu cách thức ứng phó, sự liên quan của căng thẳng học đường với các sự kiện cuộc sống hay sức khỏe tâm thần Trong vài năm gần đây, các nghiên cứu tập trung nhiều vào mô tả các mối quan hệ giữa căng thẳng học đường và giới, sắc tộc, dân tộc, thành tích học tập và rèn luyện của học sinh Nhiều nghiên cứu tìm hiểu độ tin cậy và hiệu

Trang 18

lực của các trắc nghiệm căng thẳng cho học sinh, thích nghi hoặc chứng minh tính hiệu quả của các trắc nghiệm mới Đa số các nghiên cứu tiến hành theo lát cắt ngang, một số nghiên cứu thực hiện theo lát cắt dọc để tìm hiểu sự thay đổi về căng thẳng ở học sinh theo thời gian Trong nghiên cứu này, chúng tôi tổng quan các nghiên cứu trên học sinh theo 2 hướng:

- Hướng nghiên cứu thứ nhất tập trung làm rõ các tác nhân gây căng

thẳng của học sinh

Theo Compas (1997) và Sim (2000) căng thẳng của học sinh đến từ những sự kiện trong cuộc sống hàng ngày như cha mẹ ly dị, người thân mất, hay những rắc rối hàng ngày như mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái, các yêu cầu trong học tập, cãi nhau với bạn bè Khi những yếu tố này kết hợp với nau chúng trở thành chỉ báo quan trọng dự báo đời sốn tâm lý của học sinh [22; 28]

Isakson & Jarvis (1999) cho rằng học sinh hàng ngày phải đối mặt với những tác nhân gây căng thẳng bình thường và những tác nhân gây căng thẳng không bình thường Theo hai tác giả này, những tác nhân gây căng thẳng bình thường bao gồm những thay đổi do phát triển của trẻ vị thành niên như dậy thì, do chuyển trường, gia tăng áp lực học tập Các tác nhân gây căng thẳng không bình thường có thể đến từ những tình huống bất ngờ như động đất, sóng thần …

Nghiên cứu của Byrne, Davenport và Masanov (2007) đã đưa ra 10 khía cạnh của các nguồn gây căng thẳng bao gồm 58 items Bốn trong số

10 khía chiều cạnh liên quan đến học tập; các khía cạnh khác phản ánh những căng thẳng liên quan đến mối quan hệ giữa các cá nhân, đời sống gia đình, áp lực tài chính, không chắc chắn về tương lai và xuất hiện trách nhiệm của người lớn

Một số các tác giả khác như Crystal và cộng sự (1994), De Anda và cộng sự (2000); Lohman & Jarvis (2000), khi nghiên cứu căng thẳng ở học sinh, quan tâm nhiều đến tác nhân liên quan đến học tập Những vấn đề mà

Trang 19

học sinh phải đối mặt với các yếu tố liên quan đến học tập như làm bài kiểm tra, điểm học tập, làm bài tập ở nhà, những k vọng đạt thành tích cao… được xem như là các nguồn gây căng thẳng lớn nhất cho học sinh Các loại yếu tố gây căng thẳng liên quan đến trường học bao gồm thành tích học tập, sự tham gia các hoạt động, sự tương tác với các giáo viên và việc cân bằng thời gian giải trí ở nhà trường (Byrne và cộng sự, 2007) Các tác giả khác như Nelson và Lott (1990), llen và cộng sự (1994) lại quan tâm nhiều đến nguyên nhân gây ra căng thẳng cho trẻ vị thành niên trong mối quan hệ với gia đình như: những k vọng không hợp lý của cha

mẹ không thể trở thành sự thực, sự cằn nhằn, sự trì hoãn của cha mẹ, tính rập khuôn và không tôn trọng quan điểm của con cái 19]

- Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào cách ứng phó của học sinh

đối với căng thẳng

Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định những hạn chế của cách ứng phó với các hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống ở vị thành niên ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tinh thần của họ

Nezu và Ronan (1988), khi nghiên cứu về kĩ năng ứng phó của trẻ vị thành niên, chỉ cho rằng nếu vị thành niên không có kĩ năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh dẫn đến căng thẳng, trầm cảm và lo âu Để giải quyết được các vấn đề, vị thành niên cần có niềm tin dựa vào năng lực, xác lập được những kĩ năng ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn của bản thân.[21]

Kovacs (1989) cho rằng, có nhiều vấn đề về tâm thần của trẻ em liên quan đến sự hiểu biết của các em về các kĩ năng xã hội Đây là một trong những nguyên nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát.[21]

Các tác giả Carver, Scheiner và Weintraub (1989) lại cho rằng Hành

vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi là xu hướng ứng xử Con người

có cách ứng phó nất định trong nhiều tình huồng khác nhau Cách ứng phó của cá nhân ảnh hưởng đến chính cá nhân đó 13]

Trang 20

Compas và các cộng sự (2001) đã tóm tắt 63 nghiên cứu về ứng phó trẻ em và vị thành niên từ năm 1988 đến năm 2001, trong đó có hơn 50 nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa ứng phó và những vấn đề sức khỏe tâm thần Những thang đo khảo sát về sức khỏe tâm thần được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu theo xu hướng này như bảng kiểm về các hành vi của trẻ (CBCL), bảng tự thuật của thanh thiếu niên (YSR) của Thomas M chenbach (1995); thang đo lo âu (RCM S) của Cecil và Bert (1985); bảng kiểm trạng thái lo âu (SSAI) của Speiberger (1983), thang đo trầm cảm (BDI) của Beck (1996) … Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ứng phó có mối liên quan đến các vấn đề cảm xúc như lo âu, căng thẳng, giận dữ, trầm cảm và các vấn đề về hành vi như xâm kích, tăng động, không tập trung chú ý, hành vi phạm pháp, lệch lạc, suy nghĩ lệch lạc, sử dụng rượu và các chất kích thích [23]

Kumarmahi (2007) tới tác phẩm “Kĩ năng ứng phó với căng thẳng” đã nêu các vấn đề liên quan đến kĩ năng ứng phó Theo đó, có 3 bước của quá trình ứng phó là nhận diện tác nhân, quy trách nhiệm và hành động Từ đó, tác giả nhấn mạnh, kĩ năng ứng phó với căng thẳng cần thiết phải có: kĩ năng tư duy tích cực, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tương tác xã hội và kĩ năng tự điều chỉnh [24,tr8-9]

Các nghiên cứu đã chứng tỏ cách ứng phó có mối quan hệ với khí chất (Ebata và Moos, 1994; Kurdek và Sinclair, 1988), tính cách (Flachsbart, 2007; Bolger và Zuckerman 1995, Grant và Langan-Fox 2007, Gunthert và các cộng sự, 1999, Penley và Tomaka 2002, Suls và Martin, 2005) [dẫn theo Carver và J Connor-Smith, 2010], tính lạc quan - bi quan (Solberg Nes và Segerstrom, 2006; dẫn theo Carver và J Connor-Smith, 2010), tự đánh giá về giá trị bản thân (Chapman và Mullis, 1999; Ni và các cộng sự, 2012), đánh giá về sự kiện gây ra căng thẳng (Compas và các cộng sự, 1988) Cách ứng phó của trẻ không chỉ chịu chi phối bởi các yếu tố cá nhân

mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố xã hội Có khá nhiều

Trang 21

nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỗ dựa xã hội và cách ứng phó ở vị thành niên (Bal Crombez, Van Oost và Debourdeaudhui, 2003; Frydenberg, 2008)

1.1.2 ghiên cứu về căng thẳng và căng thẳng ở học sinh trung học phổ thông

1.1.2.1 Những nghiên cứu về căng thẳng

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, một chuyên khảo viết về “Căng thẳng trong thời đại văn minh” do hai bác sĩ Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm biên soạn và xuất bản, đã khái quát lịch sử nghiên cứu căng thẳng và cảnh báo về những nguy cơ và hậu quả của căng thẳng có thể gây

ra cho con người trong xã hội hiện đại Sự phát triển công nghiệp cũng như

xã hội cùng môi trường ô nhiễm và những yếu tố nội tại trong cơ thể con người đã trở thành tác nhân gây căng thẳng.[16]

Hai tác giả có đóng góp rất lớn trong việc nghiên cứu về căng thẳng ở nước ta là Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện Hai tác giả này đã có nhiều nghiên cứu mang tính lý luận và thực tiễn về căng thẳng qua việc thăm khám lâm sàng và chữa trị cho trẻ em Một số các tác phẩm như

“Căng thẳng và đời sống” (1998), “Chung sống với căng thẳng” (2004),

“Căng thẳng và sức khỏe” (2004) của Đặng Phương Kiệt là sự kết hợp những tri thức khoa học cơ bản liên quan đến căng thẳng và những vấn đề cập nhật của đời sống con người Việt Nam Những công trình nghiên cứu của Nguyễn Khắc Viện cho thấy các biện pháp giải tỏa hoặc chế ngự căng thẳng; đồng thời, ông đưa ra hàng loạt các căn bệnh thậm chí gây tổn thương nặng, có thể dẫn tới cái chết xuất phát từ căn nguyên tâm lý – do căng thẳng gây ra mà cách chữa trị chủ yếu là tác động tới tinh thần của người bệnh

1.1.2.2 Những nghiên cứu về căng thẳng ở học sinh

Ở Việt Nam, vấn đề căng thẳng học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ quả do căng thẳng gây ra đối với học sinh như bị trầm cảm, có hành vi gây hấn, xâm kích, thậm chí là tự tử

Trang 22

Phần lớn nghiên cứu ở Việt Nam tập trung khảo sát các khó khăn tâm

lý của trẻ vị thành niên và các mức độ biểu hiện, nguyên nhân dẫn đến căng thẳng, lo âu (Phạm Thanh Bình, 2005; Nguyễn Bá Đạt, 2001; Đỗ Thị Lệ Hằng, 2009; Phí Thị Hiếu, 2006; Phạm Thị Thanh Hương, 2003; Nguyễn Thị Hằng Phương, 2009; Đinh Thị Hồng Vân và Nguyễn Phước Cát Tường, 2010…) 2; 3; 6; 11; 15]

Tác giả Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện (1994) khi bàn luận

về vấn đề căng thẳng liên quan đến trẻ em, thanh thiếu niên, học sinh trong tác phẩm “Tâm lý học và đời sống”, đã chỉ ra nguồn gốc gây ra căng thẳng

là sự hụt hẫng, mâu thuẫn, tính hai mặt, sự chấn thương với những mức độ căng thẳng thể hiện ở trường độ và cường độ tồn tại gây tổn thương nghiêm trọng cho cá nhân trẻ; đồng thời, chỉ ra những phản ứng với căng thẳng ở trẻ được thể hiện thông qua ứng xử hung tính, ứng xử thụ động và ứng xử ngược đời, cùng với những hậu quả do căng thẳng gây ra cho trẻ

Phạm Thanh Bình (2007), trong nghiên cứu về “Căng thẳng trong học tập của học sinh THPT” trên nhóm khách thể là 150 học sinh tại địa bàn Yên Mô – Ninh Bình, đã đưa ra kết quả như sau: có 57,33% học sinh được điều tra đang ở mức độ căng thẳng cao Tuy nhiên, những hiểu biết của học sinh về tác hại hay lợi ích của căng thẳng đối với đời sống lại chưa đầy đủ Mức độ biểu hiện căng thẳng ở học sinh nam diễn ra thường xuyên hơn so với học sinh nữ Mức độ biểu hiện căng thẳng của học sinh lớp 12 là thường xuyên do chịu sức ép từ các kì thi tốt nghiệp THPT và thi vào cao đẳng, đại học; đồng thời, phương pháp giảng dạy của giáo viên, sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh, sự phân bố thời gian học tập, nghỉ ngơi, giải trí của cá nhân học sinh chưa hợp lý … cũng là những yếu tố làm gia tăng mức độ biểu hiện căng thẳng của học sinh lớp 12 [2]

Một nghiên cứu ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có 21% học sinh bị trầm cảm, 3% có hành vi cố ý tự gây thương tích, 8% đã từng bỏ nhà đi (Trung tâm truyền thông Giáo dục sức

Trang 23

và cách ứng phó của học sinh cuối cấp THPT” (2009), đã chỉ ra rằng áp lực trong học tập của học sinh khối lớp 12 lớn hơn khối 10 và 11 bởi hai kì thi tốt nghiệp THPT và thi vào đại học Có gần 80% học sinh được khảo sát (n

= 65) cho rằng khi bị căng thẳng hay chịu những áp lực về học tập, thi cử… thì cảm thấy cần phải nỗ lực hợn trong học tập; 56,9% học sinh lớp 12 không bị giảm sút thành tích học tập và 78,5% học sinh bị căng thẳng biết sắp xếp thời gian biểu hợp lý hơn Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 20% học sinh cảm thấy mệt mỏi, chán nản với việc học, thậm chí

có những học sinh mất niềm tin vào năng lực và sức học của bản thân Mức

độ căng thẳng càng nặng thì độ hứng thú và nỗ lực trong học tập của học sinh càng giảm Học sinh bị căng thẳng càng nặng càng ít có khả năng ứng phó với căng thẳng Nghiên cứu này cũng chỉ ra 4 hình thức ứng phó chủ yếu với căng thẳng của học sinh: giải trí bằng xem phim, nghe nhạc …; chia sẻ với người khác (mang lại hiệu quả cao); khẳng định lại bản thân và

sử dụng các chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá; chiếm 23%)

Năm 2011, Nguyễn Thị Minh Hải nghiên cứu đề tài “Kĩ năng ứng phó với căng thẳng của học sinh trường Trung học cơ sở Tứ Minh thành phố Hải Dương” đã đi sâu vào phân tích các biện pháp ứng phó với căng thẳng (từ lý luận đến thực tiễn): nhóm biện pháp điều chỉnh nhận thức của bản thân, nhóm biện pháp điều chỉnh lối sống, nhóm biện pháp tìm đến các hoạt động phong phú đa dạng, nhóm biện pháp tìm về gia đình, nhóm biện pháp hoạt động xã hội [5]

Tác giả Đinh Thị Hồng Vân (2014) cũng đã tìm hiểu “cách ứng phó

Trang 24

với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế” đã chỉ ra những tác nhân quan hệ xã hội gây ra các cảm xúc âm tính ở trẻ vị thành niên có liên quan đến quan hệ, ứng xử với thầy cô giáo.[14]

Tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng (2013) đã nghiên cứu “căng thẳng của học sinh trung học phổ thông” và đã phát hiện ra rằng tác nhân gây căng thẳng cho học sinh rất đa dạng, học sinh phải đối mặt với nhiều tác nhân gây căng thẳng khác nhau liên quan đến học tập (áp lực thi cử, phải thi đỗ đại học, học nhiều…), mối quan hệ với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, liên quan bạn bè (bạn cùng trang lứa, bạn khác giới), những thay đổi về về mặt tâm

lý của lứa tuổi (vi phạm nội quy trường học, vi phạm luật lệ giao thông…), và những tác nhân xảy ra bất ngờ (bị bắt nạt, bị trấn lột, bị mất đồ…) 7]

Sau khi tổng quan tài liệu về căng thẳng ở học sinh THPT ở nước ngoài và ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy phần lớn các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu mức độ biểu hiện căng thẳng ở học sinh, nguyên nhân gây ra căng thẳng và các cách ứng phó của học sinh đối với căng thẳng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

1.2 Một số vấn đề lý luận về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi

Trung học phổ thông Quốc gia

1.2.1 Lý luận về căng thẳng

1.2.1.1 Khái niệm căng thẳng

Thuật ngữ “stress” lần đầu tiên được sử dụng ở thế kỉ XIV để chỉ những khó khăn, nghịch cảnh hoặc phiền não [27] Stress bắt nguồn từ tiếng la tinh “strengere”, có nghĩa là căng thẳng, nghịch cảnh, bất hạnh, đè nén Trong luận văn này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “căng thẳng” được dịch từ tiếng anh sang tiếng việt tương đương với thuật ngữ “stress” Ban đầu, căng thẳng được dùng để chỉ phản ứng bình thường của cơ thể và miêu

tả các trạng thái của cá nhân đối với các điều kiện bên ngoài ở các mức độ

Trang 25

sinh lý, tâm lý và hành vi Hiện nay, thuật ngữ căng thẳng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Theo từ điển tâm lý học Nga của V.Tr Dintrenko và B.G Mesiriakova (1996), “Căng thẳng – trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khó khan của đời sống thường ngày, cũng như trong những điều đặc biệt” [9] ndrew M.Colman (2003) đã đưa ra khái niệm tổng quát hơn về căng thẳng: “Căng thẳng là trạng thái không thoải mái về thể lý và tâm lý, phát sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm, khó có thể chịu đựng được hoặc vượt qua, như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc

hoặc thể lý” [15]

Theo từ điển Y học Anh-Việt (2007): “Bất kì nhân tố nào đe dọa đến sức khoẻ cơ thể hay có tác động phương hại đến các chức năng cơ thể, như

tổn thương, bệnh tật hay tâm trạng lo lắng thì đều gọi là căng thẳng” [1]

Cohen và Herbert (1996) và Lazarus (1993) cho rằng “Căng thẳng là một trạng thái cảm xúc tiêu cực xuất hiện nhằm phản ứng lại các sự kiện được xem là đòi hỏi sự cố gắng hoặc vượt quá các nguồn lực hay khả năng ứng phó của một người” [25]

Các tác giả này đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhận thức và khả năng đánh giá của một người về các sự kiện gây ra căng thẳng Một sự kiện

có thể làm cho một số người bị căng thẳng nhưng người khác thì không Các sự kiện hay tình huống căng thẳng được gọi là các tác nhân gây căng thẳng (ors) Căng thẳng xảy ra từ nhiều nguyên nhân khác nhau Tâm lý học đã xác định một số nguyên nhân quan trọng gây căng thẳng chẳng hạn như các sự kiện cuộc sống hàng ngày, xung đột, và các yếu tố xã hội và văn hóa Ngoài ra căng thẳng còn có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác.Trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm tiếp cận lý thuyết Căng thẳng như một phản ứng tâm lý của Richard J Gerrig và Philip

G.Zimbardo: “Căng thẳng là phản ứng tâm lý của con người như là sự khó

Trang 26

chịu, cảm xúc tiêu cực, lo âu, giận , trầm cảm, hoặc căng thẳng nảy sinh trước tác động của các tác nhân, vượt qua ứng phó bình thường của con người trong đời sống, khiến con người có những trải nghiệm khác nhau về sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi đến những hệ quả khác nhau có liên quan đến căng thẳng của họ” dẫn theo 12]

1.2.1.2 Các biểu hiện của căng thẳng

Con người phản ứng với căng thẳng phức tạp và nhiều chiều Căng thẳng ảnh hưởng đến con người ở một vài cấp độ Mỗi cá nhân phản ứng và ứng phó với các tác nhân gây căng thẳng là khác nhau tùy thuộc vào đánh giá của người đó với những tác nhân này

Căng thẳng được biểu hiện ở 4 mặt: mặt sinh lý (thực thể), mặt cảm xúc, nhận thức và hành vi (Theo Viện nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần thế giới, 2011) [dẫn theo 7]

- Biểu hiện về mặt sinh lý (thực thể): căng thẳng thường biểu hiện ở những

cảm xúc tiêu cực chính điều này dẫn tới những thay đổi về mặt thực thể như tim đập nhanh, tăng huyết áp, khó thở, đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường

- Biểu hiện về cảm xúc: Khi đối mặt với căng thẳng, các cá nhân

thường có những biểu hiện về mặt cảm xúc Hơn thế nữa, căng thẳng

thường xuất hiện qua những cảm xúc khó chịu (Lazarus, 1993)[25] Những

cảm xúc tiêu cực của căng thẳng bao gồm các cảm xúc sau (Lazarus, 1993; oolfolk và Richardson, 1978)[25;29]:

 Khó chịu, tức giận, và giận dữ: Căng thẳng thường mang đến cảm giác tức giận nằm trong khoảng giữa sự khó chịu và giận dữ không thể kiểm soát Trạng thái thất vọng là điển hình của sự tức giận

 E sợ, lo lắng và sợ hãi: Căng thẳng có thể thường xuyên gây ra sự

lo lắng và sợ hãi hơn những cảm xúc khác Trong lý thuyết phân tâm đã chỉ

ra có sự liên kết giữa xung đột và lo âu Tuy nhiên, lo âu có thể xuất hiện khi chịu áp lực

Trang 27

 Thất vọng, buồn chán, và đau khổ: Đôi khi căng thẳng cũng mang đến sự thất vọng làm cho cá nhân trùng xuống

Bên cạnh đó còn có những cảm xúc tiêu cực khác như tội lỗi, xấu hổ, ghen tức, đố k , phẫn nộ

- Biểu hiện về mặt nhận thức: Căng thẳng biểu hiện ở mặt nhận thức làm cho cá nhân giảm sút trí nhớ, không có khả năng đưa ra quyết định, khó tập trung, suy nghĩ chậm… Chính điều này làm hạn chế khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin khi căng thẳng xảy ra đồng thời làm hạn chế việc đưa ra cách ứng phó một cách tối ưu

- Biểu hiện về hành vi: Những hành vi tiêu cực biểu hiện căng thẳng bao gồm những hành vi vượt quá bình thường có ảnh hưởng đến cá nhân người đó và những người xung quanh Và thường căng thẳng có những biểu hiện sau:

 Ăn quá nhiều hoặc quá ít

 Ngủ quá nhiều hoặc quá ít

 Không năng động, linh hoạt như bình thường

 Nói năng không rõ ràng, khó hiểu

 Nói liên tục về một sự việc, hay phóng đại sự việc

 Hay tranh luận

Thu mình lại, rút lui, không muốn tiếp xúc với người khác Ở nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các biểu hiện căng thẳng về mặt cảm xúc ở học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia bởi chưa có một nghiên cứu nào chỉ đi sâu vào biểu hiện căng thẳng ở mặt cảm xúc trong khi biểu hiện này được thể hiện khá nhiều và có ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của những người căng thẳng nên chúng tôi quyết định tập trung vào nghiên cứu các biểu hiện căng thẳng về mặt cảm xúc ở học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia

1.2.2 Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Ngày 26 tháng 2 năm 2015, Bộ Giáo dục Việt Nam đã ban hành Quy

Trang 28

chế thi của kì thi Trung học phổ thông Quốc gia thay cho kì thi tốt nghiệp

Trung học và kì thi Đại học cũ Theo đó, Kì thi Trung học phổ thông Quốc

gia là kì thi 2 trong 1, được gộp bởi hai kì thi là Kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và Kì thi tuyển sinh đại học và cao đẳng; kì thi này xét cho thí sinh hai nguyện vọng: tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng, nhằm giảm bớt tình trạng luyện thi, học tủ, học lệch và giảm bớt chi phí

Kì thi Trung học phổ thông quốc gia còn được gọi là kì thi 3 chung với 3 điểm chung:

 Thi chung đề thi: tất cả các môn văn hóa đều thi đề chung

 Thi chung đợt thi và ngày thi: không còn chia đề thi theo khối và mỗi môn chỉ thi 1 lần duy nhất

 Sử dụng chung kết quả thi: Kết quả của kì thi Trung học phổ thông quốc gia sẽ được lấy làm kết quả để xét Tốt nghiệp Trung học phổ thông và vào các trường Đại học, cao đẳng

Điểm khác biệt của kì thi Trung học phổ thông quốc gia với kì thi Tốt nghiệp phổ thông và kì thi Đại học cũ

 Kì thi Trung học phổ thông quốc gia không phân biệt theo khối như kì thi đại học các năm trước, tức là mỗi môn chỉ có một lần thi và mỗi môn chỉ có một đề thay vì đề theo khối (Ví dụ các năm trước đề Toán khối khác đề Toán khối B và cũng khác đề toán khối D còn với kì thi Trung học phổ thông Quốc gia đề Toán chỉ có một đề không phân biệt theo khối)

 Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia có điểm khác biệt các năm trước là thí sinh làm hồ sơ xét tuyển vào trường Đại học sau khi biết điểm thay vì làm hồ sơ Đại học, Cao đẳng trước khi thi như các năm 2014 trở về trước Vì thế kì thi Trung học phổ thông Quốc gia sẽ giải quyết hạn chế các năm trước là thí sinh đã xảy ra là có nhiều thí sinh điểm cao vẫn có thể trượt

 Kì thi Trung học phổ Thông Quốc gia không xếp hạng bằng tốt

Trang 29

nghiệp mà chỉ công nhận tốt nghiệp (Tức là không có bằng Khá, giỏi hay trung bình) mà chỉ cấp 1 bằng chứng nhận đã tốt nghiệp

 Thí sinh có thể chọn nhiều môn thi xét cho các tổ hợp môn (Hay gọi là khối) khác nhau nhưng tất cả các tổ hợp bắt buộc phải có một trong 2

môn Văn, Toán

1.2.3 Lý luận về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi trung học phổ thông quốc gia

.2.3.1 Khái niệm học sinh lớp 12 và các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 12

Đa phần học sinh lớp 12 đều có độ tuổi 17 - 18 tuổi, thời kì cuối của giai đoạn thanh thiếu niên, giai đoạn chuyển từ “trẻ em” sang “người trưởng thành” Đây là thời điểm có nhiều sự phát triển mới cả về thể chất lẫn tinh thần[8]

a Đặc điểm thể chất của học sinh lớp 12

Lứa tuổi học sinh lớp 12 là thời kì hoàn thiện sự phát triển thể chất của con người cả về phương diện cấu tạo và chức năng Các em gái ở 17 -

18 tuổi nhìn chung đã trưởng thành đầy đủ về mọi mặt, các em trai thường chậm hơn

“Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” - giai đoạn này thường là giai đoạn

mà sức khỏe thể chất của các em đạt tới mức cao nhất, các phản xạ nhanh nhất, ít bệnh tật nhất trong cuộc đời

b Sự phát triển nhận thức và trí tuệ của học sinh lớp 12

Năng lực nhận thức của học sinh lớp 12 cũng phát triển ở mức độ cao

và đa dạng Các quá trình nhận thức tình cảm phát triển theo chiều hướng thành phần chỉ định ngày càng chiếm ưu thế Óc quan sát phát triển mạnh Quá trình quan sát có mục đích rõ ràng và mang tính hệ thống Trí nhớ logic – từ ngữ trừu tượng tăng lên và chiếm ưu thế

Sự phát triển trí tuệ của cá nhân được đặc trưng bởi hai yếu tố: Các thao tác trí tuệ và vốn tri thức, khái niệm, kinh nghiệm các nhân thu được

Trang 30

Ở lứa tuổi học sinh lớp 12 các thao tác trí tuệ của cá nhân đạt phát triển cao

Ý thức và tự ý thức của giai đoạn lứa tuổi này đã phát triển ở mức độ

cao Về khả năng tự đánh giá bản thân, ở giai đoạn này, các em luôn có

khao khát muốn biết mình là ai, là người như thế nào, có năng lực gì Vì vậy tự đánh giá là một nét tâm lí điển hình của lứa tuổi này

Lý tưởng sống của học sinh lớp 12 được hình thành và phát triển

mạnh Một đặc trưng trong lý tưởng của thanh niên là lí tưởng nghề và lí tưởng đạo đức cao cả Lý tưởng này được thể hiện qua mục đích sống, sự say mê với việc học tập; qua nguyện vọng được tham gia các hoạt động mang lại giá trị xã hội lớn lao, được cống hiến sức trẻ của mình Bước sang tuổi thanh niên, tính tất yếu của sự lựa chọn vai trò trở nên rõ ràng Vấn đề quan trọng nhất và sự bận tâm nhất của các em là vấn đề nghề và chọn nghề Việc chọn nghề và trường học nghề luôn là mối quan tâm lớn nhất và

là sự khó khăn của đa số học sinh lớp 12

c Sự phát triển cảm xúc và các quan hệ xã hội

Theo Erick Erickson, học sinh lớp 12 giai đoạn cuối của thời kì khủng hoảng “bản sắc” Lúc này, cơ thể các e đã phát triển nhanh, cân đối dần và đây là thời kì quá độ từ trẻ em sang người lớn Một mặt, các em đang muốn thể hiện sự “ngươi lớn” ở mình nhưng đôi khi cũng có những biểu hiện thoái bộ về thời nhỏ Chúng đã tạo dựng cho mình lòng tự trọng rất lớn Khi hoạt động với bạn bè trong một nhóm, trẻ chập chững làm người lớn, khám phá ra vai trò và địa vị mình trong mối tương quan với con người và

xã hội Ở giai đoạn này, các em học sinh phải đối mặt với những nhiệm vụ

để trở thành người trưởng thành Đó là xác định lại các vai trò xã hội, kể cả việc dành quyền tự chủ đối với cha mẹ, và đưa ra các quyết định trên các mục tiêu nghề nghiệp Việc tạo ra một bản sắc giới tính cũng là một vấn đề rất lớn với các em Tuy ổn định hơn giai đoạn trước (12-15 tuổi) nhưng học sinh lớp 12 vẫn có những đặc điểm tâm lí này

Trang 31

Erikson cho rằng bước ngoặt cốt lõi của tuổi vị thành niên là khám phá ra bản sắc đích thực của mình giữa cái hỗn độn do đóng nhiều vai khác nhau trong xã hội Bản sắc cái tôi chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển nhân cách của các em độ tuổi này Mối ràng buộc với gia đình giãn ra bởi

sự mở rộng trong quan hệ tình bạn - đặc biệt là tình bạn khác giới Các lực kép vừa của cha mẹ, vừa của bạn bè đôi khi bộc lộ các mâu thuẫn thúc đẩy sự tách biệt khỏi cha mẹ và gia tăng sự đồng nhất hoá với bạn bè cùng trang lứa Việc quyết định lập nghiệp là một mốc quan trọng trong việc xác định bản sắc của các em Thông qua lựa chọn nghề nghiệp theo năng khiếu, các em có thể phân biệt mình với người khác, đồng thời chứng minh sự chấp nhận của chính các em với những chuẩn mực xã hội

Có thể thấy ở giai đoạn này, các học sinh lớp 12 tuy là giai đoạn cuối của khủng hoảng “bản sắc” tuy nhiên các em vẫn có những đặc điểm của khủng hoảng này như muốn tự khẳng định bản thân, tìm kiếm cảm giác mới lạ, vấn đề về giới tính,… Những yếu tố này khiến các em dễ có các các hành vi nguy cơ hơn khiến gia tăng các trạng thái tiêu cực dẫn đến căng thẳng

1.2.3.2 Khái niệm về căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Từ những lí luận về các vấn đề căng thẳng, đặc điểm ở học sinh lớp 12

và kì thi Trung học phổ thông Quốc gia, chúng tôi xây dựng khái niệm căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

như sau: “Căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia là

phản ứng tâm lý của các em học sinh lớp 12 như là sự khó chịu, cảm xúc tiêu cực, lo , chán nản trước tác động kì thi THPT Quốc gia, vượt qua ứng phó bình thường của trong đời sống, khiến có những trải nghiệm khác nhau sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi đến những hệ quả khác có liên quan đến căng thẳng của họ”

Như vậy, theo quan điểm trên, căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia là một trạng thái tâm lý cá nhân được đặc trưng bởi

Trang 32

cảm xúc tiêu cực Căng thẳng xuất hiện khi cá nhân có những đánh giá chủ quan về các áp lực của kì thi THPT Quốc gia mà các em cho là có thể gây hại tới bản thân mình Những áp lực liên quan tới kì thi THPT Quốc gia có thể xuất hiện từ toàn bộ hoạt động học tập của các em, trở thành các tác nhân gây căng thẳng

Khi bị căng thẳng, các em phải có nỗ lực hơn, cố gắng hơn mức bình thường để đối mặt với sự kiện Nếu các em có đủ nguồn lực có thể ứng phó với chúng và các em nỗ lực cố gắng hơn để đối mặt thì căng thẳng sẽ không xuất hiện Khi các em đánh giá mình không có đủ nguồn lực hoặc vượt quá khả năng ứng phó, thì khi đó căng thẳng sẽ xuất hiện

1.2.3.3 Các biểu hiện căng thẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Cũng như những đối tượng khác, thẳng của học sinh lớp 12 cũng được biểu hiện ở 4 mặt: mặt sinh lý (thực thể), mặt cảm xúc, nhận thức và hành

vi (Theo Viện nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần thế giới, 2011) [dẫn theo 7]

- iểu hiện về mặt sinh lý thực thể : Lớp 12 là giai đoạn cuối của sự

dậy thì, về mặt thể chất các em gần như đã có sự hoàn thiện Những biểu hiện về mặt thực thể của các em học sinh lớp 12 không dồn dập như học giải đoạn đầu của dậy thì (12-15 tuổi) nhưng so với người trưởng thành cũng chưa ổn định bằng Căng thẳng của học sinh lớp 12 thường biểu hiện

ở những cảm xúc tiêu cực chính điều này dẫn tới những thay đổi về mặt thực thể như tim đập nhanh, tăng huyết áp, khó thở, đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường

- iểu hiện về cảm xúc: Khi đối mặt với căng thẳng, học sinh lớp 12

thường có những biểu hiện tiêu cực về mặt cảm xúc như những đối tượng khác, tuy nhiên đây là giai đoạn cuối của sự dậy thì, các em vẫn còn những

sự nhạy cảm cao, tuy không còn bốc đồng như giải đoạn đầu thời kì dậy thì nhưng cũng ổn định so với lứa tuổi trường thành Căng thẳng của học sinh lớp 12 thường thể hiện ở những cảm xúc sau:

Trang 33

 Khó chịu, tức giận, và giận dữ: Căng thẳng thường mang đến cảm giác tức giận nằm trong khoảng giữa sự khó chịu và giận dữ không thể kiểm soát Trạng thái thất vọng, chán nản là điển hình của sự tức giận

 E sợ, lo lắng và sợ hãi: Căng thẳng có thể thường xuyên gây ra sự

lo lắng và sợ hãi hơn những cảm xúc khác Sự lo âu có thể xuất hiện khi chịu áp lực lớn Ở các em học sinh lớp 12 những cảm xúc này có thể xuất hiện gắn liền với áp lực học tập, các kì thi

 Thất vọng, buồn chán, và đau khổ: Đôi khi căng thẳng cũng mang đến sự thất vọng làm cho cá nhân trùng xuống Sự thất vọng của các em rất nhiều xuất phát từ kết quả học tập, từ đó các em cảm thấy thất vọng về bản thân, thất vọng về những gì mình làm được và sự kì vọng của cha mẹ Từ

đó nảy sinh những cảm xúc buồn chán, đau khổ Bên cạnh đó còn có những cảm xúc tiêu cực khác như tội lỗi, xấu hổ, ghen tức, đố k , phẫn nộ

- Biểu hiện về mặt nhận thức: Ở lứa tuổi học sinh lớp 12 mặt nhận thức đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhưng chưa hoàn thiện nên khi gặp phải căng thẳng các em thường có biểu hiện ở mặt nhận thức: căng thẳng làm cho các em giảm sút trí nhớ, không có khả năng đưa ra quyết định, khó tập trung, suy nghĩ chậm… Chính điều này làm hạn chế khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin khi căng thẳng xảy ra đồng thời làm hạn chế việc đưa ra cách ứng phó một cách tối ưu

- Biểu hiện về hành vi: Những hành vi tiêu cực biểu hiện căng thẳng

bao gồm những hành vi vượt quá bình thường có ảnh hưởng đến cá nhân người đó và những người xung quanh Và thường căng thẳng có những biểu hiện sau:

 Ăn quá nhiều hoặc quá ít

 Ngủ quá nhiều hoặc quá ít

 Không năng động, linh hoạt như bình thường

 Nói năng không rõ ràng, khó hiểu

 Nói liên tục về một sự việc, hay phóng đại sự việc

Trang 34

 Hay tranh luận

 Thu mình lại, rút lui, không muốn tiếp xúc với người khác

Biểu hiện ở khía cạnh hành vi không những là các hành vi tiêu cực mà còn có các hành vi tích cực Để đương đầu với căng thẳng có hiệu quả những hành vi tích cực liên quan đến hành vi ứng phó Ứng phó được xem

là những nỗ lực tích cực nhằm quản lý, giảm hoặc chịu đựng những đòi hỏi

do căng thẳng tạo ra

1.2.3 Các mức độ biểu hiện căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Mức độ căng thẳng được hiểu là mức đáp ứng của cơ thể với môi trường, được xác định một cách tương đối Trong số các tác giả nghiên cứu

về căng thẳng, Hans Selye đã phân loại mức độ căng thẳng thành hai mức

rõ rệt là mức độ bình thường và mức độ bệnh lý

Mức độ căng thẳng bình thường diễn ra phản ứng thích nghi bình thường của cơ thể với những tác nhân của môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể ức độ căng thẳng bình thường bao gồm 2 giai đoạn của Hội chứng thích nghi chung (G S): giai đoạn báo động và giai đoạn kháng cự

Ở mức độ này, cơ thể vượt qua được tác nhn gây căng thẳng và lấy lại được cân bằng

Mức độ căng thẳng bệnh lý diễn ra phản ứn thích nghi bình thường của cơ thể bị thất bại, cơ thể không thể vượt qua được tác nhân gây căng thẳng và chuyển sang giai đoạn thứ ba của chứng thích nghi chung (GAS)

là giai đoạn kiệt sức, do tác nhân gây căng thẳng qúa mạnh hoặc kéo dài vượt quá sức kháng cự của cơ thể Ở mức độ này, cơ thể rơi vào đáp ứng hỗn loạn và bị kiệt sức dẫn đến bệnh tật ở mặt thực thể hoặc chết

Tác giả Tô Như Khuê (1981) chia mức độ căng thẳng thành ba mức tương ứng với ba mức độ đáp ứng của cơ thể với môi trường là: mức độ căng thẳng bình thường, mức độ căng thẳng cao và mức độ căng thẳng bệnh lý (dẫn theo Nguyễn Thành Khải, 2011)[9]ức độ căng thẳng bình

Trang 35

thường: Là chương trình thích nghi bình thường, đảm bảo hoạt động bình thường không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể, cơ thể đảm bảo

sự tương ứng đồng bộ giữa các hệ thống thức năng và trạng thái của các điều kiện môi trường, qua đó hệ thống chức năng đạt được chủ đích của nó là cân bằng nội môi trong trạng thái yên tĩnh hoặc có tác nhân căng thẳng nhẹ hoặc vừa Ở mức độ này mọi hoạt động sinh lý diễn ra bình thường

Mức độ căng thẳng cao: là chương trình thích nghi căng thẳng, xuất hiện khi các tác nhân căng thẳng đáng kể của môi trường từ mức độ nặng đến cực hạn Cơ thể phải sử dụng thêm một số năng lượng, bố trí lại cấu trúc hệ thống chức năng Tiêu chuẩn chính để đánh giá mức độ bình thường của chương trình này là hệ thống chức năng vẫn giữ được tính chất mềm dẻo đồng bộ, trạng thái biến đổi được phục hổi sai khi tác nhân ảnh hưởng lâu dài với mức vừa phải, không gây rối loạn bệnh lý, nó sẽ dần dần nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể

Mức độ căng thẳng bệnh lý: Y sinh học gọi là chương trình thích nghi bệnh lý, xuất hiện khi tác nhân gây căng thẳng quá lớn hoặc kéo dài, các cơ chế phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả như mong muốn, các hệ thống chức năng mất tình mềm dẻo đồng bộ, môi trường bên trong có nhiều rối loạn, các dự trữ chức năng bị suy giảm nghiêm trọng, các phản ứng thích nghi chung tăng mạnh Các dấu hiệu này trông trở lại bình thưởng khi tác nhân bất lợi nhưng tác động

Cách phân loại mức độ căng thẳng của Hans Selye và Tô Như Khuê cho thấy sự thay đổi của các dấu hiệu sinh lý ở từng mức độ căng thẳng khi

cơ thể phản ứng với các tác nhân gây căng thẳng Các dấu hiệu tâm lý của các mức độ căng thẳng như sự cảm nhận của chủ thể về các mức độ căng thẳng trước sự tác động của các tác nhân gây ra căng thẳng và cách thức đề phòng, làm giảm căng thẳng chưa được đề cập cụ thể

Các cách phân loại trên chỉ mang tính chất phổ biến và tương đối với các tác nhân (tình huống, sự kiện, mức độ, diễn biến) Do đó, chúng tôi

Trang 36

chọn cách phân chia của Hans Selye trong luận văn này, chia căng thẳng thành 2 mức độ: mức độ bình thường và mức độ bệnh lý

1.2.3 Các cách ứng phó đến căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Ứng phó là một trong những chiều cạnh của căng thẳng Nếu nghiên cứu về căng thẳng mà không nghiên cứu về ứng phó sẽ không thấy được tính chất của căng thẳng ở học sinh THPT

Ứng phó với căng thẳng được hiểu là cách mà cá nhân thể hiện sự

tương tác của mình với hoàn cảnh gây căng thẳng tương ứng với logic của riêng chủ thể, có ý ngh a trong cuộc sống của chủ thể và với những khả năng tâm lý của chính họ.[Dẫn theo 8]

Khái niệm hành vi ứng phó đầu tiên được sử dụng trong căng thẳng tâm lý của R Lazarus và S Folkman được định nghĩa là toàn bộ những nỗ lực nhận thức và hành vi mà cá nhân bỏ ra để làm suy yếu đi ảnh hưởng của căng thẳng [26]

Các dòng lý thuyết khác nhau khi nghiên cứu về các hành vi ứng phó với căng thẳng có nhiều cách chia khác nhau như: cách ứng phó tập trung vào cảm xúc và cách ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề [25] Trong một nghiên cứu của Lazarus, Folkman và các đồng sự (1986) đã chỉ ra 8 chiến lược ứng phó khác nhau: Sẵn sàng đương đầu; Tìm kiếm chỗ dựa xã hội; Giải quyết vấn đề có kế hoạch; Kiểm soát bản thân; Giữ khoảng cách; Đánh giá lại những điểm dương tính; Chấp nhận trách nhiệm; Lảng

tránh/chạy trốn

Dựa vào những lí thuyết trên có thể chia ứng phó thành 3 cách cụ thể như sau:

 Ứng phó tích cực: Cố gắng không hành động bộ phát; Cố gắng thay đổi một số thứ trong hoàn cảnh này để học tập tốt hơn; Lên kế hoạch

để giải quyết tình huống; Tập trung toàn bộ sức lực để học tập; Tìm hiểu tại sao chuyện này lại xảy ra; Thay đổi bản thân để mọi thứ tốt hơn; Nói

Trang 37

chuyện với bạn bè, cha mẹ, thầy cô, người thân về vấn đề của mình, về những điều mình lo lắng; Tìm kiếm sự đồng cảm, sự chia sẻ, giúp đỡ từ người khác

 Ứng phó lảng tránh: Tiếp tục mọi việc như không có chuyện gì xảy ra; tiếp tục học tập, dồn hết sức vào việc học tập; tìm một việc gì đó làm để không phải động não

 Ứng phó tiêu cực: Dùng các chất gây nghiện; Phá phách hoặc khóc lóc; Làm tổn thương một người nào đó; Nói những lời giận dữ, mỉa mai châm chọc, la mắng người khác; Gây gổ hoặc trút sự thất vọng của mình lên người khác

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Trước một kì thi lớn như kì thi Trung học phổ thông Quốc gia, các em học sinh gặp không ít áp lực dẫn đến căng thẳng Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng tới căng thẳng của các em học sinh, các yếu tố này có thể làm tăng hoặc giảm mức độ căng thẳng, cách ứng phó với căng thẳng của các

em Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới căng thẳng của các em học sinh: đánh giá chủ quan là tính lạc quan, bi quan của các em và yếu tố khách quan là các nguồn hỗ trợ

xã hội (cha mẹ, thầy cô, bạn bè)

1.2.4.1 Yếu tố khách quan

Động cơ thúc đẩy đối với hảnh vi hỗ trợ xã hội được Richard J Gerig

và Philip G Zimbardo (2013) mô tả gồm 4 động cơ thúc đẩy con người hành động vì điều tốt đẹp chung là: lòng vị tha, tính ích kỉ, chủ nghĩa tập thể và tính nguyên tắc Mỗi động cơ có thể đưa con người đến những cách hành xử vì những người khác, đôi lúc họ cũng có thể hành động strong sự cạnh tranh (Batson & Powell, 2003) Daniel Batson và cộng sự đã cung cấp minh chứng khác nha ủng hộ học thuyết lòng vị tha – sự thông cảm: khi bạn cảm thấy tông cảm với cá nhân khác, cảm giác khơi dậy động cơ hành

Trang 38

động vị tha để đưa ra sự giúp đỡ, lòng vị tha có thể đem lại những cách cư

xử vị tha hỗ trợ cho cá nhân dựa trên những điểm tốt đã được chọn lọc [15] Hành vi hỗ trợ xã hội chịu tác động của hoàn cảnh xã hội như sự khuếch tán trách nhiệm, tình trạng khẩn cấp của tình huống, loại sự kiện (tình huống), trách nhiệm của con người đối với tình huống Khi một tình huống khẩn cấp xảy ra, nếu có nhiều hơn hai người chứng kiến thì sự khuếch tán trách nhiệm dẫn đến tỉ lệ người tham gia hỗ trợ tình huống sẽ giảm Như vậy nếu gặp một tình huống cần giúp đỡ, chúng ta nên làm mọi thứ để cho người ngoài cuộc tập trung vào trách nhiệm của họ và có thể có hành vi hỗ trợ thích hợp [15]

Theo tác giả Phan Thị Mai Hương (2007), chỗ dựa xã hội là những nơi mà con người có thể nhận được các nguồn cả xúc, thông tin, ủng hộ, trợ giúp… thông qua những mối quan hệ xã hội Đó là nơi mà mỗi con người

có thể nhờ cậy, tin tưởng là chỗ dựa vật chất và tinh thần Chỗ dựa xã hội của học sinh lớp 12 có thể chia thành các chỗ dựa xã hội như: gia đình, bạn

bè, thầy cô

1.2.4.2 Đánh giá chủ quan

Tính lạc quan hay bi quan được coi là một trong những thiên hướng của nhân cách Tinh thần lạc quan được Scheier và Carver định nghĩa là luôn được mong đợi, tin tưởng rằng những điểu tốt đẹp sẽ xảy ra Với những đặc điểm này, cách suy nghĩ, thái độ nói chung của người lạc quan đối với thế giới, con người xung quanh luôn theo hướng tích cực Nhờ thế

nó cho phép con người ứng phó hiệu quả hơn trước những tình huống khó khăn, bất ngờ, giảm đi nguy cơ bệnh tật 12]

Tính lạc quan bi quan có mối liên hệ với sức khỏe ở chỗ cách nhìn nhận và ứng xử của cá nhân với bệnh tật của mình cũng như với tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Cách ứng xử tích cực, hợp lý của người lạc quan sẽ tạo điều kiện khắc phục tình huống khó khăn và hậu

Trang 39

quả không mong muốn Còn cách ứng xử bi quan, thiếu niềm tin có thể khiến cuộc sống thêm nặng nề

Tính lạc quan bi quan có thể được thể hiện thông qua sự đáng giá chủ quan của cá nhân về những điểm mạnh và khó khăn của bản thân mình Khi

cá nhân đánh giá về bản thân nhiều điểm mạnh thì cá nhân đó sẽ có cái nhìn lạc quan và tích cực hơn về cuộc sống Còn khi cảm thấy cuộc sống của mình ngập tràn những khó khăn thì cá nhân sẽ có cách nhìn bi quan và tiêu cực hơn về cuộc sống

TIỂU KẾT CHƯƠNG ITổng quan các nghiên cứu và phân tích các nội

dung nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đã có những nghiên cứu về căng thẳng của học sinh nói chung và học sinh THPT nói chung nhưng chưa có nghiên cứu nào về căng thẳng ở các em học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia

Qua tổng quan tài liệu chúng tôi xem xét lại các khái niệm có liên quan đến căng thẳng, chúng tôi đi đến xác định được các khái niệm cơ bản nhất của đề tài, các biểu hiện của căng thẳng, các cách ứng phó với căng thẳng và những yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng

- Căng thẳng ở học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia là phản ứng tâm lý của các em học sinh lớp 12 như là sự khó chịu, cảm xúc tiêu cực, lo , nảy sinh trước tác động kì thi THPT Quốc gia, vượt qua ứng phó bình thường của trong đời sống, khiến có những trải nghiệm khác nhau sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi đến những hệ quả khác có liên quan đến căng thẳng của họ

- Cthẳng của học sinh lớp 12 trước kì thi THPT Quốc gia cũng được biểu hiện ở 4 mặt: mặt sinh lý (thực thể), mặt cảm xúc, nhận thức và hành

vi

- Mức độ căng thẳng được hiểu là mức đáp ứng của cơ thể với môi trường, được xác định một cách tương đối Căng thẳng được chia thành 2

Trang 40

mức độ: mức độ bình thường và mức độ bệnh lý Ứng phó với căng thẳng

là cách mà cá nhân thể hiện sự tương tác của mình với hoàn cảnh gây căng

thẳng tương ứng với logic của riêng chủ thể, có ý ngh a trong cuộc sống của chủ thể và với những khả năng tâm lý của chính họ Ứng phó với căng

Ngày đăng: 05/05/2020, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Thanh Bình (2005), Biểu hiện căng thẳng trong học tập của học sinh trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện căng thẳng trong học tập của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2005
3. Nguyễn Bá Đạt (2001), “Ảnh hưởng của căng thẳng đến kết quả thi học kì của sinh viên”, Tạp chí Tâm lý học (Số 1) trang 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của căng thẳng đến kết quả thi học kì của sinh viên"”, Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt
Năm: 2001
4. Đỗ Văn Đoạt (2013), K năng ứng phó với căng thẳng trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên Đại học Sƣ phạm, Luận án tiến sĩ Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: K năng ứng phó với căng thẳng trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên Đại học Sƣ phạm
Tác giả: Đỗ Văn Đoạt
Năm: 2013
5. Nguyễn Thị Minh Hải (2011), K năng ứng phó với căng thẳng của học sinh trường Trung học cơ sở Tứ Minh thành phố Hải Dương, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Minh Hải (2011), "K năng ứng phó với căng thẳng của học sinh trường Trung học cơ sở Tứ Minh thành phố Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hải
Năm: 2011
6. Đỗ Thị Lệ Hằng (2012), Các tác nhân gây căng thẳng và cách ứng phó với căng thẳng của trẻ vị thành niên, Báo cáo khoa học Hội thảo khoa học Quốc tế: “Nhu cầu, định hướng và tâm lý học đường tại Việt Nam”, Viện Tâm lý – Viện Khoa học xã hội Việt Nam, trang 84-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác nhân gây căng thẳng và cách ứng phó với căng thẳng của trẻ vị thành niên", Báo cáo khoa học Hội thảo khoa học Quốc tế: “Nhu cầu, định hướng và tâm lý học đường tại Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Lệ Hằng
Năm: 2012
7. Đỗ Thị Lệ Hằng (2013), Căng thẳng của học sinh Trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng của học sinh Trung học phổ thông
Tác giả: Đỗ Thị Lệ Hằng
Năm: 2013
8. Dương Diệu Hoa (chủ biên, 2008), Tâm lý học phát triển, NXB đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Nhà XB: NXB đại học sƣ phạm
9. Nguyễn Thành Khải (2001), Nghiên cứu căng thẳng ở cán bộ quản lý, Luận án Tiến sĩ Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu căng thẳng ở cán bộ quản lý
Tác giả: Nguyễn Thành Khải
Năm: 2001
10. Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện (1994), Tâm lý học xã hội, NXB Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Tác giả: Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 1994
12. Trịnh Viết Then (2016), Căng thẳng ở giáo viên mầm non, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng ở giáo viên mầm non
Tác giả: Trịnh Viết Then
Năm: 2016
13. Dũng Tiến, Thuý Nga (2004), Những phương cách hữu hiệu phòng chống stres, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương cách hữu hiệu phòng chống stres
Tác giả: Dũng Tiến, Thuý Nga
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
14. Đinh Thị Hồng Vân (2014), Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế. Luận án tiến sĩ Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế
Tác giả: Đinh Thị Hồng Vân
Năm: 2014
15. Đinh Thị Hồng Vân, Nguyễn Phước Cát Tường (2010), “Mức độ căng thẳng của học sinh khối 12, Trường THPT Quốc học, thành phố Huế”, Tạp chí khoa học và giáo dục, Trường đại học Sư phạm – Đại học Huế (số 02), Trang 104 – 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ căng thẳng của học sinh khối 12, Trường THPT Quốc học, thành phố Huế”, "Tạp chí khoa học và giáo dục, Trường đại học Sư phạm – Đại học Huế
Tác giả: Đinh Thị Hồng Vân, Nguyễn Phước Cát Tường
Năm: 2010
16. Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm (1986), Căng thẳng trong đời sống văn minh, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng trong đời sống văn minh
Tác giả: Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1986
17. Richard J. Gerig và Philip G. Zimbardo (2013), Tâm lý học và đời sống, NXB lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và đời sống
Tác giả: Richard J. Gerig và Philip G. Zimbardo
Nhà XB: NXB lao động
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w