1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG CHÁO (TRƯỜNG HỢP THÔN NÀ LẦU, XÃ TÂN THANH, HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN)

183 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống, trong đó tập trung chính vào các khía cạnh liên quan đến các thực hành

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG CHÁO (TRƯỜNG HỢP THÔN NÀ LẦU, XÃ TÂN THANH,

HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN)

Ngành: Văn hóa học

Mã số: 9 22 90 40

LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hoàng Cầm

2 TS Đỗ Lan Phương

Hà Nội - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận trong luận án chưa có công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành đề tài, tôi xin trân trọng cảm ơn:

- TS Hoàng Cầm và TS Đỗ Lan Phương là những người thầy đã hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, cùng các thầy cô trong Khoa Văn Hóa học của Học viện khoa học xã hội Việt Nam

- Gia đình, bạn bè, những người đồng nghiệp đã luôn sát cánh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm nghiên cứu

- Đặc biệt, những người dân, các cán bộ địa phương tại địa bàn tôi nghiên cứu đã rất nhiệt tình trao đổi, cung cấp thông tin, tư liệu cho tôi để hoàn thành đề tài này!

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ

LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.3 Thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 26

Chương 2: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG

CHÁO Ở NÀ LẦU TRONG XÃ HỘI CỔ TRUYỀN

40

2.1 Tập tục cộng đồng trong sở hữu và sử dụng tài nguyên 40 2.2 Sản xuất nông nghiệp với các dàn xếp văn hóa – xã hội và kỹ thuật 46 2.3 Các hoạt động buôn bán trao đổi 63

Chương 3: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG

CHÁO Ở NÀ LẦU HIỆN NAY

71

3.2 Quá trình chuyển đổi kinh tế nông – thương nghiệp 79 3.3 Phương thức mưu sinh mới với cơ sở của nền kinh tế trọng tình 88

Chương 4: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG

CHÁO Ở NÀ LẦU: THAY ĐỔI VÀ THÍCH ỨNG

110

4.1 Yếu tố trọng tình trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu 110 4.2 Yếu tố duy lý trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu 113 4.3 Văn hóa đảm bảo đời sống – những vấn đề liên quan trong bối cảnh

hiện nay

125

Trang 6

tuổi có cửa hàng buôn bán ở khu chợ Tân Thanh, rằng: “Bây giờ thì đỡ hơn

nhiều rồi nhưng cũng không phải như mọi người nghĩ là ngày ngày chỉ cần

mở cửa ra là đã có tiền, không còn lo làm ruộng không đủ ăn, bán hàng lo

lỗ vốn, đi vác hàng bị mệt, bị bắt ” Bà kể, kinh tế của gia đình trước kia chủ

yếu là từ làm ruộng, làm vườn, thu hoạch chỉ đủ ăn, không có dư thừa Sau khi chuyển đổi, bà và các con đã làm rất nhiều nghề: từ làm ruộng, buôn bán nhỏ cho đến làm “cửu vạn” (vác hàng) Trong quá trình mưu sinh đó, nhà bà luôn có sự tương trợ giúp đỡ của họ hàng, xóm giềng, song bản thân bà và gia đình cũng có những toan tính để có một cuộc sống ổn định như hiện nay Không chỉ có nhà bà mà hầu hết những người Nùng Cháo sống tại thôn Nà

Trang 7

cố kết cộng đồng cao Trước những năm 1990, nền kinh tế của họ chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, làm nương rẫy kết hợp với chăn nuôi và buôn bán nhỏ tại các chợ Na Sầm (huyện Văn Lãng), Đồng Đăng (huyện Cao Lộc), bên cạnh đó còn thực hiện buôn bán, trao đổi hàng hóa với người dân ở thôn

Pò Chài (Trung Quốc) Khi quan hệ hai nước Việt - Trung trở nên căng thẳng

do cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hoạt động buôn bán giữa người dân

Nà Lầu (Việt Nam) với người dân Pò Chài (Trung Quốc) bị nghiêm cấm Từ năm 1991 trở đi, quan hệ song phương Việt - Trung chuyển sang thời kỳ mới, chấm dứt cơ bản những căng thẳng, tạo ra sự bình ổn cho cuộc sống người dân Năm 1992, khu Kinh tế cửa khẩu Tân Thanh được xây dựng trên địa bàn thôn Nà Lầu thì nơi đây đã trở thành nơi giao lưu, trao đổi và mua bán hàng hóa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, nhiều hoạt động thương mại diễn ra rất sôi động Tác động của việc xây mới và mở rộng vùng cửa khẩu đã dẫn đến việc toàn bộ người Nùng Cháo ở Nà Lầu mất đất canh tác nông nghiệp vốn là nguồn tài nguyên chính đã gắn bó với kinh tế nông nghiệp lâu đời của họ Hiện nay, các hoạt động sinh kế truyền thống này đã có nhiều thay đổi so với trước kia, đó là sự đa dạng các phương thức mưu sinh Kinh tế của người dân Nà Lầu không còn được xem là “thuần nông” trong tổng thể những thay đổi về văn hóa bảo đảm đời sống ở đây Nếu như, trong quá khứ họ phải tương trợ lẫn nhau để sống, sinh kế của họ vận dụng theo các nguyên lý của một nền kinh tế trọng tình, thì trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế của đất nước tuy tạo ra cho họ những cơ hội mới nhưng cũng nhiều gian nan, thử thách Họ

đã xoay sở để tìm kiếm những phương thức mưu sinh phù hợp, có những ứng

Trang 8

3

xử để có thể đảm bảo được cuộc sống, song cũng không mất đi những cơ sở đạo lý mà trong quá khứ đã tạo dựng được, đồng thời phải thích ứng với hoạt động sinh kế trong bối cảnh mới Vậy, họ đã làm như thế nào để có thể kết hợp giữa các cơ sở của nền kinh tế trọng tình trước đây với các tính toán kinh

tế mang tính duy lý trong cơ chế thị trường hiện nay? Để nghiên cứu sâu hơn

vấn đề này, tôi chọn đề tài “Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng

Cháo (trường hợp thôn Nà Lầu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” làm đề tài luận án Tiến sỹ Văn hóa học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống, trong đó tập trung chính vào các khía cạnh liên quan đến các thực hành sinh kế, luận án hướng tới cung cấp một nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi trong mô hình sinh kế

và những ứng xử văn hóa đi cùng của người nông dân Việt Nam trong xã hội đương đại, một chủ đề đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội ở Việt Nam và trên thế giới

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát tình hình nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống nói chung và văn hóa của tộc người Nùng Cháo ở xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng

- Làm rõ các hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo trong quá khứ để nhận thấy vai trò cơ bản của canh tác nông nghiệp trên nền tảng trọng tình của

cư dân nơi đây trong suốt chiều dài lịch sử

- Làm rõ các hoạt động sinh kế và các ứng xử liên quan của người Nùng Cháo hiện nay để nhìn ra sự đa dạng, phong phú, các chiều cạnh chuyển đổi văn hóa - xã hội và lựa chọn sinh kế trên cơ sở duy lý có sự đan xen với trọng tình của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế và dịch vụ tại khu vực cửa khẩu

Trang 9

4

- Thảo luận về sự kết hợp trọng tình - duy lý trong tư duy và thực hành sinh kế của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay Theo đó là những vấn đề liên quan đến biến đổi văn hóa - xã hội, nguồn lực lao động, việc làm, những thách thức trong thực hành sinh kế của người Nùng Cháo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo ở thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) trong quá khứ và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay ở vùng biên giới Lạng Sơn

Phạm vi nghiên cứu

Văn hóa đảm bảo đời sống là khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ăn, mặc, ở, đi lại và hoạt động mưu sinh Trong khuân khổ của luận án này, Nghiên cứu sinh (NCS) chỉ lựa chọn nghiên cứu và phân tích một trong các thành tố quan trọng nhất của văn hóa đảm bảo đời sống là các thực hành sinh

kế của người Nùng Cháo cùng những ứng xử văn hóa đi kèm tại thôn Nà Lầu (Tân Thanh, Văn Lãng, Lạng Sơn) từ trước năm 1986, và sau thời kỳ đổi mới được tính từ năm 1986 trở lại đây

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (với phỏng vấn sâu, quan sát tham gia) để thu thập thông tin, các dữ liệu, cứ liệu phục vụ đề tài Các câu hỏi phỏng vấn sâu được soạn thảo dưới hình thức các câu hỏi mở, đôi lúc là gợi ý để đối tượng được phỏng vấn tự kể chuyện Nhiều thông tin từ phỏng vấn sâu còn được kiểm tra bằng thao tác “điều tra chéo” Phương pháp nghiên cứu định tính cung cấp thông tin về các tiến trình, động thái, các hành vi kinh tế và các mối quan hệ văn hóa

- xã hội liên quan của người Nùng Cháo ở Nà Lầu Nguồn tư liệu chính của luận án là kết quả thu thập thông tin từ quá trình khảo sát điền dã được NCS thực hiện tại thôn Nà Lầu (Tân Thanh, Văn Lãng, Lạng Sơn) Cụ thể, từ tháng

1 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017 tác giả đã tiến hành nhiều chuyến điền dã

Trang 10

Nhóm thứ nhất, những người già sống trong thôn được phỏng vấn để

tìm hiểu về phương thức mưu sinh mà người dân Nà Lầu đã sử dụng trong quá khứ, những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống tương trợ, chia

sẻ, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình chung sống

Nhóm thứ hai, những phụ nữ ở trong thôn được phỏng vấn để tìm hiểu

về công việc của họ hiện nay, so sánh và đối chiếu với công việc của họ trước khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh có những điểm khác biệt gì?

Nhóm thứ ba, đối tượng các thanh niên: tìm hiểu công việc hiện tại của

họ, có những chiến lược nào để đảm bảo cuộc sống của bản thân?

Nhóm thứ tư, các các bộ quản lý ở thôn - xã: tập trung tìm hiểu các

quan điểm cá nhân đối với việc chuyển đổi phương thức mưu sinh của người dân; Những thay đổi trong phong tục và tập quán văn hóa và sinh kế ở địa phương

Các cuộc phỏng vấn được thực hiện chủ yếu bằng tiếng phổ thông, được ghi âm, ghi chép lại với sự đồng ý của những người cung cấp tin Toàn

bộ tư liệu từ phỏng vấn, ghi chép đều được phục vụ để phân tích, tên của thông tín viên được mã hóa để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh

Bên cạnh phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nghiên cứu sinh cũng tham gia vào các hoạt động văn hóa của người dân, dự các đám tiệc, nghi lễ gia đình và cộng đồng, tham dự các cuộc hội họp của thôn - bản hay khu kinh doanh để tìm hiểu thêm các bối cảnh, khơi gợi các vấn đề cho những cuộc phỏng vấn sâu

Trang 11

6

Kết hợp với nguồn tư liệu thực địa là tư liệu thứ cấp được tập hợp và hệ thống, phân tích, từ các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đã công bố có liên quan tới đề tài Nghiên cứu sinh cũng tiến hành thu thập và phân tích các bài báo, tạp chí và các tài liệu có liên quan để có những thông tin cơ bản về đặc điểm kinh tế, xã hội và bức tranh toàn cảnh về các loại hình sinh kế mới ở Nà Lầu nói riêng cũng như những thay đổi sinh kế vùng cửa khẩu Lạng Sơn nói chung Kèm theo đó là các văn bản, tài liệu, báo cáo, số liệu thống kê của chính quyền và các ban ngành ở địa phương Những

ý kiến trao đổi với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa

Hạn chế của nghiên cứu thực địa: Tuy thông tín viên trong mỗi cuộc phỏng vấn đều nhiệt tình, hưởng ứng trò chuyện và trả lời câu hỏi do nghiên cứu sinh đưa ra, nhưng một số thông tin về các dữ kiện xảy ra trong quá khứ

từ phỏng vấn hồi cố không thực sự chính xác Lý do là, những người già (trên

70 tuổi) hiện còn sống ở Nà Lầu chỉ còn hơn 10 người và không phải tất cả đều còn minh mẫn Thêm vào đó, hoạt động sinh kế của một thôn giáp biên giới Trung Quốc như Nà Lầu là một vấn đề nhạy cảm, NCS đã gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận và phỏng vấn những người chủ hàng, “đầu cửu”, “cửu vạn” Việc quan sát và tìm hiểu các cách thức làm ăn, mối hàng, việc vác hàng qua các đường biên cũng không phải là chuyện dễ dàng, bởi tâm lý đề phòng, e ngại người lạ của người dân ở đây Vì vậy, những trình bày và phân tích trong luận án có thể chưa phản ánh được hết những khía cạnh liên quan đến vấn đề sinh kế và các ứng xử xoay quanh hoạt động sinh tồn của người Nùng Cháo ở

Nà Lầu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Là luận án đầu tiên nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của một

tộc người thiểu số cụ thể, ở một địa bàn mang tính đặc thù là vùng giáp biên giới Việt - Trung trước những biến đổi về kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu góp phần phản ánh và giải quyết vấn đề thực tiễn về

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về ý nghĩa lý luận: Luận án góp thêm một nghiên cứu về văn hóa đảm

bảo đời sống qua chiến lược sinh kế của người nông dân trong bối cảnh chuyển đổi, so sánh với các ý kiến đã được thảo luận trong các các công trình nghiên cứu đi trước ở Việt Nam và Đông Nam Á; cung cấp dữ liệu cụ thể ở cấp vi mô nhằm bổ sung vào những lý thuyết về sự thích nghi, sự chủ động về sinh kế của người nông dân ở vùng biên giới

Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư

liệu quan trọng, cơ sở thực tiễn để các nhà hoạch định chính sách tham khảo, vận dụng vào thiết kế, xây dựng các chương trình và chính sách phát triển sinh kế bền vững ở vùng các tộc người thiểu số Lạng Sơn nói riêng và ở miền núi Việt Nam nói chung

Trang 13

8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Khái quát những nghiên cứu về người Nùng

a Nguồn gốc, lịch sử

Người Nùng là một trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Những nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử của người Nùng cùng với những đặc trưng văn hóa của họ đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó có các công trình đi sâu nghiên cứu từng nhóm Nùng cụ thể

Về lịch sử của người Nùng các nhà nghiên cứu đề ra hai quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng người Nùng mới di cư sang Việt Nam được mấy trăm năm Chẳng hạn, năm 2000, Nguyễn Chí Huyên và các cộng sự tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc, lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam đã đưa ra những căn cứ và lý giải về nguồn gốc của người Nùng một cách chi tiết và cụ thể Các tác giả chỉ ra rằng: nguồn gốc xa xưa của tộc danh Nùng có thể bắt nguồn từ dòng họ Nùng- một trong bốn dòng họ đông người cư trú ở vùng Tả Hữu Giang, tức miền biên giới Cao Bằng (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc) Những nhóm Nùng hiện nay vẫn mang tộc danh Nùng mới chỉ di cư sang Việt Nam trong những thế kỷ gần đây từ 9 - 10 đời, tức khoảng 200 - 300 năm nay Một trong những bằng chứng chứng tỏ người Nùng hiện thời cư trú trên lãnh thổ Việt Nam chưa lâu là những đặc điểm phân bố của họ Họ ở trong các thung lũng nhỏ hẹp, không đủ điều kiện làm ruộng nước, thường phải khai thác một phần thành nương rẫy, còn gọi là thổ canh [38, tr.200] Trong nghiên cứu trên, các tác giả còn nhấn mạnh: đại bộ phận người Nùng di cư sang phía Bắc Việt Nam là từ Quảng Tây (Trung Quốc) Họ đến đây theo từng nhóm và do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do bị áp bức, bóc lột, bị chèn ép, bị đàn áp và

Trang 14

9

bị tàn sát sau các cuộc khởi nghĩa không thành công Loạn lạc, cướp bóc cùng với việc thiếu ruộng đất cũng được cho là nguyên nhân khiến họ thực hiện những cuộc thiên di lớn sang Việt Nam để mong tìm được nơi sinh sống ổn định hơn Quan điểm thứ 2 cho rằng: lịch sử của người Nùng gắn với nguồn gốc bản địa Theo Hoàng Nam, tổ tiên của người Nùng chắc chắn đã tham gia vào việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương Lịch sử còn ghi tên tuổi của Nùng Chí Cao đã một thời là thủ lĩnh của người Tày, Nùng ở vùng biên giới Việt - Trung [48, tr 8]

Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện

Dân tộc học đã đưa ra nhận định: “Người Nùng cùng với các nhóm nói tiếng Tày - Thái nằm trong khối Bách Việt Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, ở lưu vực sông Cầu và sông Hồng, nước Âu Lạc với vị thủ lĩnh Thục Phán đã ra đời mà người Nùng có thể là một thành phần của nó Một số các nhà nghiên cứu khác cho rằng: người Tày và người Nùng là những cư dân có chung một nguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt xưa kia” [99, tr.48] Trong nghiên cứu

về người Nùng Cháo ở Nà Lầu, NCS đồng ý với quan điểm nghiên cứu thứ nhất cho rằng: người Nùng hiện nay là được di cư từ Trung Quốc sang, với lịch sử định cư từ 200 đến 300 năm

Một vấn đề cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đó là tộc danh Nùng mà trong các công trình của họ đã nêu các tên gọi khác nhau như: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng An, Nùng Dín, Nùng Lòi, Nùng Tùng Slìn, Nùng Quý Rỉn Sự khác nhau này có liên quan tới các địa danh ở Trung Quốc trước khi họ di cư vào Việt Nam như: người Nùng Inh di cư từ Long Anh đến, Nùng Phàn Slình di cư từ Vạn Thành đến, Nùng Cháo di cư từ Long Châu, Nùng An đến từ An Kết, Nùng Quý Rỉn đi từ Quý Thuận, Nùng Lòi di cư từ Hạ Lôi, Nùng Tùng Slìn từ Tùng Thiện Ngoài ra, tên gọi của các nhóm Nùng còn căn cứ trên đặc điểm về y phục và trang sức của phụ nữ như: phụ nữ Nùng Phàn Slình Hua Lài thường đội khăn chàm có những chấm

Trang 15

có nghĩa chỉ người hay tộc Rén là người trong tiếng Hán, còn Jin Dai Y là ý

âm của chữ Cần Tày trong tiếng Tày - Thái [4, tr.104] Sau năm 1949, tên gọi thống nhất được xác định ban đầu là Đồng tộc, đến năm 1965 đổi thành Tráng

tộc (nghĩa là người mạnh khỏe) Ở Việt Nam, các nhà dân tộc học thường

dịch theo âm Hán Việt là dân tộc Choang Trên thực tế, thành phần cơ bản của dân tộc Choang ở Trung Quốc hiện nay gồm rất nhiều tộc người, trong đó

có các nhóm Tày-Nùng Người Nùng và người Tày hiện nay vẫn gọi nhau một cách thân mật là Cần Slửa Khao (người áo trắng- tức người Tày) và Cần Slửa Đăm (người áo đen - tức người Nùng)

b Sinh kế

Các nhà nghiên cứu trong nước, khi nghiên cứu về người nông dân Việt Nam và nhất là cộng đồng người thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, đều khẳng định kinh tế của họ dựa trên những cơ sở của nền kinh tế trọng tình Nhận định này được thấy trong công trình của Hoàng Nam (1992), Bế Viết Đẳng và các cộng sự (1993), Khổng Diễn (1995), Vương Xuân Tình (1993,

2004, 2007), Nguyễn Chí Huyên và các cộng sự (2000), Trần Bình (2005), Chu Thái Sơn (2006), Ma Ngọc Dung (2007), Bùi Xuân Đính (2009, 2013), Hoàng Cầm (2014) Các nghiên cứu về dân tộc học, nhân học cũng chỉ ra rằng, suốt chiều dài lịch sử các tộc người thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam cũng như nhiều dân tộc ở đồng bằng chủ yếu là canh tác lúa

Trang 16

11

nước và làm nương rẫy Trong đó, những nghiên cứu về dân tộc Nùng cho thấy, địa bàn cư trú trong tự nhiên là tiền đề quy định hoạt động sinh kế, và nơi sinh sống của họ là ở các vùng thung lũng Trong điều kiện như vậy, họ phải vừa thích nghi với việc khai phá đất bằng để làm ruộng nước (Nà) - tạo nên văn minh lúa nước, đồng thời vừa phải biết khai thác đất dốc, đất núi để làm nương (Lầy)

và trồng cây khô cạn Ngoài ra, họ còn có các hoạt động kinh tế mang tính chất phụ trợ khác như: làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủ công nghiệp, săn bắt, đánh cá Đặc điểm của canh tác lúa nước ở vùng các dân tộc miền núi là thửa ruộng nhỏ, thường cách bản làng không xa và nằm ở ven đồi núi, rìa thung lũng hay ngay trong lòng thung lũng Họ có kỹ thuật làm đất khá phát triển cũng như việc dùng phân bón khá thành thạo, có nhiều giống lúa cổ truyền đều cho ra gạo rất ngon, thơm Phân công lao động chủ yếu theo giới tính: nam cày bừa, nữ gieo cấy Trong canh tác nông nghiệp - ngành kinh tế chủ đạo, cộng đồng nông dân thường có tập quán tương trợ và giúp đỡ nhau với các hình thức như vần công - đổi công Họ thường lập ra các nhóm tương hỗ mà thành viên không chỉ có quan

hệ huyết thống mà còn có quan hệ láng giềng, sự tham gia của mọi người vào các nhóm đều được thực hiện trên cơ sở tự nguyện Nền kinh tế nông nghiệp với các thực hành văn hóa, xã hội và kỹ thuật trong các mối quan hệ mang tính trọng tình đã giúp cho cư dân miền núi thích ứng với môi trường có độ dốc cao, đem lại hiệu quả kinh tế, giúp duy trì, bảo vệ khá tốt đa dạng sinh học và môi trường sinh thái

Cũng trong công trình nghiên cứu về các dân dân tộc ít người ở Việt Nam năm 1978, khi giới thiệu thông tin khái quát về văn hóa vật chất của người Nùng, các nhà dân tộc học mô tả các hoạt động sinh kế của họ một cách đơn thuần Ví dụ: “Người Nùng là cư dân nông nghiệp, họ canh tác ruộng nước một cách thành thạo, tương tự như người Kinh, người Tày Thế nhưng, hoàn cảnh cư trú khiến cho người Nùng không thể chỉ sinh sống bằng nông nghiệp ruộng nước Nương và rẫy đối với họ có một vai trò quan trọng” [99, tr.201] Các nhà nghiên cứu còn cho rằng, kỹ thuật làm rẫy của họ lạc

Trang 17

và phát triển một số ngành nghề thủ công” [48, tr.58] Tuy nhiên, tác giả cũng

mô tả khá chi tiết các hoạt động canh tác nông nghiệp của người Nùng với trồng trọt trên ruộng nước và ruộng cạn, các kỹ thuật canh tác, chế tác công

cụ sản xuất, sử dụng đa dạng các giống lúa, các loại hoa màu: đậu xanh, đậu tương, đậu đũa, lạc, vừng, khoai lang, sắn các loại cây ăn quả: quýt, hồng, đào cây công nghiệp: hồi, trẩu, sở, thuốc lá Và với người Nùng, trồng trọt

đi cùng chăn nuôi có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống kinh tế của họ cũng như

họ có thêm kinh tế hái lượm, sắn bắt Ngoài ra, họ còn có đa dạng các nghề thủ công như: dệt, mộc, đan lát, gốm sứ

Nghiên cứu về người Nùng của Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn (2006) đã nêu khái quát toàn bộ các vấn đề liên quan đến người Nùng như lịch sử tộc người, hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, các ứng xử cộng đồng trong làng bản, dòng họ, gia đình, hôn nhân, các tập tục trong cưới xin, sinh

và nuôi dạy con, lễ mừng sinh nhật, tập tục ma chay; các hoạt động trong đời sống tinh thần: tín ngưỡng - tôn giáo, văn học nghệ thuật dân gian, các lễ hội truyền thống Về sinh kế của người Nùng, các tác giả cũng chứng minh rằng:

“Dân tộc Nùng là cư dân trồng trọt, cây lương thực chính là cây lúa, sau đến ngô Làm ruộng là loại hình kinh tế chủ yếu (nương thổ canh và du canh) ở nhiều vùng vẫn giữ vị trí đáng kể Ngoài ra, các hoạt động kinh tế khác như: làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủ công nghiệp, hái lượm, săn bắt, đánh cá là những nghề mang tính chất phụ trợ” [64, tr.24] Các kỹ thuật canh tác

Trang 18

13

của người Nùng: cày, bừa tương tự như người Tày Trong quá trình canh tác

họ là những cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch, biết dựa vào sự thay đổi thời tiết thông qua những biến đổi tự nhiên để điều chỉnh hoạt động gieo, cấy cho phù hợp Các tác giả còn có các mô tả về hoạt động chăn nuôi, giới thiệu các nghề thủ công gia đình như mây tre đan, dệt vải, rèn, làm ngói Giống với nghiên cứu của Hoàng Nam (1992), trong nghiên cứu này, các tác giả cho rằng việc khai thác các sản phẩm có sẵn trong

tự nhiên và hoạt động trao đổi mua bán mang ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của người Nùng

Trong một nghiên cứu về tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Trần Bình (2014) cũng đã chỉ ra những đặc điểm chung của các dân tộc thiểu số với các mô tả dân tộc học theo các hệ ngôn ngữ Sinh kế của người Nùng thuộc nhóm Tày - Thái đều lấy trồng trọt cây lương thực (trong đó cơ bản là lúa) làm nguồn sống chính Tác giả khẳng định: “Với cơ chế vận hành của một nền kinh tế tự cấp, tự túc, được tổ chức theo quy mô gia đình, cơ cấu các hoạt động mưu sinh của các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày - Thái gồm: trồng trọt cây lương thực, chăn thả gia súc, gia cầm; thủ công gia đình; khai thác chiếm đoạt tự nhiên” [5,tr.115] Tác giả cũng nêu lên việc trao đổi buôn bán được diễn ra trong cộng đồng làng bản và địa phương, giữa các tộc người với nhau, sản phẩm mang ra trao đổi thường

Trang 19

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử, sinh kế, những nghiên cứu khác về người Nùng cũng được đề cập đến dưới các khía cạnh khác nhau: hôn nhân, gia đình, dòng họ, xã hội, phong tục tập quán, nghệ thuật của các tác giả như Lã Văn Lô-Đặng Nghiêm Vạn (1968), Hoàng Quyết (1972), Lê Văn Bé (2001), Hoàng Thị Quỳnh Nha (2003), Nông Thị Nhình (2004), Hoàng Thị Nhuận, Nguyễn Thị Yên (2005), Đàm Thị Uyên (2011), Triệu Thị Mai (2007, 2011), Nguyễn Thị Thúy (2012), Hà Đình Thành (2010), Lê Minh Anh (2014), Nguyễn Thu Minh (2014) Những nghiên cứu này góp phần cung cấp thêm thông tin hữu ích về những vẫn đề liên quan đến đề tài trong quá trình nghiên cứu và viết luận án

1.1.2 Nghiên cứu về sinh kế của người nông dân trong các bối cảnh chuyển đổi

Văn hoá đảm bảo đời sống, đặc biệt là hoạt động sinh kế cổ truyền của người nông dân, nông thôn châu Á là chủ đề nghiên cứu được quan tâm nhiều trong ngành nhân học, dân tộc học và nghiên cứu văn hoá

McElwee (2007) trong công trình nghiên cứu về sinh kế của người

nông dân ở vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, Việt Nam- “From the Moral Economy

to the World Economy: Revisiting Vietnamese Peasants in the Globalizing Era”(Từ nền kinh tế đạo đức đến nền kinh tế thế giới: Xem xét lại người nông

Trang 20

15

dân trong bối cảnh toàn cầu hóa) phát hiện ra rằng: mặc dù có những thay đổi

xuyên suốt thế kỷ XX trong cơ cấu lao động làng xã, trong tự nhiên, sở hữu đất đai, tổ chức kinh tế - chính trị, người nông dân Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục duy trì nhiều khía cạnh của một nền kinh tế trọng tình Tác giả chỉ ra, sau những tàn phá kinh tế trong chiến tranh từ những năm 1950-1970, những người nông dân ở Nghệ Tĩnh chỉ thực hành một nền kinh tế khép kín, các quan hệ có đi có lại (vần công, đổi công) vẫn đặc biệt quan trọng đối với những nông dân sở hữu ít đất đai, duy trì cuộc sống với mô hình gia đình nhỏ Việc mở cửa chuyển dịch nền kinh tế thị trường theo xu thế toàn cầu hóa dẫn đến việc mọi hàng hóa nông nghiệp đều có thể sản xuất và đáp ứng các nhu cầu của toàn cầu Song, người dân ở đây không thay đổi hoàn toàn hoạt động sinh kế và triết lý mưu sinh theo định hướng từ các chính sách chuyển dịch kinh tế được đưa vào từ bên ngoài Họ không dựa trên giá trị lợi nhuận của các loại cây mà chỉ trồng những gì họ thích ăn và dựa vào tập quán trồng cây đã tồn tại lâu dài trong lịch sử canh tác của họ [113, tr.58] Đa số nông dân quyết định không chuyển từ trồng lúa có năng suất thấp sang trồng ngô lai vốn hứa hẹn một thu nhập cao hơn Theo tính toán của nông dân ở Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), “lúa là loại cây họ biết rõ nhất phải canh tác ra sao, luôn có thị trường do nhà nước đảm bảo, và là thứ mọi người thích ăn nhất” [113, tr.78], điều này thể hiện việc họ muốn giữ nguyên những cơ sở đạo lý của nền kinh tế trọng tình McElwee chứng minh: “tương hỗ là hành động xã hội”, “tái phân phối thu nhập là nghĩa vụ xã hội”, “tránh rủi ro là chiến lược xã hội”, “phụ thuộc vào đất công là quyền xã hội” là những đặc trưng của cộng đồng nông dân Hà Tĩnh trong truyền thống và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay Tác giả kết luận, mặc dù sinh kế của người dân thay đổi, nhất là người nông dân hiện đại

và nền kinh tế trọng tình, song các quan hệ được duy trì để đảm bảo đời sống khi sản xuất nông nghiệp truyền thống theo triết lý “an toàn là trên hết” vẫn còn được thực hành một cách phổ biến, đặc biệt là các dàn xếp kỹ thuật và xã hội để tương trợ nhau giữa các nhóm xã hội theo hướng “có đi có lại” Nó

Trang 21

Jenifer Sowerwine (2006) trong công trình “Changing State and

Market Rules: agrarian transformations and the emergence of a market economy in the highlands of Ba Vi, Viet Nam” (Việc thay đổi nhà nước và các quy tắc thị trường: chuyển đổi ruộng đất và sự xuất hiện nền kinh tế đạo đức- thị trường ở vùng núi Ba Vì, Việt Nam) đã phác thảo việc tái định cư

moral-của người Dao ở vùng núi Ba Vì, mô tả các mô hình và quá trình sử dụng đất trong các chính sách mới của chính phủ, các nguồn lực kinh tế thị trường xuất hiện cũng như các quan hệ xã hội chi phối các kết quả của họ Trong đó là những phân tích về các mô hình thu nhập, sự chi tiêu cũng như tiếp cận với các chương trình tín dụng để chứng minh cho chiến lược sinh kế trong bối cảnh căng thẳng của việc chiếm hữu đất đai còn nhiều bất ổn Tác giả đã dựa trên khuôn khổ của nền “kinh tế đạo đức - thị trường” để phân tích các quá trình biến đổi đất nông nghiệp và đặc biệt là các nguồn lực sản xuất trong chiến lược sinh kế của người Dao Không còn sống du canh, du cư, sinh kế của họ chủ yếu dựa vào vườn, diện tích trồng lúa nước không đáng kể song vẫn chiếm một vị trí quan trọng ở đây Các chính sách giao đất, chương trình trồng rừng của nhà nước với mục đích xóa đói, giảm nghèo đã phản ánh một nỗ lực của nhà nước nhằm kiểm soát con người và các nguồn lực ở vùng cao Từ việc nghiên cứu sự tham gia vào các chương trình trồng rừng, tác giả chỉ ra sự không tương xứng đối với người dân, vẫn còn sự phân biệt xã hội, sự quan liêu, tất cả đã ảnh hưởng đến cuộc sống người dân Nhưng, người dân đã thành công trong việc phát hiện ra ranh giới để có thể đáp ứng cơ hội thị trường mới và sự tích lũy của cải Họ biết chủ động dựa vào các mối quan hệ với lãnh đạo thôn để được tiếp cận nguồn lực sản

Trang 22

17

xuất, góp phần đảm bảo sinh kế, có sự tích lũy nhất định thông qua việc trồng sắn, trồng lúa và làm vườn [116]

Khi nghiên cứu về “Quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp

hóa: Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội”, Nguyễn

Giáo (2016) đã dựa trên quan điểm về tính duy lý trong kinh tế và chứng minh: người nông dân trong bối cảnh chuyển đổi về kinh tế đã biết tận dụng các mối quan hệ xã hội để làm ăn Trong nghiên cứu này, những người nông dân sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống khi gặp khó khăn Tuy nhiên, khi

bị thua lỗ trong làm ăn họ lại không nhờ vào sự giúp đỡ của các mối quan hệ

họ hàng mà đi vay lãi qua các mối quan hệ bên ngoài để tránh các nguy cơ ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ thân thiết trong gia đình, họ hàng Tác giả cũng phân tích rõ các phương thức để họ tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội, người nông dân luôn có những tính toán để gia tăng

tư lợi [28]

Trong bối cảnh về những người nông dân bị thu hồi đất cho các dự án phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp ở ven đô Hà Nội, Nguyễn Văn Sửu (2014) đã chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với sinh kế của họ trong quá trình chuyển đổi này Tác giả tìm hiểu về các quá trình, các tác động từ bên trong và bên ngoài, kết hợp với việc phân tích bối cảnh, hệ quả của sự chuyển đổi, lý giải việc tiếp cận, sử dụng, phân phối các nguồn vốn, những cách thức mà cá thể và hộ gia đình đã sử dụng để tận dụng các điều kiện có thể để ứng phó với những chuyển đổi diễn ra Tác giả đồng thời nhấn mạnh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nổi bật là việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân để xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp hay cơ sở hạ tầng đô thị đã làm chuyển đổi mạnh mẽ cuộc sống và chiến lược sinh kế của nhiều hộ nông dân Các quá trình này mang lại cho người nông dân những cơ hội sinh kế mới, họ đã thích ứng, chủ động với việc chuyển sang các loại hình sinh kế mới, chuyển đổi từ nông

Trang 23

in Thai Village”(Hành vi kinh tế và đạo lý Phật giáo ở một làng người Thái)

đã chứng minh: sinh kế của người nông dân được đặt trong mối liên hệ với văn hóa Phật giáo và kinh tế chính trị Trong khi đời sống kinh tế của người dân ở đây chịu nhiều thiệt thòi so với các khu vực khác ở Thái Lan, họ còn phải đối phó với các quan chức “hách dịch” đã khiến cho việc tiếp cận các hoạt động kinh tế một cách khó khăn hơn khi muốn cải thiện cuộc sống Để thay đổi, họ đã dựa vào một nền kinh tế trọng tình với thế giới quan Phật giáo Các hành vi kinh tế của người nông dân diễn ra chủ yếu trong mối liên hệ với những hộ gia đình mà họ có các mối quan hệ chính yếu Họ luôn tìm cách gia tăng tư lợi, lợi ích của gia đình, không chỉ liên quan đến những điều kiện kinh

tế - chính trị ràng buộc cuộc sống mà còn liên quan nhiều đến những đòi hỏi của xã hội, đó là việc sống trong một cộng đồng có luân lý và đạo đức Để gia tăng mức sinh tồn, những người dân ở Ban Nông Tun đã sử dụng các chiến lược sinh kế khác nhau như: sử dụng các giống lúa mới, kết hợp bón phân hóa học, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển các nghề thủ công, sản xuất than củi, chứng tỏ một thực tế rằng: người dân ở đây cũng đã chủ động có những tính toán để thích ứng với những động cơ thúc đẩy kinh tế mới [111] Nghiên cứu của Keyes đã cho thấy, trong chiến lược sinh kế của người dân vùng Đông Bắc Thái Lan có sự đồng nhất giữa yếu tố trọng tình và duy lý

Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi phương thức mưu sinh của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh

tế nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ với nhiều mô hình chuyển dịch, trong đó nổi lên là chuyển dịch từ trồng lúa năng suất thấp sang nuôi tôm thương mại,

công trình nghiên cứu “Từ lúa sang tôm - hành vi giảm thiểu rủi ro và khai

Trang 24

19

thác vốn xã hội của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Ngô Thị

Phương Lan (2014) đã dựng lại một bức tranh sản xuất thương mại ở đây để tìm hiểu bản chất hành vi kinh tế của người nông dân Người nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã nhanh nhạy trong việc thích ứng với việc sản xuất thị trường Theo hướng tiếp cận về rủi ro và vốn xã hội, tác giả đã miêu

tả chi tiết và phân tích phương thức mưu sinh nổi bật mới xuất hiện, đặt trong các khía cạnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Trường hợp người nông dân trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm đã thể hiện

rõ lối tư duy duy lý theo hướng tiếp cận của Popkin (1979), song chiến lược giảm thiểu rủi ro, chẳng hạn như chuyển đổi dần các mảnh ruộng của gia đình làm đầm nuôi tôm, đầu tư vào các mạng lưới xã hội để phát triển kinh tế và giảm thiểu rủi ro khi mất mùa, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố trọng tình và duy lý trong kinh tế để phù hợp với bối cảnh mới [40]

Nghiên cứu về người H’Mông ở làng Lao Chải (Sapa), trong tiểu luận

“Tourism development and changing labor relations in Sa Pa, Northwestern

Viet Nam” (Phát triển du lịch và sự thay đổi quan hệ lao động ở Sa Pa, Tây

Bắc Việt Nam) của Dương Bích Hạnh (2006) cho thấy rõ sự thích ứng nhanh

nhạy với loại hình sinh kế mới của người H’Mông Trong bối cảnh khi mới di

cư đến Việt Nam, cuộc sống của người H’Mông rất tốt vì có nhiều đất rừng cho họ khai phá trồng ngũ cốc, trồng thuốc phiện, trồng bông và buôn bán nhỏ với người dân bên Trung Quốc Nhưng sau đó, cuộc sống của họ gặp khó khăn hơn khi đất canh tác ngày càng ít, dân số ngày một tăng lên Từ những năm 1990, du lịch ở Sapa phát triển dẫn đến tình hình xã hội ở Lao Chải có sự thay đổi đột ngột, trong đó có thay đổi về sinh kế của người H’Mông theo hướng thích ứng với thị trường du lịch Người H’Mông đã mang bán những

đồ cũ định vứt đi (áo, khăn cũ) nhưng lại phát hiện ra khách nước ngoài rất thích, do vậy họ đã mang đi bán để kiếm tiền Một phương thức mưu sinh mới xuất hiện, đó là, họ trở thành người bán hàng rong và phục vụ chỗ nghỉ cho khách du lịch Các cô gái H’Mông tham gia vào các hoạt động du lịch đã

Trang 25

20

đóng góp thêm vào thu nhập ngân sách cho gia đình, song họ lại không có thời gian để thêu các đồ thêu cho mình vào các dịp lễ tết nên đã thuê những người phụ nữ lớn tuổi H’Mông làm thay, dẫn đến xuất hiện mối quan hệ lao động làm thuê [93] Nghiên cứu này cũng chứng minh, bên cạnh những tính toán để gia tăng tư lợi thì những người H’Mông vẫn có sự tương trợ lẫn nhau trong hoạt động kinh tế

Với công trình “Imaginative and adaptive economic strategies for

Hmong livelihoods in Lao Cai Province, Northern Viet Nam (Các chiến lược

kinh tế mang tính thích ứng và tưởng tượng của người H’Mông ở Lào Cai, phía Bắc Việt Nam), Jean Michaud và Sarah Turner (2008) đã nghiên cứu

theo hướng tiếp cận sinh kế nhưng không nhằm vào điều tra các lợi ích tài chính hay sản lượng lương thực Các tác giả tập trung vào các khía cạnh xã hội, văn hóa, chính trị ở vùng cao tác động như thế nào tới người H’Mông để

họ có được chiến lược sinh kế và có thể duy trì quyền tự chủ, quyền quyết định lựa chọn hình thức kinh tế - xã hội cũng như sáng tạo văn hóa Nhà nước

hỗ trợ chính sách cho những người H’Mông sử dụng giống lúa lai mới để nhằm hiện đại hóa vùng cao, tăng năng suất lúa, đảm bảo an ninh lương thực,

từ đó dẫn đến những biến đổi sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt nên trồng lúa chỉ đủ để ăn bởi mỗi năm họ chỉ thu hoạch được một vụ Để bổ sung cho nguồn thu nhập của gia đình, họ đã chủ động tham gia vào thương mại quy mô nhỏ thông qua việc bán sản phẩm dệt may, vật nuôi, gạo và rượu ngô [119]

Trong một nghiên cứu khác của Sarah Turner và Christine Bonnin

(2011): “At what price rice? Food security, livelihood vulnerability and state interventions in upland Northern Viet Nam” (Thời điểm giá gạo nào? An ninh

lương thực, tổn thương sinh kế và sự can thiệp của nhà nước ở miền núi phía Bắc Việt Nam), các tác giả đã đề cập đến chiến lược sinh kế thích ứng của

người H’Mông ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu dựa trên sự kết hợp hoạt động tự cung

tự cấp và các hoạt động thương mại, ngoài ra còn có săn bắt, hái lượm Sinh

Trang 26

21

kế hộ gia đình cũng rất đa dạng do việc buôn bán lâm sản, sản phẩm phụ của nông nghiệp như thảo quả, rượu ngô Nghiên cứu của hai tác giả còn tập trung phân tích mạng lưới thương mại và sinh kế của một số phụ nữ H’Mông tại Sa

Pa, chú trọng đến việc tìm hiểu các nguồn vốn, mạng lưới xã hội của họ Từ việc buôn bán quần áo, hàng dệt may, người phụ nữ H’Mông đã đan xen kết hợp việc bán các loại quần áo cũ song song với việc may quần áo mới để tăng

sự đa dạng nguồn tài chính Họ đã có những tính toán để đa dạng hóa sinh kế với các lý do bao gồm cả sự hưởng thụ của xã hội trên thị trường Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy sự tham gia của những phụ nữ trong các hoạt động lao động tiền lương, khi nào bị bế tắc hoặc rủi ro thì họ lại quay về làm các công việc gia đình [106] Các quá trình đan xen của đa dạng sinh kế có chọn lọc của những người phụ nữ H’Mông diễn ra trong các mối quan hệ xã hội khác nhau Mỗi chuỗi hàng hóa họ tham gia cho thấy một phân đoạn của xã hội, song kinh tế của họ chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp mặc dù có các cơ hội kinh doanh mới đang được hình thành Như vậy, đa dạng sinh kế để tăng thêm nguồn thu nhập cho gia đình cũng là một phương thức được nhiều người nông dân sử dụng trong quá trình mưu sinh của họ

Tóm lại, thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước về người Nùng và sinh kế của người nông dân nói chung, có thể thấy các nghiên cứu trước đây đã khái quát khá đầy đủ, chi tiết về đời sống kinh tế cũng như truyền thống văn hóa của người dân một cách có hệ thống Trong đó, lịch sử định cư, đời sống xã hội, ứng xử văn hóa, quan hệ hôn nhân và dòng họ, thôn bản được mô tả khá cụ thể Sinh kế của người nông dân trong các bối cảnh khác nhau cũng được chỉ ra theo từng trường hợp, từng hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc mô tả các hoạt động sinh kế truyền thống hoặc diễn tả sự thay đổi sinh kế mà chưa đi sâu phân tích cơ sở văn hóa - xã hội bên trong hoạt động đó thì chưa thể hiểu được rõ lý do của những thay đổi bên trong nó, nhất là khi nền kinh tế chịu nhiều sự tác động từ bên ngoài dẫn đến các hoạt động sinh kế truyền thống bị thay đổi Với tính chất là một luận

Trang 27

22

án thuộc chuyên ngành Văn hóa học, NCS sẽ tiếp thu, kế thừa những luận điểm của các công trình đã nêu, đồng thời tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc đã được đề cập nhưng còn ở mức độ tổng quát: các thực hành sinh kế của người nông dân, các ứng xử văn hóa kèm theo sẽ được đưa vào nội dung luận án

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

Trước khi đi sâu tìm hiểu về văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở Nà Lầu cùng các vấn đề liên quan, trước hết luận án sẽ khái quát về mặt khái niệm: văn hóa, văn hóa đảm bảo đời sống để từ đó có cơ sở nghiên cứu và bàn luận thực tiễn

Với khái niệm văn hóa, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa là những vấn đề liên quan tới con người, nó xuyên suốt mọi thời đại, chính vì vậy cho tới nay

đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Theo Eduard Burnett Tylor: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của

nó là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [35, tr.7] Học giả A.A Belik đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là phương thức hoạt động sống đặc biệt của con người, làm xuất hiện nhiều phong cách sống, các dạng thức vật chất để biến đổi thiên nhiên và sáng tạo các giá trị tinh thần” [35, tr.8]

Theo Bách khoa toàn thư Pháp: ‘‘Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục,

tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường của con người, những công cụ, nhà ở và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó’’ [35, tr.9]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về văn hóa Định nghĩa về văn hóa của Giáo sư Hà Văn Tấn

Trang 28

23

như sau: “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong hoạt động sinh tồn của mình Nói khác đi văn hóa là sản phẩm của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không

gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định” [35,tr10] Trong công trình Cơ sở văn

hóa Việt Nam, Giáo sư Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một

hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [72, tr.12]

Như vậy, các định nghĩa được trình bày ở trên đã đem đến những hiểu biết và nhận thức phong phú về văn hóa, đều đi đến quan điểm thống nhất rằng: văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần, là kết quả của các hoạt động của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Văn hóa còn gắn với một cộng đồng người nhất định, được sáng tạo và tích lũy, tạo thành bản sắc riêng của cộng đồng đó Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa đảm bảo đời sống là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều thành tố bên trong như: ăn, mặc, ở, sinh kế, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo góp phần đảm bảo cuộc sống cho con người Trong những yếu tố để đảm bảo đời sống đó thì sinh kế được coi là yếu tố quan trong nhất, bởi khi sinh kế được ổn định thì các vấn đề kéo theo như ăn, mặc, ở mới được đảm bảo

Theo Bách khoa thư mở điện tử (Wikipedia), sinh kế (livelihood) là

hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…) trong một môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách Khi hoạt động sinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm việc duy trì và phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững

Trong Từ điển tiếng Việt (1999): sinh kế được hiểu theo cách thông

thường nhất là việc làm, kế sinh nhai hay cách mưu sinh, kiếm sống Với nhà nghiên cứu Bùi Đình Toái (2004), sinh kế được hiểu là một tập hợp các nguồn

Trang 29

24

lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà

họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hộ gia đình hay cộng đồng đó

Các nhà nghiên cứu Robert Chambers và Gordon Conway (1991) cho rằng: sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội),

và những hoạt động đáp ứng cho việc sống [108]

Như vậy, sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cách thức con người tác động vào tự nhiên, môi trường để tạo ra của cải vật chất nhằm đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn của mình Sinh kế có quan hệ mật thiết với văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa nhận thức cũng như có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có sự giao lưu

và trao đổi với các cộng đồng khác Nghiên cứu về sinh kế sẽ tìm hiểu được nhiều dữ kiện quan trọng liên quan đến việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình tộc người, quá trình thiên di, ảnh hưởng và giao lưu văn hóa, đặc biệt là hiểu được về hệ thống các tri thức, kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp đã được tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ, với mỗi tộc người lại có những phương thức, cách thức ứng xử khác nhau trong việc tồn tại và phát triển để tạo nên sự đa dạng về sinh kế, góp phần hiểu được sắc thái văn hóa riêng biệt của từng tộc người

Ngoài ra, bên trong luận án, nghiên cứu sinh cũng sử dụng một số khái

niệm như: kinh tế trọng tình, là các hoạt động kinh tế dựa trên những quan hệ

tình cảm với sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau ngoài những tính toán lợi ích vật

chất, đề cao tính cộng đồng; kinh tế duy lý, là các hoạt động kinh tế được dựa

trên những tính toán để đạt được mục đích vật chất, đề cao tính cá nhân, tư lợi, chấp nhận rủi ro để gia tăng mức sinh tồn

1.2.2 Cơ sở lý luận

Ở mỗi một cộng đồng dân cư khi sinh kế của họ bị tác động bởi một hay nhiều nguyên nhân nào đó, có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ

Trang 30

25

quan, đều dẫn đến họ buộc phải chuyển đổi cách thức mưu sinh vốn đã quen thuộc hàng ngày sang hình thức mưu sinh mới, diễn ra với nhiều sự thích ứng khác nhau, nhưng trong đó đều thể hiện rõ sự tính toán và chủ động của người dân trong quá trình chuyển đổi sinh kế Để nghiên cứu vấn đề văn hóa bảo đảm đời sống của người Nùng Cháo ở Nà Lầu trong bối cảnh chuyển đổi mà nội dung chính là các thực hành sinh kế, NCS tiến hành tìm hiểu những công trình đi trước có hướng tiếp cận liên quan Việc tập hợp tài liệu, phân tích và

hệ thống lại các kết quả nghiên cứu đi trước được trình bày theo các vấn đề, làm rõ các hướng tiếp cận để từ đó xác lập cơ sở lý luận, xây dựng khung phân tích của đề tài

Trong các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề liên quan đến sinh

kế, các chiến lược thích ứng với sự đa dạng sinh kế của người nông dân ở những vùng nông thôn trong các bối cảnh khác nhau đã cho thấy, ở mỗi hoàn cảnh, người dân luôn tìm cách để đảm bảo an ninh sinh tồn, thích ứng để phù hợp với hoàn cảnh mới Có hai xu hướng nghiên cứu chính nổi lên:

Hướng thứ nhất cho rằng: người nông dân luôn sống dựa trên những cơ

sở của nền kinh tế trọng tình Một trong những học giả có ảnh hưởng đến lĩnh vực nghiên cứu này là nhà nhân học, chính trị học Jame Scott Trong công trình nghiên cứu được coi là kinh điển “The moral economy of the Peasant:

Rebellion and Subsistence in Southeast Asia” (Kinh tế trọng tình của nông

dân: nổi loạn và tự cấp tự túc ở Đông Nam Á) đã chỉ ra đặc trưng của nền

kinh tế cổ truyền của người nông dân Đông Nam Á: sinh kế truyền thống của

họ, dù ở đồng bằng hay miền núi, canh tác nương rẫy hay ruộng nước, đều chia sẻ một nền kinh tế trọng tình và bị chi phối bởi cái mà Jame Scott gọi là

“đạo lý tự cấp tự túc” (subsistant ethic) theo nguyên tắc “an toàn là trên hết” Người nông dân có xu hướng tránh thực hành các hành vi có thể tạo ra rủi ro, đặc biệt là làm cho đời sống kinh tế của gia đình rơi xuống dưới ngưỡng sinh tồn, nên luôn thực hiện nguyên tắc trên “Sống cận ngưỡng sinh tồn, phụ thuộc vào sự thất thường của thời tiết và sự đòi hỏi của người bên ngoài, hộ

Trang 31

26

nông dân không có cơ hội cho việc tính toán tối đa hóa lợi ích theo truyền thống của kinh tế học tân cổ điển” [115, tr.4] “Sống dưới mức sinh tồn không chỉ là vấn đề có nguy cơ thiếu nguồn lương thực, thực phẩm cần thiết mà về mặt vấn đề văn hóa và xã hội nó là sự chịu đựng một mất mát sâu sắc về vị trí trong cộng đồng và có thể mãi mãi sống trong tình trạng phụ thuộc” [115, tr.9] Vì sống ở cận ngưỡng sinh tồn nên nỗi sợ thiếu lương thực là nguồn gốc tồn tại của đạo đức sinh tồn Theo đó, họ muốn sống trong hoàn cảnh dù có thu nhập thấp nhưng an toàn hơn là thu nhập cao nhưng có thể gặp nhiều rủi

ro, có nguy cơ rơi xuống dưới ngưỡng sinh tồn Tuy nhiên, cũng theo Jame Scott, nguyên tắc “an toàn là trên hết” không có nghĩa là người nông dân không bao giờ chấp nhận rủi ro Khi nào những cải tiến về mùa màng, hạt giống, kỹ thuật canh tác hay sản xuất tạo ra thị trường có khả năng đem lại ích lợi hơn, ít hoặc không gây rủi ro cho an ninh sinh tồn thì họ sẽ sẵn sàng tham gia Đối với những người nông dân sống ở cận ngưỡng sinh tồn theo hướng tiếp cận kinh tế trọng tình này thì nhu cầu sinh tồn mới là mối quan tâm lớn nhất cuả họ Nhu cầu này cũng chính là nền tảng chi phối hành vi của nông dân, khiến cho họ không chấp nhận rủi ro

Hướng nghiên cứu thứ hai cho rằng: người nông dân luôn duy lý trong sinh kế, với nghiên cứu của Samuel Popkin (1979) có quan điểm đối lập với Jame Scott (1976) được trình bày ở trên Trong công trình nghiên cứu “The

Rational Peasant” (Người nông dân duy lý), với cách tiếp cận “political

economy” (kinh tế chính trị), nông dân Việt Nam được xem là những người luôn sẵn sàng nắm bắt cơ hội, chấp nhận rủi ro để gia tăng mức sinh tồn Tác giả cho rằng, người nông dân thường sẵn sàng đánh cuộc vào các cải tiến khi

vị trí của họ được đảm bảo không bị thất bại [114, tr.21] Họ tham gia vào các hoạt động của thị trường không phải đó là giải pháp cuối cùng mà coi đó là một cách để đáp ứng với những cơ hội mới, vì thị trường và có sự can thiệp của chính quyền trong một số tình huống có thể gia tăng phúc lợi của nông dân ở tầng lớp thấp [114, tr.33] Cũng theo Popkin, khái niệm tư lợi được mở

Trang 32

27

rộng hơn so với kinh tế học tân cổ điển ở chỗ người nông dân không chỉ đơn thuần quan tâm đến hàng hóa vật chất hay thu nhập tiền bạc Tính duy lý của người nông dân được thể hiện trong việc họ sẽ lựa chọn quyết định nào mà họ tin là sẽ tối đa hóa lợi ích mong đợi của họ một cách tư lợi, mà mối quan tâm

là sự thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình [114, tr.31]

Ngoài những nghiên cứu về người nông dân theo hướng trọng tình, duy

lý thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra không chỉ đơn thuần xem xét về người nông dân trên hai yếu tố này, mà còn có một khía cạnh khác, đó là sự kết hợp đan xen của cả yếu tố trọng tình và duy lý, như nghiên cứu của Keyes (1983)

về người nông dân Đông Bắc Thái Lan, hay nghiên cứu của Ngô Thị Phương Lan (2014) về người nông dân nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long đã được trình bày phía trên,

Do vậy, cơ sở lý luận để nghiên cứu cho mỗi một trường hợp có những nét tương đồng song cũng có những sự khác biệt Với trường hợp nghiên cứu

về “Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo (trường hợp thôn Nà

Lầu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” ở phạm vi một luận

án Tiến sỹ, NCS xác định cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các luận điểm và các cách tiếp cận khác nhau về sinh kế đã được thảo luận, xung quanh quan điểm về kinh tế trọng tình, duy lý hay là sự kết hợp của cả hai yếu tố khi nghiên cứu về người nông dân trước bối cảnh chuyển đổi Theo đó, nội dung luận án là những phân tích, bàn luận về sinh kế của người Nùng Cháo ở Nà Lầu trong bối cảnh chuyển đổi, sự chủ động, thích ứng của họ trong các phương thức mưu sinh mới Đồng thời, tìm hiểu và phân tích bối cảnh đã tác động trực tiếp dẫn đến sự chuyển đổi sinh kế của người dân, cùng với các cơ

sở sinh kế trong xã hội cổ truyền cũng được mô tả và phân tích Các phương thức được người dân sử dụng để đảm bảo cuộc sống, các cách ứng phó mà trong đó có sử dụng nguồn vốn văn hóa (từ truyền thống văn hóa tộc người)

để thích ứng, thể hiện sự chủ động của người dân Xem xét những cơ sở của các thực hành sinh kế trong xã hội cổ truyền liệu có còn tồn tại và được sử

Trang 33

28

dụng hay không? Sự phân tích và giải đáp các các vấn đề nêu trên cũng sẽ là căn cứ để tìm hiểu về văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở Nà Lầu hiện nay

1.3 Thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)

1.3.1 Quá trình hình thành và vài nét về dân cư, kinh tế - xã hội

Quá trình hình thành

Theo thống kê dân số Việt Nam năm 2009, người Nùng có 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố, trong đó Lạng Sơn là nơi có số lượng người Nùng sinh sống nhiều nhất và tập trung nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các dân tộc của tỉnh Căn cứ vào gia phả và chuyện kể của các dòng họ Nùng cho thấy Lạng Sơn là một trong những địa bàn người Nùng di cư đến sớm nhất, sau đó họ mới tiếp tục đến định cư ở Bắc Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai, Hà Giang và các tỉnh khác [87] Tại Lạng Sơn, có ba nhóm Nùng sinh sống: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình có mặt ở hầu như ở khắp các huyện trong tỉnh, riêng nhóm Nùng Cháo tập trung chủ yếu ở huyện Văn Lãng và Tràng Định Điểm giống nhau giữa ba nhóm Nùng này là đều sử dụng một ngôn ngữ Điểm khác biệt rõ nhất được thể hiện ở bộ trang phục của phụ nữ mỗi nhóm,

đó là: trong trang phục thường ngày, áo năm thân của phụ nữ Nùng Inh và Nùng Cháo có độ dài dài hơn so với phụ nữ Nùng Phàn Slình nhưng áo của phụ nữ Nùng Phàn Slình được thêu nhiều hoa văn hơn; Về cách đội khăn: phụ

nữ Nùng Inh và Nùng Cháo đội khăn vuông nhuộm chàm đen, choàng qua mái tóc đã được vấn quanh đầu Còn phụ nữ Nùng Phàn Slình khi đội khăn thường gấp dọc khăn lại rồi quấn một vòng từ trước chán ra cài sau gáy, trên khăn có thêu chỉ sọc màu xanh hoặc trắng Ở huyện Văn Lãng, xã Tân Thanh

là một trong những nơi tập trung đông người Nùng Cháo, họ sinh sống trong các thôn Nà Tồng, Nà Han, Nà Ngườm và Nà Lầu

Thôn Nà Lầu tiếp giáp với thôn Nà Han ở phía Bắc, và thôn Bản Thẩu

ở phía Nam, cách trung tâm xã Tân Thanh 0,5km, cách trung tâm huyện Văn

Trang 34

29

Lãng 15km và cách trung tâm thành phố Lạng Sơn 30km (A1 - PL1) Đây là thôn thuộc khu vực vùng biên, có đường tiếp giáp với biên giới Trung Quốc gần 4km Vị trí của thôn nằm dựa ngay dưới chân núi, phía trước là các bãi nương, ruộng để trồng trọt

Khí hậu ở đây theo khí hậu của Lạng Sơn nói chung, mang tính chất cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình năm là 17 - 220C Mùa hè mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông lạnh và hanh khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong thôn không có sông hay suối chảy qua mà chỉ nguồn nước được dẫn về từ các mạch ngầm trong các khe núi đá để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân Chính vì vậy nên sản xuất nông nghiệp ở Nà Lầu gặp nhiều khó khăn do khí hậu, địa hình trũng và thiếu nguồn nước

Nà Lầu là thôn định canh, định cư của nhóm Nùng Cháo Theo giải thích của những người già trong thôn thì tên gọi Nà Lầu có nghĩa là “ruộng cỏ lau” Khi xưa tổ tiên họ đến định cư ở đây, vùng đất này mọc rất nhiều cỏ lau,

họ phải khai phá để làm nương, làm ruộng và định cư, tên gọi đã được đặt theo cảnh quan thiên nhiên đó

Theo những người già nhất hiện nay còn sống ở trong thôn kể lại, tổ tiên của họ có nguồn gốc bên Trung Quốc, do hạn hán và thiên tai thường xuyên xảy ra, dẫn đến đói kém, không có cái ăn, buộc họ phải di cư sang Việt Nam Như vậy, những nghiên cứu về lịch sử cư trú và tộc người đã được các nhà nghiên cứu đi trước chỉ ra theo quan điểm thứ nhất trong phần tổng quan tài liệu về người Nùng đã được nêu ở nội dung trước là hoàn toàn trùng khớp với nhóm Nùng ở Nà Lầu về thời gian đến định cư tại Việt Nam, tương đương

200 đến 300 năm trở lại đây Trong quá khứ, những người dân sống trong thôn ít nhiều cũng đã từng có các mối quan hệ xuyên biên giới Việt - Trung trong hôn nhân đồng tộc cũng như giao lưu xã hội Tuy nhiên, do hoàn cảnh chính trị giữa hai nước những năm 1970, việc phân định đường biên quốc gia trở nên rõ ràng hơn nên các mối quan hệ họ hàng, bạn bè đến nay đã không

Trang 35

30

còn nữa Tính đến thời điểm hiện nay, những dòng họ định cư trong thôn được lâu nhất là được 7 đời

Vài nét về dân cư, kinh tế - xã hội

Trước đây, trong thôn có hơn 30 gia đình cùng chung sống, thuộc sáu dòng họ khác nhau: Hoàng, Ngô, Lê, Trần, Lô, Hà Trưởng thôn do dân thôn suy tôn từ người của một dòng họ lớn nhất, có uy thế nhất và thường là trưởng của dòng họ đó Tại Nà Lầu, dòng họ Hoàng là dòng họ có uy thế, giàu có và đông nhất trong thôn Hiện nay, số lượng các gia đình ở trong thôn

đã tăng lên hơn 80 hộ, do các gia đình lớn đã tách cho các con trai, con gái ra

ở riêng, ngoài ra còn có sự cư trú xen kẽ với các dân tộc khác cùng đến Tân Thanh làm ăn đã tạm trú tại đây

Khi xảy ra cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, toàn bộ người dân trong thôn đã phải đi sơ tán để đảm bảo an toàn, thôn Nà Lầu bị bỏ hoang, mười năm sau người dân toàn thôn mới quay trở lại sinh sống (năm 1989) Năm 1992, khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh được xây dựng và mở rộng, thôn Nà Lầu được chia ra

để hình thành nên các khu phố I và II, dọc theo trục đường chính thuộc xã Tân Thanh, cửa khẩu Tân thanh nằm ngay trên địa bàn của thôn

Tổng diện tích đất tự nhiên của thôn khoảng 20 ha, trong đó diện tích rừng và đất rừng chiếm 5 ha Sinh kế chủ yếu của người Nùng ở Nà Lầu trong

xã hội cổ truyền là sản xuất nông nghiệp Cây lương thực chính là cây lúa, họ

đã có truyền thống canh tác trồng lúa nước từ rất lâu đời và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, được thể hiện ở việc xác định thời vụ, chọn đất, chọn giống lúa, hệ thống công cụ sản xuất, phương tiện tưới tiêu Ngoài lúa, người Nà Lầu trồng ngô, sắn, đỗ tương và một số loại cây khác Ở đây,

ruộng có hai loại là ruộng nước và ruộng chờ mưa Ruộng nước (nà nặm) là

ruộng sẵn có nước mạch ngay tại chỗ hay thông qua hệ thống phai, đập, mương máng dẫn từ các dòng sông, suối hay các mạch nước ngầm trong núi

đưa về tưới cho cây trồng Ruộng chờ mưa (nà lẹng) thường là những ruộng

cao, khô nước không trồng cấy được bằng biện pháp thủy lợi, chỉ có cách duy

Trang 36

31

nhất là nhờ ở nguồn nước mưa, thường cấy được một vụ Ngoài ra, họ cũng tiến hành các hoạt động khai thác các sản phẩm sẵn có trong tự nhiên như các loại rau rừng (rau ngót, rau dớn, nấm hương, mộc nhĩ), các loại cây có củ (củ mài, củ từ, cây báng ) thường được hái lượm về

Việc trao đổi hàng hóa và buôn bán ở các chợ huyện đã được hình thành từ lâu đóng góp một phần quan trọng trong sinh kế của họ Chợ họp mang tính chất địa phương, thường diễn ra ở các đường cái lớn, được hình thành và cách nhau khoảng 5 - 10 km Người dân trong thôn thường mang nông sản do chính họ sản xuất đem ra chợ bán Thông thường, đó là các loại lương thực và hoa màu: gạo, ngô, khoai, sắn, đỗ tương; các loại gia cầm như

gà, vịt, ngan Trong bối cảnh chuyển đổi, sinh kế của người Nùng Cháo tại Nà Lầu đã có nhiều chuyển biến về sinh kế Đây cũng là điểm khác biệt về so với các thôn người Nùng của xã Tân Thanh, trong khi đa phần các thôn khác vẫn coi trọng sản xuất nông nghiệp, thì người Nùng ở Nà Lầu đã tiến hành đa dạng sinh kế, cùng với sự năng động của người dân, quá trình này sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo

Gia đình của người Nùng Cháo ở Nà Lầu là hình thức gia đình nhỏ mở rộng Gia đình nhỏ có bố mẹ và các con chưa có gia đình cùng chung sống, trong đó vai trò của những người đàn ông luôn được đề cao Người đứng đầu

là ông bố và mọi việc trong nhà chỉ được tiến hành khi được ông chấp nhận, sau đó là sự quyết định của người con trai trưởng Thông thường, người phụ

nữ trong gia đình không quyết định được việc gì, có thể nói tính “gia trưởng”

ở người đàn ông Nùng được thấy rất rõ: “Trong nhà đàn ông mới nắm mọi

việc còn đàn bà chỉ có biết đẻ con và đi làm thôi, có việc gì thì mấy anh em trai cùng bàn trước rồi mới làm”- ông Kha nói

Việc phân công lao động trong gia đình của người Nùng Cháo trước đây ở trong thôn Nà Lầu có sự phân biệt rõ rệt về giới tính, như bà Nhì kể:

“Đàn ông thì chủ yếu làm những công việc nặng như: cày, bừa, làm nhà, làm mộc, đi săn bắn Còn đàn bà thì cấy lúa, trồng cây, hái củi, dệt vải, may vá

Trang 37

32

Tới mùa thu hoạch lúa, ngô thì tất cả lại cùng nhau làm, không ai được ngồi chơi đâu, cùng làm thì mới có mà ăn chứ Còn người già thường ở nhà giúp việc trông nom con, cháu, ai nấu được cơm hộ thì nấu, rồi thì hộ chăn gà, vịt” Vấn đề sở hữu tài sản của gia đình rất được coi trọng, tất cả đều là sở

hữu chung của mọi thành viên, mọi người cùng lao động và cùng hưởng thụ như nhau Tuy nhiên, khi có con lớn đến tuổi xây dựng gia đình riêng thì họ được ưu tiên trong việc mua sắm quần áo hơn so với các em nhỏ trong nhà Việc phân chia về quyền thừa kế tài sản trong gia đình người Nùng Cháo cũng rất rõ ràng, quyền thừa kế tài sản chủ yếu thuộc về con trai Những tài sản như ruộng, rừng, nương, nhà ở chỉ có con trai mới được hưởng thừa kế và cũng theo thứ tự ưu tiên giữa các anh em trong nhà, người con lớn được phần nhiều và tốt hơn người con nhỏ Con gái đi lấy chồng có thể được một ít của hồi môn, khi ra ở riêng sẽ được chia gia súc như trâu, bò Việc chia tài sản cho con gái trong nhà phụ thuộc vào kinh tế của mỗi gia đình, con gái nhà

giàu được chia nhiều của hơn con gái nhà nghèo

Bên cạnh gia đình hạt nhân, trong thôn còn có hình thức gia đình mở rộng, song chỉ mang tính chất tạm thời khi đang chuẩn bị cho việc tách ra ở riêng của một gia đình nhỏ khác Loại gia đình mở rộng thứ nhất là các em trai (gái) hoặc các con thứ đã có vợ (có chồng) nhưng chưa tách ra ở riêng được vì chưa được tuổi xây nhà, hoặc chưa đủ điều kiện về kinh tế để ra ở riêng Con gái đã lấy chồng, nhưng chưa sinh con, vẫn đi lại và có thể về ở nhà bố mẹ đẻ và cũng là một thành viên của gia đình mở rộng (chỉ khi sinh con họ mới về nhà chồng) Khi có đủ điều kiện về kinh tế, gia đình mở rộng này được tách ra thành các gia đình nhỏ/hạt nhân

Loại gia đình mở rộng thứ hai là con cháu sống cùng ông, bà Người Nùng Cháo thường có nhiều con nên khi về già, trở thành ông bà, họ có thể ở với con này hoặc con khác, thông thường là với con trai út Vì theo họ, con út thường có các cháu nhỏ, nên phải ở với con út để giúp trông cháu, trông nhà

Họ còn quan niệm, khi chết thì ở nhà con trai cả, vì con cả thường ở ngôi nhà

Trang 38

33

cũ của tổ tiên để lại và cũng theo tục lệ anh ta phải có trách nhiệm lớn hơn các anh em khác trong gia đình trong chăm sóc bố mẹ-ông bà và lo liệu tang lễ cho những người già ấy Nhờ còn tồn tại các hình thức gia đình mở rộng như vậy mà quan hệ anh em trong gia đình cũng như với họ hàng ở người Nùng tại Nà Lầu còn phát huy được sự gắn kết, tương trợ trong các thực hành sinh

kế khi môi sinh thay đổi

Trong thôn Nà Lầu, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc cơ bản trong quan

hệ hôn nhân nhưng các quan hệ thân tộc thật chằng chịt Hầu hết các thanh niên nam nữ đến tuổi lập gia đình đều lấy vợ, lấy chồng ở các thôn lân cận như: thôn Nà Tồng, Nà Ngườm, Na Sầm Những người được gọi là “lượt lài”,

“đúc lượt” (máu mủ) với nhau, nghĩa là thành viên của tổ chức xã hội dựa trên

cơ sở mối quan hệ thân thuộc tính theo huyết thống phía cha-họ nội thì không được lấy nhau, trừ những người họ xa, khác chi Các hộ gia đình trong một dòng họ thường có quan hệ gắn bó mật thiết và giúp đỡ lẫn nhau trong những

sự kiện đặc biệt

Tóm lại, quan hệ họ hàng đóng của người Nùng Cháo tại Nà Lầu một vai trò rất lớn trong xã hội truyền thống cũng như trong xã hội hiện nay Nó luôn chi phối mọi mặt đời sống của từng gia đình, từng thành viên cũng như liên quan đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của cả thôn Các thành viên ở trong cùng một dòng họ luôn có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau về mọi phương diện cuộc sống

1.3.2 Một số đặc điểm văn hóa

Nhà cửa

Trước đây, nhà cửa của người Nùng ở Nà Lầu là dạng nhà sàn, tầng dưới được làm theo kiểu trình tường rất chắc chắn, phía trên được xây bằng gạch chiên, là một loại gạch được làm từ đất sét (xem A3, A4, A5-PL2,3,) Để làm được loại gạch này, người Nùng phải sử dụng từ 3 đến 5 con trâu quần cho đất nhão, sau đó cho rơm vào rồi đóng vào các khuôn gỗ, đợi 7 ngày cho thật khô sau đó đảo lại cắt bằng mặt còn lại Khi đem xây họ cũng dùng đất

Trang 39

34

sét làm chất kết dính các viên gạch với nhau Cho tới thời điểm nghiên cứu, một số ngôi nhà cũ đã bị sụp, đổ chỉ còn lại phần móng (A6,PL4) Hiện nay ngôi nhà của họ đã có nhiều thay đổi so với kiểu nhà truyền thống trước kia

về kiến trúc cũng như nguyên vật liệu xây dựng Thôn Nà Lầu đã mang dáng dấp của một phố thị, có nhiều dãy phố được hình thành với những ngôi nhà tầng bê tông, mái bằng giống như ngôi nhà của người Kinh trong vùng, quanh khu cửa khẩu Tân Thanh (A7-PL4) Nhìn qua khó nhận ra được đó là nhà của người Nùng nếu trước cửa nhà không có con chó đá “canh giữ” (được đặt khi đất nhà bị xem là xấu hoặc không hợp mệnh chủ nhà) (A8-PL5), hoặc không thấy những lá bùa giấy màu đỏ, hình chữ nhật trên có chữ Hán dán trên trán cửa ra vào của nhà khi đầu năm mới đến hoặc khi khánh thành nhà mà nhiều năm chúng không bị bong mất (A9-PL5) Tuy nhiên, ở khu vực cư trú cũ trong thôn trước khi quy hoạch xây dựng khu chợ Tân Thanh, dân làng vẫn còn giữ một số ngôi nhà truyền thống vừa để giữ đất, vừa làm nơi nghỉ tạm khi về làm vườn (trồng rau) hay trông coi việc nuôi thả gà, chăm lợn, nhưng hoạt động kinh tế phụ mang tính “hồi cố” này đang dần mất đi vì nạn trộm cắp bởi ở Nà Lầu có thêm nhiều nhóm cư dân từ nhiều nơi đến thuê nhà ở để tham gia buôn bán tại Tân Thanh Một số gia đình Nà Lầu đã sửa lại những ngôi nhà cũ hoặc dựng những căn nhà tạm một tầng nhỏ với mái tôn dùng cho thuê Chính nhu cầu sinh kế mới đã làm thay đổi lớn diện mạo cảnh quan làng bản cũng như nhà cửa, kiến trúc nơi cư trú của họ Xen trong các câu trả lời phỏng vấn là những câu chuyện của một số người lớn tuổi Nà Lầu tỏ rõ vẫn luyến tiếc ngôi nhà truyền thống xưa Họ còn cho rằng, với kiểu nhà cũ, họ có thể dễ dàng sửa chữa, có thể lợp lại mái, hàn/vá lại những lỗ tường đất bị thủng, lắp lại thanh chấn song cửa sổ bằng gỗ bị hỏng Còn với nhà bê tông mái bằng, do điều kiện kinh tế eo hẹp cũng như không am hiểu về cách xây dựng kiểu nhà mới, do quy hoạch phố thị của tỉnh với các chuỗi nhà mái bằng cạnh nhau, nhiều gia đình ở Nà Lầu đã phải ở trong những ngôi nhà tầng bê tông có chất lượng xây dựng không tốt do không có nhiều tiền đền bù làm nhà

Trang 40

35

mới, được vài năm nhà đã “dột”- mái bằng bị thấm, nứt Một số nhà không có tiền sửa phải bỏ tầng hai, cả nhà dồn hết xuống ở tầng một Tình cảnh đó cùng với những khó khăn trong hoạt động sinh kế càng làm cho những gia đình

nghèo ở Nà Lầu cảm thấy cuộc sống của họ thêm bấp bênh - rằng “không biết

mấy năm nữa sẽ thế nào, được lúc nào thì được ” như lời than vãn của một

phụ nữ có ngôi nhà dột trên đường vành đai của Tân Thanh Bà cũng biết và

nói câu thành ngữ “an cư lạc nghiệp” của người Kinh để ước “không biết đến

bao giờ chúng tôi mới ổn ” Về nhà cửa của người dân ở Nà Lầu hiện nay so

với nhà của người Nùng ở các thôn khác trong xã Tân Thanh (Nà Han, Nà Tồng, Nà Ngườm), khang trang, to đẹp hơn Ở các thôn đó, nhà chủ yếu vẫn

là kiểu nhà cấp 4, được lợp bằng ngói âm dương, hoặc mái tôn

Trang phục

Theo truyền thống, quần áo của người Nà Lầu là do tự sản xuất từ dệt vải đến tạo hình trang phục, nguyên liệu chính là vải sợi bông được nhuộm màu chàm Họ thường mặc những bộ quần áo có ống tay và ống quần rộng

mà theo họ là để phù hợp với việc lao động trên đồng ruộng, lên núi, vào rừng hay phải leo cây để hái hồi, hái nhãn

Trang phục truyền thống của phụ nữ ngày thường ít có hoa văn trang trí, là loại áo năm thân, bốn thân dài và một thân ngắn nằm lót phía bên ngực phải, phần thân và tay áo rộng, đủ để cử động thoải mái trong mọi tư thế và nhất là tiện lợi khi đi làm ruộng, làm nương, tay áo được tạo thành bởi sự chắp nối các mảnh vải cùng màu lại với nhau Quần phụ nữ được may theo kiểu “chân què, cạp lá tọa” và cũng được làm bằng vải chàm đen Cạp quần được nối với loại vải mỏng hơn, khi mặc thì gấp cạp lại rồi dùng dây thắt lưng buộc ngang hông để giữ cho chặt Phụ nữ thường đội khăn vuông, nhuộm chàm đen Áo nam giới là chiếc áo tứ thân, có chiều dài ngang mông, tay áo rộng dài đến cổ tay Cổ áo được khoét hình tròn, vải khâu đáp phía trong chân

cổ, xẻ ngực thẳng từ trên xuống dưới và đính bảy chiếc cúc để cài, áo có bốn túi, hai túi ngực và hai túi phía dưới Quần nam giới cũng được cắt theo kiểu

Ngày đăng: 05/05/2020, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm