1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách tài liệu của spielberg trong phim về đề tài lịch sử (khảo sát qua hai bộ phim schindler’s list và saving private ryan)

95 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhắc đến Spielberg là nói đến một tên tuổi tài năng của điện ảnh – Người không chỉ sở hữu những bộ phim có tính thương mại cao mà còn là người mang đến cho các tác phẩm điện ảnh của mình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI VI NGHI

PHONG CÁCH TÀI LIỆU CỦA SPIELBERG TRONG

PHIM VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ (KHẢO SÁT QUA HAI BỘ

PHIM SCHINDLER’S LIST VÀ SAVING PRIVATE RYAN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh - Truyền hình

HÀ NỘI-2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI VI NGHI

PHONG CÁCH TÀI LIỆU CỦA SPIELBERG TRONG PHIM VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ (KHẢO SÁT QUA HAI BỘ PHIM SCHINDLER’S LIST VÀ SAVING PRIVATE RYAN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh - Truyền hình

Mã số: 60210231

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.VŨ NGỌC THANH

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU …….………1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa lý luận thực tiễn 4

6 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TÁC GIẢ, SỰ NGHIỆP CỦA ĐẠO DIỄN STEVEN SPIELBERG, ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VÀ KHÁI NIỆM PHONG CÁCH TÀI LIỆU 5

1.1 Lý thuyết tác giả 5

1.1.1 Tác giả và tác giả điện ảnh 5

1.1.2 Lý thuyết tác giả trong lịch sử điện ảnh 7

1.2 Sự nghiệp của đạo diễn Steven Spielberg 10

1.2.1 Khái quát tiểu sử của đạo diễn Steven Spielberg 10

1.2.2 Phong cách sáng tác của đạo diễn Steven Spielberg 11

1.2.3 Sáng tạo của Steven Spielberg trong bối cảnh của nền công nghiệp Hollywood nửa cuối thế kỷ XX 16

1.2.4 Thành tựu của Steven Spielberg 19

1.3 Đề tài lịch sử trong sáng tác điện ảnh 21

1.3.1 Một số quan niệm về phim truyện đề tài lịch sử 21

1.3.2 Những đặc điểm của phim truyện đề tài lịch sử 22

1.3.3 Quan điểm sáng tác về đề tài lịch sử của Spielberg 23

Trang 4

1.3.4 Ý đồ dàn dựng về đề tài lịch sử của Spielberg 25

1.4 Giới thiệu về các bộ phim được khảo sát 29

1.4.1 Phim Schindler’s List 29

1.4.2 Phim Saving Private Ryan 31

1.5 Khái niệm phong cách tài liệu 33

CHƯƠNG 2: PHONG CÁCH TÀI LIỆU TRONG KẾT CẤU PHIM 34 2.1 Không sử dụng kịch bản phác họa phân cảnh (Storyboard) 34

2.2 Quay phim chủ yếu bằng máy quay cầm tay (Hand-held camera) 41 2.2.1 Schindler’s List 43

2.2.2 Saving private Ryan 51

2.3 Ánh sáng tự nhiên 61

2.3.1Phim Schindler’s List 62

2.3.2 Phim Saving Private Ryan 64

Tiểu kết 65

CHƯƠNG 3:PHONG CÁCH TÀI LIỆU TRONG NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH 68

3.1 Màu sắc biểu tượng cho sự sống và sự hủy diệt 68

3.2 Sự tương phản của ánh sáng: Sự đấu tranh thiện – Ác 74

3.3 Hình ảnh phản chiếu: Sự phản thân 81

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Steven Spielberg là một đạo diễn điện ảnh, nhà sản xuất phim nổi tiếng thế giới Ông là cha đẻ của phim bom tấn Hollywood Nhắc đến Spielberg là nói đến một tên tuổi tài năng của điện ảnh – Người không chỉ sở hữu những bộ phim có tính thương mại cao mà còn là người mang đến cho các tác phẩm điện ảnh của mình những giá trị nghệ thuật vô cùng độc đáo

Trải qua 5 thập kỷ làm phim không mệt mỏi của mình, Spielberg đã đem

đến cho công chúng mộ điệu rất nhiều kiệt tác bất hủ, có thể kể đến như: Jaws (Hàm Cá Mập-1975) – Bộ phim khai sinh ra khái niệm phim bom tấn ; Raiders

Of The Lost Ark (1981); E.T The Extra Terrestrial (1982); Schindler’s List

(1993); Saving Private Ryan (1998)…

Điểm đặc biệt là, so với các Đạo diễn- Tác giả điện ảnh khác, Steven Spielberg có phong cách làm phim rất đa dạng Ông không gắn mình vào một thể loại, thay vào đó, ông tạo ra những chủ đề, và làm phim xoay quanh các chủ đề bằng những thể loại phim khác nhau, trong đó đặc biệt là phim khoa học giả tưởng, phiêu lưu mạo hiểm, lịch sử, chiến tranh… Ở bất cứ chủ đề nào, Spielberg cũng ghi dấu ấn vào dòng chảy của lịch sử điện ảnh và đạt được những thành công đỉnh cao với những tác phẩm được dàn dựng độc đáo, mang đậm phong cách nghệ thuật rất riêng của bản thân ông

Đề tài lịch sử trong điện ảnh vốn dĩ không hề xa lạ với đông đảo khán giả Đây là một đề tài quen thuộc và có truyền thống khá lâu đời trong lĩnh vực sản

xuất phim ảnh của thế giới (Bộ phim lịch sử đầu tiên The Birth Of Nation được

sản xuất từ năm 1915 bởi đạo diễn DW.Griffith)

Schindler’s List và Saving Private Ryan là 2 tác phẩm về đề tài lịch sử

rất thành công của Steven Spielberg, nó mang đến cho ông ba giải thưởng Oscar

vô cùng danh giá, bao gồm 2 giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và một

Trang 6

giải Oscar cho bộ phim hay nhất ( Schindler’s List) tại Liên hoan phim Oscar

lần thứ 66 – năm 1994

Điểm thú vị và rất đáng quan tâm về mặt học thuật là, Spielberg đã dàn

dựng Schindler’s List và Saving Private Ryan- Hai bộ phim truyện bằng một

cách thức vô cùng độc đáo: Đạo diễn phim truyện theo phong cách tài liệu

Là một quay phim hiện hoạt động trong lĩnh vực phim truyện, việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá các thủ pháp điện ảnh được áp dụng thành công trong hai tác phẩm trên là một việc làm cần thiết và có trách nhiệm về mặt chuyên môn đối với Người thực hiện Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quý báu mang tính ứng dụng, nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc xây dựng một tác phẩm điện ảnh về đề tài lịch sử

Nghiên cứu về đạo diễn Spielberg, tại Việt Nam hiện nay, Người thực hiện chưa thấy đề tài nào đề cập đến nghệ thuật đạo diễn phim truyện theo phong cách tài liệu về đề tài lịch sử của ông Do vậy, qua việc chọn đề tài này, Người thực hiện hy vọng sẽ luận giải thành công nghệ thuật đạo diễn của Steven Spielberg, đặc biệt là về tính mới của đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình và các học giả nghiên cứu

về điện ảnh đề cập đến những sáng tác của đạo diễn Spielberg Nhiều nghiên cứu về thành tựu và các tác phẩm của ông trong đó có nhiều sách viết về tiểu

sử của Spielberg như:

McBride, Joseph/ Steve Spielberg/ NXB Faber and Faber,1997

Ian Freer/ The Complete Spielberg/ NXB.Virgin,2001

Richard Schickel/ Steven Spielberg – A Retrospective/ Sterling New

York,2012

Đặc biệt người thực hiện có tham khảo quyển sách: Directed by Steven

Spielberg: Poetics of the Comtemporary Hollywood Blockbuster (New York

Trang 7

and London: Continuum,2006) của tác giả Warren Buckland phân tích về

phong cách thi ca của đạo diễn Steven Spielberg

Tuy nhiên người thực hiện chưa thấy một tác phẩm, sách nghiên cứu cũng như bài báo chuyên ngành nào phân tích mổ xẻ về phong cách tài liệu của Spielberg khi dàn dựng một bộ phim hư cấu Đây chính là lý do người thực hiện quyết định nghiên cứu về đề tài

3 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, Người thực hiện tập trung khảo sát, phân tích nghệ

thuật đạo diễn của Steven Spielberg qua tác phẩm nổi bật của ông

Phạm vi nghiên cứu

Từ hơn 32 bộ phim trong suốt sự nghiệp của đạo diễn Steven Spielberg

từ đó đến nay, Người thực hiện đã khảo sát và lựa chọn ra 2 bộ phim Schindler’s

List và Saving Private Ryan để làm rõ nghệ thuật đạo diễn của Ông Người thực

hiện lựa chọn bản trình chiếu online của cả hai bộ phim để phân tích; Vì thời gian trình chiếu ngoài rạp đã qua từ lâu và bản DVD chính thống không được phát hành tại Việt Nam Hai bộ phim được lựa chọn dựa trên các tiêu chí như sau: Thứ nhất, cả 2 bộ phim đều cùng một đề tài về lịch sử, kịch bản đều dựa trên những câu chuyện có thật của những con người trong cuộc chiến Thứ hai,

cả 2 bộ phim đều gây được tiếng vang trên trường quốc tế, với nhiều đề cử và giải thưởng danh giá Thứ ba, từ góc độ tiếp cận lý thuyết tác giả, Người thực hiện muốn khẳng định tầm vóc của Đạo diễn- Tác giả Steven Spielberg đối với nền điện ảnh Hollywood đương đại

4 Phương pháp nghiên cứu

 Hướng tiếp cận chủ yếu: Lý thuyết tác giả, tiếp cận các thủ pháp điện ảnh, tiếp cận hình thức, tiếp cận điện ảnh Hollywood

 Phương pháp luận: Trần thuật học điện ảnh

Trang 8

 Thao tác khoa học: Phân tích, quy nạp, so sánh, đối chiếu

5 Ý nghĩa lý luận thực tiễn

Giới thiệu và luận giải một phong cách sáng tác phim truyện mới lạ, vốn trước đây chưa từng được các nhà nghiên cứu cập nhật Góp phần nâng cao tính hiệu quả trong việc xây dựng các bộ phim truyện về đề tài lịch sử, nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đông đảo khán giả

Đóng góp một phần kiến thức vào lý luận chung của chuyên ngành điện ảnh

Nếu thành công, luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những người

quan tâm, những người làm phim và những người yêu thích điện ảnh

6 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Lý thuyết tác giả, sự nghiệp của đạo diễn Steven Spielberg,

đề tài lịch sử và khái niệm phong cách tài liệu

Chương 2: Phong cách tài liệu trong kết cấu phim

Chương 3: Phong cách tài liệu trong ngôn ngữ điện ảnh

Trang 9

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TÁC GIẢ, SỰ NGHIỆP CỦA ĐẠO DIỄN STEVEN SPIELBERG, ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VÀ KHÁI NIỆM PHONG

CÁCH TÀI LIỆU

1.1 Lý thuyết tác giả

1.1.1 Tác giả và tác giả điện ảnh

Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp Sinh sau đẻ muộn so với các bộ môn nghệ thuật ra đời trước nó, bao gồm: Hội họa, âm nhạc, múa, kiến trúc, sân khấu… Do vậy điện ảnh đã kế thừa và phát triển các tinh hoa từ những lĩnh vực nghệ thuật này vào trong tác phẩm của mình Mỗi bộ phim là thành quả đóng góp của nhiều cá nhân thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau vào tổng thể chung của bộ phim như: Biên kịch, họa sỹ thiết kế, nhà quay phim, diễn viên, phục trang, ánh sáng…Và trải qua nhiều công đoạn tiền kỳ, sản xuất và dựng phim mới hoàn tất một sản phẩm nghệ thuật Nhìn vào danh sách xuất hiện cuối phim của bất kỳ bộ phim nào cũng đều hiển thị điều đó Do vậy, để xác định rõ ai là tác giả trong điện ảnh sẽ là một khái niệm tương đối phức tạp

Trong tiếng Anh, tác giả văn học thì được gọi là author còn tác giả điện ảnh thì lại là auteur, một từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp Điều này cho thấy bản chất khác nhau giữa hai khái niệm, giữa author và auteur mà tiếng Việt đều gọi

chung là “Tác giả” Nguyên nhân lý giải cho sự khác biệt trong cách dùng thuật ngữ này được cho là bởi có sự liên quan đến nước Pháp, nơi phôi thai những lý thuyết về tác giả điện ảnh thuở ban đầu( nhưng không phải là đầu tiên)

Xuất phát điểm cho thuật ngữ tác giả điện ảnh rút cuộc không đến từ nước Pháp – Xứ sở khai sinh ra điện ảnh, mà đến từ một quốc gia vốn có nền điện ảnh không mấy danh tiếng của thời kỳ đó: Nước Đức

Trước năm 1912, ngành công nghiệp điện ảnh Đức hầu như không đáng

kể Thậm chí, tháng 5 năm 1912 nền điện ảnh này còn bị Tổ chức các nhà biên kịch, đạo diễn và diễn viên đã quyết định tẩy chay điện ảnh Sự cố chỉ được

Trang 10

giải quyết vào cuối năm 1912 khi các nhà sản xuất phim đã ký hợp đồng độc quyền với chính các nhà biên kịch, đạo diễn và diễn viên đã tham gia cuộc tẩy chay trước đó

Trong suốt năm 1913 loại phim autorenfilm hay còn gọi là “phim tác

giả” được khuấy động khắp nước Đức và tạo nên một trào lưu điện ảnh mới

Điều đáng nói là từ “Tác giả” trong dòng phim mới mẻ này không phải

để dành cho đạo diễn – Một cách hiểu giống như từ tác giả ngày nay mà chính nhà biên kịch mới là người được thừa nhận với tư cách là tác giả điện ảnh

Dòng phim autorenfilm đã mang đến luồng gió lạ cho điện ảnh nhưng

hầu hết các bộ phim điều không thành công với đông đảo công chúng và phong trào làm phim dựa trên các tác phẩm của các tác giả nổi tiếng đã giảm dần trong năm 1914

Mặc dù loại phim autorenfilm ra đời từ sớm nhưng nó chưa thể gọi tên

tác giả thực sự của điện ảnh bởi điện ảnh thời kỳ này còn phụ thuộc khá nhiều vào các lĩnh vực nghệ thuật khác như: Sân khấu (dàn dựng, diễn xuất), hội họa (ánh sáng, bố cục), âm nhạc (nhịp điệu, âm thanh) và nhất là văn học (kịch bản, cấu trúc, thuyết minh) Do vậy, điện ảnh chưa thể có được bản sắc riêng của mình Vì điện ảnh là sản phẩm của cả một tập thể, của nhiều cá nhân đóng góp, bao gồm: Biên kịch, đạo diễn, quay phim… Nên việc xác định tác giả của một

bộ phim quả là một vấn đề nan giải và gây nhiều tranh cãi

Đến năm 1948, nhà phê bình Alexandre Astruc thông qua bài luận “The birth of a new avant – garde: The camera – pen” nổi tiếng của mình đã khẳng đinh rằng đạo diễn là nguồn gốc chính cho giá trị của một bộ phim [5, tr98]

Đến năm 1954, Francois Truffaut viết bài “Một xu hướng tất yếu trong nền điện ảnh Pháp”, trong bài viết này Truffaut đã đưa ra khái niệm tác giả phim (Auteur)

và chỉ đích danh đạo diễn chính là tác giả phim Theo quan điểm của Truffaut người đạo diễn trở thành tác giả của bộ phim cho dù bộ phim do công lao của

Trang 11

tập thể Từ đó, thuật ngữ Auteur do Trufaut đề xướng đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình điện ảnh khác sử dụng và đi vào từ điển thuật ngữ điện ảnh khi nói đến khái niệm tác giả điện ảnh

1.1.2 Lý thuyết tác giả trong lịch sử điện ảnh

Quyền tác giả của một bộ phim, từ lâu đã trở thành một chủ đề gây nhiều tranh luận trong lý thuyết điện ảnh, kể từ khi các nhà phê bình Cahiers du Cinema lần đầu tiên đề xuất lý thuyết tác giả năm 1954

Nguồn gốc của chủ nghĩa tác giả được cho là bắt nguồn từ bài báo mà Francois Truffaut viết có tựa đề: “Một xu hướng tất yếu trong nền điện ảnh Pháp” đăng tháng 1/1954 trên tạp chí Cahiers du Cinema, [ 21, tr41] Theo Truffaut, một người Auteur sẽ biến bộ phim thành một cái gì đó cá nhân, “một biểu hiện của tính cách cá nhân của chính anh ta” [30, tr5]

Phiên bản gốc của lý thuyết tác giả tiếng Pháp (La politique des auteurs) chỉ rõ

là ý tưởng làm cho bộ phim trở nên khác biệt với đạo diễn bằng cách truyền những ý tưởng của riêng mình vào nhân vật và câu chuyện vượt ra ngoài những

Các nhà phê bình khác như Francois Truffaut và Andre Bazin cho rằng phim cần được hiểu thông qua các đặc tính điện ảnh của phong cách phim, đặc

Trang 12

biệt là cách làm phim Họ đã phát triển khái niệm “La potilique des Auteurs”

và tập trung vào ý tưởng đạo diễn chính là tác giả thực sự của một bộ phim

Ở phía bên kia Đại tây dương, trong những năm đầu của thập kỷ 60, nhà phê bình điện ảnh người Mỹ Andrew Sarris đã tiếp thu và mở rộng lý thuyết của Truffaut để hợp thức hóa việc nghiên cứu điện ảnh như là một ngành học thuật và để phân loại các đạo diễn dựa trên mức độ nghệ thuật của họ

Thông qua tiểu luận “ Các lưu ý về lý thuyết “Tác giả” năm 1962” được

in trên tạp chí Film Culture, Sarris ủng hộ và củng cố ý tưởng rằng đạo diễn chính là tác giả duy nhất của một bộ phim; Rằng một bộ phim là sản phẩm phảm ánh tầm nhìn sáng tạo của đạo diễn

Được biết đến trong cộng đồng các nước nói tiếng Anh, “Học thuyết tác giả” được Sarris công bố (như một cách để hiểu về lịch sử điện ảnh Mỹ), cho rằng các bộ phim quan trọng về mặt thẩm mỹ là sản phẩm của Auteur – Một thuật ngữ tương đương với tác giả trong một tác phẩm văn học Theo đó, một đạo diễn sẽ được xem là Auteur khi thể hiện được khả năng và dấu ấn cá nhân của mình trên phim; Cũng như mối quan hệ có tính nhất quán về mặt sáng tác giữa

bộ phim được xem xét với toàn bộ các tác phẩm của họ

Cũng cùng quan điểm, Warren Buckland trong cuốn “Nghiên cứu phim” cho rằng: “ Các đạo diễn làm phim với sự thống nhất về đề tài và phong cách thì được gọi là tác giả Ngược lại, các đạo diễn không có sự nhất quán về đề tài

và phong cách trong các tác phẩm của mình thì được gọi là đạo diễn thông thường và chỉ được xếp ở vị trí các nhà chuyên môn đơn thuần chứ không phải nghệ sĩ”,[6, tr135]

Như vậy, chúng ta nhận thấy đã có sự thống nhất trong cách đánh giá của các nhà phê bình về sự khác biệt giữa một tác giả (Auteur) và những nhà chuyên môn thông thường Họ đều cho rằng nếu một đạo diễn có sự thống nhất về đề

Trang 13

tài và phong cách sáng tác trong tổng thể các tác phẩm của mình thì được nhìn nhận là một Auteur

Nhắc đến một tác giả điện ảnh là khẳng định tác giả đó có một phong cách Bordwell và Thompson đã từng khẳng định phong cách điện ảnh chỉ đơn giản là một hệ thống hình thức [3, tr470] Quá trình sáng tạo của người đạo diễn

về hình thức phim, theo John Caghie trong Lý thuyết tác giả (Theories of Authorship) thì chính việc lấy cảnh quay sẽ giúp đạo diễn kiểm soát và liên kết các ý niệm của chúng ta về bộ phim, “ Chính với dàn cảnh (Warren Buckland thì gọi là “ lấy cảnh quay” ) tác giả đã làm biến đổi nguyên vật liệu mà anh ta được giao cho; vậy nên chính trong dàn cảnh – trong việc bố trí cảnh phim, di chuyển máy quay, vị trí máy quay, sự di chuyển từ cảnh quay này đến cảnh quay khác – tác giả đã tạo nên dấu ấn cá nhân trong phim” ,[6, tr141-142] Trong nghệ thuật, sáng tạo là yếu tố cốt lõi để xác định tư cách tác giả Như vậy, chính cá tính sáng tạo của người đạo diễn trong việc lấy cảnh quay; Thể hiện qua các yếu tố như cách cấu tạo khuôn hình, vị trí và cách di chuyển của máy quay, thời lượng của cảnh quay trong điện ảnh đã làm nên phong cách của

họ Và khi những sáng tạo mang nét độc đáo này của người đạo diễn được lặp

đi lặp lại trong các tác phẩm điện ảnh của họ, như một dấu hiệu để nhận biết phong cách cá nhân thì đó chính là biểu hiện đích thực của một tác giả điện ảnh

1.2 Sự nghiệp của đạo diễn Steven Spielberg

1.2.1 Khái quát tiểu sử của Steven Spielberg

Spielberg sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946 tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio của nước Mỹ, trong một gia đình Do Thái Mẹ ông, Leah Anni là một nghệ sỹ đàn dương cầm, còn bố ông, Arnold Spielberg, là một kỹ sư điện

Trang 14

Ông bà nội của Spielberg là người Ukraina gốc Do Thái, đã định cư ở Cincinnati vào những năm 1900

Khi còn là một đứa trẻ, Spielberg là một cậu bé nhút nhát và giàu trí tưởng tượng, ông phải đối mặt với việc khó hòa đồng với các bạn học cùng trang lứa, Spielberg nói rằng ông phải chịu những hành vi bài trừ Do Thái và

bị bắt nạt [25, tr 96-97] Năm 12 tuổi, ông thực hiện bộ phim đầu tiên tại nhà bằng mô hình đồ chơi Lionel

Năm 16 tuổi (1962), Spielberg đã giành giải thưởng đầu tiên với bộ phim dài 40 phút về đề tài “chiến tranh” mà cậu đặt tên là “Escape to Nowhere”, với dàn diễn viên gồm những bạn học của ông, điều đó đã thúc đẩy ông làm thêm nhiều bộ phim nghiệp dư 8mm khác

Năm 1963, tại trường cấp III Arcadia ở Phoenix, cậu học sinh 17 tuổi Spielberg

đã viết và đạo diễn bộ phim độc lập đầu tiên của mình, một bộ phim phiêu lưu

khoa học viễn tưởng dài 140 phút có tên Firelight Bộ phim đã giành giải nhất

trong cuộc thi phim toàn tiểu bang Arizona năm 1962-1963 [25, tr 99]

Sau khi Bố Mẹ ly dị (1964) Spielberg chuyển đến California ở với Bố Tại đây, Spielberg đăng ký tới ba lần vào trường điện ảnh của Đại học California tại Los Angeles và trường điện ảnh truyền hình của Đại học Nam California nhưng đều không được nhận vì chỉ tốt nghiệp cấp III với điểm trung bình loại C Cuối cùng cậu thanh niên Spielberg vào học tại Đại học California tại Long Beach

Spielberg bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp điện ảnh với công việc thực tập không lương ở bộ phận biên tập của hãng phim Universal Năm

1968, ông làm bộ phim ngắn đầu tiên để chiếu rạp, đó là bộ phim 24 phút với

tựa đề Amblin Bộ phim đã gây được ấn tượng tốt với Sidney Sheinberg, người

sau đó trở thành phó chủ tịch phụ trách sản xuất của hãng truyền hình thuộc Universal Điều này giúp cho Spielberg trở thành đạo diễn trẻ nhất trong lịch

Trang 15

sử được ký hợp đồng dài hạn với Universal, một trong các hãng phim chính của Hollywood (1969, khi ấy Spielberg mới 23 tuổi) Spielberg bỏ học và bắt đầu

sự nghiệp đạo diễn chuyên nghiệp từ đây

1.2.2 Phong cách sáng tác của Steven Spielberg

Steven Spielberg là một đạo diễn rất nổi tiếng với phong cách thị giác ấn tượng

và độc đáo, được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của mình

 Phong cách thị giác của Steven Spielberg

Có rất nhiều dấu hiệu đặc trưng để nhân diện một tác phẩm của Steven Spielberg Phong cách này thường lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của ông và ảnh hưởng tới nhiều bộ phim giải trí sau này:

Dấu hiệu đầu tiên và nổi bật nhất là “The Spielberg face” Spielberg sử dụng

lần đầu trong Jaws Ý tưởng của ông rất đơn giản Đó là quay cận cảnh gương

mặt nhân vật khi họ nhìn thấy một điều gì đó Sau đó gương mặt của nhân vật

sẽ biểu lộ từ kinh ngạc đến sửng sốt Tuy nhiên, những điều chưa biết vẫn còn ngoài màn hình và chỉ dần tiết lộ cho khán giả Ngày nay có rất nhiều đạo diễn khác đã sử dụng phong cách tương tự trong các bộ phim của họ; Nhưng Steven Spielberg là người đầu tiên sử dụng hiệu ứng đặc biệt này, khiến khán giả cảm giác như mình là người trong cuộc

- “The Spielberg Face” hiện diện trong hầu hết các bộ phim của ông, đặc

biệt là các bộ phim thuộc thể loại kinh dị hay khoa học giả tưởng như Jaws,

E.T, Jurassic Park, Close Encounters và nhiều bộ phim sau này

- Sử dụng hình ảnh phản chiếu: Spielberg thường sử dụng thủ pháp này khi quay phim một cá nhân trong xe hơi đang phải đối mặt với một mối đe dọa không rõ nguồn gốc Máy quay được đặt sau lưng nhân vật để thu hình gương mặt họ qua kính chiếu hậu Thủ pháp này giúp cho khán giả nhìn thấy được bối cảnh xung quanh mà không mất đi sự kết nối với nhân vật, giúp tăng cường trải

nghiệm của họ cùng với nhân vật Được ông sử dụng trong các phim Duel,

Trang 16

Raiders of the Lost Ark, Jurassic Park, War of the Worlds Hoặc khi máy quay

thu hình một nhân vật qua tấm kính, khi ấy bối cảnh ngoài khung sẽ phản chiếu trên tấm kính Kết quả là hình ảnh thu được sẽ bao gồm cận cảnh nhân vật và không gian ẩn trong khung, cho phép khán giả vừa thấy được gương mặt nhân

vật, vừa thấy được điều mà anh ta đang nhìn thấy Ông sử dụng trong các phim

The Terminal, Munich, The Sugarland Express, Schindler’s List, Saving private Ryan Kỹ thuật này giúp ông ghi lại được những biểu hiện trên gương mặt của

nhân vật khi máy quay được đặt sau lưng họ Thủ pháp này giúp khán giả nhìn thấy được những chi tiết của cảnh quay hay bối cảnh mà không mất đi sự kết nối với nhân vật Thông thường các nhân vật nhìn thấy một điều gì đó qua gương hay kính chiếu hậu, kéo khán giả nhập cuộc với sự tò mò và phấn khích dần dần tăng lên

- Sử dụng ánh sáng rực rỡ: Spielberg sử dụng một luồng sáng thật lớn rồi

đặt nhân vật vào giữa luồng sáng đó; Để tạo nên sự ma quái và huyền bí cho cảnh quay Ông cũng thường kết hợp sương mù để khuếch đại hiệu ứng của các dải sáng và sử dụng hiệu ứng trong giai đoạn hậu kỳ để làm tăng hiệu quả của

chúng ( Trong phim Jurassic Park, Minority Report, A.I Artificial Intelligence,

Bridge of Spies, Ready Player One )

- Sử dụng cảnh quay dài: Cảnh quay dài (Long take) hay còn gọi là “ cú máy

có một không hai” (Oner) chỉ đơn giản là một cú máy (shot) không bị cắt đoạn trong suốt quá trình bấm máy một cảnh quay để thu hình một hành động trong cảnh quay đó diễn ra với thời gian thực Một cảnh quay dài đòi hỏi nhiều thách thức trong quá trình tiền kỳ quay phim Nó đòi hỏi ý đồ nghệ thuật và khả năng

tổ chức dàn cảnh của đạo diễn, sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý giữa các thành phần, từ đạo diễn, quay phim, ánh sáng, diễn viên Với cảnh quay này, chỉ cần một sai sót nhỏ cũng đều dẫn đến việc phải thực hiện lại cảnh quay từ đầu Vì tính chất phức tạp và độ khó của những cảnh quay dài mà đây sẽ là một lựa

Trang 17

chọn không nhiều của các nhà đạo diễn Tuy nhiên sử dụng cảnh quay dài lại được xem là một trong những sở trường đặc biệt của Steven Spielberg được ông sử dụng một cách nhuần nhuyễn và hiệu quả trong hầu hết các bộ phim của

mình Bao gồm: 1941, Close Encounters of the Third Kind, Always, Munich,

War Horse, War of the Worlds, Schindler’s List, Saving private Ryan

Đề tài quen thuộc của Spielberg:

Đề tài xuyên suốt và có tính bao trùm của Steven Spielberg là ca ngợi chủ nghĩa

anh hùng, con nguời anh hùng (Empire of the Sun, Lincoln, loạt phim Indiana

Jones, Schindler’s List, Saving Private Ryan…)

Một đề tài nữa cũng được Steven Spielberg thường xuyên phản ánh vào các tác phẩm của mình: Tuổi thơ, gia đình tan vỡ và người cha luôn vắng mặt

Thời thơ ấu và tình phụ tử luôn là một đề tài yêu thích của Steven Spielberg Trẻ thơ luôn là nhân vật có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong các phim của ông Đó là những đứa trẻ sống nơi làng quê, trong một gia đình tan vỡ Lớn lên phải tự bươn chải để sinh tồn trong hoàn cảnh luôn thiếu vắng người cha Nhiều

bộ phim của Steven Spielberg được khai thác để hiểu về mối quan hệ giữa cha

và con trai Tiêu biểu có thể kể đến như: Hook (1991), E.T the Extra –

Terrestrial (1992), Indiana Jones (1981, 1984, 1989), Empire of the Sun (1987) Đề tài yêu thích này của Steven Spielberg được cho là cảm hứng từ các

câu chuyện thần thoại Hy Lạp, mà gần nhất là câu chuyện Odyssey của Homer

Khi Odyssey được đoàn tụ với con trai mình là Telemachus cả hai đều khóc Một phần vì niềm vui được ở bên nhau nhưng cũng có thể (được cho là)

vì mất 20 năm xa cách do đó không có quan hệ cha con Chủ đề này được thể

hiện ngay từ bộ phim đầu tiên The Sugarland Express (1974) và tiếp tục được

khai thác trong các bộ phim sau đó

E.T the Extra – Terrestrial được xem là phần tiếp theo của Close Encounters of the Third Kind thì đều nhấn mạnh cách con trai đôi khi phải hành

Trang 18

động như những người cha Và, Hook cho chúng ta thấy rằng đôi khi những

người cha cần phải phục hồi tuổi thơ của mình để khôi phục mối quan hệ cha

mẹ với các con cái của họ

Empire of the Sun (1987) là một sự tôn vinh cho khả năng phục hồi của

những đứa trẻ không cha Trong War of the Worlds, nhân vật người cha do Tom

Cruise đóng cũng phải trải qua cuộc hành trình trong thảm họa để nỗ lực hàn

gắn tình cảm với hai đứa con của anh ta Close Encounters of the Third Kind

kể về người vô trách nhiệm với đứa con của mình

Sự yêu thích của Spielberg đối với các gia đình tan vỡ và một người cha luôn vắng mặt có thể xem vì có sự liên quan đến việc ly hôn của chính cha mẹ ông xảy ra khi Spielberg 18 tuổi (năm 1964) Khi cha mẹ chia tay, Spielberg sống cùng cha và chuyển tới California Cha ông – Arnold thường được mô tả

là một người đàn ông ham việc và khá bận rộn, gây ra cho con trai (Spielberg) cảm giác bị bỏ rơi Vì thế, trong những bộ phim của Spielberg đầy những người cha mất tích hoặc bị bỏ bê và những đứa trẻ lạnh lùng cô đơn Đối với Spielberg, gia đình yêu thương nguyên vẹn luôn là một giá trị chính Câu chuyện mà các

bộ phim của ông thường kể là một gia đình tan vỡ, phải đấu tranh để sống sót trong trình trạng nguy hiểm Tuy nhiên, kết phim sẽ luôn có hậu và kẻ thù của gia đình bị phá hủy, gia đình trở lại đoàn tụ như xưa

Spielberg là đạo diễn có phong cách làm phim rất đa dạng về thể loại, từ phim khoa học giả tưởng, phim phiêu lưu mạo hiểm, phim kinh dị cho đến cả thể loại phim lịch sử Ở bất cứ thể loại nào Spielberg cũng đem đến những thành công đỉnh cao cho những tác phẩm mang đậm phong cách nghệ thuật rất

riêng của ông Nhà nghiên cứu phim Warren Buckland trong cuốn Directed by

Steven Spielberg: Poetics of the Comtemporary Hollywood Blockbuster, viết

về phong cách làm phim của Spielberg, ông đã đưa ra nhận xét như sau: “ Ông

ta không cho phép câu chuyện theo phong cách, phong cách được chế tác để

Trang 19

phù hợp với câu chuyện”[20, tr 118] Với Jaws, Spielberg đã tạo ra con quái

vật mang tên Blockbuster Sau khi bộ phim ra đời năm 1975, các bộ phim bom tấn ngày càng trở thành tiêu chuẩn thực hành làm phim của Hollywood Với

ET the Extra-Terrestrial và Close Encounter of The ThirdKind, Spielberg đã

làm bùng nổ trào lưu sáng tác các bộ phim về thể loại khoa học giả tưởng Với

Jurassic Park, ông tạo ra nỗi kinh sợ và đam mê cháy bỏng đối với công chúng

về đề tài Khủng long Không thể phủ nhận Spielberg đích thực là một nhà làm phim tiên phong, người tạo nên xu hướng cho các sáng tác của điện ảnh thế giới ngày nay

Nếu xem “Tự do sáng tạo của nhà làm phim như một mô hình của tác giả, do đó biến một số loại phim nhất định thành phương tiện thể hiện cá nhân” [21] là một tiêu chuẩn để đánh giá một đạo diễn-tác giả thì điều này hoàn toàn đúng với trường hợp của Spielberg

So với nhiều đạo diễn-tác giả khác, Spielberg ngoài chuyên môn là một đạo diễn xuất chúng, ông còn là nhà sản xuất phim rất thành công Ông là chủ của hãng phim Amblin Entertainment và là đồng sáng lập DreamWorks SKG (thành lập năm 1994) Do vậy Spielberg còn là nhà sản xuất phim cho chính mình Điều này cho phép ông được toàn quyền tự do sáng tạo và chi phối mọi công đoạn trong quá trình sản xuất những bộ phim của mình; từ khâu lựa chọn

dự án, chọn đề tài, kịch bản, tuyển chọn diễn viên cho đến việc quyết định hình thức thể hiện của tác phẩm Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm về chủ nghĩa tác giả của Astruc, “Theo Astruc, sự can thiệp của đạo diễn trong tất cả các giai đoạn của qui trình (sản xuất phim) là một biểu hiện cho quyền tác giả dẫn đến việc xem xét quyền tự chủ ngôn ngữ màn hình đối với thực tế.” [21]

Nhà lý luận điện ảnh Warren Buckland đã đưa ra đánh giá về Spielberg như sau: “ giống như một số ít các đạo diễn Hollywood đương đại khác, Spielberg là một người auteur vì anh ta chiếm giữ các vị trí quan trọng trong

Trang 20

ngành (đạo diễn, nhà sản xuất, đồng sở hữu studio, người được cấp phép nhượng quyền)” [20, tr15]

Ngoài ra, sự nhìn nhận từ các nhà lý luận, nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh về tầm vóc của Spielberg còn dựa trên những đóng góp của ông đối với nền công nghiệp điện ảnh Hollywood nửa cuối thế kỷ XX

1.2.3 Sáng tạo của Steven Spielberg trong bối cảnh của nền công nghiệp Hollywood nửa cuối thế kỷ XX

Năm 1975 bộ phim Jaws (Hàm cá mập) do Steven Spielberg đạo diễn

sau khi công chiếu đã tạo ra một cơn chấn động về phòng vé, tạo kỷ lục về doanh thu Sự thành công của bộ phim đã mở ra một thời kỳ mới cho kỷ nguyên phim bom tấn mùa hè Hollywood, đây là bước ngoặc đã làm thay đổi vĩnh viễn cách thức sản xuất và phát hành phim của Hollywood Để có thể hiểu rõ hơn

về những đóng góp của Steven Spielberg cho nền công nghiệp điện ảnh Hollywood, chúng ta có thể điểm qua một vài sự kiện sau:

Vào những năm 1920, thời kỳ Hollywood cổ điển (1917 – 1960) có 8 hãng phim được thành lập ở Hollywood, với 5 trong số họ ( MGM, Warner Bros,

20th Century Fox, Paramount và RKO) sở hữu theo chiều dọc cơ sở sản xuất, phân phối và chiếu phim [20, tr7+8] Những hãng này đã tích hợp cả ba quy trình, từ sản xuất cho đến phát hành phim, tạo ra một quy trình khép kín Xét ở khía cạnh kinh doanh thì tích hợp theo chiều dọc sẽ tạo ra sự ổn định và phân tán rủi ro bằng cách đảm bảo thị trường cho các bộ phim Đây là lý do dẫn đến việc ngành công nghiệp điện ảnh Hollywood phải chịu hành động chống độc quyền (được gọi là vụ kiện chống độc quyền Paramount vào cuối những năm 1930), Sự kiểm soát độc quyền của các đại gia Hollywood đối với việc sản xuất

và phân phối phim đã cho phép họ thao túng về giá và hạn chế sự lựa chọn của khán giả Trên thực tế, vụ kiến chống độc quyền Paramount nhằm bảo vệ các doanh nghiệp phim nhỏ chống lại các hãng phim lớn, cho phép cạnh tranh thị

Trang 21

trường tự do hơn, và tăng sự lựa chọn của người tiêu dùng “Vào tháng 07 năm

1938, Phòng chống độc quyền của Bộ Tư Pháp Mỹ đã đệ đơn kiện, tuy nhiên các hãng phim và chính phủ đã không ký một nghị định đồng ý cho đến tháng

05 năm 1948” [20, tr 09] Sau đó, các hãng phim phải mất 10 năm nữa để thoái vốn khỏi các nhà hát của họ Từ lúc này, các hãng phim không còn được kinh doanh theo cách cũ nữa Thay vào đó họ phải bán phim của mình cho các rạp chiếu phim độc lập Vụ kiện cũng quy định rằng mỗi bộ phim phải được bán riêng Trước đây phim Hollywood cổ điển nhận được sự ổn định đến từ sản lượng thường xuyên của các bộ phim thông thường (giống như một nhà máy trong đó bán một số lượng sản phẩm ổn định quan trọng hơn sự độc đáo của các sản phẩm đó) Để cạnh tranh, từ nay mỗi bộ phim phải là một sản phẩm độc đáo, một sự kiện nổi bật để giới thiệu đến công chúng

Một lý do nữa dẫn đến sự suy sụp của các hãng phim Hollywood cổ điển

là bởi sự mở rộng theo cấp số nhân của truyền hình từ cuối những năm 1940 trở đi là nguyên nhân làm giảm đáng kể lượng khán giả đến rạp chiếu phim

Vào cuối những năm 1950, sản xuất truyền hình đã chuyển từ các chương trình phát sóng trực tiếp các bộ phim truyền hình và phát sóng trên toàn nước

Mỹ Hệ thống nhà máy sản xuất phim của Hollywood, trong khi phần lớn không còn sản xuất phim truyện đã được chuyển sang sản xuất truyền hình Đến năm

1960, 40% việc sản xuất truyền hình là được thực hiện bởi các hãng phim Hollywood [20, tr10] Truyền hình giờ đây đã đảm nhận vai trò giải trí đại chúng cho cả gia đình Theo thống kê số lượt người Mỹ xem phim giảm hẳn khoảng 1 tỷ vé mỗi năm Vào năm 1969, các công ty Hollywood hàng năm mất

đi 200 triệu đô la lợi nhuận, [3, tr588]

Những năm đầu thập kỷ 70 điện ảnh Mỹ đã chứng kiến sự nổi lên của ba

nhà đạo diễn: Coppola (với bộ phim The Godfather), Lucas (Star Wars và The

Empire Strikes Back) và Spielberg (Jaws và Close Encounters of the

Trang 22

ThirdKind) “Họ đã trở thành những nhà sản xuất phim đầy quyền lực và họ đã

định nghĩa lại cho những bộ phim của Hollywood mới” [5, tr261]

Năm 1975, bộ phim Jaws (Universal) của đạo diễn Steven Spielberg đã

tạo nên cơn chấn động phòng vé, bộ phim đã thu được 130 triệu đô la từ doanh thu nội địa [5, tr260]

Spielberg đã mang đến những phong cách hình ảnh độc đáo cho Jaws (phim này khi chiếu ở Việt Nam được gọi tên là Hàm Cá Mập), Spielberg đã tạo ra một loạt kỹ thuật mới khi tạo hình cho Jaws Ví dụ như ông sử dụng kỹ

xảo cơ khí với con cá mập được sử dụng trong phim, một số kỹ thuật quay theo hướng nhìn cũng khiến khán giả phải rùng mình, sợ hãi Nhiều cảnh quay được quay trong bóng tối kết hợp với việc sử dụng sương mù nhằm tạo ra những khung cảnh kỳ ảo, thể hiện mối đe dọa gây cấn trong phim Thủ pháp này sau

đó xuất hiện trong nhiều tác phẩm của Spielberg-như một phong cách riêng của ông Sự thành công của bộ phim chính là nguyên nhân để chúng ta có mùa phim

hè với hàng loạt phim bom tấn ngày nay Bộ phim cũng góp phần làm thay đổi hoàn toàn cách phát hành phim Trước những năm 1970, một bộ phim lần đầu tiên sẽ dược chiếu ở một số ít rạp chiếu phim ở các thành phố lớn, và sau đó dần dần phát hành ở các rạp chiếu nhỏ hơn từ các thành phố, đến vùng ngoại ô

trước khi đến các rạp chiếu phim ở các thị trấn vài tháng sau đó Jaws là phim

đầu tiên sử dụng phương cách khởi chiếu đồng loạt tại tất cả các rạp Nhờ vậy

mà khán giả mộ điệu có thể được xem phim cùng một thời điểm Cách thức phát hành đồng loạt này còn nhằm mục đích tránh việc khán giả đưa ra những bình luận không tốt về bộ phim

Từ mô hình sáng tác của Spielberg trong Jaws đã đặt ra quy chuẩn mới

cho một bộ phim bom tấn mùa hè Bao gồm một cốt truyện tuyến tính đơn giản, không phức tạp, được đầu tư bối cảnh hoành tráng, diễn viên hạng A, sử dụng

kỹ xảo hấp dẫn và phát hành phim đồng loạt Vì những sáng tạo mang tính tiên

Trang 23

phong của mình, Steven Spielberg do vậy đã được tôn vinh là cha đẻ của dòng phim bom tấn Hollywood

Kristin Thompson và David Bordwell trong “Lịch sử Điện Ảnh” (tập 2)

đã đánh giá vai trò của Spielberg đối với sự phát triển của Hollywood nửa cuối thế kỷ XX rằng đây chính là “ Kỷ nguyên mới của Spielberg – nhuốm màu tinh thần của ông, Spielberg đã trở thành người quảng cáo đáng tin cậy cho Hollywood mới” [5, tr263]

1.2.4 Thành tựu của Steven Spielberg

Trải qua hơn 50 năm lao động nghệ thuật hết mình, đạo diễn Steven Spielberg đã mang đến cho các khán giả mộ điệu nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao Điều đó thể hiện tài năng, sự sáng tạo và sức lao động nghệ thuật không mệt mỏi của ông cho điện ảnh Bộ sưu tập phim của ông bao gồm:

Amblin (1968) Filmways

Duel (1971) Universal Pictures/CIC

The Sugarland Express (1974) Universal Pictures

Jaws (1975) Universal Pictures

Close Encounter of the ThirdKind (1977) Columbia Pictures

1941 (1979) Universal Picture / Columbia Pictures

Raiders of the Lost Ark (1981) Paramount Pictures

E.T the Extra-Terrestrial (1982) Universal Pictures

Indiana Jones and the Temple of Doom (1984) Paramount Pictures

The Color Purple (1985) Warner Bros

Empire of the Sun (1987) Warner Bros

Always (1989) Universal Pictures/ United Artists

Indiana Jones and the Last Crusade (1989) Paramount Pictures

Hook (1991) TriStar Pictures

Trang 24

Jurassic Park (1993) Universal Picture

The Lost World: Jurassic Park (1997) Universal Pictures

Amistad (1997) Dreamworks Pictures

Saving Private Ryan (1998) Dreamworks Pictures/Paramount Pictures

A.I Artificial Intelligence (2002) Warner Bros/Dreamworks Pictures

Minitory Report (2002) 20th Century Fox / Dreamworks Pictures

Catch Me If You Can (2002) Dreamwork Picture

The Terminal (2004) DreamWorks Pictures

War of the Wordls (2005) Paramount Pictures/DreamWorks

Munich (2005) Universal Pictures/DreamWorks Pictures

Indiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull (2008) Paramount

Pictures

The Adventures of Tin Tin (2011) Paramount Pictures/Columbia

Pictures

War Horse (2011) Walt Disney Studio

Lincoln (2012) Walt Disney Studio/ 20th Century Fox

Bright of Spies (2012)

The Post (2017) 20th Century Fox

Ready Player One (2018) 20th Century Fox

Về thành tích thương mại Steven Spielberg đã đạo diễn 6 trong 25 phim có doanh thu cao nhất màn ảnh thế giới, [1, tr373]

Steven Spielberg đã được viện điện ảnh Mỹ (American film institure) đã trao giải thưởng cao quý nhất của điện ảnh Mỹ (giải Life Achievement Award)

vì thành tích và công lao đóng góp của ông cho sự nghiệp điện ảnh, [8, tr678] Steven Spielberg đã ba lần được vinh dự nhận giải Oscar danh giá Bao gồm

hai giải Oscar dành tặng cho đạo diễn xuất sắc nhất (phim Schindler’s List và

Trang 25

Saving Private Ryan) và một giải Oscar cho tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất

(Schindler’s List) vào các năm 1994 và 1998

1.3 Đề tài lịch sử trong sáng tác điện ảnh

1.3.1 Một số quan niệm về phim truyện đề tài lịch sử

Theo Phó giáo sư-Tiến sĩ Vũ Ngọc Thanh trong tác phẩm “Những dấu vết trên mặt đất” đã xác định có ba quan niệm về phim truyện lịch sử Bao gồm: Điện ảnh hóa lịch sử, lịch sử hóa điện ảnh và phim dựa theo tinh thần của lịch sử

 Quan niệm thứ nhất: Điện ảnh hóa lịch sử

Phim truyện về đề tài lịch sử dựa trên các sự kiện trọng đại của lịch sử, phản ánh mọi mặt của cuộc sống xã hội, từ những cuộc đấu tranh chính trị-xã hội của đất nước, truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, cho đến những thành tựu văn hóa-kinh tế của một quốc gia trong suốt hành trình lập quốc

Phim truyện lịch sử nhằm đề cao lòng tự tôn dân tộc, ca ngợi những tấm gương anh hùng đã góp phần bảo vệ, xây dựng quê hương đất nước Thông qua đó để tuyên truyền và giáo dục lòng yêu nước cho quần chúng nhân dân

 Quan niệm thứ hai: lịch sử hóa điện ảnh

Phim truyện lịch sử khai thác các sự kiện lịch sử từ nhiều góc độ Tập trung vào những bi kịch, góc khuất của lịch sử Trong đó phim ảnh đi sâu vào khai thác tâm lý, số phận của con người để từ đó mang đến những cảm nhận, những đánh giá và bài học mới về lịch sử

 Quan niệm thứ ba: Phim dựa theo tinh thần của lịch sử

Nhà làm phim mượn đề tài lịch sử để sáng tạo nên tác phẩm nhằm chuyển tải một thông điệp, nêu lên một quan điểm theo nhận thức chủ quan của mình

Với cách làm này, các tác giả có quyền hư cấu và sáng tạo thế giới nghệ thuật riêng để thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình

Như vậy để làm phim về đề tài lịch sử, các nhà làm phim đều phải bám vào hiện thực lịch sử để sáng tạo nên các tác phẩm Nhà làm phim có thể khai

Trang 26

thác đề tài và sự kiện lịch sử từ các nguồn chất liệu như: chính sử, công trình nghiên cứu khoa học lịch sử, từ các ghi chép lịch sử, các nhân chứng lịch sử cũng như từ nguồn phim ảnh tài liệu…

1.3.2 Những đặc điểm của phim truyện đề tài lịch sử

Phim truyện về lịch sử so với các thể loại phim khác luôn bị chi phối bởi chính trị, bởi các quan điểm khác nhau của từng cộng đồng, từng quốc gia về ý thức hệ.Một bộ phim về đề tài lịch sử sẽ truyền đạt đến cho khán giả những cảm xúc về những ký ức lịch sử, nhằm thỏa mãn những hiểu biết cho khán giả

về những sự kiện, con người đã từng xảy ra trong lịch sử Một bộ phim truyện

về đề tài lịch sử sẽ xây dựng nhân vật mang tính hư cấu để chuyển tải cái nhìn

Một bộ phim lịch sử luôn đòi hỏi tính chính xác về thời điểm lịch sử; Về văn hóa của từng quốc gia, dân tộc, vùng miền; Thể hiện qua tất cả các chi tiết xuất hiện trong phim Từ bối cảnh, phục trang, hóa trang, đạo cụ… Cho đến cả mẫu tóc của nhân vật xuất hiện trong cảnh phim cũng đều phải đáp ứng nhiệm

vụ trung tâm này Phim lịch sử do vậy, luôn đòi hỏi nguồn kinh phí lớn để sản xuất

Trang 27

1.3.3 Quan điểm sáng tác về đề tài lịch sử của Spielberg

Cho đến năm 1993, Schindler’s List đã ở trên bàn của Spielberg trong một

thập kỷ Lần đầu tiên ông đọc cuốn sách Schindler ark – tác phẩm đoạt giải Booked của tác giả Thomas Keneally vào năm 1982 Cuốn sách của Keneally

là một phiên bản mới lạ của một câu chuyện có thật: Làm thế nào một nhà công nghiệp Đức Quốc xã là Oskar Schindler lại liều mình để cứu được 1100 người

Do Thái khỏi các trại tập trung thời thế chiến thứ II Spielberg lúc đó, thậm chí

đã thốt lên: “Có thật không?” Spielberg nhớ lại: “Tôi bị cuốn hút bởi tính cách nghịch lý của nhân vật này” Ông nói: “điều gì đã xui khiến một người đàn ông đột nhiên mang tất cả những gì ông ấy kiếm được ra để cứu lấy những sinh

mạng này” [25 Tr424] Spielberg đã không cam kết sẽ thực hiện Schindler’s

List vào năm 1982 nhưng ông đã đề nghị Universal mua bản quyền để làm phim

năm đó

Spielberg vì lo sợ bản thân chưa đủ chín muồi để thực hiện bộ phim nên ông

đã mời các đạo diễn nổi tiếng khác như Roman Polanski, đạo diễn Martin Scorsese tham gia dự án Ông nói: “Tôi muốn làm phim này khi đã chín chắn” [8, tr686]

Quyết định thực hiện Schindler’s List của Spielberg được thúc đẩy hành

động bởi các sự kiện chính trị thế giới lúc đó: Báo cáo của CNN đưa tin hằng ngày về các trại tử thần kiểu Đức Quốc xã ở Bosnia, sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít mới sau khi bức tường Berlin sụp đổ và trên hết là các phương tiện

truyền thông đang dành nhiều bài viết cho những kẻ đã chối bỏ tội ác diệt chủng

người Do Thái ( Holocaust), những người tuyên bố rằng Holocaust không bao giờ xảy ra, rằng 6 triệu người Do Thái đã không bị giết hại Đây là luận điểm hoàn toàn bịa đặt mà Spielberg không bao giờ có thể chấp nhận

Spielberg vốn mang trong mình dòng máu Do Thái Hồi nhỏ ông đã từng nghe những câu chuyện về Holocaust do bà nội của mình kể lại Hành trình 10 năm

Trang 28

từ lúc phôi thai ý tưởng ban đầu cho đến khi bắt tay vào thực hiện bộ phim, đối với Spielberg là cả một quá trình hành xác đầy đau đớn Như ông từng thổ lộ:

“Đối mặt với cuộc sống cá nhân của tôi, giáo dục của tôi, sự Do Thái của tôi Những câu chuyện mà ông bà tôi thường kể về Shoah và cuộc đời Do Thái của tôi lại tràn vào tim tôi Tôi đã khóc suốt”, [25, tr414] Phải mất mười năm, một khoảng thời gian cần thiết để Spielberg có thể nuôi dưỡng cảm xúc và đạt đến

sự thấu hiểu về sự kiện lịch sử Holocaust, đây là nhu cầu nhận thức rất chân thực về lịch sử mà mỗi người nghệ sĩ phải đối diện với chính mình

Spielberg đã chấp nhận thách thức khi thực hiện Schindler’s List với kinh

phí gói gọn 22 triệu đô [25, tr435], [22] – Một con số khá khiêm tốn so với kinh phí các bộ phim Spielberg từng làm trước đây Spielberg đã đề nghị không nhận bất kỳ mức lương nào Ông gọi đấy là “tiền máu” [25, tr416] Điều này thể hiện

rõ ý thức trách nhiệm của Spielberg đối với lịch sử, đối với nghề nghiệp và trên

hết việc thực hiện Schindler’s List còn có ý nghĩa tìm về nguồn cội gia đình của

Spielberg, việc dàn dựng bộ phim chính là một trải nghiệm có tính thanh tẩy đối với ông Vì tất cả những lý do cá nhân này mà nhận thức chân thật lịch sử

chính là quan điểm sáng tác của Spielberg khi dàn dựng Schindler’s List và

Saving Private Ryan-hai tác phẩm điện ảnh cùng phản ánh về một giai đoạn

lịch sử thời chiến tranh thế giới thứ II

1.3.4 Ý đồ dàn dựng về đề tài lịch sử của Spielberg

Cảm hứng chân thật lịch sử đã chi phối nguyên tắc nghệ thuật trung thực

của Schindler’s List Trong suốt quá trình quay phim Spielberg luôn đòi hỏi về

tính chân thực trong dàn cảnh (mise-en-scene): từ thiết kế bối cảnh, phục trang, ánh sáng cho đến cả khâu lựa chọn diễn viên nhằm bảo đảm tiêu chí nghệ thuật

mà ông đã đề ra

Trang 29

Đoàn phim đã tổ chức quay phim tại phần lớn các địa điểm có thực trong lịch sử như đường phố, nhà máy tráng men, căn hộ của Schindler tại Krakow, trụ sở và nhà tù SS của thành phố, cổng và ga đường sắt của trại tử thần Auschwitz [25, tr 431] Nội thất của nhà máy tráng men thì được quay bên trong khu xưởng Olkusz tương tự [26, tr 109] Vì những thay đổi sau chiến tranh, vị trí của trại Plaszow hiện nay nhìn thấy những tòa nhà cao tầng nên Spielberg

đã quyết định xây dựng lại toàn bộ trại Plaszow theo đúng tỉ lệ thật của trại thời

đó tại một cái hố mở liền kề với vị trí ban đầu [25, tr 431] Đoàn phim không được phép quay rộng nền trại Auschwitz do Đại hội Do Thái Thế giới không ủng hộ vì sợ bị Hollywood hóa sự kiện Holocaust, do đó Spielberg đã quay với một bản sao trại này trước cổng trại thật [25, tr 431] “Bởi bối cảnh và việc dàn dựng bối cảnh có thể gợi lại một hiện thực lịch sử” [7, tr 119], như vậy có thể

thấy việc chọn bối cảnh quay phim cho Schindler’s List tại đúng nơi sự kiện đã

từng xảy ra trong lịch sử của Spieberg nhằm tái hiện không khí hiện thực của quá khứ, đem đến cho khán giả những trải nghiệm chân thực nhất Đây cũng là chủ ý nghệ thuật của ông khi quyết tâm chọn bãi biển Omaha-Pháp cho cuộc

đổ bộ D-Day xuất hiện trong đoạn đầu Saving Private Ryan năm năm sau đó

Nguyên tắc chân thật cũng chi phối Spielberg khi tuyển chọn diễn viên:

“Tôi muốn tiếp cận hiện thực, các diễn viên phải phù hơp với vai diễn” [12, tr 688] Ông đã từ chối những diễn viên nổi tiếng như Kevin Costner và Mel Gibson là những người bày tỏ mong muốn đảm nhiệm vai Schindler nhưng Spielberg đã quyết định chọn Liam Neeson một diễn viên chưa được biết đến nhiều thời ấy bởi ông sợ sức mạnh ngôi sao của diễn viên sẽ lấn át nhân vật [26, tr 86] Trong số 126 diễn viên có thoại trong phim, chỉ có một diễn viên đã thành danh là B Kingsley (vai kế toán Itzhak Stein), ngoài ra Spielberg còn tuyển các diễn viên người Israel và Ba Lan trong những vai diễn phù hợp Với

Trang 30

Saving Private Ryan, Spielberg thậm chí còn thuê cả 750 binh sĩ chuyên nghiệp

người Ireland để thể hiện đúng hình ảnh những người lính trong những cảnh chiến đấu [25, tr 464]

Trong quá trình quay phim và cả thời gian chuẩn bị trước đó, Spielberg luôn yêu cầu các diễn viên phải thể hiện vai diễn một cách chân thật nhất Với Liam Neeson, Spielberg đã mang băng thu âm lời nói của Schindler để anh luyện tập ngữ điệu của mình [26, tr 87], còn nhóm 8 người của Miller thì được Spielberg gởi đi luyện tập tại thao trường trong 1 khóa học 10 ngày trước khi

bộ phim bấm máy [27] Cũng từ nguyên tắc chân thật, Spielberg đã quyết định

sử dụng phim đen trắng để quay phim Ông nói: “Mỗi khi xem những cảnh phim màu về chiến tranh thế giới thứ 2, tôi thấy chúng như đã bị khử trùng và quá màu mè Tôi nghĩ màu đen trắng sẽ là sắc màu phù hợp với thời kỳ đó” [8,

tr 687] Spielberg chọn phim đen trắng là điều cần thiết bởi theo ông hầu hết các bộ phim tài liệu của thời kỳ Holocaust đều là phim đơn sắc Spielberg thậm chí đã chống lại và bỏ qua ý kiến đề xuất của hãng phim, khi chủ tịch Tom Pollock đề nghị Spielberg nên quay phiên bản màu sắc để phát hành cho thị trường video gia đình [25, tr 432] Điều này cho thấy chủ kiến nghệ thuật độc đáo và nghiêm túc của Spielberg khi lựa chọn chất liệu quay phim Một lý do

nữa dẫn đến việc Spielberg chọn định dạng đen trắng cho Schindler’s List là

bởi ông muốn tạo ra một bộ phim theo phong cách tài liệu của những năm 1940

Với Saving Private Ryan, ban đầu Spielberg cũng dự tính thực hiện bộ

phim với chất liệu đen trắng Tuy nhiên ông đã đổi ý, bởi ông không muốn lặp

lại chính mình sau thành công của Schindler’s List; và phần nữa từ những thước

phim tư liệu của quân đội Mỹ trong thế chiến thứ II cũng đã xuất hiện khá nhiều phim quay màu Điều đó đã ảnh hưởng đến quyết định của Spielberg khi quay

Saving Private Ryan bằng phương pháp sử dụng màu sắc không bão hòa (thực

Trang 31

tế là quá trình không tẩy trắng phim màu khi in tráng ngày nay) [25, tr 463], cách làm này nhằm đạt được chất lượng màu sắc phù hợp với chất lượng tiêu chuẩn của hình ảnh phim tư liệu chiến trường thời kỳ đó

Cũng như các thành tố quan trọng khác của mise-en-scene, phục trang

cũng được Spielberg đặc biệt quan tâm Đoàn phim Schindler’s List đã đăng báo tìm mua toàn bộ quần áo cũ của người Ba Lan thời ấy Với Saving Private

Ryan, nhà phục trang Joanna Johnston và nhóm của mình đã tự may 3000 bộ

quân phục theo nguyên mẫu [29]

Một đặc điểm chung trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng của Spielberg là các nhân vật của ông luôn có động cơ thúc đẩy hành động

rõ rệt và luôn chịu sự phân tranh của luân lý nội tâm Đó là những con người bình thường như bao người khác song khi gặp phải nghịch cảnh thì không ngại đương đầu, sẵn sàng xả thân cứu giúp người khác Họ là những con người anh hùng hay có tính cách anh hùng

Tuy nhiên, điểm độc đáo của Spielberg khi xây dựng nhân vật anh hùng

trong 2 bộ phim Schindler’s List và Saving Private Ryan là các nhân vật của

ông cũng có những khiếm khuyết nhất định Schindler là 1 anh hùng dám coi thường mạng sống và cơ nghiệp kinh doanh của bản thân để cứu giúp những công nhân Do Thái của mình, nhưng mặt tối trong con người Schindler vẫn được thể hiện rõ: anh ta là người không chung thủy với vợ, luôn xuất hiện cùng những cô gái và ly rươụ, thích làm ăn theo kiểu chợ đen; Công việc kinh doanh

mà anh ta có được là nhờ vào những buổi tiệc tùng, quà cáp đút lót cho các sĩ quan Đức

Với nhân vật Goeth, thay vì bằng lòng miêu tả một chiều về nhân vật phản diện tàn ác này thì Spielberg vẫn để cho Goeth có sự cuốn hút bởi nét đẹp của cô hầu gái Helen Hirsch

Trang 32

Trong cảnh quay giới thiệu về nhân vật chính (Miller) Spielberg đã để lại

ấn tượng sâu sắc về cách dàn dựng một bộ phim lịch sử - Một cái nhìn thật nghiêm túc về chiến tranh của ông Thông thường khi giới thiệu về nhân vật anh hùng, các tác giả thường đề cao khí chất của họ lên tận mây xanh; Rằng họ

là những người vốn sinh ra đã có sẵn dòng máu anh hùng, không hề biết đến cái sợ là gì Nhân vật anh hùng của Spielberg thì khác Qua cách nhìn nhận của Spielberg, các chi tiết như run tay hoặc nôn mửa của những người lính không

có nghĩa là yếu đuối Chúng là những chi tiết tả thực về con người, Spielberg muốn ca ngợi những người lính bằng cách phơi bày sự tàn nhẫn của cuộc chiến chứ không phải kiểu ảnh hùng của Hollywood Hoặc trong cảnh phim những người lính trẻ tán gẫu với nhau trong phút thảnh thơi hiếm hoi trước khi trận chiến tại Ramelle bắt đầu, những đánh giá của họ trong câu chuyện về phụ nữ

có phần khiếm nhã và thiếu nghiêm túc

1.4 Giới thiệu về các bộ phim được khảo sát

Cả hai bộ phim được khảo sát đều là những tác phẩm đương đại và không được phát hành chính thức tại Việt Nam Do vậy chưa có một cách gọi thống nhất cho những bộ phim này Để đảm bảo tính khoa học, người thực hiện đề xuất giữ nguyên tên gốc bằng tiếng Anh của tác phẩm trong luận văn Cách làm này nhằm tránh việc một tác phẩm có nhiều cách gọi khác nhau khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, gây khó khăn và nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu

1.4.1 Phim Schindler’s List

Schindler’s List dựa trên tiểu thuyết Schindler ark – Tác phẩm đoạt giải

Booked năm 1982 của nhà văn người Úc Thomas Keneally Bộ phim lấy bối cảnh năm 1939 sau khi Đức Quốc xã xâm lược Ba Lan Truyện phim xoay quanh nhân vật có thật là Oskar Schindler – Một doanh nhân người Đức gốc Tiệp Khắc đã đến Ba Lan làm ăn thời điểm Đức Quốc xã chiếm đóng nước này Tại đây, Schindler đã thành lập nhà máy sản xuất đồ tráng men để phục vụ cho

Trang 33

nhu cầu của quân đội Đức Công việc kinh doanh mà Schindler có được chủ yếu dựa vào mối quan hệ thân tình của ông với các sỹ quan Đức trong các bữa tiệc và dựa trên nguồn lao động với giá rẻ mạt của người Do Thái trong các trại tập trung

Trong quá trình phát triển kinh doanh, càng về sau, khi chứng kiến thảm cảnh của người Do Thái và tội ác giết người phi nhân tính của Đức Quốc xã, Oskar Schinlder đã dùng tất cả tài sản vốn liếng của mình để mua lại mạng sống của người Do Thái có trong danh sách của ông Danh sách của Schinlder cũng chính là danh sách của sự sống là vậy

Bộ phim Schindler’s List được trình bày theo trình tự tuyến tính về thời gian

Xét theo cấu trúc ba hồi của phim, các dấu mốc quan trọng là:

- Cảnh mở đầu: Sau khi Đức xâm chiếm Ba Lan, người Do Thái bị bắt buộc tập trung về Krakow, Schindler tìm cơ hội làm ăn

- Biến cố khởi đầu: Người Do Thái bị đuổi khỏi nhà và phải vào trong khu

ổ chuột

- Nút thắt kịch tính thứ 1: Lính Đức bắn chết một công nhân của Schindler trên đường đi làm Từ đây công nhân của nhà máy bắt đầu hoang mang, Schindler bắt đầu nhận ra sự khác biệt về tư tưởng của bản thân và Đảng quốc xã

- Nút thắt kịch tính thứ 2: Cuộc thanh trừng khu ổ chuột Krakow, Schindler nhìn thấy cô bé mặc áo khoác đỏ

- Cao trào: Thanh toán trại Plaszow và chuyển số tù nhân đến lò sát sinh Auschwitz Schindler nhìn thấy xác cô bé mặc áo đỏ, ông quyết định giải cứu những người công nhân Do Thái của mình bằng cách mua chuộc các

sĩ quan Đức

Trang 34

Schindler’s List được công chiếu lần đầu tiên tại New York, Los Angeles

và Toronto vào ngày 15/12/1993 và ngay lập tức bộ phim đã đón nhận nhiều lời khen ngợi từ các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu phê bình điện ảnh và giới truyền thông.Ký giả Terrence Rafferty viết trên tờ New Yorker: “ Đây là

bộ phim hay nhất, đầy kịch tính nhất từng được thực hiện về Holocaust Và rất

ít phim Mỹ kể từ thời kỳ phim câm đã có bất cứ điều gì tiếp cận với sự táo bạo

về kể chuyện, sự trực quan và cảm xúc trực tiếp của bức tranh này”,[25, Tr433]

Đạo diễn Billy Wilder đã đánh giá về Schindler’s List với những lời khen

ngợi như sau: “Họ không thể tìm được một người nào tốt hơn Bộ phim này là một sự hoàn hảo tuyệt đối”, [25, tr427]

Schindler’s List đã dành được tổng cộng 7 giải Oscar trong 12 đề cử tại liên

hoan phim Oscar lần thứ 66 Bao gồm các giải thưởng quan trọng bao gồm: Phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, giải quay phim, kịch bản chuyển thể xuất sắc, nhạc phim hay nhất, dựng phim và chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất

Trái với dự đoán của nhiều người và cả chính Spielberg Schindler’s List đã

thu về hơn 321,2 triệu đô la trên toàn thế giới, [25 Tr435] Đặc biệt tại Đức, bộ phim có đông người xem nhất trên thị trường quốc tế với hơn 5,8 triệu vé được bán ra Với phần đông là khán giả trẻ mua vé vào xem, và những hình ảnh trong phim đã khiến họ không thể tin được những gì cha ông họ có thể phạm phải

trong quá khứ Không chỉ có giá trị nghệ thuật cao, Schindler’s List còn mang

tính lịch sử Tác phẩm đã làm lay động lòng người bằng cách dũng cảm nhìn lại một trong những giai đoạn tang thương nhất của lịch sử nhân loại

Schindler’s List luôn có mặt trong danh sách tuyển chọn các bộ phim hay nhất

mọi thời đại

1.4.2 Phim Saving Private Ryan

Được sản xuất và phát hành năm 1998, Saving private Ryan là một bộ

phim lịch sử dựa trên câu chuyện có thật của 4 anh em nhà Sullivan và 3 anh

Trang 35

em nhà Frederick (Fritz) Niland đã hy sinh trong chiến đấu [25, tr 465-466] Phim lấy bối cảnh trong chiến tranh thế giới thứ II, bắt đầu bằng cuộc đổ bộ của lính Mỹ tấn công quân Đức trên bờ biển Normandy ngày 06/06/1944 Truyện phim kể kể về một đại đội biệt kích Mỹ do đại úy John H Miller (Tom Hanks) chỉ huy cùng 7 người lính đang cố gắng thực thi nhiệm vụ giải cứu một đồng đội của mình là binh nhì James Francis Ryan (Matt Damon) thuộc đội nhảy dù đang bị kẹt bên trong phòng tuyến của địch Lý do cấp trên để Ryan

về đoàn tụ với gia đình là bởi anh là người duy nhất trong số bốn anh em hiện còn sống sót sau khi ba người anh em ruột của mình đã lần lượt hy sinh trên chiến trường

Đội của đại úy Miller sau khi vượt qua một quãng đường dài chiến đấu

ác liệt nhiều trận tập kích và phải trả giá bằng mạng sống của hai đồng đội Cuối cùng họ đã tìm thấy được Ryan ở Ramelle Nhiệm vụ giải cứu đến đây xem như đã hoàn thành bởi họ chỉ việc cùng với Ryan đi ngược về tuyến sau vốn đã được quân Mỹ và Đồng minh tiến chiếm an toàn Nhưng, rắc rối lại xảy

ra, Ryan quyết định chống lệnh để ở lại cùng chiến đấu với các đồng đội của mình Miller và nhóm của ông đã quyết định ở lại cùng chiến đấu bảo vệ cây cầu giúp tiểu đội của Ryan

Phim Saving Private Ryan được Spielberg dàn dựng theo cấu trúc màn chứ

không theo cấu trúc 3 hồi thông thường Bao gồm:

- Màn 1: Cuộc đổ bộ của quân Mỹ lên bờ biển Normandy Một cuộc chiến

ác liệt, đơn vị do đại úy Miller dẫn đầu đã vượt qua được phòng tuyến địch

- Màn 2: Đại đội của Miller đi sâu vào hậu tuyến của quân Đức để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu binh nhì Ryan Họ đụng độ ác liệt với quân Đức tại ngôi làng và trạm radar

Trang 36

- Màn 3: Miller và đồng đội cùng chiến đấu với tiểu đội của Ryan để bảo

vệ cây cầu sau khi Ryan chống lệnh không trở về tuyến sau

Bộ phim được thực hiện với kinh phí 65 triệu đô và thu về từ phòng vé 479 triệu đô [25, tr 461] Bộ phim đã dành được 5 giải Oscar cho đạo diễn, quay phim, biên tập, âm thanh và hiệu ứng âm thanh xuất sắc nhất

Năm 2007 Saving private Ryan được xếp hạng 71 trong danh sách 100 phim

hay nhất của viện phim Mỹ

1.5 Khái niệm phong cách tài liệu:

Waren Buckland trong “Nghiên cứu phim” đã chỉ ra những giả thuyết thường thấy ở khán giả điện ảnh về phim tài liệu Theo đó cảm giác về một bộ phim tài liệu trong cảm nhận của khán giả sẽ bao gồm các đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Không có sự dàn dựng đối với các sự kiện được ghi hình

- Thứ hai: Phim tài liệu là hiện thực Thế giới được mô tả trong phim tài liệu có tính xác thực, không hư cấu

- Thứ ba: nhà sản xuất phim tài liệu chỉ quan sát và ghi chép lại mooetj cách khách quan các sự kiện có thật [6, tr246]

Tuy nhiên nhà làm phim tài liệu không chỉ quan sát và ghi chép một cách khách quan bởi họ đã có những lựa chọn về mặt kỹ thuật như: chọn góc máy, ống kính, cách dựng phim…

Như vậy có thể thấy sự lựa chọn và dựng phim là những điều cần thiết khi thực hiện một bộ phim Phong cách tài liệu của một bộ phim khi ấy chủ yếu dựa vào các lựa chọn do nhà làm phim thực hiện sẽ tác động thế nào đến các

sự kiện

Trang 37

CHƯƠNG 2: PHONG CÁCH TÀI LIỆU TRONG KẾT CẤU PHIM

Spielberg quyết định phong cách tài liệu cho tác phẩm Schindler’s List sau khi xem bộ phim tài liệu Shoah (1985) của đạo diễn người Pháp Claude

Lanzmann Bộ phim đã làm cho Spielberg thật sự ấn tượng Sự thành công

ngoài mong đợi của Schindler’s List (1993) đã tạo tiền đề để Spielberg tiếp tục phong cách này trong tác phẩm kế tiếp của mình, đó là bộ phim Saving private

Ryan (1998) được thực hiện 5 năm sau đó

David Bordwell và Kristin Thompson trong “Nghệ thuật điện ảnh” đã đưa ra nhận định về việc phân tích phong cách phim dựa trên 4 bước: Quyết định cấu trúc tổ chức phim, hệ thống hình thức tự sự và phi tự sự của nó; Nhận diện những kỹ thuật chủ chốt được sử dụng; Vạch ra những mô hình kỹ thuật trong một bộ phim hoàn chỉnh và đề xuất những chức năng cho kỹ thuật chủ chốt và mẫu hình mà chúng tạo nên [3, tr 472] Vậy đây sẽ là cơ sở để chúng tôi có thể đánh giá về phong cách phim của đạo diễn Spielberg được thể hiện trong 2 tác phẩm Schindler’s List và Saving Private Ryan

2.1 Không sử dụng kịch bản phác họa phân cảnh (Storyboard)

Steven Spielberg thường có thói quen sử dụng kịch bản phác họa phân cảnh Storyboard khi đạo diễn các bộ phim của mình Và, một điều khác thường của

ông khi dàn dựng Schindler’s List và Saving rivate Ryan đấy chính là việc đã

không sử dụng storyboard

Theo quyển sách từ vựng điện ảnh của nhóm tác giả Minh Tùng – Phương Lan – Vinh Sơn thì: “Storyboard là chuỗi tranh vẽ do đạo diễn chuẩn bị, phác thảo các cảnh quay dựa trên kịch bản văn học, mô tả ý đồ thể hiện bối cảnh, tạo hình nhân vật, góc máy… Trước khi khởi quay”,[16, tr126]

Từ lâu storyboard đã được xem là một công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ cho quá trình tiền sản xuất của một bộ phim Với storyboard, nhà sản xuất có thể ước tính chi phí chính xác và do đó phát triển ngân sách thực tế cho một bộ

Trang 38

phim Storyboard là một công cụ trực quan khả thi cho đội ngũ sáng tạo khi thực hiện các loại phim, từ phim hoạt hình; phim đa phương tiện; phim truyền hình dài tập cho đến các bộ phim truyện chiếu rạp Việc thực hiện storyboard

đã trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc trong quy trình sản xuất của những bộ phim bom tấn Hollywood

Đạo diễn sẽ sử dụng storyboard cho các cảnh quay: dàn cảnh với diễn viên, thiết lập máy quay và ánh sáng Thông qua storyboard, người đạo diễn có thể bàn bạc kỹ lưỡng với nhà quay phim để tìm ra phương án nên sử dụng loại máy quay gì, ống kính nào, chất lượng phim nào để phục vụ cho việc ghi hình quay phim Storyboard còn giúp làm rõ các phẩm chất sáng tạo độc đáo cho mỗi bộ phim, chẳng hạn như việc sử dụng khung hình trong bối cảnh tái tạo hiện thực ba chiều trên màn hình để phân định vị trí và góc nhìn của nhân vật

Từ đó chỉ ra góc máy quay cần thực hiện Storyboard cũng cung cấp ý đồ thể nghiệm của ánh sáng cho từng bối cảnh, khung hình chủ chốt Từ sự gợi ý này của storyboard các đạo diễn và nhà quay phim sẽ có thể quyết định việc thiết lập ánh sáng cho toàn thể bộ phim

Trong lịch sử sáng tác điện ảnh có rất nhiều đạo diễn quan tâm đến việc

sử dụng storyboard, có thể kể đến như: Sergei Eisenstein, Francois Truffaut, James Cameron Đạo diễn Hitchcock (vốn xuất thân là đạo diễn mỹ thuật cho phim), người có lẽ liên quan đến việc xây dựng cốt truyện nhiều hơn bất kỳ đạo diễn nào khác Ông sử dụng storyboard để tinh chỉnh tầm nhìn của mình và kiểm soát quá trình làm phim Đối với Hitchcock, sau khi thực hiện storyboard một bộ phim xem như đã hoàn tất Khi ra đến trường quay ông giao hoàn toàn cho trợ lý thực hiện đúng với những gì đã được thiết lập trong storyboard trước

đó

Trang 39

Spielberg cũng có thói quen sử dụng storyboard cho hầu hết các bộ phim

của mình Tuy nhiên, ông đã không thực hiện storyboard với phim Schindler’s

List (1993) và Saving Private Ryan (1998)

Schindler’s List là một câu chuyện thảm khốc về tâm lý xen lẫn cả nghịch

lý mà các tác giả cần hóa giải Làm sao để có thể lý giải nguồn cơn tội ác mà Đức quốc xã đã gây nên cho loài người Và, cũng chừng ấy rắc rối để có thể thuyết phục được khán giả về hành trình chuyển đổi đạo đức không tưởng của Schindler; từ chỗ là kẻ ăn chơi, hưởng lợi từ sức lao động với giá rẻ mạt của người Do Thái trở thành người cứu trợ cho họ Đó cũng là câu hỏi hóc búa đặt

ra cho Spielberg khi dàn dựng bộ phim

Vì câu chuyện của Schindler’s List quá bi thương, nằm ngoài sự hiểu biết

và hình dung của Spielberg nên có nhiều cảnh trong phim ông đã tái hiện lại theo lời kể của các nhân chứng Như cảnh những người phụ nữ bị đẩy vào buồng hơi ngạt Có cảnh phim, Spielberg thậm chí còn không dám nhìn vào monitor (màn hình kiểm soát cảnh quay dành cho đạo diễn), lúc quay cảnh những người Do Thái lớn tuổi bị buộc phải khỏa thân và chạy vòng tròn để quân y Đức quốc xã lựa chọn đưa đi Auschwitz Trong rất nhiều cảnh phim, khi dàn cảnh ông chỉ thiết lập cảnh quay ban đầu rồi truyền đạt cho các trợ lý cùng nhà quay phim thực hiện các cảnh quay còn lại Spielberg bình luận rằng ông thấy mình giống như một phóng viên hơn là một nhà làm phim “Thật khó cho tôi khi ở đó” Spielberg nói: “Tôi không thể nhìn vào nó, tôi phải đảo mắt

đi, tôi không thể nhìn” [25, tr433]

Tuy nhiên, việc không sử dụng storyboard của Spielberg đã khiến cho việc thực hành quay phim gặp nhiều trở ngại; bởi khi ấy sẽ thiếu đi những gợi

ý về bố cục khuôn hình, về góc độ máy quay cũng như thứ tự sắp xếp của các cảnh quay từ trước Khi ấy việc quay phim tại hiện trường sẽ hoàn toàn phải trông đợi vào sự ngẫu hứng của ê kíp, vào khả năng bắt chộp hình ảnh của nhà

Trang 40

quay phim Cách quay này của Schindler’s List cho thấy nó áp dụng y chang cách quay của một bộ phim tài liệu Năm năm sau, khi thực hiện bộ phim Saving

private Ryan, Spielberg cũng không sử dụng storyboard “Tôi không có

storyboard, không sự có hình dung trước.” [28, tr182] Điều này cho thấy cách quay phim theo kiểu tài liệu vẫn được Spielberg tiếp tục tin dùng “Tôi chỉ nghĩ rằng sẽ không tự nhiên lắm khi tôi thực hiện một cảnh có phương pháp trong việc quay cảnh phim trái ngược với cố gắng tìm hiểu xem tôi sẽ ở đâu nếu tôi

là một quay phim chiến trường” [25, tr 463], Spielberg nói

Đối với phim tài liệu, vì đối tượng quan sát luôn nằm ngoài sự hình dung của nhà làm phim nên việc bắt chộp được những khoảnh khắc của sự kiện và nhân vật là một đòi hỏi thường xuyên và đầy thách thức Vì không thể sắp xếp các yếu tố tạo hình theo mong đợi nên bố cục khuôn hình của phim tài liệu thường mang tính ngẫu hứng tự phát, khó đảm bảo được tính hoàn mỹ Điều

này lý giải vì sao khi xem phim Saving Private Ryan và Schindler’s List một

số khán giả sẽ cảm thấy không vừa lòng và khó chịu với những hình ảnh phim

có bố cục lệch, không cân bằng và hầu như bỏ qua tính đối xứng Thậm chí đôi lúc hình ảnh phim còn bị nhòe, mất nét trong các cảnh đàn áp khủng bố

(Schindler’s List) cũng như trong các cảnh chiến trận (Saving Private Ryan)

Tuy nhiên, những bố cục không cân bằng này ngoài việc thể hiện chính xác ý

đồ của đạo diễn, đó là chuyển tải sự lệch lạc và mất phương hướng của chiến tranh; nó còn nói lên rằng việc quay những khuôn hình không chỉn chu, thô ráp đích thực là hình thức quay phim ngẫu hứng, tự phát thường thấy trong các bộ phim tài liệu

Có thể thấy, vì Spielberg đã lựa chọn phong cách tài liệu cho tác phẩm của mình do đó ông đã không sử dụng storyboard Bởi, “việc vẽ kịch bản phác thảo phân cảnh (storyboard) sẽ hạn chế tính sáng tạo và ngẫu hứng bởi diện mạo và cấu trúc của phim đã được quyết định trước khi quay phim”, [6, tr 47]

Ngày đăng: 05/05/2020, 07:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w