Thơ Dư Thị Hoàn ngoài những bài mang đậm tính trữ tình, đôi khi bật lên những chi tiết tinh tế như bài Tan vỡ đã gây được sự quan tâm của giới văn chương trong đầu thập niên 90.. Thế nên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HỒNG HẠNH
CẤU TỨ VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
HÀ NỘI, 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HỒNG HẠNH
CẤU TỨ VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Đoàn Đức Phương
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn Thạc sĩ, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng
của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng nhờ sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Đoàn Đức Phương, người
đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong Khoa Văn học
và Phòng Sau đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.
Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Học viên thực hiện
Đặng Hồng Hạnh
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ THƠ DƯ THỊ HOÀN 5
1.1 Hành trình sáng tác của nhà thơ Dư Thị Hoàn 5
1.1.1 Cuộc đời của nhà thơ 5
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 15
1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn 24
1.2.1 Quan niệm thơ về cuộc sống 24
1.2.2 Quan niệm thơ về con người 25
CHƯƠNG 2: CẤU TỨ TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN 31
2.1 Giới thuyết về tứ thơ và cấu tứ trong thơ 31
2.1.1 Tứ thơ 31
2.1.2 Cấu tứ trong thơ 40
2.2 Loại hình tứ thơ Dư Thị Hoàn 46
2.2.1 Tứ thơ về tình yêu 46
2.2.2 Tứ thơ về tình cảm gia đình 53
2.2.3 Tứ thơ về thiên nhiên 59
2.2.4 Tứ thơ về quê hương đất nước 60
2.2.5 Tứ thơ triết lý nhân sinh 61
2.3 Nghệ thuật cấu tứ thơ Dư Thị Hoàn 64
2.3.1 Cấu tứ sự kiện – cảm xúc 64
Trang 52.3.2 Cấu tứ liên tưởng, hồi ức 66
2.3.3 Cấu tứ so sánh, đối chiếu 67
2.3.4 Cấu tứ khái quát, nâng cao 69
CHƯƠNG 3: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN……… 72
3.1 Khái luận về cái tôi trữ tình 72
3.1.1 Cái tôi từ góc độ triết học, tâm lý học, nghệ thuật 72
3.1.2 Khái niệm cái tôi trữ tình 75
3.2 Biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn 77
3.2.1 Cái tôi trữ tình trăn trở trước cuộc đời……….77
3.2.2 Cái tôi trữ tình chiêm nghiệm về lẽ sống……….82
3.3 Phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn…………84
3.3.1 Thể thơ 84
3.3.2 Ngôn ngữ thơ……… 86
3.3.3 Giọng điệu trữ tình……… 88
KẾT LUẬN 92 Tài liệu tham khảo
MỞ ĐẦU
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Nhà thơ Dư Thị Hoàn, tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tạiHải Phòng, gia đình gốc Hoa Bà còn là một dịch giả với bút danh NữLang Trung Tình cờ lạc chân vào thi ca, phẩm chất thi sĩ trong ngườiphụ nữ có tên thật Vương Oanh Nhi nhanh chóng định vị gương mặtthơ Dư Thị Hoàn giàu cá tính Trong không gian thơ Dư Thị Hoàn, mộtnỗi cô đơn ngột ngạt đã sinh ra những đối thoại thanh tĩnh, đắng cay
chất chồng, sẻ chia nồng nàn Có thể Dư Thị Hoàn là một phụ nữ bất
hạnh trong đời thường, nhưng bà lại là một nhà thơ may mắn trong thi
ca Bà xuất hiện đúng vào lúc không khí đổi mới của đất nước cho phépnhững tiếng nói khắc khoải và đau đớn được trình bày trên thi đàn mộtcách bình đẳng với những âm thanh vỗ về và xưng tụng giữ vai trò chủđạo trong sinh hoạt nghệ thuật Việt Nam suốt một thời gian dài Bà đã
in hai tập thơ: Lối nhỏ (1988) và Bài mẫu giáo sáng thế (1993).
Thơ Dư Thị Hoàn ngoài những bài mang đậm tính trữ tình, đôi khi bật
lên những chi tiết tinh tế (như bài Tan vỡ) đã gây được sự quan tâm của giới
văn chương trong đầu thập niên 90 Ngoài ra thơ của bà còn có nét suy tưkhắc khoải, và lặng lẽ, cùng những thi ảnh đẹp, rất riêng
Khảo sát thơ Dư Thị Hoàn khó lòng tìm ra đặc điểm từ vựng hoặc đặcđiểm cú pháp Ngay cả nhịp điệu và ngữ âm cũng giữ vai trò phụ trong thơ
bà Mỗi bài thơ của Dư Thị Hoàn phát triển như một dòng ý thức, mà sựphân tích tâm lý trở thành giá trị quyết định Nổi bật trong thơ Dư Thị Hoàn
là nghệ thuật cấu tứ độc đáo và cái tôi trữ tình giàu màu sắc thẩm mỹ Đócũng chính là đề tài được xác định cho luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
Trang 7"Dư Thị Hoàn là cây bút tiêu biểu trong giai đoạn đổi mới của văn học.Trong giai đoạn đó, người ta viết khá nhiều về thơ bà nhưng chủ yếu dướidạng nhận xét khái quát những đặc điểm cơ bản hoặc có tính giới thiệu, bìnhphẩm chứ chưa nghiên cứu một cách có hệ thống Bên cạnh đó, vẫn chưa cómột công trình nghiên cứu nào đề cập đến cái tôi trữ tình đầy triết lý, chiêmcảm cùng đời tư thế sự phức tạp trong thơ bà.”
Nói về nhà thơ phải kể đến những công trình, bài nghiên cứu có tính chấtkhái lược về thơ bà, tiêu biểu là các tác giả: Bùi Công Hùng, Hồ Thế Hà,Lưu Khánh Thơ “Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất quan điểm thơthời kỳ Đổi mới hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá nhân,
cá tính trong thơ bà.” Bà tâm sự: “Thơ đến với tôi cùng lúc với những hoạnnạn mới mẻ và sâu sắc thì đúng hơn Nó chấn động cuộc sống của tôi đếnmức quá tải Tôi còn chịu đựng được có nghĩa là tôi còn cơ hội để tìm hiểutôi, giống và khác một con người ở chỗ nào? Tôi muốn mã hoá những cuộctìm kiếm ấy Rút cuộc, tìm kiếm lại dẫn tôi đến với những bất ngờ liên tiếpchứ không phải đáp số Khi nào tôi gặp được đáp số thì có lẽ thoát đượcnghiệp chướng văn thơ.” [13]
Theo Bùi Công Hùng: “Dư Thị Hoàn thể hiện tâm tình của một người
phụ nữ người Việt gốc Hoa trong Lối nhỏ” [14; tr.294] Với Lưu Khánh Thơ
“Bài Tan vỡ của Dư Thị Hoàn cũng đã hơn một lần bị lên án nhắc nhở “Đếnnay, khía cạnh này được nhìn nhận đúng mức hơn Có lẽ một phần do cáchbiểu hiện của từng nhà thơ, phần nữa là do tâm lý và thị hiếu của người đọcngày càng đa dạng và hiện đại hơn” [22; tr.20]
Hồ Thế Hà cho rằng: “Với tấm lòng bao dung, nhân ái, Dư Thị Hoàn đãgây được thiện cảm ở người đọc “Thơ chị không cầu kỳ, kênh kiệu hoặclàm dáng trong câu chữ một cách trống rỗng mà đó là sự lựa chọn nghệ thuật
Trang 8xuất phát từ thực tế, suy tư của chính mình và những người thân một cáchchân tình Và vì vậy, nó giản dị, gần gũi với đời thường Chính sức mạnh của
ý tứ, của vẻ đẹp tâm hồn đã giúp cho thơ chị bỏ qua một số quan hệ: vầnđiệu, tiết tấu để đến thẳng với độc giả bằng một chiều sâu suy nghĩ, liêntưởng mới mẻ” [9; tr.78]
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng luận văn hướng đến nghiên cứu là cấu tứ và cái tôi trữ tìnhtrong thơ Dư Thị Hoàn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là hành trình sáng tác và quan niệmnghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn, các loại tứ thơ, các kiểu cấu tứ và cácphương diện biểu hiện, nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư ThịHoàn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tập thơ tiêu biểu của nhà thơ Dư
Thị Hoàn như Lối nhỏ, Bài mẫu giáo sáng thế và các bài thơ khác in rải rác
trên các báo, tạp chí
4 Phương pháp nghiên cứu
"Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận tâm lýhọc nghệ thuật và thi pháp học để định hướng nghiên cứu; áp dụng phươngpháp liên ngành, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phươngpháp so sánh, để hình dung được những nét đặc sắc về cảm quan tư duynghệ thuật cũng như thấy được phần đóng góp của nhà thơ.”
“Phương pháp hệ thống: trong nghiên cứu khoa học, tri thức về đối tượngmuốn có giá trị bao giờ cũng mang tính cụ thể và tính hệ thống Phươngpháp này giúp những đối tượng, những vấn đề khảo sát được chúng tôi đặttrong tương quan hệ thống, trong quy luật tác động lẫn nhau giữa quan niệm,
tư tưởng, phương pháp cùng phong cách sáng tạo của nhà thơ; đồng thời xác
Trang 9định vị trí của tác giả, tác phẩm trong sự phát triển chung của nền văn họchiện đại Việt Nam.”
Phương pháp thống kê: đối với từng thành tố trong chỉnh thể, khi cầnthiết, luận án thực hiện phân loại, thống kê qua các con số cụ thể
“Phương pháp so sánh: để khẳng định những điểm nổi bật, độc đáo trongquan niệm nghệ thuật cũng như thành tựu sáng tạo thơ của tác giả Dư ThịHoàn, luận án vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu trên cả hai chiều lịchđại và đồng đại.”
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: luận án áp dụng phương pháp này vìtác giả và tác phẩm luôn là sự kết hợp chặt chẽ của nhiều yếu tố: lịch sử, vănhóa, xã hội, ; nếu tách rời các yếu tố này và chỉ nghiên cứu dựa trên vănbản văn học thì sẽ không tìm ra được diện mạo và tính chất thực sự của tácgiả và tác phẩm ấy
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được cấu trúc với ba chương:
"Chương 1 Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ DưThị Hoàn”
"Chương 2 Cấu tứ trong thơ Dư Thị Hoàn”
"Chương 3 Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn”
Chương 1
Trang 10HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA NHÀ THƠ DƯ THỊ HOÀN
1.1 Hành trình sáng tác của Dư Thị Hoàn
1.1.1 Cuộc đời của nhà thơ
Dư Thị Hoàn tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tại Hải Phòng,quê gốc ở Trung Quốc Dư Thị Hoàn là một cá nhân điển hình cho thân phậnbên lề, đứng ngoài đám đông (bị đuổi khỏi đám đông) Dư Thị Hoàn là ai?Câu hỏi giúp xác lập một căn tính chủ thể nhưng lại buộc đối diện với việcphải “khai quật một con người đã chết” như lời Vương Oanh Nhi thú nhận
“Hoàn” thực ra là cách đảo tự của “Oanh” Dư Thị Hoàn là “cái Oanh thừa”.Tại sao lại là cái Oanh thừa? Phải chăng đó là mặc cảm tự ti về thân phậnthấp kém, bị gạt ra khỏi đám đông Cái Oanh thừa còn phản ánh tình trạng bịmất tên, sự vô nghĩa của đời sống Sự vô nghĩa đến từ tâm trạng thất vọngtrước thực tại bị phản bội: “Họ cảm thấy bị giảm giá trị và tự trách mình vềmọi chuyện Nhưng những sự buộc tội đó thực sự nhắm vào một ngườikhác”[13] Hiển nhiên, tâm lý này đồng thời ngầm chứa một tình yêu đối vớichính bản thân họ, lý giải cho những u buồn, tuyệt vọng, chán chường, giận
dữ, lo âu,… đang âm ỉ trong sâu thẳm của vô thức Tuy vậy, ít người biết từcâu chuyện của Vương Oanh Nhi, Dư Thị Hoàn còn có nghĩa là “có đủ (dư)sức để hoàn thành” Thế nên, ngay trong cái tên ấy đã diễn ra sự giao tranhgiữa mặc cảm vô nghĩa, thân phận bị gạt bỏ và ý chí khẳng định năng lựcsống và vươn lên của người phụ nữ trong chính hoàn cảnh sống ngặt nghèo
mà chị phải nếm trải Sinh năm 1947, trong gia đình họ Vương, gốc Hoa,Vương Oanh Nhi đã có tuổi thơ trong nhung lụa của một gia đình quý tộc
Cha của Vương Oanh Nhi là chủ bút của Tạp chí Cương Phong - tạp chí hải
Trang 11ngoại duy nhất của Trung Hoa ở Đông Nam Á đóng trên địa bàn Hải Phòng.Trong ký ức của Vương Oanh Nhi, người Tàu và người Tây ở Hải Phòngtrước 1955 là những cộng đồng sống sang trọng và đủ đầy hơn người bản xứ
rất nhiều Gia đình sống trong khu xưởng in, tòa soạn của tạp chí Cương
Phong, Nhi được chăm bẵm và cưng chiều Ký ức xưa cũ của người đàn bà
quý phái vẫn không phai hình ảnh những đứa trẻ nhà họ Vương luôn đượcnâng niu chuyền từ tay người này sang tay người khác Lên 7 tuổi (1955),Hải Phòng được tiếp quản Chính sách đối với Hoa Kiều của nhà nước đãloại bỏ những đặc ân của họ Gia đình họ Vương dần sa sút Cuộc sốngnhung lụa chỉ còn là những tiếc nuối xa xôi Người mẹ quý tộc của Nhi phảibươn chải bằng nghề đan len để kiếm sống Gia sản thất tán, Vương OanhNhi đến trường bằng đôi chân trần, lấm láp và nứt nẻ. Trường Kiều Trungchứng kiến những năm tháng học hành vừa vất vả, vừa đầy cố gắng của Nhi
Ở đó, có một cô gái nhỏ bị kỳ thị như chính số phận Hoa kiều và cũng ở đóchứng kiến sự nỗ lực để vươn lên của Nhi Học hết trung học hệ 10 năm,Vương Oanh Nhi thi đại học đạt điểm cao nhất (18 điểm), nhưng lý lịchngười Hoa không cho Nhi đến trường dù Nhi đã âm thầm chuẩn bị hànhtrang cho những tháng năm ở giảng đường Không được đi học, Nhi xin làmcông nhân, một hành động chủ động cải tạo mình để trở thành giai cấp vôsản mong sẽ được chiếu cố Ngay cả hành động này, Vương Oanh Nhi cũngrất nhiệt thành với niềm tin xây dựng Việt Nam như là quê hương, Tổ quốccủa mình Trở thành công nhân xưởng đóng tàu, đứng máy tiện, VươngOanh Nhi là một người thợ lành nghề, được tuyên dương, sản phẩm đượctriển lãm Nhi được đi học hàm thụ Sau sự kiện chiến tranh biên giới Việt -Trung (1979), làn sóng bài Hoa đã đẩy Vương Oanh Nhi và gia đình vàocảnh sống ngặt nghèo, gieo neo Người đàn bà Hoa thôi không được làm
Trang 12công nhân nữa, chị chuyển sang buôn thúng, bán mẹt, chạy chợ, dệt len, cọrửa nhà vệ sinh, thông cống, làm đủ nghề để nuôi con, nuôi gia đình tronghoàn cảnh người chồng - nhà thơ Trịnh Hoài Giang, bị ảnh hưởng tâm lý bàiHoa cũng xa lánh vợ Những ngày tháng khó khăn đó, Vương Oanh Nhi bịstress nặng, đến mức phải đưa vào nhà thương điên và liên tục phải dùngthuốc ngủ, thuốc an thần, những viên thuốc nhằm kiềm chế cơn điên củaVương Oanh Nhi Cái tên Dư Thị Hoàn có lẽ ra đời trong bối cảnh ấy Dùsao, vẫn thôi thúc không nguôi trong chị ý chí vượt lên để hoàn thành tất cảnhững công việc mà một người phụ nữ, người vợ, người mẹ thấy cần phảilàm Hơn hết, nhiệm vụ làm một con người đúng như mình mong muốn đãgiúp Vương Oanh Nhi đứng vững, thành đạt, đến mức ở đất Cảng lúc ấyngười ta truyền tai nhau về địa vị của chị: nhất Lự nhì Nhi Từ cuộc sốngbuôn thúng bán bưng, chạy chợ, Vương Oanh Nhi trở thành đại diện của 14doanh nghiệp Hồng Kông, Đài Loan nhập cảnh và quá cảnh hàng hóa quacảng Hải Phòng Cùng với việc kinh doanh, Vương Oanh Nhi sáng tác vănnghệ, trở thành Trưởng chi hội thơ, Hội phó Hội Văn nghệ Hải Phòng, Uỷviên BCH Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng Dưới thời của DưThị Hoàn, có những hoạt động văn nghệ chưa từng có đã diễn ra Điều này
càng cho thấy Dư Thị Hoàn mang nghĩa là dư sức hoàn thành công việc hơn
là cái Oanh thừa như chị đã tự nhận Vương Oanh Nhi muốn làm được tất cả
những gì mà mọi người có thể làm, một người đàn bà có thể làm (ngay cả làlàm thơ, làm cán bộ, làm nhà quản lý kinh tế,…) Ý thức rất cao về giới,nhưng không phải là giới nữ - nữ tính như những diễn ngôn về điều đó ápđặt Với chị, người đàn bà trước hết là một con người và cuộc sống mà conngười ấy đang trải qua cần phải được thực hiện bằng ý chí, sức mạnh tối đa,không bị ràng buộc bởi quy ước giới tính tiên nghiệm nào Dẫu tự nhận
Trang 13mình là người đàn bà khác thường, nhưng, điều chúng ta có thể thấy, đó làngười phụ nữ đẹp, giàu nghị lực và cá tính.
Người đầu tiên phát hiện ra Dư Thị Hoàn là nhà thơ Trinh Đường Ông
lặng lẽ ghi chép, sau đó gửi tới nhà thơ Trần Ninh Hồ Báo Văn Nghệ phá
luật, cho in liền một lúc 3 bài trình làng Hồi đó là thời kỳ bắt đầu đổi mới,
Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài được in những tác phẩm
đầu tay lên báo Văn Nghệ Ba tác giả trên được GS Nguyễn Đăng Mạnh tổ
chức hội thảo “Thời sự văn học” năm 1989 tại Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội Khi Dư Thị Hoàn lên đọc bài thơ Số phận thay cho lời phát biểu, cử tọa
vô cùng xúc động - chị phải ba lần đứng dậy chào đáp lễ bởi tiếng vỗ taykhông ngớt Có buổi đọc thơ ở Trường Đại học Tổng hợp, sinh viên khócnức nở Đó là những kỷ niệm trong đời thơ mà không bao giờ Dư Thị Hoànngờ tới [13]
Từ khi nhân loại biết suy tư và có chữ viết, các tư tưởng gia, triết gia đãtìm cách định nghĩa thơ; rồi, bao giờ họ cũng bất lực trước bí ẩn của thơ.Thế hệ đi tới lại có nỗ lực mới, khác Không ít người coi thơ là cõi thiêng kẻphàm không thể đụng tới, bên cạnh đó lại có người thẳng thừng từ chối thơ,xem thơ như loài ký sinh vô dụng với nỗi có mặt vô ích của nó Dẫu sao đinữa, thơ cứ tồn tại, ở bất kỳ đâu, dân tộc hay thời đại nào Như thể nó làthuộc tính của con người, không dứt ra được
Trước Dư Thị Hoàn, đã có những nhà thơ nữ có tên tuổi Điều đó buộcchị phải chọn một lối thơ khác để khỏi bị chìm ngập sau họ Đó là luậtnghiệt ngã của sáng tạo Chị đã chọn cho mình một lối đi riêng và bài thơ
Lối nhỏ là một tuyên ngôn về thơ, về cuộc đời, được chọn làm đề từ và làm
tên chung của cả tập Cuộc đời có muôn ngàn lối, đường đến với tình yêu,với nghệ thuật cũng vậy Mỗi người phải tự tìm cho mình một con đường để
Trang 14đi đến đích Dư Thị Hoàn đã chọn cho mình một “Lối nhỏ” lặng lẽ và quyếtliệt Chị xuất hiện trước độc giả với gương mặt thơ mới lạ, vừa có nét kiêu
sa, vừa thân thuộc, gần gũi
Có thể Dư Thị Hoàn là một phụ nữ bất hạnh trong đời thường, nhưng chị
lại là một nhà thơ may mắn Tập thơ đầu tay Lối nhỏ in năm 1988 của chị
được vun đắp bởi Hội Văn nghệ Hải Phòng thời những nhà thơ đất Cảng cònnguyên sự trân trọng đối với thơ Sự trân trọng ấy thể hiện ngay ở “Lời giớithiệu” mà sau gần một phần tư thế kỷ hoặc lâu hơn nữa, khi muốn hiểu về
Dư Thị Hoàn vẫn có thể tin cậy trích dẫn: “Cặp mắt mở to, có phần ngơngác, thiếu phụ gầy nhỏ này là người Việt gốc Hoa Còn các con của chị thì
mang một dòng họ Việt Ấn tượng về tập thơ Lối nhỏ này là ít có những câu
thơ đứng tách độc lập dễ nhớ Đây là điểm khác lạ của thơ Dư Thị Hoàn, đặttrong sự vận động, phát triển của thơ Việt Nam nói chung” [11]
Con người ấy rất ý tứ, cẩn trọng trong hình thức Vậy mà vẫn không giấunổi những nét trễ nải, lo âu dù rất khó nhận thấy Có khi chỉ là ở một khoảng
mơ hồ trên trán, có khi là ở chiếc khăn vừa tuột khỏi vai Ai biết được rằng
đó là dấu vết mệt mỏi sau những dằn vặt với thi ca hay những vật vã, tảo tầntrong cuộc mưu sinh thường nhật Lúc bà 41 tuổi mới bước vào làng thơbằng một “Lối nhỏ”, Dư Thị Hoàn dường như không có ý định làm thơ nhưmột sự chọn lựa sinh tồn, mà thơ đến với chị như sự bù đắp những nghiêng
ngả mệnh kiếp long đong Bài Mười năm tiếng khóc ít nhiều cho thấy thơ
Dư Thị Hoàn khởi đi từ ngăn cách trái ngang:
Sao mẹ không nói cho rõ
M con mình r i m i ng ẹ ồ ỗ ườ i m t ng ộ ả
Để con đượ c lao vào lòng m ẹ
Khóc cho h t h i ế ơ
Trang 15Khóc cho tr i s p ờ ậ
Khóc cho c t i n ộ đ ệ đổ
Khóc cho tà v t trôi ẹ
Khóc cho còi tàu c m b t ă ặ
Khóc cho tay lái r i vô l ng ờ ă
Khóc cho oàn tàu không dám l n bánh… đ ă
Và chị thảng thốt gọi Tổ quốc với tất cả giằng xé của người đàn bà chịu
đựng đớn đau về quan niệm rạch ròi nơi cội rễ và nơi sinh thành trong mộtkhoảnh khắc lịch sử trớ trêu:
Đất đai đóng khung vì người
Tình yêu chật hẹp vì người
Những lúc người thành cái chiêu bài, của hạng buôn máu tươi
và thuốc nổ
Đường viền của người thắt quặn trái tim tôi.
Chính bi kịch cá nhân đã giúp Dư Thị Hoàn nhận ra trên trần gian ngỡyên ả này vẫn còn lắm con người bị trôi dạt bởi phân biệt đối xử, bởi trù dập
nhẫn tâm, bởi đố kỵ nghiệt ngã, và chị quyết định Khi cầm bút có một thái
độ rõ ràng:
Tôi mong được làm điểm tựa
Chống chọi sức đè nén
Cho đòn bẩy nhấc bổng cuộc đời những người xấu số.
Thơ Dư Thị Hoàn ám ảnh người đọc bởi lối suy tưởng, triết lý độc đáo,
tạo nên những bất ngờ Bài thơ Đi lễ chùa là một minh chứng.
"Năm người đàn bà cùng ngồi trên xe ngựa"
"Tay khư khư ôm đầy vật tế lễ"
"Người thứ nhất thở dài: "
Trang 16- "Tội nghiệp nhất người đàn bà không chồng"
"Người thứ hai chép miệng: "
- "Vô phúc nhất người đàn bà không con"
"Người thứ ba cười buông: "
- "Bất hạnh nhất người đàn bà không khóc nổi trước mặt chồng"
"Người thứ tư điềm đạm: "
- "Tuyệt vọng nhất người đàn bà không cười được khi thấy con"
Người thứ năm:
- Mô phật!
Lão xà ích giật dây cương
Roi quất
Tung bụi đường.
Năm người đàn bà đi lễ chùa là năm số phận Người nào cũng có nhữngnỗi niềm riêng, nỗi đau riêng của thân phận đàn bà Đọc bài thơ ta như tìm
về sự an ủi, nhẹ nhõm hơn trước cuộc đời vốn thăng trầm và đầy biến động
Nhưng có lẽ người đàn bà thứ năm là “tội nghiệp nhất”, “vô phúc nhất”,
“bất hạnh nhất” và “tuyệt vọng nhất” Khi nỗi đau lên đến tột cùng, người
đàn bà thứ năm không than thở điều gì, và cũng chẳng biết than thở cùng ai,
than thở thế nào Thôi thì hãy tìm về cõi Thiền và chỉ nói Mô Phật! Tìm đến
cõi Phật để rũ bỏ mọi muộn phiền của đời sống trần tục, để nương tựa vàbình tâm sau những tai ương, mất mát, nạn kiếp của cuộc đời Thế nhưngliệu đó có phải là giải pháp tối ưu?
Thơ Dư Thị Hoàn dữ dội? Đúng! Thơ Dư Thị Hoàn ngổn ngang? Cũng
đúng! Thế nhưng, cộng tập thơ Lối nhỏ và tập thơ Bài mẫu giáo sáng thế do
Nxb Hội Nhà văn in năm 1998, thì giới yêu thơ rút ra được một điều tươngđối lý thú: mỗi bài thơ của Dư Thị Hoàn đều mang sứ mệnh như một vệ sĩ
Trang 17tận tụy đứng canh chừng một số phận bấp bênh Sự va đập trực diện với đờithường khiến mọi uyển ngữ hay nhã ngữ không có chỗ phô trương trong thơchị Tuy nhiên, Dư Thị Hoàn biết cách tạo ám ảnh bất ngờ từ những đưa đẩy
nho nhỏ Bốn cặp đối đáp vừa xuê xoa vừa lắt léo đem cho bài thơ Thôn quả
phụ một vẻ đẹp mong manh:
Cho anh tiễn em tới gốc cây đa
Thôi, xin cám ơn
Cho anh tiễn em qua chân cầu gỗ
Thôi Em cám ơn lần nữa
Anh chỉ tiễn em đến ngôi chùa đổ
Thôi mà… khi khác… em xin
Thế thì cho anh địa chỉ
Kia kìa, đằng sau cơn mưa
Chỉ cần câu thơ cuối cùng đã biến mọi lời đãi bôi trở thành một bài thơrạng rỡ Không thể nào phủ nhận “đằng sau cơn mưa” là một ký hiệu thẩm
mỹ Nơi vời vợi ấy có thể có ngôi nhà hiện hữu, nhưng có thể chỉ là mịt mùnước mắt, có thể chỉ là hắt hiu chờ đợi, có thể chỉ là vô vọng ngóng trông
Không thể nói khác hơn, Thôn quả phụ là trường hợp bài thơ không cần câu
thơ nào, mà dựa vào một ký hiệu thẩm mỹ
Thơ Dư Thị Hoàn xa lạ với những chú giải thuần túy Trong sự khốc liệt
có sự yếu đuối, trong sự nghẹn ngào có sự bao dung Bên cạnh những bàithơ có vẻ tùy hứng, Dư Thị Hoàn cũng có không ít bài thơ chứng tỏ sự quan
tâm đến kỹ thuật viết, như bài Đêm tân hôn gồm bảy câu:
Em như con tàu gặp bão
Rừng san hô đáy biển
Chưa kịp buông neo
Trang 18Chưa kịp buông neo
Rừng san hô đáy biển
Em như con tàu gặp bão
Đêm tân hôn
Nếu gắn cả tên bài thơ vào toàn bài, thì Đêm tân hôn có bốn câu thơ được thay đổi thứ tự xuôi ngược Ở góc độ thi học cấu trúc, Đêm tân hôn khai thác
triệt để yếu tố chuyển dịch hình thức của một văn bản thơ Tâm tình củanhân vật quay tròn theo câu thơ như đất trời mùa ân ái tít mù xoay chăng?
Với Đêm tân hôn, hình thức trợ lực cho nội dung diễn đạt trọn vẹn ý tình của
bài thơ
"Trong con người Dư Thị Hoàn, đôi lúc người đọc thấy có gì không yên
ổn Mọi thứ như đổ vỡ, biến dạng Và những câu thơ như không giấu đượccái tâm trạng bất an đó.”
Tất cả đều biến dạng
Méo mó
Mọi người đều hóa hình quái gở
Người ta tung tiền vào đây
Trang 19"Dường như Dư Thị Hoàn thấy cả cái thế giới quanh mình là một cái nhàcười, mà chị không chấp nhận Mà thực ra, nếu cái thế giới hỗn độn này vốn
nó là cái nhà cười, thì cần thiết là con người phải thích nghi với nó Nhưngchị không chịu thế Chị bỏ nơi đất Cảng, để tới nơi không phải bên hồ nướcxanh ngăn ngắt thở than, không phải giữa thung lũng đầy hoa mộng mơ,không phải nếp nhà yểu điệu bên con dốc phố thị vồng vềnh lên xuống, màchị chọn vạt đồi cô liêu bên kia con suối, cách xa phố phường Đà Lạt, làmcăn nhà gỗ nho nhỏ để trú ngụ Rõ ràng, thái độ trữ tình của thơ Dư ThịHoàn không hẳn để thuyết phục độc giả, mà mở ra cho họ cơ hội dự phầnlặng lẽ và thân thiện.”
"Chị chọn nơi u tịch, cô liêu để sống Khước từ mọi tiện nghi vật chất,khước từ thế giới văn minh, khước từ đám đông ồn ào vốn hay tranh giành
và khoe mẽ, chị chọn chốn hoang vắng để lập am nhỏ tu thân Người takhông hình dung nổi những đêm mưa giông, nếp nhà gỗ nhỏ bé và cánh cửa
hờ hững gió đập tơi bời, một thân một mình, chị trú ngụ ra sao? Con đườngdẫn lên nếp nhà cheo leo lưng chừng đồi, lại phải băng qua con suối Mùamưa, nước nguồn đổ về, con suối gào thét từng cuốn đi chiếc cầu gỗ bắctạm.”
"Mùa khô, nước suối cạn, có khi cả tuần không có nước sinh hoạt Chịbình thản ngồi thiền trong không gian tâm linh nhỏ bé Có thể hình dung chịhạnh phúc khi ngắm giọt sương còn đọng trên cành cây ban sớm Hoặc mànđêm buông, tiếng côn trùng tấu lên bản nhạc hoang dại, mê man Nhữngngôi sao trên bầu trời lấp lánh, như gần tay hái được.”
"Hạnh phúc là những gì mình mong muốn và có được Chị sống bình tâm
ở mảnh đất heo hút này đã gần chín năm, có phải vì những cơn cớ đó chăng?Chị lựa chọn hay số phận đưa đẩy? Người phụ nữ đoan trang và quen chăm
Trang 20chút hình thức từng chi tiết, nay ưa vận quần áo gụ như quần áo nhà chùa, tựxưng Lão Bà Bà Ấy là tự xưng, như thể tự an ủi mình.”
"Nhưng thực sự chị trốn chạy đám đông, để lên núi ở một mình, như đã
nhập vào tâm thức Dư Thị Hoàn tự lâu rồi Nhớ bài thơ trong tập thơ Lối nhỏ, từ năm trước, chị đã viết:”
Đừng bắt tôi lên diễn đàn
Đừng buộc tôi ra sân khấu
Hãy để tôi ngồi yên trong góc tối
Như cái triện đen
Giáng xuống
Tờ khai sinh của tôi
Thời cuộc sắp đặt tôi
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Dư Thị Hoàn là nữ, nữ thật (không phải nữ kiểu Lưu Thị Hạnh, tác giả 15năm về trước - 1942, mà lại chính là Hồ Dzếnh), thậm chí một thời còn đượctôn là hoa khôi trường Hoa kiều Trung học (Hải Phòng), “có phần” nữa khác
vì Dư Thị Hoàn gốc Hoa trăm phần trăm Hai phần ấy chẳng qua tiểu dị;điểm đại đồng đáng quý giữa hai cây bút này là nếu Hồ Dzếnh được coi như
“con nuôi nước Việt” (xem Tác phẩm chọn lọc - Nxb Văn học, 1988), thì giờ
Trang 21đây Dư Thị Hoàn cũng tâm niệm một lòng gắn bó với mảnh đất thân quenqua nửa đời người Hiện nay, mẹ và các em của chị đang sống ở một xứ xa
xôi “bên kia bờ biển Rực ánh đèn thâu đêm nê-ông” (Bức thư người Hoa); nhưng tác giả tập thơ Lối nhỏ vẫn tự nguyện làm “giọt máu sẻ chia miền đất
xa tít tắp”, hàng ngày cùng chồng con “thương nhau, xì xụp bát canh bầu
ám khói” ở “dải đất này chao đảo” Cái “dải đất” mà tác giả Quê ngoại hằng
“yêu mến bằng một tấm lòng trọng đại vô song” mặc dầu đời thường thuở ấy cũng “không được huy hoàng rực rỡ” (Em Dìn, 1943) Tác giả Lối nhỏ tự
nguyện ở lại đất Việt, để như chị thường tâm sự với bạn bè - làm thơ:
Nếu mai sau
Bài thơ được chắp cánh bay cao
Bằng lao động kiệt cùng
Chị sẽ đền ơn mẹ
Và lúc đó đừng ngạc nhiên các em nhé
Nếu chị không dùng tiếng mẹ đẻ
Nếu bài thơ viết bằng ngôn ngữ
Của một dân tộc đau khổ
Mẹ và các em đã rời bỏ, lìa xa.
(Bức thư người Hoa, 1987)
Mới chính thức bước lên thi đàn, Dư Thị Hoàn đã gây được sự chú ý đặc
biệt của người đọc với ba bài thơ đăng trên tuần báo Văn Nghệ (số 1244, ngày 5 - 9 -1987): Viên mãn, Bước chân chậm, Trong bệnh viện tâm thần Trong Bước chân chậm, giữa “những ngày ốm đau… Em chỉ mong có một
tiếng gõ cửa”, thế rồi một sớm mai, tiếng ai đã động mái ngoài:
Tiếng bước chân anh ngoài cửa
Em hồi hộp rút then ngang khe khẽ
Trang 22Anh đã đến với em
Nhưng có ngờ đâu
Nắng buổi sáng
Nắng chói chang
Đã ùa vào ôm gọn em trước mặt anh
Anh đến với em
Muộn mất rồi
Cái “nắng buổi sáng” ngang nhiên ôm người theo kiểu Lược hôn cổ quáinhư vậy hình như là một trong những hình tượng thơ hiếm thấy trong thơ cađông tây kim cổ Hình tượng thơ dị thường ấy hàm nghĩa ra sao? Tất cảngười đời đều chậm trễ cả chăng? Hạnh phúc vô thường chăng? Định mệnhchăng? Bạn đọc cứ nên khám phá, nghĩ suy Khoảng hai trăm năm vềtrước, “Ông già lười” mà nhất mực siêng năng Lãn Ông - Lê Hữu Trác đãgóp ý với chúng ta rồi: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay Phải làm chongười đọc suy nghĩ mới hiểu được thì mới hay Không phải bất cứ điều gìcũng phải nói ra bằng lời”! Bạn đọc trước bài thơ hãy cứ nên “đối diện đàmtâm”
Đến bài Trong bệnh viện tâm thần:
Tôi sẽ khỏi bệnh
Lại dịu dàng hát bên chiếc khung thêu ngày ấy
Không cần bác sĩ
Không cần những viên thuốc đắt tiền
Chỉ cần đôi bàn tay nào run rẩy mang đến
Một nhành hoa dại thôi.
“Một nhành hoa dại thôi”! Nét bút thơ lại khơi gợi ra miền nào thămthẳm nữa! “Hoa dại”, hoa đồng nội kỷ niệm tình yêu tuổi xanh xa xưa không
Trang 23bao giờ trở lại, hay hoa của bây giờ - anh nghèo lắm không đủ tiền đối thoạivới quán hoa nhưng là “một nhành” hương sắc hồn hậu của trời đất mưachăm nắng bón như tình người và hạnh phúc, được biểu lộ qua tiếng thơ độtxuất đến thế hẳn cũng không nhiều.
Cách nhau nửa thế kỷ, văn Chân trời cũ rồi thơ Dư Thị Hoàn qua tập Lối
nhỏ đã làm biểu lộ cái hằng số bi kịch của một địa bàn cư dân Đông và Nam
Á Liệu chúng ta có liên quan gì với cái hằng số này không? Khi xưa vănhào Pháp Huygo trả lời rồi: “Đừng tưởng không có anh trong những dòngriêng tư của người viết” Biêlinxki nói rõ thêm: “Bất cứ nhà nào, sở dĩ họ vĩđại là bởi vì có những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâuthẳm của lịch sử xã hội” Có lẽ độc giả sẽ không cảm thấy xa lạ với tứ thơ
Trang 24Em mang bản án chung thân
Anh mãi mãi là mặt trời
Của người vợ đáng thương ấy
Lẽ ra trên thế gian này
Đừng nên có em
(Chị ấy - 1987)
Nữ thi sĩ am hiểu văn học và văn hoá Trung Hoa này muốn xử thế theo chữ
“nhân” trái tim Nho giáo: “Kỷ sở bất dục, bất thi ư nhân” (Điều mình khôngmuốn, chớ làm với người) Đó là một nét nhân bản khả thủ, kết quả của việctiếp thụ truyền thống, nhưng ứng xử vị tha “duy lý” như vậy lại có phần gâynguy cơ thêm cho tâm bệnh nan y Bị bao vây giữa biết bao giằng xé (nội
tâm, gia đình, đất nước), tác giả Lối nhỏ không thể trèo lên đỉnh núi cao theo
gót thiền sư xưa mà “Kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời” (Trường khiếu nhấtthanh hàn thái hư - Không Lộ thiền sư); “lòng buồn đành tìm đến với những
Đêm trắng một mình mình biết, một mình mình hay:”
"Đêm mất ngủ ngọt ngào"
"Báo tử từng tế bào vỏ não"
"Ta không dại dột nữa đâu"
"Hỡi viên thuốc ngủ"
Trang 25chung thân” bản án thiên sinh không cội nguồn khởi tố.
Niềm đau vô oán thấp thoáng này đã từng xuất hiện “toàn phần” trongthơ ca Việt Nam từ trước 1945 với tên gọi “sầu vô cớ” (thiên cổ sầu, vạn cổsầu) Về bản thể là sầu nghìn xưa, sầu muôn thuở của người, một tínhthường nhân loại - sầu tính dã! - một niềm đau vô oán: “Nghĩ trời đất vôcùng, một mình tuôn giọt lệ” (Niệm thiên địa chi du du - Độc thương thiênnhi lệ hạ - Trần Tử Ngang) Dạo đầu cho khúc nhạc sầu vô cớ trong vănchương lãng mạn là Tản Đà: “Sầu không có mối, chém sao cho đứt, sầukhông có khối, đập sao cho tan”; tiếp đó là Huy Cận: “Một chiếc linh hồnnhỏ, mang mang thiên cổ sầu”; Xuân Diệu: “Tôi buồn không hiểu vì sao tôibuồn”; Tế Hanh: “ không biết cớ sao buồn”
Như vậy, niềm đau vô oán bàng bạc trong Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn có
mạch nối lịch đại với thơ Việt Nam quá khứ Nỗi niềm ấy lại cũng có quan
hệ đồng đại với một số thi tứ trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại(nhất là mấy năm gần đây): đó là những cảm xúc về tình yêu chia ly, tuổi giàđến sớm Kêu lên những nỗi niềm sầu vô cớ, đau vô oán một cách thấmthía đẫm tính mỹ học, các thi nhân xưa và nay không làm chuyện vô bổ mà
Trang 26hữu ích, không hành động tiêu cực mà tích cực: họ đã đánh thức tính tươngthân và tương trợ của cộng đồng nhân loại - cái nhân loại có dị biệt giai cấp
mà tương đồng bản mệnh: “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” (ca dao),
“Hận sự xưa nay khó hỏi trời” (Cổ kim hận sự thiên nan vấn - Nguyễn Du) Nghệ sĩ nói về cái sầu thường dễ được thế nhân cộng cảm vì nhân loại đồngbệnh: “Đồng bệnh tương lân” - thi sĩ nổi tiếng Pháp A Muyxê từng nhậnxét: “Lời tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất - Tiếng nấc kia chứa tuyệt bút muônđời” ( Les plus désespérés sont les chants ies plus beaux - Et j’en saisd’immortels qui sont de purs sanglots ) Do nhiều nguyên nhân, tinh thầncộng đồng nhân loại ngày càng thức tỉnh này đang chi phối một quan niệmphổ biến hiện nay: trái đất là một mái nhà chung, cần đối thoại giải trừ quân
bị, phải hợp sức bảo vệ môi sinh Nhìn lại những nhà nhân đạo chủ nghĩađại giác trong lịch sử loài người mà một số đã được tôn vinh giáo chủ, tathấy hạt nhân minh triết của các vị cũng không ngoài ý thức sâu sắc về nỗiđau “Bọt trong bể khổ ” (Nguyễn Gia Thiều), nhưng mà “Kiếp sinh ra thếbiết là tại đâu” (Nguyễn Du) , dẫn đến chủ thuyết một tình yêu lớn: Giê-sunói “Bác ái”, Tất-đạt-ma giảng “Từ bi”, Khổng Khâu khuyên “nhân” và MặcĐịch “mòn chân lỏng gót” trên bao nẻo đường liệt quốc cũng chỉ cốt kêu lên
một lời khuyến dụ: “kiêm ái” (gồm yêu - amour universel) Tiếng khóc khan hay đẫm lệ thoảng vang Lối nhỏ, qui căn đáo để, phải chăng cũng là
một mảnh hồn nhân bản, có công năng gọi thức tình người
"Với nội dung khá đặc thù, thơ Lối nhỏ va đập mạnh tâm thức độc giả chủyếu do tứ chứ không phải vì từ.” Nhiều lúc tác giả cũng đã hy sinh từ (kể cảvần và nhạc tính), cho tứ có ý thức hay không, nhà thơ đã tuân thủ kinhnghiệm cổ nhân: “Người xưa không bỏ phép luyện chữ Nhưng lấy cái hơn ý
mà không lấy cái hơn về lời” (Thẩm Đức Tiềm) Đặc biệt trong cấu tứ thì
Trang 27tương tự Đường thi, trọng tâm tứ thơ Dư Thị Hoàn thường lắng đọng ở mấy
câu kết có tính đột biến (coup de théâtre) Có thể coi bài Tan vỡ là tiêu biểu.
Chỉ vì cái tội “lơ đãng” mà anh - nhân vật trữ tình của chị - “mở ngăn kéorồi anh bỏ ngỏ / bút viết xong không đậy nắp bao giờ” Chị không hề trách
cứ, không lời phàn nàn, bởi có thể là anh mải nghĩ, mải làm rồi quên đấythôi Ai mà chẳng có lúc lơ đãng Hơn nữa chính sự lơ đãng nhiều khi đemlại cho cuộc sống một chút lãng mạn Và anh, anh cũng đáng yêu hơn Dướimắt nhìn của chị, anh như “con nai rừng ngơ ngác” trong thơ Lưu Trọng Lưgiữa đêm vàng hư ảo:
"Ôi anh yêu, lơ đãng đến là"
"Con nai rừng của em ”
Hai câu thơ của Dư Thị Hoàn đẹp trong cái nhìn thi vị và thật dễ thươngbởi tình yêu chân thật Được biết chị là con người ý tứ và cẩn trọng tronghình thức, thế mà, chị vẫn dành cho anh - nhân vật hay “lơ đãng” được nóiđến trong bài thơ - một sự bao dung
Cứ ngỡ “tất cả rồi sẽ dễ qua đi, qua đi”, hai con người yêu nhau kia “sẽthành vợ thành chồng” Câu chuyện thơ khép lại Nào ngờ cái điều chịmuốn trao gửi đến bạn đọc lại không chỉ là sự “lơ đãng” thường tình mà lại
là một vấn đề lớn hơn không thể tha thứ trong tình yêu:
"Nếu không có một lần "
"Một lần như đêm nay"
"Sau phút giây"
"Êm đềm trên ghế đá"
"Anh không cài lại khuy áo ngực cho em"
Những câu thơ gãy đổ, dự báo một tình yêu tan vỡ Anh có thể quên đóngngăn kéo, không đậy nắp bút và gì gì đi chăng nữa nhưng đừng bao giờ “lơ
Trang 28đãng” kiểu đó “Dư Thị Hoàn không đòi hỏi một sự viên mãn trong tình yêubởi chị đã từng viết:” “Nếu anh cũng như em/ đòi nhau sự viên mãn/
thì điểm gặp nhau của chúng ta/ còn thảm hại hơn hai hòn bi” (Viên mãn).
lộ một cách mãnh liệt và trần trụi trong bài thơ Tan vỡ
Cũng do tác giả thơ Lối nhỏ dồn tinh lực sáng tạo cho tứ thơ nên trường hợp tứ thơ bị đuối thì toàn bài trở thành mờ nhạt dễ quên (Qua đèo Hải Vân,
Một giọt nước mắt ) Dẫu sao mặc lòng, chỉ cần những bài đặc sắc trong số
hơn 40 bài của tác phẩm đầu tay, như bài thơ sau đây, Dư Thị Hoàn cũngđáng được chúng ta trân trọng:
Màu tím của ngày hôm qua
Màu hồng ngày hôm kia
Trang 29Cả màu trắng trong ngày xưa nữa
Bội mùa hư không
***
Khâu lại chiếc ba-lô chưa kịp rũ bụi
- ừ , em đi
Lại một hành trình không chú thích
Thân gái dặm trường
Mùa nào mà chẳng hư không
(Vi vu)
Thơ Dư Thị Hoàn không dễ trích dẫn vì mỗi đơn vị bài thơ không hướng đến miêu tả một tình huống mà để tái dựng một cảm giác Thơ chị không chủ đích gợi suy tư hoặc gợi hình tượng mà đích hướng đến là rung động lòng người
1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn
1.2.1 Quan niệm thơ về cuộc sống
Trên con đường tìm tòi sáng tạo, mỗi nhà thơ có cách đi riêng, có thất bạingậm ngùi, có thành công trong mồ hôi nước mắt; nhiều thể nghiệm dở dang
và phần lớn là đoạn kết còn bỏ lửng Đối với Dư Thị Hoàn, làm thơ là nhucầu sáng tạo, nhu cầu tự thể hiện tình yêu của mình với cuộc sống thông quathế giới nghệ thuật trong thơ Với một tâm hồn giàu yêu thương, nhạy cảm,tinh tế, cùng với những hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, Dư Thị Hoàn đã thểhiện một thế giới tuổi thơ hồn nhiên, kỳ ảo, rất đa dạng, phong phú và sinhđộng
Thơ Dư Thị Hoàn vừa nối tiếp cái dòng hồn nhiên tin yêu cuộc sống vừa
có sự vươn lên phản ánh hiện thực phong phú của thời chiến và sự kỳ diệutrong bom đạn, niềm khát khao một cuộc sống yên bình Thật vậy, những
Trang 30vần thơ của Dư Thị Hoàn vẫn luôn mạnh mẽ, sôi nổi một tình yêu với cuộcđời Nhà thơ tìm thấy cái cao cả trong cái giản dị, cái vĩnh cửu trong nhữngthứ nhỏ nhoi, bình thường.
1.2.2 Quan niệm thơ về con người
Dư Thị Hoàn tôn trọng con người cá nhân, thơ bà hướng nội, hướng tớinhững vấn đề của nội tâm Trong tâm hồn của nhà thơ, không có tình cảmnửa vời mà bà luôn nói với cảm xúc ở mức độ cao nhất Qua đó, nhà thơ cótài viết lên những chi tiết ngẫu nhiên quan sát từ đời sống con người, biếncác chi tiết thành có cảm xúc Thơ bà giàu tình cảm, sâu sắc và tinh tế khihướng về những ẩn khuất phía sau cuộc sống con người cá nhân và nâng lêntầm tư tưởng khái quát, triết lý
Trong thơ Dư Thị Hoàn, con người cá nhân luôn có sự hòa hợp với cộngđồng Nhà thơ hướng tới thể hiện những cảm hứng chính của con người thờiđại: tình yêu cuộc sống; tình yêu lớn với đất nước, nhân dân; những trải
nghiệm, suy ngẫm về cuộc đời và con người Lối nhỏ là hành trình trở về tìm
lại chính mình, tái cấu trúc cái tôi trong một không gian văn hoá mới chophép những nghịch luận, lệch chuẩn, không luật lệ, bất thường hiện hữu.Điều này, xét về bản chất của cấu trúc hệ thống là tái lập trạng thái bìnhthường sau những quãng thời gian bị đồng hoá Cái tôi ấy không phải là cáitôi được tạo dựng với những tri thức về giới, về thân phận, địa vị, thiên chứchay bổn phận Cái tôi ấy từ chối những viên thuốc an thần, từ chối sự sắpđặt, tạo dựng, để đi tìm lời giải cho câu hỏi: Có vậy thôi sao? Còn gì nữakhông? Có thật thế không? Từ chối “cơn mê sảng tập thể”, can đảm để mở
một lối đi khác, Lối nhỏ thể hiện một cảm quan khác về đời sống chỉ có thể
xuất hiện trong bối cảnh hậu chiến Khó khăn của người mở đường vào lốinhỏ trong tư cách một người phụ nữ là tâm lý tự ti của giới này Khi nghĩ vềgiới của mình, thói quen sống quá lâu với những niềm tin lệch lạc, sự sùng
Trang 31bái giới tính thứ nhất đã khiến họ bắt đầu tư duy với các giá trị, tri thức sẵn
có mang đầy định kiến Điều này ngăn trở họ trở về với những diễn biến cốtlõi nhất của đời sống chủ thể Có thể nhận ra nhiều trường hợp như thế khinhìn về thơ nữ Việt Nam đương đại với Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị HồngNgát, Đoàn Thị Lam Luyến, Phương Thảo, Vi Thuỳ Linh,…
"Có những lời nói thật chẳng ai tin"
"Câu nói dối lên ngôi mà vĩ đại"
"Anh là đấng trong em mãi mãi"
"Kẻ muộn màng sám hối, chính là em! "
(Em chấp nhận lời nói dối - Đoàn Thị Lam Luyến)
"Tôi hôn Anh rưng rưng và biết mình đang trở thành nô lệ của tình yêu, ”
"một nô lệ không cần giải phóng"
"Tôi yêu Anh như tuân theo sự sắp đặt của Đấng Sáng Thể"
"Phủ phục trước Anh"
"Hiến dâng trong hạnh phúc tuyệt đích của nô lệ tình yêu"
"không muốn được giải phóng”
(Thánh giá - Vi Thuỳ Linh)
Trong thơ Dư Thị Hoàn người ta cũng bắt gặp những trạng thái tự ti
như thế Tâm thế của nhân vật trữ tình, vai giao tiếp (Ông - Em) trong Bức
tranh chưa vẽ là một minh chứng cho thói tự ti đã trở thành đồng minh với
những viên thuốc an thần:
Có phép mầu quỷ thần quyến rũ
Sẽ trở thành xà lim giam người tử tù
Nếu quả thật em nhỏ bé
Hơn kích thước ông mộng mơ
Trang 32Nhận ra phép mầu quỷ thần, xà lim và thân phận tử tù, người nữ trongthơ Dư Thị Hoàn, dù tự ti, đã có những hành động cho thấy ý thức đào thoátkhỏi những bó buộc của khuôn khổ Biểu hiện của ý thức này chính là sựxuất hiện của những hoài nghi, những câu hỏi và hình tượng người phụ nữ
“không đoan chính”
Giày vò chính mình trong nỗi đau đánh mất bản sắc, Dư Thị Hoàn đãmang đến trong thơ những câu hỏi, những hình tượng mà qua đó, ít nhiều,người đọc có thể tìm kiếm được những dữ kiện về một sự rẽ ngoặt từ đường
lớn vào Lối nhỏ Đó chính là điểm nhấn về mặt tư tưởng của tập thơ này Ở
đây, trong luận điểm vừa nêu, có hai vấn đề cần được đánh giá là tạo nên
bước ngoặt Thứ nhất, những tra vấn về bản sắc nữ tính của chủ thể Thứ hai,
trình hiện một tưởng tượng về bản sắc nữ tính mới thông qua hình
tượng: Người phụ nữ không đoan chính Những hoài nghi có ý nghĩa trước
hết là thể hiện thái độ với thực tại đang hiện diện Thông qua đó bày tỏnhững dự phóng về thực tại mới Chỉ riêng việc hoài nghi đã là một nỗ lực,một cố gắng rất đáng trân trọng của Dư Thị Hoàn Hoài nghi tự xác lập tưthế của nó là ngoảnh lại, là tách ra khỏi đám đông, là đi con đường khác vớinhững niềm tin được tạo dựng Bởi thế, hình tượng người phụ nữ khôngđoan chính hiện diện như một tạo dựng mới, cho phép chúng ta vượt quanhững định kiến:
Giật mình tôi ngoảnh lại
Trang 33sự sáng tạo (lại) người phụ nữ - người sáng tạo/ chủ thể trong tư thế kháng
cự hệ thống luân lý cùng những diễn ngôn về nữ tính
Dường như, “bí ẩn nữ tính” được gợi mở ở đây, trong niềm vui hoangthai Tất cả búa rìu của luân lý không che giấu được niềm hạnh phúc trong
mắt người phụ nữ đi về Lối nhỏ Ở đó, họ bắt gặp điều mà trước kia họ lờ
mờ nhận thấy nhưng luôn bị đè nén, kiềm toả Hoang thai, ngoại tình chắcchắn là một tội tày đình trong quy phạm luân lý truyền thống
Biết làm sao bây giờ
Chính lối này đưa em tới anh
(Lối nhỏ)
Trong những cấm kỵ, tội lỗi, người phụ nữ tìm thấy niềm hạnh phúc,được sống cảm giác đến từ thân thể của họ, làm hiện lên một phần của mảnh
ghép còn thiếu về bức tranh nữ giới Chính lối này đưa em tới anh diễn giải
trạng thái chủ động của người phụ nữ trong việc kiếm tìm bí ẩn của mình
Trang 34Chán chường, giận dữ, lo sợ là cảm giác có thể lý giải trên hành trình rẽngoặt vào lối nhỏ, xa lánh đám đông, xa lánh những chuẩn mực đảm bảo sự
an toàn cho họ trên đường lớn Cái giá phải trả cho lệch chuẩn là việc bị kết
án hư hỏng hoặc quy chụp cho họ trạng thái tâm thần, điên loạn,…
Ở thời điểm Lối nhỏ ra đời, trong tương quan với những giá trị hợp thức,
quy chuẩn, nhiều cảm xúc trong thơ Dư Thị Hoàn đã trở thành cú sốc với
cộng đồng Điểm đáng lưu ý là Lối nhỏ không chỉ làm “tan vỡ” những tri
thức về nữ tính truyền thống vẫn tồn tại dai dẳng và trở thành “vô thức tậpthể” của thơ nữ trước Đổi mới mà còn hàm chứa năng lượng để tạo nên vụ
nổ nhằm kiến tạo một thực tại, tri thức khác về nữ tính Từ bỏ đường lớn vớiđám đông không có khuôn mặt cá thể - hoặc chung khuôn mặt, chung tâmhồn (ý thơ Chế Lan Viên), chấp nhận “tan vỡ”, khước từ những “viên mãn”,
tập thơ Lối nhỏ phủ định thực tại không có khuôn mặt giới và cả thực tại
mang mặt nạ giới Hai động thái này tạo nên hai bước ngoặt của thơ nữ sau
Đổi mới trên phương diện kiến tạo chủ thể tính Bước ngoặt thứ nhất từ
không đến có và bước ngoặt thứ hai từ có đến có thật thế không? Chính
những động thái này cùng với thời điểm nó xuất hiện đã làm cho Lối nhỏ trở
thành một mốc quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam nói chung và thơ
Trang 35nhiều bài bình giảng phân tích cụ thể một vài bài thơ tiêu biểu của bà Dùdưới hình thức nào, các công trình bài viết này chủ yếu vẫn dừng ở việcnhận diện những nét đặc sắc trong thơ Dư Thị Hoàn, so sánh để thấy đặctrưng thơ mà chưa thể hiện đầy đủ đóng góp và dấu ấn của nhà thơ Cho đếnnay, rất ít nếu không nói là hầu như chưa có công trình bài viết nào bànchuyên về quan niệm nghệ thuật của Dư Thị Hoàn, đặc biệt vấn đề mối quan
hệ mật thiết giữa quan niệm cấu tứ và cái tôi trữ tình trong thơ của bà.Những bài viết hiếm hoi về quan niệm thơ của Dư Thị Hoàn cũng mới chỉ đềcập đến một vài phương diện, chưa đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện, hệthống toàn bộ quan niệm về thơ, cũng chưa tìm hiểu sự chi phối của quanniệm nghệ thuật đến những sáng tạo độc đáo về nội dung và nghệ thuật cáitôi trong thơ bà Những ý kiến của các thế hệ đi trước sẽ được luận văn nàytham khảo, kế thừa và bổ sung
Chương 2 CẤU TỨ TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN 2.1 Giới thuyết về tứ thơ và cấu tứ trong thơ
2.1.1 Tứ thơ
Trang 36Tổng kết kinh nghiệm gần một đời làm thơ của mình, trong quyển Công
việc làm thơ xuất bản năm 1984, Xuân Diệu viết:
“Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ
"Ngôn từ, lời, chữ, vần rất là quan trọng Tuy nhiên đó là cái quan trọngthứ hai, mà cái quan trọng thứ nhất, làm rường cột cho tất cả, là cái tứ thơ,
nó chủ đạo cả bài.”
Làm thơ, khó nhất là tìm tứ”
Nhưng trước hết tứ thơ là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau Theo Chế Lan Viên: “gọi nó là tứ để phânbiệt với ý Chữ Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy” (Văn học, Hà Nội,17.11.1961, bút hiệu Chàng Văn) Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Nam: “tứtrong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ.” (Văn học, Hà Nội2.1981) Hai quan niệm khác nhau Một đằng thiên về ý Một đằng thiên vềhình tượng Ðồng hoá tứ thơ với ý hoặc với hình tượng không những sai lầm
mà còn là điều nguy hiểm Thứ nhất, nó cũng có nghĩa đồng hoá thơ và vè,thơ và các loại diễn ca tầm thường rỗng tuếch nhan nhản trên sách báo hoặctrên các vỉa hè, các đường phố: tất cả đều có điểm chung, hoặc có ý, hoặc cóhình tượng, hoặc có cả hai Thứ hai, nó làm mất khả năng phân biệt thơ hay
và thơ dở Không hiếm gì những bài thơ có ý tưởng ra vẻ “triết lý” cao kỳ
mà lại là những bài thơ kém Cũng không hiếm gì những bài thơ có hìnhtượng cũng gọi là “đèm đẹp” nhưng lại chỉ là những bài thơ nhạt phèo, chánngắt Thứ ba, nó làm lạc hướng những người mới bắt đầu làm thơ: họ dễtưởng làm thơ chỉ là công việc thuần tuý của tư duy hay chỉ là công việc lắpráp các hình tượng ngồ ngộ với nhau, để cuối cùng , tạo nên một cái gì rấtđỗi xa thơ
Trang 37Trong tứ có ý, nhưng tự nó, ý chưa là tứ Trong tứ có hình tượng, nhưng
tự nó, hình tượng chưa là tứ Còn xa xôi vô cùng Không phải cứ đem mấykhái niệm triết học từ đâu gắn vào chúng vài chữ đồng thanh, đồng âm cho
ra vần vè là tự nhiên có thơ Cũng như không phải cứ vất bừa bãi dăm bảycành hoa lại với nhau là tự nhiên người ta có một bình hoa mỹ thuật Ý, nókhô khốc lắm Như là xương Hình tượng, nó khơi vơi, bềnh bồng lắm Như
là khói Ý và hình tượng phải kết tụ lại với nhau như da thịt đắp lên xương
cốt thì mới có hình người Nhưng chưa là con người Hình như trong Cựu
Ước có viết, sau khi nắn thành người, Đức Chúa Trời phải thổi vào hình
người ấy một hơi thở để tạo ra cái gọi là linh hồn, hình người ấy mới thực sự
có sự sống, người đàn ông mới biết quay lại nhìn người đàn bà, để thấy, nơimái tóc đen nhánh kia có một cái gì khiến sóng trong lòng mình xao lên, naonao Linh hồn ấy, trong thơ, chính là cảm xúc
Chỉ gọi là tứ khi có một ý tưởng làm bồng lên trong hồn người nhữngniềm rung động sâu sắc và ý tưởng ấy, niềm rung động ấy cùng quyện lại vớinhau, nhập thân vào một hình tượng cụ thể
Ý là của chung mọi người Hình tượng là của chung trong trời đất Ánh
trăng nằm trên cành liễu thì có gì mới mẻ đâu? Nhưng cái tứ trăng nằm sóng
soãi trên cành liễu/ đợi gió đông về để lả lơi thì rõ ràng là của riêng Hàn
Mặc Tử Niềm say mê cái đẹp tinh khiết của vũ trụ thì có gì là lạ đâu?
Nhưng cái tứ Ta van cát bụi bên đường/ dù nhơ dù sạch đừng vương gót
này/ để ta tròn một kiếp say/ cao xanh liều một cánh tay níu trời thì rõ ràng
là của riêng Vũ Hoàng Chương “Tứ là cái gì rất riêng tây ở mỗi nhà thơ, ởmỗi bài thơ Tứ là thế giới tinh khôi lần đầu tiên được nhà thơ tạo dựngtrong cơn say ngây ngất của cái người ta quen gọi là cảm hứng.”
Trang 38"Có thể nói vắn tắt: tứ là những suy nghĩ của trái tim trước cuộc đời Bởi
vì tứ là cái gì rất tổng hợp, do đó, quá trình tìm tứ cũng là một quá trình tổnghợp: nhà thơ phải vận động cùng lúc ba khả năng, suy nghĩ, tưởng tượng vàcảm xúc Chỉ khi nào ba yếu tố trên gặp gỡ nhau ở một điểm nào đó, tứ thơmới hình thành.” Nghĩ coi, có thể tin được không, là, trong suốt cuộc đời đihọc, đi làm xa của mình, chỉ một lần duy nhất Huy Cận cảm thấy nhớnhà? Chắc chắn là không “Nỗi nhớ cũng tự nhiên như là mây giăng ở nhữnggóc trời xa vắng Thế thì tại sao chỉ có một lần, một lần duy nhất, nỗi nhớnhà ấy hoá thành thơ? Câu trả lời: Bởi vì chỉ có một lần duy nhất ba yếu tốtrên hoà nhập được với nhau Trong một thời điểm: tràng giang điệp điệpsóng buồn Sông thì dài, trời thì rộng, mây thì xa, bến thì cô liêu, ý niệm về
sự lẻ loi của người lữ thứ càng đậm, nỗi sầu ly hương càng thêm thê thiết: tứ
thơ Tràng giang đã khai sinh.”
"Rất nhiều nhà thơ kể giống nhau: có những cảnh vật người ta nhìn hoài,nhìn hoài Quen thuộc lắm Nhớ làu làu từng chi tiết nhỏ Nhưng cứ thấy làbình thường, tầm thường Cảnh vật chỉ đọng trong mắt mà không len vàomáu Chỉ ơ hờ xa lạ bên cạnh những bước đi đi về về hằng ngày Rồi bỗngdưng, một hôm, trong một tâm cảnh nào đó không ai biết rõ, hình như những
tư tưởng nung nấu từ lâu đã chín muồi, hình như những cảm xúc im lìm đãcồn cào lên sóng, người ta nhìn lại những cảnh vật ấy, thấy lạ lùng hẳn, mới,tươi và gần gũi tâm hồn như thoạt thấy lần đầu Chén trà khuya không chỉ làchén trà nữa Chén trà khuya đã nao nao trăng hạ tuần như trong thơ QuáchTấn Ánh trăng non không là ánh trăng non nữa Mà trở thành mới lớn lêntrăng đã thẹn thò như trong thơ Hàn Mặc Tử Buổi chiều không còn là buổichiều nữa Buổi chiều đã là buổi chiều u uẩn và quạnh vắng của cõi
Trang 39lòng buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường như trong thơ Thanh TâmTuyền.”
"Tìm tứ là quá trình chống lại một thói quen, chống lại những quán tính ù
lì và những con đường mòn nhẵn thín cứ lôi người ta trơn tuột giữa cuộcđời Tìm tứ là quá trình phát hiện cái bất bình thường từ những cái vẫn rấtmực bình thường Tìm tứ là quá trình khôi phục sự hồn nhiên bỡ ngỡ cho đôimắt và cho trái tim.”
Thế Lữ hồi ức lại hoàn cảnh sáng tác bài Nhớ rừng như sau:
“Tôi làm một chân chữa bài in trong báo Volonté Indochinoise (Ý muốn
của Ðông Dương) ở phố Cửa Bắc, từ nhà tôi ở, muốn đến toà soạn, phải qua
đường Ngọc Hà, thành ra qua vườn Bách Thảo Chính vì qua vườn Bách
Thảo mà nảy ra bài Nhớ rừng “Một trưa hè, ngồi nghỉ ở vườn, tôi nghe
tiếng người làm vườn uể oải kéo lê bước chân trên đường sỏi, nghe ghêngười lắm.” Tôi nghĩ con hổ bị giam trong này thì buồn biếtbao nhiêu Bỗng nảy ra tứ một câu thơ đùa: “chú nó trong nắng hè uể oải,cũng không buồn thương nhớ cảnh rừng xa” Nhưng sau đó tôi chuyển sang
tứ là thương nhớ rừng Khi đã nảy ra tứ nhớ rừng thì bài thơ đến rất nhanh,
từ sáng đến trưa là xong, không phải sửa chữa gì lắm.” (Văn Nghệ Hà Nội,
số Tết 1984)
“Trước khi sáng bài Nhớ rừng, đã bao nhiêu lần Thế Lữ đi ngang quavườn Bách Thảo Ðã bao nhiêu lần nhìn con hổ bị giam trong củi sắt?Nhưng chỉ khi nào hình ảnh ấy hiện lên cùng lúc với tiếng bước chân ngườilàm vườn uể oải kéo lê trên đường sỏi thì mới làm dâng trào lên trong tâmhồn Thế Lữ nỗi bùi ngùi trước cuộc đời bị tù hãm, bị quẩn đọng trong mộtthế giới thật chật chội, thật vuông vức Con hổ không là con hổ Con hổ trở
Trang 40thành một ý niệm, một biểu tượng của sự tự do bị đè nén Tứ thơ vụt lóe lêntrong trí tưởng của thi nhân.”
Dĩ nhiên, không phải tứ thơ nào cũng được thai nghén một cách lâu lắc
và vất vả như thế Cũng không phải người nào, khi làm thơ, cũng lập ý mộtcách cầu kỳ với những điển cố xa xôi như thế Nhưng kinh nghiệm trăn trởtìm tứ rất điển hình: dù nhanh hay chậm, dù bằng cách thức nào đi nữa, sựhình thành tứ thơ nào cũng phải đi qua ba giai đoạn :
"Trước hết, phải có một cảnh vật, một sự kiện cụ thể có khả năng gây ấntượng mạnh và sắc "
"Thứ hai, ấn tượng ấy cứ âm vang mãi trong hồn người, tạo nên nhữngniềm cảm xúc sâu đậm.”
"Và thứ ba, từ ấn tượng và cảm xúc ấy, nhà thơ phải vận dụng khả năngliên tưởng, tưởng tượng, tư duy để tìm ý, tìm chất liệu để khai triển thànhmột bài thơ hoàn chỉnh.”
"Vai trò của tứ thơ cực kỳ quan trọng Nó giống như là nền móng, cột kèotrong một ngôi nhà Nó giống như là xương xẩu trong một thân thể Không
có bài thơ nào lại không có tứ Ngoại lệ: những bài thơ dở.”
"Hầu hết mọi nhà thơ đều đồng ý, trong công việc làm thơ, có loayhoay trăn trở thì chủ yếu là loay hoay trăn trở để tìm tứ Có tứ, thời gianhoàn chỉnh bài thơ thường khá nhanh Tứ, tự nó sẽ huy động những từ ngữ
và chi tiết nó cần Con hổ sẽ biết mời gọi cảnh sơn lâm bóng cả, cây già, vớinhững lá gai cỏ sắc, những bình minh cây xanh nắng gội, những buổi chiềulênh láng máu sau rừng Trường giang sẽ biết mời gọi thuyền về nướclại, những cồn nhỏ gió đìu hiu, những bèo dạt về đâu hàng nối hàng,những sóng gợn buồn điệp điệp Cũng vậy, hầu như đã có sẵn chung quanhông đồ viết câu đối Tết thuê những hình ảnh quen thuộc: mực tàu, giấy đỏ,