1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu tứ và cái tôi trữ tình trong thơ dư thị hoàn

101 157 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 604,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ Dư Thị Hoàn ngoài những bài mang đậm tính trữ tình, đôi khi bật lên những chi tiết tinh tế như bài Tan vỡ đã gây được sự quan tâm của giới văn chương trong đầu thập niên 90.. Thế nên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG HỒNG HẠNH

CẤU TỨ VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG HỒNG HẠNH

CẤU TỨ VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Đoàn Đức Phương

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn Thạc sĩ, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng

của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng nhờ sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Đoàn Đức Phương, người

đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong Khoa Văn học

và Phòng Sau đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Học viên thực hiện

Đặng Hồng Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ THƠ DƯ THỊ HOÀN 5

1.1 Hành trình sáng tác của nhà thơ Dư Thị Hoàn 5

1.1.1 Cuộc đời của nhà thơ 5

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 15

1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn 24

1.2.1 Quan niệm thơ về cuộc sống 24

1.2.2 Quan niệm thơ về con người 25

CHƯƠNG 2: CẤU TỨ TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN 31

2.1 Giới thuyết về tứ thơ và cấu tứ trong thơ 31

2.1.1 Tứ thơ 31

2.1.2 Cấu tứ trong thơ 40

2.2 Loại hình tứ thơ Dư Thị Hoàn 46

2.2.1 Tứ thơ về tình yêu 46

2.2.2 Tứ thơ về tình cảm gia đình 53

2.2.3 Tứ thơ về thiên nhiên 59

2.2.4 Tứ thơ về quê hương đất nước 60

2.2.5 Tứ thơ triết lý nhân sinh 61

2.3 Nghệ thuật cấu tứ thơ Dư Thị Hoàn 64

2.3.1 Cấu tứ sự kiện – cảm xúc 64

Trang 5

2.3.2 Cấu tứ liên tưởng, hồi ức 66

2.3.3 Cấu tứ so sánh, đối chiếu 67

2.3.4 Cấu tứ khái quát, nâng cao 69

CHƯƠNG 3: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN……… 72

3.1 Khái luận về cái tôi trữ tình 72

3.1.1 Cái tôi từ góc độ triết học, tâm lý học, nghệ thuật 72

3.1.2 Khái niệm cái tôi trữ tình 75

3.2 Biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn 77

3.2.1 Cái tôi trữ tình trăn trở trước cuộc đời……….77

3.2.2 Cái tôi trữ tình chiêm nghiệm về lẽ sống……….82

3.3 Phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn…………84

3.3.1 Thể thơ 84

3.3.2 Ngôn ngữ thơ……… 86

3.3.3 Giọng điệu trữ tình……… 88

KẾT LUẬN 92 Tài liệu tham khảo

MỞ ĐẦU

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

Nhà thơ Dư Thị Hoàn, tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tạiHải Phòng, gia đình gốc Hoa Bà còn là một dịch giả với bút danh NữLang Trung Tình cờ lạc chân vào thi ca, phẩm chất thi sĩ trong ngườiphụ nữ có tên thật Vương Oanh Nhi nhanh chóng định vị gương mặtthơ Dư Thị Hoàn giàu cá tính Trong không gian thơ Dư Thị Hoàn, mộtnỗi cô đơn ngột ngạt đã sinh ra những đối thoại thanh tĩnh, đắng cay

chất chồng, sẻ chia nồng nàn Có thể Dư Thị Hoàn là một phụ nữ bất

hạnh trong đời thường, nhưng bà lại là một nhà thơ may mắn trong thi

ca Bà xuất hiện đúng vào lúc không khí đổi mới của đất nước cho phépnhững tiếng nói khắc khoải và đau đớn được trình bày trên thi đàn mộtcách bình đẳng với những âm thanh vỗ về và xưng tụng giữ vai trò chủđạo trong sinh hoạt nghệ thuật Việt Nam suốt một thời gian dài Bà đã

in hai tập thơ: Lối nhỏ (1988) và Bài mẫu giáo sáng thế (1993).

Thơ Dư Thị Hoàn ngoài những bài mang đậm tính trữ tình, đôi khi bật

lên những chi tiết tinh tế (như bài Tan vỡ) đã gây được sự quan tâm của giới

văn chương trong đầu thập niên 90 Ngoài ra thơ của bà còn có nét suy tưkhắc khoải, và lặng lẽ, cùng những thi ảnh đẹp, rất riêng

Khảo sát thơ Dư Thị Hoàn khó lòng tìm ra đặc điểm từ vựng hoặc đặcđiểm cú pháp Ngay cả nhịp điệu và ngữ âm cũng giữ vai trò phụ trong thơ

bà Mỗi bài thơ của Dư Thị Hoàn phát triển như một dòng ý thức, mà sựphân tích tâm lý trở thành giá trị quyết định Nổi bật trong thơ Dư Thị Hoàn

là nghệ thuật cấu tứ độc đáo và cái tôi trữ tình giàu màu sắc thẩm mỹ Đócũng chính là đề tài được xác định cho luận văn này

2 Lịch sử vấn đề

Trang 7

"Dư Thị Hoàn là cây bút tiêu biểu trong giai đoạn đổi mới của văn học.Trong giai đoạn đó, người ta viết khá nhiều về thơ bà nhưng chủ yếu dướidạng nhận xét khái quát những đặc điểm cơ bản hoặc có tính giới thiệu, bìnhphẩm chứ chưa nghiên cứu một cách có hệ thống Bên cạnh đó, vẫn chưa cómột công trình nghiên cứu nào đề cập đến cái tôi trữ tình đầy triết lý, chiêmcảm cùng đời tư thế sự phức tạp trong thơ bà.”

Nói về nhà thơ phải kể đến những công trình, bài nghiên cứu có tính chấtkhái lược về thơ bà, tiêu biểu là các tác giả: Bùi Công Hùng, Hồ Thế Hà,Lưu Khánh Thơ “Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất quan điểm thơthời kỳ Đổi mới hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá nhân,

cá tính trong thơ bà.” Bà tâm sự: “Thơ đến với tôi cùng lúc với những hoạnnạn mới mẻ và sâu sắc thì đúng hơn Nó chấn động cuộc sống của tôi đếnmức quá tải Tôi còn chịu đựng được có nghĩa là tôi còn cơ hội để tìm hiểutôi, giống và khác một con người ở chỗ nào? Tôi muốn mã hoá những cuộctìm kiếm ấy Rút cuộc, tìm kiếm lại dẫn tôi đến với những bất ngờ liên tiếpchứ không phải đáp số Khi nào tôi gặp được đáp số thì có lẽ thoát đượcnghiệp chướng văn thơ.” [13]

Theo Bùi Công Hùng: “Dư Thị Hoàn thể hiện tâm tình của một người

phụ nữ người Việt gốc Hoa trong Lối nhỏ” [14; tr.294] Với Lưu Khánh Thơ

“Bài Tan vỡ của Dư Thị Hoàn cũng đã hơn một lần bị lên án nhắc nhở “Đếnnay, khía cạnh này được nhìn nhận đúng mức hơn Có lẽ một phần do cáchbiểu hiện của từng nhà thơ, phần nữa là do tâm lý và thị hiếu của người đọcngày càng đa dạng và hiện đại hơn” [22; tr.20]

Hồ Thế Hà cho rằng: “Với tấm lòng bao dung, nhân ái, Dư Thị Hoàn đãgây được thiện cảm ở người đọc “Thơ chị không cầu kỳ, kênh kiệu hoặclàm dáng trong câu chữ một cách trống rỗng mà đó là sự lựa chọn nghệ thuật

Trang 8

xuất phát từ thực tế, suy tư của chính mình và những người thân một cáchchân tình Và vì vậy, nó giản dị, gần gũi với đời thường Chính sức mạnh của

ý tứ, của vẻ đẹp tâm hồn đã giúp cho thơ chị bỏ qua một số quan hệ: vầnđiệu, tiết tấu để đến thẳng với độc giả bằng một chiều sâu suy nghĩ, liêntưởng mới mẻ” [9; tr.78]

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng luận văn hướng đến nghiên cứu là cấu tứ và cái tôi trữ tìnhtrong thơ Dư Thị Hoàn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là hành trình sáng tác và quan niệmnghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn, các loại tứ thơ, các kiểu cấu tứ và cácphương diện biểu hiện, nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Dư ThịHoàn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tập thơ tiêu biểu của nhà thơ Dư

Thị Hoàn như Lối nhỏ, Bài mẫu giáo sáng thế và các bài thơ khác in rải rác

trên các báo, tạp chí

4 Phương pháp nghiên cứu

"Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận tâm lýhọc nghệ thuật và thi pháp học để định hướng nghiên cứu; áp dụng phươngpháp liên ngành, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phươngpháp so sánh, để hình dung được những nét đặc sắc về cảm quan tư duynghệ thuật cũng như thấy được phần đóng góp của nhà thơ.”

“Phương pháp hệ thống: trong nghiên cứu khoa học, tri thức về đối tượngmuốn có giá trị bao giờ cũng mang tính cụ thể và tính hệ thống Phươngpháp này giúp những đối tượng, những vấn đề khảo sát được chúng tôi đặttrong tương quan hệ thống, trong quy luật tác động lẫn nhau giữa quan niệm,

tư tưởng, phương pháp cùng phong cách sáng tạo của nhà thơ; đồng thời xác

Trang 9

định vị trí của tác giả, tác phẩm trong sự phát triển chung của nền văn họchiện đại Việt Nam.”

Phương pháp thống kê: đối với từng thành tố trong chỉnh thể, khi cầnthiết, luận án thực hiện phân loại, thống kê qua các con số cụ thể

“Phương pháp so sánh: để khẳng định những điểm nổi bật, độc đáo trongquan niệm nghệ thuật cũng như thành tựu sáng tạo thơ của tác giả Dư ThịHoàn, luận án vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu trên cả hai chiều lịchđại và đồng đại.”

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: luận án áp dụng phương pháp này vìtác giả và tác phẩm luôn là sự kết hợp chặt chẽ của nhiều yếu tố: lịch sử, vănhóa, xã hội, ; nếu tách rời các yếu tố này và chỉ nghiên cứu dựa trên vănbản văn học thì sẽ không tìm ra được diện mạo và tính chất thực sự của tácgiả và tác phẩm ấy

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được cấu trúc với ba chương:

"Chương 1 Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ DưThị Hoàn”

"Chương 2 Cấu tứ trong thơ Dư Thị Hoàn”

"Chương 3 Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn”

Chương 1

Trang 10

HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

CỦA NHÀ THƠ DƯ THỊ HOÀN

1.1 Hành trình sáng tác của Dư Thị Hoàn

1.1.1 Cuộc đời của nhà thơ

Dư Thị Hoàn tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tại Hải Phòng,quê gốc ở Trung Quốc Dư Thị Hoàn là một cá nhân điển hình cho thân phậnbên lề, đứng ngoài đám đông (bị đuổi khỏi đám đông) Dư Thị Hoàn là ai?Câu hỏi giúp xác lập một căn tính chủ thể nhưng lại buộc đối diện với việcphải “khai quật một con người đã chết” như lời Vương Oanh Nhi thú nhận

“Hoàn” thực ra là cách đảo tự của “Oanh” Dư Thị Hoàn là “cái Oanh thừa”.Tại sao lại là cái Oanh thừa? Phải chăng đó là mặc cảm tự ti về thân phậnthấp kém, bị gạt ra khỏi đám đông Cái Oanh thừa còn phản ánh tình trạng bịmất tên, sự vô nghĩa của đời sống Sự vô nghĩa đến từ tâm trạng thất vọngtrước thực tại bị phản bội: “Họ cảm thấy bị giảm giá trị và tự trách mình vềmọi chuyện Nhưng những sự buộc tội đó thực sự nhắm vào một ngườikhác”[13] Hiển nhiên, tâm lý này đồng thời ngầm chứa một tình yêu đối vớichính bản thân họ, lý giải cho những u buồn, tuyệt vọng, chán chường, giận

dữ, lo âu,… đang âm ỉ trong sâu thẳm của vô thức Tuy vậy, ít người biết từcâu chuyện của Vương Oanh Nhi, Dư Thị Hoàn còn có nghĩa là “có đủ (dư)sức để hoàn thành” Thế nên, ngay trong cái tên ấy đã diễn ra sự giao tranhgiữa mặc cảm vô nghĩa, thân phận bị gạt bỏ và ý chí khẳng định năng lựcsống và vươn lên của người phụ nữ trong chính hoàn cảnh sống ngặt nghèo

mà chị phải nếm trải Sinh năm 1947, trong gia đình họ Vương, gốc Hoa,Vương Oanh Nhi đã có tuổi thơ trong nhung lụa của một gia đình quý tộc

Cha của Vương Oanh Nhi là chủ bút của Tạp chí Cương Phong - tạp chí hải

Trang 11

ngoại duy nhất của Trung Hoa ở Đông Nam Á đóng trên địa bàn Hải Phòng.Trong ký ức của Vương Oanh Nhi, người Tàu và người Tây ở Hải Phòngtrước 1955 là những cộng đồng sống sang trọng và đủ đầy hơn người bản xứ

rất nhiều Gia đình sống trong khu xưởng in, tòa soạn của tạp chí Cương

Phong, Nhi được chăm bẵm và cưng chiều Ký ức xưa cũ của người đàn bà

quý phái vẫn không phai hình ảnh những đứa trẻ nhà họ Vương luôn đượcnâng niu chuyền từ tay người này sang tay người khác Lên 7 tuổi (1955),Hải Phòng được tiếp quản Chính sách đối với Hoa Kiều của nhà nước đãloại bỏ những đặc ân của họ Gia đình họ Vương dần sa sút Cuộc sốngnhung lụa chỉ còn là những tiếc nuối xa xôi Người mẹ quý tộc của Nhi phảibươn chải bằng nghề đan len để kiếm sống Gia sản thất tán, Vương OanhNhi đến trường bằng đôi chân trần, lấm láp và nứt nẻ. Trường Kiều Trungchứng kiến những năm tháng học hành vừa vất vả, vừa đầy cố gắng của Nhi

Ở đó, có một cô gái nhỏ bị kỳ thị như chính số phận Hoa kiều và cũng ở đóchứng kiến sự nỗ lực để vươn lên của Nhi Học hết trung học hệ 10 năm,Vương Oanh Nhi thi đại học đạt điểm cao nhất (18 điểm), nhưng lý lịchngười Hoa không cho Nhi đến trường dù Nhi đã âm thầm chuẩn bị hànhtrang cho những tháng năm ở giảng đường Không được đi học, Nhi xin làmcông nhân, một hành động chủ động cải tạo mình để trở thành giai cấp vôsản mong sẽ được chiếu cố Ngay cả hành động này, Vương Oanh Nhi cũngrất nhiệt thành với niềm tin xây dựng Việt Nam như là quê hương, Tổ quốccủa mình Trở thành công nhân xưởng đóng tàu, đứng máy tiện, VươngOanh Nhi là một người thợ lành nghề, được tuyên dương, sản phẩm đượctriển lãm Nhi được đi học hàm thụ Sau sự kiện chiến tranh biên giới Việt -Trung (1979), làn sóng bài Hoa đã đẩy Vương Oanh Nhi và gia đình vàocảnh sống ngặt nghèo, gieo neo Người đàn bà Hoa thôi không được làm

Trang 12

công nhân nữa, chị chuyển sang buôn thúng, bán mẹt, chạy chợ, dệt len, cọrửa nhà vệ sinh, thông cống, làm đủ nghề để nuôi con, nuôi gia đình tronghoàn cảnh người chồng - nhà thơ Trịnh Hoài Giang, bị ảnh hưởng tâm lý bàiHoa cũng xa lánh vợ Những ngày tháng khó khăn đó, Vương Oanh Nhi bịstress nặng, đến mức phải đưa vào nhà thương điên và liên tục phải dùngthuốc ngủ, thuốc an thần, những viên thuốc nhằm kiềm chế cơn điên củaVương Oanh Nhi Cái tên Dư Thị Hoàn có lẽ ra đời trong bối cảnh ấy Dùsao, vẫn thôi thúc không nguôi trong chị ý chí vượt lên để hoàn thành tất cảnhững công việc mà một người phụ nữ, người vợ, người mẹ thấy cần phảilàm Hơn hết, nhiệm vụ làm một con người đúng như mình mong muốn đãgiúp Vương Oanh Nhi đứng vững, thành đạt, đến mức ở đất Cảng lúc ấyngười ta truyền tai nhau về địa vị của chị: nhất Lự nhì Nhi Từ cuộc sốngbuôn thúng bán bưng, chạy chợ, Vương Oanh Nhi trở thành đại diện của 14doanh nghiệp Hồng Kông, Đài Loan nhập cảnh và quá cảnh hàng hóa quacảng Hải Phòng Cùng với việc kinh doanh, Vương Oanh Nhi sáng tác vănnghệ, trở thành Trưởng chi hội thơ, Hội phó Hội Văn nghệ Hải Phòng, Uỷviên BCH Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng Dưới thời của DưThị Hoàn, có những hoạt động văn nghệ chưa từng có đã diễn ra Điều này

càng cho thấy Dư Thị Hoàn mang nghĩa là dư sức hoàn thành công việc hơn

là cái Oanh thừa như chị đã tự nhận Vương Oanh Nhi muốn làm được tất cả

những gì mà mọi người có thể làm, một người đàn bà có thể làm (ngay cả làlàm thơ, làm cán bộ, làm nhà quản lý kinh tế,…) Ý thức rất cao về giới,nhưng không phải là giới nữ - nữ tính như những diễn ngôn về điều đó ápđặt Với chị, người đàn bà trước hết là một con người và cuộc sống mà conngười ấy đang trải qua cần phải được thực hiện bằng ý chí, sức mạnh tối đa,không bị ràng buộc bởi quy ước giới tính tiên nghiệm nào Dẫu tự nhận

Trang 13

mình là người đàn bà khác thường, nhưng, điều chúng ta có thể thấy, đó làngười phụ nữ đẹp, giàu nghị lực và cá tính.

Người đầu tiên phát hiện ra Dư Thị Hoàn là nhà thơ Trinh Đường Ông

lặng lẽ ghi chép, sau đó gửi tới nhà thơ Trần Ninh Hồ Báo Văn Nghệ phá

luật, cho in liền một lúc 3 bài trình làng Hồi đó là thời kỳ bắt đầu đổi mới,

Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài được in những tác phẩm

đầu tay lên báo Văn Nghệ Ba tác giả trên được GS Nguyễn Đăng Mạnh tổ

chức hội thảo “Thời sự văn học” năm 1989 tại Trường Đại học Sư phạm Hà

Nội Khi Dư Thị Hoàn lên đọc bài thơ Số phận thay cho lời phát biểu, cử tọa

vô cùng xúc động - chị phải ba lần đứng dậy chào đáp lễ bởi tiếng vỗ taykhông ngớt Có buổi đọc thơ ở Trường Đại học Tổng hợp, sinh viên khócnức nở Đó là những kỷ niệm trong đời thơ mà không bao giờ Dư Thị Hoànngờ tới [13]

Từ khi nhân loại biết suy tư và có chữ viết, các tư tưởng gia, triết gia đãtìm cách định nghĩa thơ; rồi, bao giờ họ cũng bất lực trước bí ẩn của thơ.Thế hệ đi tới lại có nỗ lực mới, khác Không ít người coi thơ là cõi thiêng kẻphàm không thể đụng tới, bên cạnh đó lại có người thẳng thừng từ chối thơ,xem thơ như loài ký sinh vô dụng với nỗi có mặt vô ích của nó Dẫu sao đinữa, thơ cứ tồn tại, ở bất kỳ đâu, dân tộc hay thời đại nào Như thể nó làthuộc tính của con người, không dứt ra được

Trước Dư Thị Hoàn, đã có những nhà thơ nữ có tên tuổi Điều đó buộcchị phải chọn một lối thơ khác để khỏi bị chìm ngập sau họ Đó là luậtnghiệt ngã của sáng tạo Chị đã chọn cho mình một lối đi riêng và bài thơ

Lối nhỏ là một tuyên ngôn về thơ, về cuộc đời, được chọn làm đề từ và làm

tên chung của cả tập Cuộc đời có muôn ngàn lối, đường đến với tình yêu,với nghệ thuật cũng vậy Mỗi người phải tự tìm cho mình một con đường để

Trang 14

đi đến đích Dư Thị Hoàn đã chọn cho mình một “Lối nhỏ” lặng lẽ và quyếtliệt Chị xuất hiện trước độc giả với gương mặt thơ mới lạ, vừa có nét kiêu

sa, vừa thân thuộc, gần gũi

Có thể Dư Thị Hoàn là một phụ nữ bất hạnh trong đời thường, nhưng chị

lại là một nhà thơ may mắn Tập thơ đầu tay Lối nhỏ in năm 1988 của chị

được vun đắp bởi Hội Văn nghệ Hải Phòng thời những nhà thơ đất Cảng cònnguyên sự trân trọng đối với thơ Sự trân trọng ấy thể hiện ngay ở “Lời giớithiệu” mà sau gần một phần tư thế kỷ hoặc lâu hơn nữa, khi muốn hiểu về

Dư Thị Hoàn vẫn có thể tin cậy trích dẫn: “Cặp mắt mở to, có phần ngơngác, thiếu phụ gầy nhỏ này là người Việt gốc Hoa Còn các con của chị thì

mang một dòng họ Việt Ấn tượng về tập thơ Lối nhỏ này là ít có những câu

thơ đứng tách độc lập dễ nhớ Đây là điểm khác lạ của thơ Dư Thị Hoàn, đặttrong sự vận động, phát triển của thơ Việt Nam nói chung” [11]

Con người ấy rất ý tứ, cẩn trọng trong hình thức Vậy mà vẫn không giấunổi những nét trễ nải, lo âu dù rất khó nhận thấy Có khi chỉ là ở một khoảng

mơ hồ trên trán, có khi là ở chiếc khăn vừa tuột khỏi vai Ai biết được rằng

đó là dấu vết mệt mỏi sau những dằn vặt với thi ca hay những vật vã, tảo tầntrong cuộc mưu sinh thường nhật Lúc bà 41 tuổi mới bước vào làng thơbằng một “Lối nhỏ”, Dư Thị Hoàn dường như không có ý định làm thơ nhưmột sự chọn lựa sinh tồn, mà thơ đến với chị như sự bù đắp những nghiêng

ngả mệnh kiếp long đong Bài Mười năm tiếng khóc ít nhiều cho thấy thơ

Dư Thị Hoàn khởi đi từ ngăn cách trái ngang:

Sao mẹ không nói cho rõ

M con mình r i m i ng ẹ ồ ỗ ườ i m t ng ộ ả

Để con đượ c lao vào lòng m ẹ

Khóc cho h t h i ế ơ

Trang 15

Khóc cho tr i s p ờ ậ

Khóc cho c t i n ộ đ ệ đổ

Khóc cho tà v t trôi ẹ

Khóc cho còi tàu c m b t ă ặ

Khóc cho tay lái r i vô l ng ờ ă

Khóc cho oàn tàu không dám l n bánh… đ ă

Và chị thảng thốt gọi Tổ quốc với tất cả giằng xé của người đàn bà chịu

đựng đớn đau về quan niệm rạch ròi nơi cội rễ và nơi sinh thành trong mộtkhoảnh khắc lịch sử trớ trêu:

Đất đai đóng khung vì người

Tình yêu chật hẹp vì người

Những lúc người thành cái chiêu bài, của hạng buôn máu tươi

và thuốc nổ

Đường viền của người thắt quặn trái tim tôi.

Chính bi kịch cá nhân đã giúp Dư Thị Hoàn nhận ra trên trần gian ngỡyên ả này vẫn còn lắm con người bị trôi dạt bởi phân biệt đối xử, bởi trù dập

nhẫn tâm, bởi đố kỵ nghiệt ngã, và chị quyết định Khi cầm bút có một thái

độ rõ ràng:

Tôi mong được làm điểm tựa

Chống chọi sức đè nén

Cho đòn bẩy nhấc bổng cuộc đời những người xấu số.

Thơ Dư Thị Hoàn ám ảnh người đọc bởi lối suy tưởng, triết lý độc đáo,

tạo nên những bất ngờ Bài thơ Đi lễ chùa là một minh chứng.

"Năm người đàn bà cùng ngồi trên xe ngựa"

"Tay khư khư ôm đầy vật tế lễ"

"Người thứ nhất thở dài: "

Trang 16

- "Tội nghiệp nhất người đàn bà không chồng"

"Người thứ hai chép miệng: "

- "Vô phúc nhất người đàn bà không con"

"Người thứ ba cười buông: "

- "Bất hạnh nhất người đàn bà không khóc nổi trước mặt chồng"

"Người thứ tư điềm đạm: "

- "Tuyệt vọng nhất người đàn bà không cười được khi thấy con"

Người thứ năm:

- Mô phật!

Lão xà ích giật dây cương

Roi quất

Tung bụi đường.

Năm người đàn bà đi lễ chùa là năm số phận Người nào cũng có nhữngnỗi niềm riêng, nỗi đau riêng của thân phận đàn bà Đọc bài thơ ta như tìm

về sự an ủi, nhẹ nhõm hơn trước cuộc đời vốn thăng trầm và đầy biến động

Nhưng có lẽ người đàn bà thứ năm là “tội nghiệp nhất”, “vô phúc nhất”,

“bất hạnh nhất” và “tuyệt vọng nhất” Khi nỗi đau lên đến tột cùng, người

đàn bà thứ năm không than thở điều gì, và cũng chẳng biết than thở cùng ai,

than thở thế nào Thôi thì hãy tìm về cõi Thiền và chỉ nói Mô Phật! Tìm đến

cõi Phật để rũ bỏ mọi muộn phiền của đời sống trần tục, để nương tựa vàbình tâm sau những tai ương, mất mát, nạn kiếp của cuộc đời Thế nhưngliệu đó có phải là giải pháp tối ưu?

Thơ Dư Thị Hoàn dữ dội? Đúng! Thơ Dư Thị Hoàn ngổn ngang? Cũng

đúng! Thế nhưng, cộng tập thơ Lối nhỏ và tập thơ Bài mẫu giáo sáng thế do

Nxb Hội Nhà văn in năm 1998, thì giới yêu thơ rút ra được một điều tươngđối lý thú: mỗi bài thơ của Dư Thị Hoàn đều mang sứ mệnh như một vệ sĩ

Trang 17

tận tụy đứng canh chừng một số phận bấp bênh Sự va đập trực diện với đờithường khiến mọi uyển ngữ hay nhã ngữ không có chỗ phô trương trong thơchị Tuy nhiên, Dư Thị Hoàn biết cách tạo ám ảnh bất ngờ từ những đưa đẩy

nho nhỏ Bốn cặp đối đáp vừa xuê xoa vừa lắt léo đem cho bài thơ Thôn quả

phụ một vẻ đẹp mong manh:

Cho anh tiễn em tới gốc cây đa

Thôi, xin cám ơn

Cho anh tiễn em qua chân cầu gỗ

Thôi Em cám ơn lần nữa

Anh chỉ tiễn em đến ngôi chùa đổ

Thôi mà… khi khác… em xin

Thế thì cho anh địa chỉ

Kia kìa, đằng sau cơn mưa

Chỉ cần câu thơ cuối cùng đã biến mọi lời đãi bôi trở thành một bài thơrạng rỡ Không thể nào phủ nhận “đằng sau cơn mưa” là một ký hiệu thẩm

mỹ Nơi vời vợi ấy có thể có ngôi nhà hiện hữu, nhưng có thể chỉ là mịt mùnước mắt, có thể chỉ là hắt hiu chờ đợi, có thể chỉ là vô vọng ngóng trông

Không thể nói khác hơn, Thôn quả phụ là trường hợp bài thơ không cần câu

thơ nào, mà dựa vào một ký hiệu thẩm mỹ

Thơ Dư Thị Hoàn xa lạ với những chú giải thuần túy Trong sự khốc liệt

có sự yếu đuối, trong sự nghẹn ngào có sự bao dung Bên cạnh những bàithơ có vẻ tùy hứng, Dư Thị Hoàn cũng có không ít bài thơ chứng tỏ sự quan

tâm đến kỹ thuật viết, như bài Đêm tân hôn gồm bảy câu:

Em như con tàu gặp bão

Rừng san hô đáy biển

Chưa kịp buông neo

Trang 18

Chưa kịp buông neo

Rừng san hô đáy biển

Em như con tàu gặp bão

Đêm tân hôn

Nếu gắn cả tên bài thơ vào toàn bài, thì Đêm tân hôn có bốn câu thơ được thay đổi thứ tự xuôi ngược Ở góc độ thi học cấu trúc, Đêm tân hôn khai thác

triệt để yếu tố chuyển dịch hình thức của một văn bản thơ Tâm tình củanhân vật quay tròn theo câu thơ như đất trời mùa ân ái tít mù xoay chăng?

Với Đêm tân hôn, hình thức trợ lực cho nội dung diễn đạt trọn vẹn ý tình của

bài thơ

"Trong con người Dư Thị Hoàn, đôi lúc người đọc thấy có gì không yên

ổn Mọi thứ như đổ vỡ, biến dạng Và những câu thơ như không giấu đượccái tâm trạng bất an đó.”

Tất cả đều biến dạng

Méo mó

Mọi người đều hóa hình quái gở

Người ta tung tiền vào đây

Trang 19

"Dường như Dư Thị Hoàn thấy cả cái thế giới quanh mình là một cái nhàcười, mà chị không chấp nhận Mà thực ra, nếu cái thế giới hỗn độn này vốn

nó là cái nhà cười, thì cần thiết là con người phải thích nghi với nó Nhưngchị không chịu thế Chị bỏ nơi đất Cảng, để tới nơi không phải bên hồ nướcxanh ngăn ngắt thở than, không phải giữa thung lũng đầy hoa mộng mơ,không phải nếp nhà yểu điệu bên con dốc phố thị vồng vềnh lên xuống, màchị chọn vạt đồi cô liêu bên kia con suối, cách xa phố phường Đà Lạt, làmcăn nhà gỗ nho nhỏ để trú ngụ Rõ ràng, thái độ trữ tình của thơ Dư ThịHoàn không hẳn để thuyết phục độc giả, mà mở ra cho họ cơ hội dự phầnlặng lẽ và thân thiện.”

"Chị chọn nơi u tịch, cô liêu để sống Khước từ mọi tiện nghi vật chất,khước từ thế giới văn minh, khước từ đám đông ồn ào vốn hay tranh giành

và khoe mẽ, chị chọn chốn hoang vắng để lập am nhỏ tu thân Người takhông hình dung nổi những đêm mưa giông, nếp nhà gỗ nhỏ bé và cánh cửa

hờ hững gió đập tơi bời, một thân một mình, chị trú ngụ ra sao? Con đườngdẫn lên nếp nhà cheo leo lưng chừng đồi, lại phải băng qua con suối Mùamưa, nước nguồn đổ về, con suối gào thét từng cuốn đi chiếc cầu gỗ bắctạm.”

"Mùa khô, nước suối cạn, có khi cả tuần không có nước sinh hoạt Chịbình thản ngồi thiền trong không gian tâm linh nhỏ bé Có thể hình dung chịhạnh phúc khi ngắm giọt sương còn đọng trên cành cây ban sớm Hoặc mànđêm buông, tiếng côn trùng tấu lên bản nhạc hoang dại, mê man Nhữngngôi sao trên bầu trời lấp lánh, như gần tay hái được.”

"Hạnh phúc là những gì mình mong muốn và có được Chị sống bình tâm

ở mảnh đất heo hút này đã gần chín năm, có phải vì những cơn cớ đó chăng?Chị lựa chọn hay số phận đưa đẩy? Người phụ nữ đoan trang và quen chăm

Trang 20

chút hình thức từng chi tiết, nay ưa vận quần áo gụ như quần áo nhà chùa, tựxưng Lão Bà Bà Ấy là tự xưng, như thể tự an ủi mình.”

"Nhưng thực sự chị trốn chạy đám đông, để lên núi ở một mình, như đã

nhập vào tâm thức Dư Thị Hoàn tự lâu rồi Nhớ bài thơ trong tập thơ Lối nhỏ, từ năm trước, chị đã viết:”

Đừng bắt tôi lên diễn đàn

Đừng buộc tôi ra sân khấu

Hãy để tôi ngồi yên trong góc tối

Như cái triện đen

Giáng xuống

Tờ khai sinh của tôi

Thời cuộc sắp đặt tôi

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Dư Thị Hoàn là nữ, nữ thật (không phải nữ kiểu Lưu Thị Hạnh, tác giả 15năm về trước - 1942, mà lại chính là Hồ Dzếnh), thậm chí một thời còn đượctôn là hoa khôi trường Hoa kiều Trung học (Hải Phòng), “có phần” nữa khác

vì Dư Thị Hoàn gốc Hoa trăm phần trăm Hai phần ấy chẳng qua tiểu dị;điểm đại đồng đáng quý giữa hai cây bút này là nếu Hồ Dzếnh được coi như

“con nuôi nước Việt” (xem Tác phẩm chọn lọc - Nxb Văn học, 1988), thì giờ

Trang 21

đây Dư Thị Hoàn cũng tâm niệm một lòng gắn bó với mảnh đất thân quenqua nửa đời người Hiện nay, mẹ và các em của chị đang sống ở một xứ xa

xôi “bên kia bờ biển Rực ánh đèn thâu đêm nê-ông” (Bức thư người Hoa); nhưng tác giả tập thơ Lối nhỏ vẫn tự nguyện làm “giọt máu sẻ chia miền đất

xa tít tắp”, hàng ngày cùng chồng con “thương nhau, xì xụp bát canh bầu

ám khói” ở “dải đất này chao đảo” Cái “dải đất” mà tác giả Quê ngoại hằng

“yêu mến bằng một tấm lòng trọng đại vô song” mặc dầu đời thường thuở ấy cũng “không được huy hoàng rực rỡ” (Em Dìn, 1943) Tác giả Lối nhỏ tự

nguyện ở lại đất Việt, để như chị thường tâm sự với bạn bè - làm thơ:

Nếu mai sau

Bài thơ được chắp cánh bay cao

Bằng lao động kiệt cùng

Chị sẽ đền ơn mẹ

Và lúc đó đừng ngạc nhiên các em nhé

Nếu chị không dùng tiếng mẹ đẻ

Nếu bài thơ viết bằng ngôn ngữ

Của một dân tộc đau khổ

Mẹ và các em đã rời bỏ, lìa xa.

(Bức thư người Hoa, 1987)

Mới chính thức bước lên thi đàn, Dư Thị Hoàn đã gây được sự chú ý đặc

biệt của người đọc với ba bài thơ đăng trên tuần báo Văn Nghệ (số 1244, ngày 5 - 9 -1987): Viên mãn, Bước chân chậm, Trong bệnh viện tâm thần Trong Bước chân chậm, giữa “những ngày ốm đau… Em chỉ mong có một

tiếng gõ cửa”, thế rồi một sớm mai, tiếng ai đã động mái ngoài:

Tiếng bước chân anh ngoài cửa

Em hồi hộp rút then ngang khe khẽ

Trang 22

Anh đã đến với em

Nhưng có ngờ đâu

Nắng buổi sáng

Nắng chói chang

Đã ùa vào ôm gọn em trước mặt anh

Anh đến với em

Muộn mất rồi

Cái “nắng buổi sáng” ngang nhiên ôm người theo kiểu Lược hôn cổ quáinhư vậy hình như là một trong những hình tượng thơ hiếm thấy trong thơ cađông tây kim cổ Hình tượng thơ dị thường ấy hàm nghĩa ra sao? Tất cảngười đời đều chậm trễ cả chăng? Hạnh phúc vô thường chăng? Định mệnhchăng? Bạn đọc cứ nên khám phá, nghĩ suy Khoảng hai trăm năm vềtrước, “Ông già lười” mà nhất mực siêng năng Lãn Ông - Lê Hữu Trác đãgóp ý với chúng ta rồi: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay Phải làm chongười đọc suy nghĩ mới hiểu được thì mới hay Không phải bất cứ điều gìcũng phải nói ra bằng lời”! Bạn đọc trước bài thơ hãy cứ nên “đối diện đàmtâm”

Đến bài Trong bệnh viện tâm thần:

Tôi sẽ khỏi bệnh

Lại dịu dàng hát bên chiếc khung thêu ngày ấy

Không cần bác sĩ

Không cần những viên thuốc đắt tiền

Chỉ cần đôi bàn tay nào run rẩy mang đến

Một nhành hoa dại thôi.

“Một nhành hoa dại thôi”! Nét bút thơ lại khơi gợi ra miền nào thămthẳm nữa! “Hoa dại”, hoa đồng nội kỷ niệm tình yêu tuổi xanh xa xưa không

Trang 23

bao giờ trở lại, hay hoa của bây giờ - anh nghèo lắm không đủ tiền đối thoạivới quán hoa nhưng là “một nhành” hương sắc hồn hậu của trời đất mưachăm nắng bón như tình người và hạnh phúc, được biểu lộ qua tiếng thơ độtxuất đến thế hẳn cũng không nhiều.

Cách nhau nửa thế kỷ, văn Chân trời cũ rồi thơ Dư Thị Hoàn qua tập Lối

nhỏ đã làm biểu lộ cái hằng số bi kịch của một địa bàn cư dân Đông và Nam

Á Liệu chúng ta có liên quan gì với cái hằng số này không? Khi xưa vănhào Pháp Huygo trả lời rồi: “Đừng tưởng không có anh trong những dòngriêng tư của người viết” Biêlinxki nói rõ thêm: “Bất cứ nhà nào, sở dĩ họ vĩđại là bởi vì có những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâuthẳm của lịch sử xã hội” Có lẽ độc giả sẽ không cảm thấy xa lạ với tứ thơ

Trang 24

Em mang bản án chung thân

Anh mãi mãi là mặt trời

Của người vợ đáng thương ấy

Lẽ ra trên thế gian này

Đừng nên có em

(Chị ấy - 1987)

Nữ thi sĩ am hiểu văn học và văn hoá Trung Hoa này muốn xử thế theo chữ

“nhân” trái tim Nho giáo: “Kỷ sở bất dục, bất thi ư nhân” (Điều mình khôngmuốn, chớ làm với người) Đó là một nét nhân bản khả thủ, kết quả của việctiếp thụ truyền thống, nhưng ứng xử vị tha “duy lý” như vậy lại có phần gâynguy cơ thêm cho tâm bệnh nan y Bị bao vây giữa biết bao giằng xé (nội

tâm, gia đình, đất nước), tác giả Lối nhỏ không thể trèo lên đỉnh núi cao theo

gót thiền sư xưa mà “Kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời” (Trường khiếu nhấtthanh hàn thái hư - Không Lộ thiền sư); “lòng buồn đành tìm đến với những

Đêm trắng một mình mình biết, một mình mình hay:

"Đêm mất ngủ ngọt ngào"

"Báo tử từng tế bào vỏ não"

"Ta không dại dột nữa đâu"

"Hỡi viên thuốc ngủ"

Trang 25

chung thân” bản án thiên sinh không cội nguồn khởi tố.

Niềm đau vô oán thấp thoáng này đã từng xuất hiện “toàn phần” trongthơ ca Việt Nam từ trước 1945 với tên gọi “sầu vô cớ” (thiên cổ sầu, vạn cổsầu) Về bản thể là sầu nghìn xưa, sầu muôn thuở của người, một tínhthường nhân loại - sầu tính dã! - một niềm đau vô oán: “Nghĩ trời đất vôcùng, một mình tuôn giọt lệ” (Niệm thiên địa chi du du - Độc thương thiênnhi lệ hạ - Trần Tử Ngang) Dạo đầu cho khúc nhạc sầu vô cớ trong vănchương lãng mạn là Tản Đà: “Sầu không có mối, chém sao cho đứt, sầukhông có khối, đập sao cho tan”; tiếp đó là Huy Cận: “Một chiếc linh hồnnhỏ, mang mang thiên cổ sầu”; Xuân Diệu: “Tôi buồn không hiểu vì sao tôibuồn”; Tế Hanh: “ không biết cớ sao buồn”

Như vậy, niềm đau vô oán bàng bạc trong Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn có

mạch nối lịch đại với thơ Việt Nam quá khứ Nỗi niềm ấy lại cũng có quan

hệ đồng đại với một số thi tứ trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại(nhất là mấy năm gần đây): đó là những cảm xúc về tình yêu chia ly, tuổi giàđến sớm Kêu lên những nỗi niềm sầu vô cớ, đau vô oán một cách thấmthía đẫm tính mỹ học, các thi nhân xưa và nay không làm chuyện vô bổ mà

Trang 26

hữu ích, không hành động tiêu cực mà tích cực: họ đã đánh thức tính tươngthân và tương trợ của cộng đồng nhân loại - cái nhân loại có dị biệt giai cấp

mà tương đồng bản mệnh: “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” (ca dao),

“Hận sự xưa nay khó hỏi trời” (Cổ kim hận sự thiên nan vấn - Nguyễn Du) Nghệ sĩ nói về cái sầu thường dễ được thế nhân cộng cảm vì nhân loại đồngbệnh: “Đồng bệnh tương lân” - thi sĩ nổi tiếng Pháp A Muyxê từng nhậnxét: “Lời tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất - Tiếng nấc kia chứa tuyệt bút muônđời” ( Les plus désespérés sont les chants ies plus beaux - Et j’en saisd’immortels qui sont de purs sanglots ) Do nhiều nguyên nhân, tinh thầncộng đồng nhân loại ngày càng thức tỉnh này đang chi phối một quan niệmphổ biến hiện nay: trái đất là một mái nhà chung, cần đối thoại giải trừ quân

bị, phải hợp sức bảo vệ môi sinh Nhìn lại những nhà nhân đạo chủ nghĩađại giác trong lịch sử loài người mà một số đã được tôn vinh giáo chủ, tathấy hạt nhân minh triết của các vị cũng không ngoài ý thức sâu sắc về nỗiđau “Bọt trong bể khổ ” (Nguyễn Gia Thiều), nhưng mà “Kiếp sinh ra thếbiết là tại đâu” (Nguyễn Du) , dẫn đến chủ thuyết một tình yêu lớn: Giê-sunói “Bác ái”, Tất-đạt-ma giảng “Từ bi”, Khổng Khâu khuyên “nhân” và MặcĐịch “mòn chân lỏng gót” trên bao nẻo đường liệt quốc cũng chỉ cốt kêu lên

một lời khuyến dụ: “kiêm ái” (gồm yêu - amour universel) Tiếng khóc khan hay đẫm lệ thoảng vang Lối nhỏ, qui căn đáo để, phải chăng cũng là

một mảnh hồn nhân bản, có công năng gọi thức tình người

"Với nội dung khá đặc thù, thơ Lối nhỏ va đập mạnh tâm thức độc giả chủyếu do tứ chứ không phải vì từ.” Nhiều lúc tác giả cũng đã hy sinh từ (kể cảvần và nhạc tính), cho tứ có ý thức hay không, nhà thơ đã tuân thủ kinhnghiệm cổ nhân: “Người xưa không bỏ phép luyện chữ Nhưng lấy cái hơn ý

mà không lấy cái hơn về lời” (Thẩm Đức Tiềm) Đặc biệt trong cấu tứ thì

Trang 27

tương tự Đường thi, trọng tâm tứ thơ Dư Thị Hoàn thường lắng đọng ở mấy

câu kết có tính đột biến (coup de théâtre) Có thể coi bài Tan vỡ là tiêu biểu.

Chỉ vì cái tội “lơ đãng” mà anh - nhân vật trữ tình của chị - “mở ngăn kéorồi anh bỏ ngỏ / bút viết xong không đậy nắp bao giờ” Chị không hề trách

cứ, không lời phàn nàn, bởi có thể là anh mải nghĩ, mải làm rồi quên đấythôi Ai mà chẳng có lúc lơ đãng Hơn nữa chính sự lơ đãng nhiều khi đemlại cho cuộc sống một chút lãng mạn Và anh, anh cũng đáng yêu hơn Dướimắt nhìn của chị, anh như “con nai rừng ngơ ngác” trong thơ Lưu Trọng Lưgiữa đêm vàng hư ảo:

"Ôi anh yêu, lơ đãng đến là"

"Con nai rừng của em ”

Hai câu thơ của Dư Thị Hoàn đẹp trong cái nhìn thi vị và thật dễ thươngbởi tình yêu chân thật Được biết chị là con người ý tứ và cẩn trọng tronghình thức, thế mà, chị vẫn dành cho anh - nhân vật hay “lơ đãng” được nóiđến trong bài thơ - một sự bao dung

Cứ ngỡ “tất cả rồi sẽ dễ qua đi, qua đi”, hai con người yêu nhau kia “sẽthành vợ thành chồng” Câu chuyện thơ khép lại Nào ngờ cái điều chịmuốn trao gửi đến bạn đọc lại không chỉ là sự “lơ đãng” thường tình mà lại

là một vấn đề lớn hơn không thể tha thứ trong tình yêu:

"Nếu không có một lần "

"Một lần như đêm nay"

"Sau phút giây"

"Êm đềm trên ghế đá"

"Anh không cài lại khuy áo ngực cho em"

Những câu thơ gãy đổ, dự báo một tình yêu tan vỡ Anh có thể quên đóngngăn kéo, không đậy nắp bút và gì gì đi chăng nữa nhưng đừng bao giờ “lơ

Trang 28

đãng” kiểu đó “Dư Thị Hoàn không đòi hỏi một sự viên mãn trong tình yêubởi chị đã từng viết:” “Nếu anh cũng như em/ đòi nhau sự viên mãn/

thì điểm gặp nhau của chúng ta/ còn thảm hại hơn hai hòn bi” (Viên mãn).

lộ một cách mãnh liệt và trần trụi trong bài thơ Tan vỡ

Cũng do tác giả thơ Lối nhỏ dồn tinh lực sáng tạo cho tứ thơ nên trường hợp tứ thơ bị đuối thì toàn bài trở thành mờ nhạt dễ quên (Qua đèo Hải Vân,

Một giọt nước mắt ) Dẫu sao mặc lòng, chỉ cần những bài đặc sắc trong số

hơn 40 bài của tác phẩm đầu tay, như bài thơ sau đây, Dư Thị Hoàn cũngđáng được chúng ta trân trọng:

Màu tím của ngày hôm qua

Màu hồng ngày hôm kia

Trang 29

Cả màu trắng trong ngày xưa nữa

Bội mùa hư không

***

Khâu lại chiếc ba-lô chưa kịp rũ bụi

- ừ , em đi

Lại một hành trình không chú thích

Thân gái dặm trường

Mùa nào mà chẳng hư không

(Vi vu)

Thơ Dư Thị Hoàn không dễ trích dẫn vì mỗi đơn vị bài thơ không hướng đến miêu tả một tình huống mà để tái dựng một cảm giác Thơ chị không chủ đích gợi suy tư hoặc gợi hình tượng mà đích hướng đến là rung động lòng người

1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Dư Thị Hoàn

1.2.1 Quan niệm thơ về cuộc sống

Trên con đường tìm tòi sáng tạo, mỗi nhà thơ có cách đi riêng, có thất bạingậm ngùi, có thành công trong mồ hôi nước mắt; nhiều thể nghiệm dở dang

và phần lớn là đoạn kết còn bỏ lửng Đối với Dư Thị Hoàn, làm thơ là nhucầu sáng tạo, nhu cầu tự thể hiện tình yêu của mình với cuộc sống thông quathế giới nghệ thuật trong thơ Với một tâm hồn giàu yêu thương, nhạy cảm,tinh tế, cùng với những hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, Dư Thị Hoàn đã thểhiện một thế giới tuổi thơ hồn nhiên, kỳ ảo, rất đa dạng, phong phú và sinhđộng

Thơ Dư Thị Hoàn vừa nối tiếp cái dòng hồn nhiên tin yêu cuộc sống vừa

có sự vươn lên phản ánh hiện thực phong phú của thời chiến và sự kỳ diệutrong bom đạn, niềm khát khao một cuộc sống yên bình Thật vậy, những

Trang 30

vần thơ của Dư Thị Hoàn vẫn luôn mạnh mẽ, sôi nổi một tình yêu với cuộcđời Nhà thơ tìm thấy cái cao cả trong cái giản dị, cái vĩnh cửu trong nhữngthứ nhỏ nhoi, bình thường.

1.2.2 Quan niệm thơ về con người

Dư Thị Hoàn tôn trọng con người cá nhân, thơ bà hướng nội, hướng tớinhững vấn đề của nội tâm Trong tâm hồn của nhà thơ, không có tình cảmnửa vời mà bà luôn nói với cảm xúc ở mức độ cao nhất Qua đó, nhà thơ cótài viết lên những chi tiết ngẫu nhiên quan sát từ đời sống con người, biếncác chi tiết thành có cảm xúc Thơ bà giàu tình cảm, sâu sắc và tinh tế khihướng về những ẩn khuất phía sau cuộc sống con người cá nhân và nâng lêntầm tư tưởng khái quát, triết lý

Trong thơ Dư Thị Hoàn, con người cá nhân luôn có sự hòa hợp với cộngđồng Nhà thơ hướng tới thể hiện những cảm hứng chính của con người thờiđại: tình yêu cuộc sống; tình yêu lớn với đất nước, nhân dân; những trải

nghiệm, suy ngẫm về cuộc đời và con người Lối nhỏ là hành trình trở về tìm

lại chính mình, tái cấu trúc cái tôi trong một không gian văn hoá mới chophép những nghịch luận, lệch chuẩn, không luật lệ, bất thường hiện hữu.Điều này, xét về bản chất của cấu trúc hệ thống là tái lập trạng thái bìnhthường sau những quãng thời gian bị đồng hoá Cái tôi ấy không phải là cáitôi được tạo dựng với những tri thức về giới, về thân phận, địa vị, thiên chứchay bổn phận Cái tôi ấy từ chối những viên thuốc an thần, từ chối sự sắpđặt, tạo dựng, để đi tìm lời giải cho câu hỏi: Có vậy thôi sao? Còn gì nữakhông? Có thật thế không? Từ chối “cơn mê sảng tập thể”, can đảm để mở

một lối đi khác, Lối nhỏ thể hiện một cảm quan khác về đời sống chỉ có thể

xuất hiện trong bối cảnh hậu chiến Khó khăn của người mở đường vào lốinhỏ trong tư cách một người phụ nữ là tâm lý tự ti của giới này Khi nghĩ vềgiới của mình, thói quen sống quá lâu với những niềm tin lệch lạc, sự sùng

Trang 31

bái giới tính thứ nhất đã khiến họ bắt đầu tư duy với các giá trị, tri thức sẵn

có mang đầy định kiến Điều này ngăn trở họ trở về với những diễn biến cốtlõi nhất của đời sống chủ thể Có thể nhận ra nhiều trường hợp như thế khinhìn về thơ nữ Việt Nam đương đại với Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị HồngNgát, Đoàn Thị Lam Luyến, Phương Thảo, Vi Thuỳ Linh,…

"Có những lời nói thật chẳng ai tin"

"Câu nói dối lên ngôi mà vĩ đại"

"Anh là đấng trong em mãi mãi"

"Kẻ muộn màng sám hối, chính là em! "

(Em chấp nhận lời nói dối - Đoàn Thị Lam Luyến)

"Tôi hôn Anh rưng rưng và biết mình đang trở thành nô lệ của tình yêu, ”

"một nô lệ không cần giải phóng"

"Tôi yêu Anh như tuân theo sự sắp đặt của Đấng Sáng Thể"

"Phủ phục trước Anh"

"Hiến dâng trong hạnh phúc tuyệt đích của nô lệ tình yêu"

"không muốn được giải phóng”

(Thánh giá - Vi Thuỳ Linh)

Trong thơ Dư Thị Hoàn người ta cũng bắt gặp những trạng thái tự ti

như thế Tâm thế của nhân vật trữ tình, vai giao tiếp (Ông - Em) trong Bức

tranh chưa vẽ là một minh chứng cho thói tự ti đã trở thành đồng minh với

những viên thuốc an thần:

Có phép mầu quỷ thần quyến rũ

Sẽ trở thành xà lim giam người tử tù

Nếu quả thật em nhỏ bé

Hơn kích thước ông mộng mơ

Trang 32

Nhận ra phép mầu quỷ thần, xà lim và thân phận tử tù, người nữ trongthơ Dư Thị Hoàn, dù tự ti, đã có những hành động cho thấy ý thức đào thoátkhỏi những bó buộc của khuôn khổ Biểu hiện của ý thức này chính là sựxuất hiện của những hoài nghi, những câu hỏi và hình tượng người phụ nữ

“không đoan chính”

Giày vò chính mình trong nỗi đau đánh mất bản sắc, Dư Thị Hoàn đãmang đến trong thơ những câu hỏi, những hình tượng mà qua đó, ít nhiều,người đọc có thể tìm kiếm được những dữ kiện về một sự rẽ ngoặt từ đường

lớn vào Lối nhỏ Đó chính là điểm nhấn về mặt tư tưởng của tập thơ này Ở

đây, trong luận điểm vừa nêu, có hai vấn đề cần được đánh giá là tạo nên

bước ngoặt Thứ nhất, những tra vấn về bản sắc nữ tính của chủ thể Thứ hai,

trình hiện một tưởng tượng về bản sắc nữ tính mới thông qua hình

tượng: Người phụ nữ không đoan chính Những hoài nghi có ý nghĩa trước

hết là thể hiện thái độ với thực tại đang hiện diện Thông qua đó bày tỏnhững dự phóng về thực tại mới Chỉ riêng việc hoài nghi đã là một nỗ lực,một cố gắng rất đáng trân trọng của Dư Thị Hoàn Hoài nghi tự xác lập tưthế của nó là ngoảnh lại, là tách ra khỏi đám đông, là đi con đường khác vớinhững niềm tin được tạo dựng Bởi thế, hình tượng người phụ nữ khôngđoan chính hiện diện như một tạo dựng mới, cho phép chúng ta vượt quanhững định kiến:

Giật mình tôi ngoảnh lại

Trang 33

sự sáng tạo (lại) người phụ nữ - người sáng tạo/ chủ thể trong tư thế kháng

cự hệ thống luân lý cùng những diễn ngôn về nữ tính

Dường như, “bí ẩn nữ tính” được gợi mở ở đây, trong niềm vui hoangthai Tất cả búa rìu của luân lý không che giấu được niềm hạnh phúc trong

mắt người phụ nữ đi về Lối nhỏ Ở đó, họ bắt gặp điều mà trước kia họ lờ

mờ nhận thấy nhưng luôn bị đè nén, kiềm toả Hoang thai, ngoại tình chắcchắn là một tội tày đình trong quy phạm luân lý truyền thống

Biết làm sao bây giờ

Chính lối này đưa em tới anh

(Lối nhỏ)

Trong những cấm kỵ, tội lỗi, người phụ nữ tìm thấy niềm hạnh phúc,được sống cảm giác đến từ thân thể của họ, làm hiện lên một phần của mảnh

ghép còn thiếu về bức tranh nữ giới Chính lối này đưa em tới anh diễn giải

trạng thái chủ động của người phụ nữ trong việc kiếm tìm bí ẩn của mình

Trang 34

Chán chường, giận dữ, lo sợ là cảm giác có thể lý giải trên hành trình rẽngoặt vào lối nhỏ, xa lánh đám đông, xa lánh những chuẩn mực đảm bảo sự

an toàn cho họ trên đường lớn Cái giá phải trả cho lệch chuẩn là việc bị kết

án hư hỏng hoặc quy chụp cho họ trạng thái tâm thần, điên loạn,…

Ở thời điểm Lối nhỏ ra đời, trong tương quan với những giá trị hợp thức,

quy chuẩn, nhiều cảm xúc trong thơ Dư Thị Hoàn đã trở thành cú sốc với

cộng đồng Điểm đáng lưu ý là Lối nhỏ không chỉ làm “tan vỡ” những tri

thức về nữ tính truyền thống vẫn tồn tại dai dẳng và trở thành “vô thức tậpthể” của thơ nữ trước Đổi mới mà còn hàm chứa năng lượng để tạo nên vụ

nổ nhằm kiến tạo một thực tại, tri thức khác về nữ tính Từ bỏ đường lớn vớiđám đông không có khuôn mặt cá thể - hoặc chung khuôn mặt, chung tâmhồn (ý thơ Chế Lan Viên), chấp nhận “tan vỡ”, khước từ những “viên mãn”,

tập thơ Lối nhỏ phủ định thực tại không có khuôn mặt giới và cả thực tại

mang mặt nạ giới Hai động thái này tạo nên hai bước ngoặt của thơ nữ sau

Đổi mới trên phương diện kiến tạo chủ thể tính Bước ngoặt thứ nhất từ

không đến có và bước ngoặt thứ hai từ có đến có thật thế không? Chính

những động thái này cùng với thời điểm nó xuất hiện đã làm cho Lối nhỏ trở

thành một mốc quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam nói chung và thơ

Trang 35

nhiều bài bình giảng phân tích cụ thể một vài bài thơ tiêu biểu của bà Dùdưới hình thức nào, các công trình bài viết này chủ yếu vẫn dừng ở việcnhận diện những nét đặc sắc trong thơ Dư Thị Hoàn, so sánh để thấy đặctrưng thơ mà chưa thể hiện đầy đủ đóng góp và dấu ấn của nhà thơ Cho đếnnay, rất ít nếu không nói là hầu như chưa có công trình bài viết nào bànchuyên về quan niệm nghệ thuật của Dư Thị Hoàn, đặc biệt vấn đề mối quan

hệ mật thiết giữa quan niệm cấu tứ và cái tôi trữ tình trong thơ của bà.Những bài viết hiếm hoi về quan niệm thơ của Dư Thị Hoàn cũng mới chỉ đềcập đến một vài phương diện, chưa đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện, hệthống toàn bộ quan niệm về thơ, cũng chưa tìm hiểu sự chi phối của quanniệm nghệ thuật đến những sáng tạo độc đáo về nội dung và nghệ thuật cáitôi trong thơ bà Những ý kiến của các thế hệ đi trước sẽ được luận văn nàytham khảo, kế thừa và bổ sung

Chương 2 CẤU TỨ TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN 2.1 Giới thuyết về tứ thơ và cấu tứ trong thơ

2.1.1 Tứ thơ

Trang 36

Tổng kết kinh nghiệm gần một đời làm thơ của mình, trong quyển Công

việc làm thơ xuất bản năm 1984, Xuân Diệu viết:

“Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ

"Ngôn từ, lời, chữ, vần rất là quan trọng Tuy nhiên đó là cái quan trọngthứ hai, mà cái quan trọng thứ nhất, làm rường cột cho tất cả, là cái tứ thơ,

nó chủ đạo cả bài.”

Làm thơ, khó nhất là tìm tứ”

Nhưng trước hết tứ thơ là gì?

Có nhiều cách hiểu khác nhau Theo Chế Lan Viên: “gọi nó là tứ để phânbiệt với ý Chữ Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy” (Văn học, Hà Nội,17.11.1961, bút hiệu Chàng Văn) Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Nam: “tứtrong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ.” (Văn học, Hà Nội2.1981) Hai quan niệm khác nhau Một đằng thiên về ý Một đằng thiên vềhình tượng Ðồng hoá tứ thơ với ý hoặc với hình tượng không những sai lầm

mà còn là điều nguy hiểm Thứ nhất, nó cũng có nghĩa đồng hoá thơ và vè,thơ và các loại diễn ca tầm thường rỗng tuếch nhan nhản trên sách báo hoặctrên các vỉa hè, các đường phố: tất cả đều có điểm chung, hoặc có ý, hoặc cóhình tượng, hoặc có cả hai Thứ hai, nó làm mất khả năng phân biệt thơ hay

và thơ dở Không hiếm gì những bài thơ có ý tưởng ra vẻ “triết lý” cao kỳ

mà lại là những bài thơ kém Cũng không hiếm gì những bài thơ có hìnhtượng cũng gọi là “đèm đẹp” nhưng lại chỉ là những bài thơ nhạt phèo, chánngắt Thứ ba, nó làm lạc hướng những người mới bắt đầu làm thơ: họ dễtưởng làm thơ chỉ là công việc thuần tuý của tư duy hay chỉ là công việc lắpráp các hình tượng ngồ ngộ với nhau, để cuối cùng , tạo nên một cái gì rấtđỗi xa thơ

Trang 37

Trong tứ có ý, nhưng tự nó, ý chưa là tứ Trong tứ có hình tượng, nhưng

tự nó, hình tượng chưa là tứ Còn xa xôi vô cùng Không phải cứ đem mấykhái niệm triết học từ đâu gắn vào chúng vài chữ đồng thanh, đồng âm cho

ra vần vè là tự nhiên có thơ Cũng như không phải cứ vất bừa bãi dăm bảycành hoa lại với nhau là tự nhiên người ta có một bình hoa mỹ thuật Ý, nókhô khốc lắm Như là xương Hình tượng, nó khơi vơi, bềnh bồng lắm Như

là khói Ý và hình tượng phải kết tụ lại với nhau như da thịt đắp lên xương

cốt thì mới có hình người Nhưng chưa là con người Hình như trong Cựu

Ước có viết, sau khi nắn thành người, Đức Chúa Trời phải thổi vào hình

người ấy một hơi thở để tạo ra cái gọi là linh hồn, hình người ấy mới thực sự

có sự sống, người đàn ông mới biết quay lại nhìn người đàn bà, để thấy, nơimái tóc đen nhánh kia có một cái gì khiến sóng trong lòng mình xao lên, naonao Linh hồn ấy, trong thơ, chính là cảm xúc

Chỉ gọi là tứ khi có một ý tưởng làm bồng lên trong hồn người nhữngniềm rung động sâu sắc và ý tưởng ấy, niềm rung động ấy cùng quyện lại vớinhau, nhập thân vào một hình tượng cụ thể

Ý là của chung mọi người Hình tượng là của chung trong trời đất Ánh

trăng nằm trên cành liễu thì có gì mới mẻ đâu? Nhưng cái tứ trăng nằm sóng

soãi trên cành liễu/ đợi gió đông về để lả lơi thì rõ ràng là của riêng Hàn

Mặc Tử Niềm say mê cái đẹp tinh khiết của vũ trụ thì có gì là lạ đâu?

Nhưng cái tứ Ta van cát bụi bên đường/ dù nhơ dù sạch đừng vương gót

này/ để ta tròn một kiếp say/ cao xanh liều một cánh tay níu trời thì rõ ràng

là của riêng Vũ Hoàng Chương “Tứ là cái gì rất riêng tây ở mỗi nhà thơ, ởmỗi bài thơ Tứ là thế giới tinh khôi lần đầu tiên được nhà thơ tạo dựngtrong cơn say ngây ngất của cái người ta quen gọi là cảm hứng.”

Trang 38

"Có thể nói vắn tắt: tứ là những suy nghĩ của trái tim trước cuộc đời Bởi

vì tứ là cái gì rất tổng hợp, do đó, quá trình tìm tứ cũng là một quá trình tổnghợp: nhà thơ phải vận động cùng lúc ba khả năng, suy nghĩ, tưởng tượng vàcảm xúc Chỉ khi nào ba yếu tố trên gặp gỡ nhau ở một điểm nào đó, tứ thơmới hình thành.” Nghĩ coi, có thể tin được không, là, trong suốt cuộc đời đihọc, đi làm xa của mình, chỉ một lần duy nhất Huy Cận cảm thấy nhớnhà? Chắc chắn là không “Nỗi nhớ cũng tự nhiên như là mây giăng ở nhữnggóc trời xa vắng Thế thì tại sao chỉ có một lần, một lần duy nhất, nỗi nhớnhà ấy hoá thành thơ? Câu trả lời: Bởi vì chỉ có một lần duy nhất ba yếu tốtrên hoà nhập được với nhau Trong một thời điểm: tràng giang điệp điệpsóng buồn Sông thì dài, trời thì rộng, mây thì xa, bến thì cô liêu, ý niệm về

sự lẻ loi của người lữ thứ càng đậm, nỗi sầu ly hương càng thêm thê thiết: tứ

thơ Tràng giang đã khai sinh.”

"Rất nhiều nhà thơ kể giống nhau: có những cảnh vật người ta nhìn hoài,nhìn hoài Quen thuộc lắm Nhớ làu làu từng chi tiết nhỏ Nhưng cứ thấy làbình thường, tầm thường Cảnh vật chỉ đọng trong mắt mà không len vàomáu Chỉ ơ hờ xa lạ bên cạnh những bước đi đi về về hằng ngày Rồi bỗngdưng, một hôm, trong một tâm cảnh nào đó không ai biết rõ, hình như những

tư tưởng nung nấu từ lâu đã chín muồi, hình như những cảm xúc im lìm đãcồn cào lên sóng, người ta nhìn lại những cảnh vật ấy, thấy lạ lùng hẳn, mới,tươi và gần gũi tâm hồn như thoạt thấy lần đầu Chén trà khuya không chỉ làchén trà nữa Chén trà khuya đã nao nao trăng hạ tuần như trong thơ QuáchTấn Ánh trăng non không là ánh trăng non nữa Mà trở thành mới lớn lêntrăng đã thẹn thò như trong thơ Hàn Mặc Tử Buổi chiều không còn là buổichiều nữa Buổi chiều đã là buổi chiều u uẩn và quạnh vắng của cõi

Trang 39

lòng buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường như trong thơ Thanh TâmTuyền.”

"Tìm tứ là quá trình chống lại một thói quen, chống lại những quán tính ù

lì và những con đường mòn nhẵn thín cứ lôi người ta trơn tuột giữa cuộcđời Tìm tứ là quá trình phát hiện cái bất bình thường từ những cái vẫn rấtmực bình thường Tìm tứ là quá trình khôi phục sự hồn nhiên bỡ ngỡ cho đôimắt và cho trái tim.”

Thế Lữ hồi ức lại hoàn cảnh sáng tác bài Nhớ rừng như sau:

“Tôi làm một chân chữa bài in trong báo Volonté Indochinoise (Ý muốn

của Ðông Dương) ở phố Cửa Bắc, từ nhà tôi ở, muốn đến toà soạn, phải qua

đường Ngọc Hà, thành ra qua vườn Bách Thảo Chính vì qua vườn Bách

Thảo mà nảy ra bài Nhớ rừng “Một trưa hè, ngồi nghỉ ở vườn, tôi nghe

tiếng người làm vườn uể oải kéo lê bước chân trên đường sỏi, nghe ghêngười lắm.” Tôi nghĩ con hổ bị giam trong này thì buồn biếtbao nhiêu Bỗng nảy ra tứ một câu thơ đùa: “chú nó trong nắng hè uể oải,cũng không buồn thương nhớ cảnh rừng xa” Nhưng sau đó tôi chuyển sang

tứ là thương nhớ rừng Khi đã nảy ra tứ nhớ rừng thì bài thơ đến rất nhanh,

từ sáng đến trưa là xong, không phải sửa chữa gì lắm.” (Văn Nghệ Hà Nội,

số Tết 1984)

“Trước khi sáng bài Nhớ rừng, đã bao nhiêu lần Thế Lữ đi ngang quavườn Bách Thảo Ðã bao nhiêu lần nhìn con hổ bị giam trong củi sắt?Nhưng chỉ khi nào hình ảnh ấy hiện lên cùng lúc với tiếng bước chân ngườilàm vườn uể oải kéo lê trên đường sỏi thì mới làm dâng trào lên trong tâmhồn Thế Lữ nỗi bùi ngùi trước cuộc đời bị tù hãm, bị quẩn đọng trong mộtthế giới thật chật chội, thật vuông vức Con hổ không là con hổ Con hổ trở

Trang 40

thành một ý niệm, một biểu tượng của sự tự do bị đè nén Tứ thơ vụt lóe lêntrong trí tưởng của thi nhân.”

Dĩ nhiên, không phải tứ thơ nào cũng được thai nghén một cách lâu lắc

và vất vả như thế Cũng không phải người nào, khi làm thơ, cũng lập ý mộtcách cầu kỳ với những điển cố xa xôi như thế Nhưng kinh nghiệm trăn trởtìm tứ rất điển hình: dù nhanh hay chậm, dù bằng cách thức nào đi nữa, sựhình thành tứ thơ nào cũng phải đi qua ba giai đoạn :

"Trước hết, phải có một cảnh vật, một sự kiện cụ thể có khả năng gây ấntượng mạnh và sắc "

"Thứ hai, ấn tượng ấy cứ âm vang mãi trong hồn người, tạo nên nhữngniềm cảm xúc sâu đậm.”

"Và thứ ba, từ ấn tượng và cảm xúc ấy, nhà thơ phải vận dụng khả năngliên tưởng, tưởng tượng, tư duy để tìm ý, tìm chất liệu để khai triển thànhmột bài thơ hoàn chỉnh.”

"Vai trò của tứ thơ cực kỳ quan trọng Nó giống như là nền móng, cột kèotrong một ngôi nhà Nó giống như là xương xẩu trong một thân thể Không

có bài thơ nào lại không có tứ Ngoại lệ: những bài thơ dở.”

"Hầu hết mọi nhà thơ đều đồng ý, trong công việc làm thơ, có loayhoay trăn trở thì chủ yếu là loay hoay trăn trở để tìm tứ Có tứ, thời gianhoàn chỉnh bài thơ thường khá nhanh Tứ, tự nó sẽ huy động những từ ngữ

và chi tiết nó cần Con hổ sẽ biết mời gọi cảnh sơn lâm bóng cả, cây già, vớinhững lá gai cỏ sắc, những bình minh cây xanh nắng gội, những buổi chiềulênh láng máu sau rừng Trường giang sẽ biết mời gọi thuyền về nướclại, những cồn nhỏ gió đìu hiu, những bèo dạt về đâu hàng nối hàng,những sóng gợn buồn điệp điệp Cũng vậy, hầu như đã có sẵn chung quanhông đồ viết câu đối Tết thuê những hình ảnh quen thuộc: mực tàu, giấy đỏ,

Ngày đăng: 05/05/2020, 07:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lan Anh (2005), Dư Thị Hoàn: Cuồng nhân ca, báo Người lao động, 12/8/2005, trang 15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lao động
Tác giả: Nguyễn Lan Anh
Năm: 2005
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
3. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
4. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 – 2005 (tuyển chọn và giới thiệu), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 – 2005
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007
5. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
6. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
8. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
9. Hồ Thế Hà (1997), Thơ và thơ Việt Nam hiện đại (chuyên đề), Trường Đại học Khoa học, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 1997
10. Nguyễn Văn Hòa (2017), “Dư Thị Hoàn và những Lối nhỏ trong thơ”, báo Tổ quốc, 2/4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư Thị Hoàn và những "Lối nhỏ" trong thơ”, báo "Tổ quốc
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2017
11. Dư Thị Hoàn (1988), Lối nhỏ, Hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối nhỏ
Tác giả: Dư Thị Hoàn
Năm: 1988
12. Dư Thị Hoàn (1993), Bài mẫu giáo sáng thế, Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài mẫu giáo sáng thế
Tác giả: Dư Thị Hoàn
Năm: 1993
13. Dư Thị Hoàn (2003), Tôi muốn mã hóa những cuộc tìm kiếm, báo Thể thao Văn hóa, 15/2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi muốn mã hóa những cuộc tìm kiếm", báo "Thể thao Văn hóa
Tác giả: Dư Thị Hoàn
Năm: 2003
14. Bùi Công Hùng (2000), Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
15. Lê Quang Hưng (2019), Những quan niệm, những thế giới nghệ thuật văn chương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan niệm, những thế giới nghệ thuật văn chương
Tác giả: Lê Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
16. Nguyễn Thụy Kha (1992), Đôi điều về thơ Dư Thị Hoàn, Tạp chí Văn học, số 2/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về thơ Dư Thị Hoàn
Tác giả: Nguyễn Thụy Kha
Năm: 1992
17. Mã Giang Lân (2002), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
19. Mãng Nguyên (2009), Dư Thị Hoàn - người khát tìm sự thật và sáng tạo, báo Tổ quốc, 27/11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư Thị Hoàn - người khát tìm sự thật và sáng tạo", báo "Tổ quốc
Tác giả: Mãng Nguyên
Năm: 2009
20. Nguyễn Thanh Tâm (2016), Sự cám dỗ của những viên thuốc an thần (đọc thơ Dư Thị Hoàn), Báo Văn hóa Nghệ An, số 5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cám dỗ của những viên thuốc an thần (đọc thơ Dư Thị Hoàn)
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Năm: 2016
21. Văn Tâm (2006), Bạn đã đọc chưa - thơ Dư Thị Hoàn?, báo Tia Sáng, 12/9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn đã đọc chưa - thơ Dư Thị Hoàn"?, báo "Tia Sáng
Tác giả: Văn Tâm
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w