Rủi rotrong lĩnh vực cho vay thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn cho vay, mất cân đối trong việc thu - chi, nguồn tiền vào, vòng quay vốnkhông linh hoạt, m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
PHẠM NGỌC HẢI
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ
CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
PHẠM NGỌC HẢI
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ
CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NINH BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: 8900201.05QTD
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THỊ THANH HÒA
Trang 3Hà Nội - 2020
Trang 4CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao độngcủa chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học tập và nghiên cứu, chưađược công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quả nghiên cứu, tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu,
công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã
được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quảntrị và Kinh doanh về những cam kết nói trên
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Quýphòng ban trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi đượchoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Thị ThanhHòa đã giúp tôi hoàn thành tốt nhất luận văn thạc sĩ của mình Qua đây, tôi xin chânthành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Xin cảm ơn Quỹ đầu tư phát triển Ninh Bình, các đồng nghiệp đã tạo mọi điềukiện giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi trong quá trình thu thập dữ liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đãgiúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU -1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG -5
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO -5
1.1.1 Rủi ro tín dụng -5
1.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng -6
1.2 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG -7
1.2.1 Địa vị pháp lý và nguyên tắc hoạt động -7
1.2.1.3 Các đặc trưng cơ bản -8
1.2.2 Lĩnh vực hoạt động -8
1.3 RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐTPT ĐỊA PHƯƠNG -10
1.3.1 Khái niệm -10
1.3.2 Tính chất và nguyên nhân -10
1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐTPT ĐỊA PHƯƠNG -14
1.4.1 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP -14
1.4.2 Nội dung quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP - 15
1.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐTPT ĐỊA PHƯƠNG -29
1.5.1 Đánh giá chung theo phương trình quản trị an ninh phi truyền thống -29
1.5.2 Các yếu tố tác động -30
KẾT LUẬN CHƯƠNG I -32
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ TẠI NBDIF -33
2.1 TỔNG QUAN VỀ NBDIF -33
Trang 72.1.1 Quá trình hình thành và phát triển -33
2.1.2 Phạm vi hoạt động của Quỹ: -35
2.1.3 Tổ chức bộ máy và nhân sự -36
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của NBDIF giai đoạn 2016-2018 -38
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NBDIF -46
2.2.1 Thực trạng rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF -46
2.2.2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF - 54
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NBDIF GIAI ĐOẠN 2016-2018 - 64
2.3.1 Áp dụng phương trình An ninh phi truyền thống trong việc đánh giá chung kết quả công tác quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF trong giai đoạn năm 2016-2018 -64
2.3.2 Những kết quả đạt được -65
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân -66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 -69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NBDIF - 70
3.1 Mục tiêu và Định hướng phát triển của NBDIF -70
3.1.1 Mục tiêu của NBDIF -70
3.1.2 Định hướng phát triển của NBDIF -70
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF -71
3.2.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý -71
3.2.2 Đẩy mạnh khai thác các nguồn vốn cho vay đầu tư -72
3.2.3 Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro cho vay đầu tư -73
3.3 Kiến nghị -82
3.3.1 Về phía Chính phủ -82
Trang 83.3.2 Các Bộ ngành liên quan -83
3.3.3 Về phía UBND tỉnh Ninh Bình -84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 -85
KẾT LUẬN -86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -87
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11Hình 2.4: Biến động cơ cấu nợ giai đoạn 2016-2018
Hình 2.5: Nguyên nhân từ yếu tố bên ngoài
Hình 2.6: Nguyên nhân từ phía khách hàng dự án
Hình 2.7: Nguyên nhân từ phía NBDIF
Hình 2.8: Mô hình quản trị rủi ro của NBDIF
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, một trongnhững vấn đề sống còn đặt ra cho các Quỹ ĐTPTĐP là khả năng quản trị rủi ro, đặcbiệt là rủi ro trong lĩnh vực cho vay một cách toàn diện và hệ thống Công tác phòngngừa hạn chế rủi ro trong lĩnh vực cho vay là vấn đề khó khăn, phức tạp Rủi rotrong lĩnh vực cho vay thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát
về vốn cho vay, mất cân đối trong việc thu - chi, nguồn tiền vào, vòng quay vốnkhông linh hoạt, mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín của Quỹ Đầu tưphát triển Hậu quả rủi ro trong lĩnh vực cho vay của Quỹ ĐTPTĐP tác động đến cảnền kinh tế- xã hội và các định chế tài chính khác Việc phòng ngừa hạn chế rủi rohay còn được gọi là quản trị rủi ro nếu được thực hiện tốt sẽ đem lại những lợi íchcho Quỹ ĐTPTĐP như: Giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn; Tạoniềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; Tạo tiền đề để mở rộng thị trường
và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh cho Quỹ ĐTPTĐP
Thời gian qua, ở Việt Nam hệ thống tổ chức tín dụng đã giữ được ổn định mộtbước căn bản, năng lực tài chính, quản trị của các ngân hàng thương mại, QuỹĐTPTĐP nhất là quản trị rủi ro đã có chuyển biến mạnh mẽ và tích cực, từng bướcđáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế Khuôn khổ pháp lý về chuẩn mực antoàn lành mạnh, an toàn của các tổ chức tín dụng được cải thiện, tiến gần hơn tớithông lệ, chuẩn mực ngân hàng quốc tế, tạo nền tảng cho các tổ chức tín dụng hoạtđộng an toàn hơn và thúc đẩy cơ cấu lại theo các mục tiêu, định hướng đã đề ra.Tuy nhiên, quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay vẫn là vấn đề cần đặc biệt chútrọng trong hệ thống các Quỹ ĐTPTĐP
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro trong lĩnhvực cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển Ninh Bình” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lĩnh vực cho vay đầu tư có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành vàphát triển không chỉ của các Ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính nói chung màcòn của NBDIF nói riêng; đòi hỏi các quyết định cho vay đầu tư phải được tính toán
Trang 13và cân nhắc kỹ lưỡng Đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tôi xin trình bàykhảo lược một số tài liệu có liên quan đến luận văn của mình như sau:
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trương Thị Hồng (2017) về “ Quản trị rủi ro tíndụng tại Quỹ đầu tư phát triển Khánh Hòa” đã chỉ ra một số thành tựu và hạn chếtrong công tác quản trị rủi ro tín dụng của Quỹ ĐTPT Khánh Hòa Một số nguyênnhân được chỉ ra như: chưa xây dựng hoàn chỉnh bộ quy chế quy định các hoạt độngcủa quỹ, các hoạt động thẩm định, cấp tín dụng chưa thống nhất và đa phần làm theocảm tính, các bước thực hiện còn rườm rà; chưa có bộ máy quản trị rủi ro chuyêntrách, tài sản bảo đảm mang nặng tính hình thức mà tính thành khoản chưa cao, chấtlượng cán bộ tín dụng chưa đảm bảo,…
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Quỳnh Trâm (2014) về “Hoàn thiệncông tác quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàngTMCP Ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Kiên Giang” đã phân tích tác động củamôi trường kinh tế và xã hội đặc biệt là tác động của môi trường ngân hàng trongnăm 2013 đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ đó chỉ ra những nguyên nhân làm phátsinh rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, luận văn cũng đánh ra nhưng mặt đạt được vànhững hạn chế còn tồn tại trong công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với các doanhnghiệp này từ đó đề xuất một số giải pháp như: hoàn thiện các công cụ quản trị rủi rotín dụng hiện đại theo chuẩn mực quốc tế, đa dạng hóa danh mục đầu tư, nhận diệnsớm rủi ro, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng và nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ tín dụng cũng như công tác kiểm tra giám sát nội bộ
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Văn Vũ (2014) về “ Quản trị rủi ro tíndụng tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam- chi nhánh Nha Trang” , dựavào những thông tin thứ cấp thu được từ ý kiến của các cán bộ ngân hàng và thôngtin, số liệu từ báo chí để phân tích cũng như nêu ra các mảng/ngành có rủi ro chủ yếucho ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam- chi nhánh Nhà Trang Rủi ro tín dụng nàychủ yếu đến từ khách hàng doanh nghiệp và 3 ngành có rủi ro cao nhất là ngành xâydựng, kinh doanh bất động sản và thủy sản Từ đó, tác giả cũng đề xuất một số giảipháp như nhóm giải pháp về dấu hiệu cảnh báo trong hoạt động quản trị rủi ro, nhómgiải pháp về phòng ngừa rủi ro tín dụng,… nhằm kiểm soát, phòng ngừa và hạn chếrủi ro tín dụng có thể xảy ra
Trang 14Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của vấn đề này, tôi đãlựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay của Quỹ đầu tư phát triểnNinh Bình” làm đề tài tốt nghiệp của mình
Luận văn này tập trung làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về lĩnh vực cho vay đầu
tư và quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP Phần quantrọng nhất của đề tài là việc phân tích và đánh giá thực trạng về những rủi ro chovay có thể xảy ra và quản trị rủi ro cho vay đầu tư của NBDIF trong giai đoạn 2016-
2018, đồng thời làm rõ những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại và hạn chếcũng như các vấn đề phát sinh trong quản trị rủi ro cho vay tại Quỹ
Từ đó, tác giả mạnh dạn đưa ra những đề xuất về các giải pháp nhằm hoànthiện, nâng cao quản trị rủi ro cho vay tại NBDIF trong thời gian sắp tới
Kết cấu của đề tài được chia làm ba phần:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về vấn đề nghiên cứu Chương này tập trung đưa
ra cơ sở lý luận về địa vị pháp lý, đặc trưng cơ bản cũng như các lĩnh vực hoạt độngcủa Quỹ ĐTPTĐP; các lý luận chung về lĩnh vực cho vay đầu tư, các loại rủi ro chovay có thể xảy ra, nguyên nhân dẫn đến rủi ro cũng như sự cần thiết phải quản trị rủi
ro và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro… Trọng tâm là lý luận về quản trịrủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư củaNBDIF Chương này giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển, tổ chức bộ máynhân sự cũng như chức năng nhiệm vụ của Quỹ Tác giả đi sâu vào phân tích thựctrạng lĩnh vực cho vay đầu tư, tình hình rủi ro trong cho vay đầu tư và thực trạngquản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư tại Quỹ trong giai đoạn 2016-2018
- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị rủi ro tronglĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF Từ những cơ sở lý luận chung của vấn đề nghiêncứu cũng như những phân tích đánh giá về thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vựccho vay đầu tư của Quỹ, tác giả đề xuất một số những giải pháp nhằm hoàn thiện vàtăng cường quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ trong thời gian tới.Phần III: Kết luận
Trang 153 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản trịrủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF trong thời gian tới Luận văn thựchiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ những rủi ro trong lĩnh vực cho vay của NBDIF; nhận diện các loạirủi ro cũng như nguyên nhân dẫn đến rủi ro để đề xuất các biện pháp phòng ngừa,hạn chế
- Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi rotrong lĩnh vực cho vay của NBDIF
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rủi ro cho vay và quản trị rủi
ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF trong những năm qua
5 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu là: Quỹ Đầu tư và phát triển Ninh Bình
Thời gian: số liệu phục vụ nghiên cứu được huy động từ các nguồn tại NBDIFgiai đoạn 2016-2018
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp sosánh, phân tích và tổng hợp dữ liệu thu thập từ các báo cáo thống kê tại các đơn vị
và các thông tin, số liệu từ internet, báo chí Bên cạnh đó, đề tài cũng vận dụng cáccông trình khoa học có liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoahọc và thực tiễn của đề tài
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập từ thực tế hoạt động tại NBDIF vàthu thập số liệu từ báo chí, Internet
7 Kết cấu đề tài
Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư củaQuỹ ĐTPTĐP
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF
- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị rủi ro tronglĩnh vực cho vay đầu tư của NBDIF
Trang 16CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA
PHƯƠNG
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo định nghĩa truyền thống thì rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể gây mất máttài sản hay làm phát sinh một khoản nợ Rủi ro theo định nghĩa hiện đại bao hàmnghĩa rộng hơn và không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn bao gồm cả những rủi
ro liên quan đến mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược
Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thểkhông đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động cũng như chi phí
cơ hội của việc làm mất đi những cơ hội thị trường
Rủi ro rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau như rủi
ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, …
Căn cứ vào Khoản 01 Điều 03 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro
và việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tíndụng, chi nhánh tổ chức tín dụng nước ngoài thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt độngngân hàng là tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiệnmột phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Nói cách khác, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đócác tổ chức tín dụng là chủ nợ, mà khách hàng nợ không thực hiện hoặc không đủkhả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn
1.1.1.2 Các chỉ số đo lường rủi ro tín dụng
- Các chỉ số đo lường rủi ro:
Nợ quá hạn/Tổng dư nợ: Hệ số này phản ánh tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng
Trang 17dư nợ cho vay của Quỹ, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp vàrủi ro tín dụng càng cao.
Nợ xấu/Tổng dư nợ: Hệ số này phản ánh tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ
cho vay (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5)
Nợ không có TSBĐ/ Tổng dư nợ: Hệ số này phản ánh tỷ trọng nợ không có
TSBĐ trong tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu/Quỹ dự phòng rủi ro: Hệ số này phản ánh tỷ trọng nợ xấu trong
tổng số tiền trích lập Quỹ dự phòng rủi ro
Dư nợ/ Tổng tài sản: Hệ số này cho biết tỷ trọng của lĩnh vực cho vay đầu
tư trong tổng tài sản có, chỉ tiêu này càng lớn thì lợi nhuận cao nhưng đồng thờirủi ro cho vay cũng rất cao
Dự phòng tổn thất tín dụng/Dư nợ tín dụng: Chỉ tiêu này phản ánh cứ trên
100 đơn vị dư nợ tín dụng thì có bao nhiêu tổn thất không có khả năng thu hồi
1.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệthống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hoá những tác động bất lợicủa rủi ro Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược,các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm hạn chế và giảm thấp nợ xấutrong kinh doanh tín dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cảtrong ngắn hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng
1.1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng từ các tổ chức tín dụng hiện nay gồm có cácnội dung chính sau:
- Hoạch định chiến lược tín dụng, xây dựng các quy trình, chính sách tíndụng: Chiến lược tín dụng là hoạch định phát triển trong một khoảng thời gian xácđịnh của tổ chức tín dụng Chiến lược hoạt động phản ánh thái độ sẵn sàng chấpnhận rủi ro của tổ chức tín dụng Thông qua chiến lược tín dụng, các chính sách quy
Trang 18trình tín dụng được đặt ra nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng đạt được những kếtquả khả quan như chiến lược đã đề ra.
- Phân tích tín dụng: Đây là nội dung cơ bản nhất của quản trị rủi ro tín dụng, phântích tín dụng là việc thu thập và xử lý thông tin , xem xét đánh giá các yếu tố ảnhhưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng làm cơ sở cho việc đưa ra các quyếtđịnh cho vay phù hợp
- Phân tán rủi ro tín dụng: Thực hiện tốt quy trình phân loại và trích lập dự phòngrủi ro tín dụng cũng như các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tíndụng, thành lập hệ thống nội bộ cho điểm và xếp hạng khách hàng trên cơ sở giámsát thường xuyên tình hình hoạt động của khách hàng với các chỉ số cảnh báo sớmnhư các chỉ số phân tích tài chính và các thông tin về khách hàng vay vốn ở tổ chứctín dụng
1.2 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG
1.2.1 Địa vị pháp lý và nguyên tắc hoạt động
1.2.1.1 Địa vị pháp lý
Hệ thống Quỹ ĐTPTĐP là mô hình tài chính có tính chất đặc thù, ra đời bắtđầu từ năm 1997 trên cơ sở mô hình thí điểm là Quỹ Đầu tư phát triển đô thị Thànhphố Hồ Chí Minh (nay là Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước TP.HCM -HFIC) vớiđịnh hướng Ngân sách nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu như nguồn “vốn mồi” đểhuy động các nguồn lực tài chính của các thành phần kinh tế để cho vay và đầu tưtrực tiếp vào các dự án kết cấu hạ tầng KTXH ưu tiên nhằm góp phần phát triểnKTXH của địa phương
Để tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các Quỹ hoạt động, Chính phủ đãban hành Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 về tổ chức và hoạt độngcủa Quỹ ĐTPTĐP (Nghị định số 138) và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày22/4/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138/2007/NĐ-CP (Nghịđịnh số 37)
Trang 19Theo đó, Quỹ ĐTPTĐP là tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương, hoạtđộng theo mô hình ngân hàng chính sách, không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiệnhuy động vốn để thực hiện cho vay và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KTXH tạiđịa phương
Tên gọi Quỹ ĐTPTĐP là Quỹ Đầu tư phát triển, ghép với tên tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương
1.2.1.2 Nguyên tắc hoạt động
Quỹ ĐTPTĐP là tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương, hoạt động theo
mô hình ngân hàng chính sách, thực hiện nguyên tắc tự chủ về tài chính, không vìmục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn
Quỹ ĐTPTĐP chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữucủa mình
1.2.2 Lĩnh vực hoạt động
1.2.2.1 Lĩnh vực đầu tư trực tiếp
Quỹ được đầu tư trực tiếp vào các dự án thuộc danh mục các lĩnh vực đầu tưkết cấu hạ tầng KTXH ưu tiên phát triển của địa phương do UBND cấp tỉnh banhành theo quy định tại Nghị định số 37/2013/NĐ-CP Bao gồm các lĩnh vực:
- Các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, môi trường;
Trang 20- Công nghiệp, công nghiệp phụ trợ;
- Nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn;
- Xã hội hóa hạ tầng xã hội;
- Một số kết cấu hạ tầng KTXH ưu tiên phát triển khác của địa phương
1.2.2.2 Lĩnh vực cho vay đầu tư
- Đối tượng cho vay: Là các dự án thuộc danh mục các lĩnh vực đầu tư kết cấu
hạ tầng KTXH ưu tiên phát triển của địa phương do UBND cấp tỉnh ban hành (nhưđối tượng đầu tư trực tiếp)
- Điều kiện cho vay:
+ Dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật;
+ Có phương án sản xuất, kinh doanh có lãi và phương án bảo đảm trả được
nợ vay;
+ Có cam kết mua bảo hiểm đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đốitượng mua bảo hiểm bắt buộc tại một công ty bảo hiểm được phép hoạt động tạiViệt Nam;
+ Chủ đầu tư là các tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế
- Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay được xác định theo khả năng thu hồi vốnphù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng dự án và khả năng trả nợ củachủ đầu tư nhưng tối đa là 15 năm Trường hợp đặc biệt vay trên 15 năm do UBNDcấp tỉnh quyết định
1.2.2.3 Lĩnh vực hoạt động nhận uỷ thác
- Quỹ ĐTPTĐP được nhận ủy thác: quản lý nguồn vốn đầu tư, cho vay đầu tư
và thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư cho các công trình, dự án từ ngân sách nhà nước,Ngân hàng Phát triển Việt Nam, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước
- Được nhận ủy thác quản lý hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ phát triển nhà ở, Quỹ phát triển đất, Quỹ hỗ trợ pháttriển Hợp tác xã và các Quỹ tài chính địa phương khác do UBND cấp tỉnh thành lập
Trang 21- Được thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo ủy quyềncủa UBND cấp tỉnh để huy động vốn cho ngân sách địa phương.
1.2.2.4 Lĩnh vực hoạt động khác
Ngoài lĩnh vực hoạt động chủ yếu là đầu tư trực tiếp, cho vay đầu tư và nhận
uỷ thác Quỹ ĐTPTĐP còn có các hoạt động khác như: Ủy thác cho vay và thu hồi
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro diễn ra trong quá trình cho vay đầu tư và xuấthiện trong mối quan hệ mà trong đó Quỹ ĐTPTĐP là chủ nợ, các đơn vị vay vốn làkhách hàng nợ không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ nghĩatrả nợ khi đến hạn Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn,
là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra
ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinhcác rủi ro khác
1.3.2 Tính chất và nguyên nhân
Rủi ro luôn có tính chất đa dạng và phức tạp: Tính chất đa dạng và phức tạpcủa rủi ro biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro,cũng như hậu quả do rủi ro gây ra Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thựchiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủquan với bất kỳ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hậu quảrủi ro cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra cácbiện pháp phù hợp
Rủi ro có tính tất yếu và thực tế hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP trong lĩnh vựccho vay đầu tư thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được hiệu quảtương ứng Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến rủi ro, vì vậy
Trang 22trong quá trình cho vay, Quỹ ĐTPTĐP cần chủ động có các biện pháp thích hợp đểxác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản trị rủi ro và kiểm soát rủi ro.
1.3.2.1 Nguyên nhân từ các yếu tố bên ngoài
Đây là nguyên nhân rủi ro khách quan mà không xuất phát từ phía Quỹ hay từphía đơn vị vay vốn, nó xuất hiện đột ngột và khó lường trước, khó kiểm soát Một sốnguyên nhân dẫn đến rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài có thể nói đến như sau:
- Nguyên nhân bất khả kháng: Các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai (bão lụt,hạn hán, động đất,…), hoả hoạn, dịch bệnh, tai nạn gây thiệt hại tài sản mà chủ đầu
tư không trả được nợ
- Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: Các yếu tố như vấn đề chu kỳ kinh tế,lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá,… ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của đơn vịvay vốn, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
- Nguyên nhân do chính sách của Nhà nước: Việc thường xuyên thay đổi hoặcthay đổi một cách đột ngột các chính sách của nhà nước (đầu tư, chính sách thuế,chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãi suất…) sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả kinhdoanh của đơn vị vay vốn, ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ trong lĩnh vực chovay đầu tư dẫn đến rủi ro Bên cạnh đó việc thực thi chính sách kém hiệu quả củacác cơ quan nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ dẫn đến rủi ro cho đơn vị vay vốn
và Quỹ
- Nguyên nhân từ môi trường chính trị: Cùng với môi trường kinh tế thì môitrường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các dự án đầu tư của đơn vịvay vốn Trên thực tế môi trường chính trị của mỗi quốc gia, mỗi địa phương luônảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, hoạt động của các dự án đầu tư, một môitrường chính trị ổn định sẽ giúp cho chủ đầu tư thực hiện dự án theo đúng lộ trình,
kế hoạch đề ra Ngược lại nó có thể làm hạn chế hay gia tăng thêm rủi ro đối vớihoạt động kinh doanh của dự án và chủ đầu tư
- Nguyên nhân từ tác động môi trường: Các nguyên nhân từ biến đổi khí hậu,
ô nhiễm,… cũng là một trong nhưng nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều dự
án đầu tư của chủ đầu tư
Trang 231.3.2.2 Nguyên nhân từ các yếu tố bên trong
Đây là nguyên nhân chủ quan của Quỹ hoặc đơn vị vay vốn dẫn đến rủi ro,nguyên nhân này thường khó phát hiện và thường xảy ra trong quá trình vận hành,khai thác dự án Một số nguyên dẫn đến rủi ro xuất phát từ môi trường bên trong cóthể nói đến như sau:
- Nguyên nhân từ xây dựng chính sách: Việc các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền chưa kịp thời xây dựng, sửa đổi và ban hành chính sách về tín dụng, xử lý rủi
ro, về cơ chế hoạt động của hệ thống Quỹ đáp ứng các yêu cầu quản lý một cáchlinh hoạt trong từng thời kỳ cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình quản trịrủi ro của Quỹ ĐTPTĐP
- Nguyên nhân từ thực hiện chính sách của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Việc thực thi chính sách của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có ảnh
hưởng không hề nhỏ đến hoạt động của các TCTD nói chung và hệ thống Quỹ nóiriêng, đặc biệt là trong lĩnh vực xử lý nợ xấu Ngày 21/6/2017 Quốc hội đã banhành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tíndụng (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 42), trong đó quyền thu giữ TSBĐ của tổ chứctín dụng - nội dung được xem là một trong những đột phá của Nghị quyết 42, nhưngviệc áp dụng trong thực tế lại không hề đơn giản
Theo TS Cấn Văn Lực chuyên gia tài chính - ngân hàng cho biết, Nghị quyết
42, quyền thu giữ TSBĐ đi kèm với điều kiện hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận vềđiều khoản thu giữ TSBĐ Trong khi đó, tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệulực (15/8/2017), nhiều hợp đồng thế chấp chưa có điều khoản này Vì vậy, các tổchức tín dụng cần đàm phán với bên vay để điều chỉnh hợp đồng Ngoài ra, ngay cảvới những khoản vay đáp ứng được điều kiện này, thì việc thực hiện quyền thu giữTSBĐ của các tổ chức tín dụng vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp.Tuy nhiên, đến nay Bộ Công an vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về cơ chế, cáchthức thực hiện cưỡng chế đối với các trường hợp bên bảo đảm chống đối, khônghợp tác Do đó, việc thu giữ TSBĐ xử lý nợ thành công hay không hiện nay phụthuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay Việc giải quyết tranh chấp theo thủ tụcrút gọn rất hạn chế Theo rà soát sơ bộ, đến nay vẫn chưa có vụ án nào được ápdụng trong thực tế theo hướng dẫn thủ tục rút gọn Nguyên nhân trước hết là do sau
Trang 24hơn 1 năm Nghị quyết 42 có hiệu lực, đến ngày 15/5/2018, Tòa án nhân dân tối caomới ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ ngày 1/7/2018)hướng dẫn áp dụng các quy định của Nghị quyết 42 Khi đã có hướng dẫn nêu trên,việc hoàn thiện các thủ tục theo yêu cầu của Tòa án lại khó khăn Tiêu biểu nhưviệc thực hiện quy định về xác nhận công nợ, tài liệu về nơi cư trú của người bị kiện(người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) Khi khoản nợ rơi vào tình trạng nợ xấu, đaphần khách hàng trốn tránh, không hợp tác với tổ chức tín dụng để phối hợp xử lý,nên việc xác nhận này rất khó thực hiện.
- Nguyên nhân từ hệ thống quản lý của Quỹ ĐTPTĐP:
+ Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng: Năng lực, trình độ, kinh
nghiệm, đạo đức của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố ảnhhưởng lớn đên công tác quản trị rủi ro của các TCTD nói chung và Hệ thống Quỹnói riêng, đặc biệt là đạo đức của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng Điều này có thểnhận thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến hoạtđộng tín dụng đều có sự tiếp tay của những cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng cùngvới khách hàng hoặc bản thân cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng cố ý, có thể kể đếnmột số hành vi: thực hiện trái với quy trình tín dụng, báo cáo thu thập thông tinkhách hàng sai lệch, tẩy xóa, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền, định giáTSBĐ không đúng giá trị thực do thông đồng với khách hàng
+ Xuất phát từ TSBĐ: Công tác thẩm định, quản trị danh mục TSBĐ là yếu tốquan trọng trong công tác quản trị rủi ro cho vay đầu tư Thẩm định TSBĐ khôngtốt, việc giám sát, quản lý, đánh giá, phân loại, dự báo, cảnh báo về danh mục cácTSBĐ mà Quỹ lựa chọn, xét ưu tiên nhận làm bảo đảm tiền vay cần được làmthường xuyên, có tính hệ thống, định kỳ đánh giá lại giá trị để điều chỉnh mức dư nợcho vay hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung đảm bảo đảm bảo khả năng thu hồi nợvay và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, buộc phảithanh lý tài sản thế chấp
+ Xuất phát từ thông tin tín dụng: Sự hợp tác giữa các TCTD và Quỹ, vai tròcủa Trung tâm Thông Tin Tín Dụng của Ngân hàng nhà nước (CIC) là rất quan trọng.Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, cógiới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc các TCTD và
Trang 25Quỹ cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi rochia đều cho tất cả chứ không chừa một TCTD nào Trong tình hình cạnh tranh giữacác TCTD ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC rất quan trọng trong việccung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các TCTD có quyết định cho vay hợp lý.
- Nguyên nhân từ đơn vị vay vốn: Trong hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn
vốn tự có của mình, các doanh nghiệp luôn phải sử dụng một nguồn vốn bên ngoài,
đó là vốn vay các TCTD Đây là nhu cầu vay vốn rất cần thiết nhằm đảm bảo chocác doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách ổnđịnh Tùy đặc điểm và tính chất hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp, việc sửdụng vốn vay của các TCTD cũng có sự khác nhau Rủi ro tín dụng xuất phát từphía khách hàng thường do: Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng không đượcthực hiện đúng, khách hàng không thật sự nỗ lực trong việc sử dụng vốn vay cóhiệu quả, khách hàng chưa có thiện chí trong vấn đề cung cấp thông tin đầy đủ vàchính xác cho và không có thiện chí trong việc trả nợ Bên cạnh đó rủi ro tín dụngxuất phát từ phía khách hàng còn đến từ: công tác quản lý, điều hành của một số cácdoanh nghiệp dự án chưa thật sự hiệu quả, sự hạn chế của đội ngũ nhân viên củadoanh nghiệp dự án, tình hình tài chính của hầu hết các doanh nghiệp thiếu sự minhbạch, trung thực, chưa đáp ứng yêu cầu, công nghệ, quy trình sản xuất không tạo rađược những sản phẩm mang tính cạnh tranh
1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐTPT ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP
Từ địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của QuỹĐTPTĐP chúng ta nhận thấy nếu không quản trị tốt thì khả năng rủi ro trong lĩnhvực cho vay đầu tư là rất cao Cụ thể:
- Quỹ ĐTPTĐP là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiệnchức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển; hoạt động theo mô hình ngân hàngchính sách, thực hiện nguyên tắc tự chủ về tài chính, không vì mục tiêu lợi nhuận,bảo toàn và phát triển vốn;
Trang 26- Đối tượng cho vay của Quỹ ĐTPTĐP là các dự án đầu tư thuộc danh mụccác lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ưu tiên phát triển của địa phương hàngnăm hoặc trong từng thời kỳ;
- Thời hạn cho vay được xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặcđiểm sản xuất kinh doanh của từng dự án và khả năng trả nợ của chủ đầu tư nhưngtối đa là 15 năm Trường hợp đặc biệt vay trên 15 năm, UBND cấp tỉnh quyết định;
- Các dự án đầu tư thuộc danh mục các lĩnh vực kết cấu hạ tầng KTXH ưu tiên pháttriển của địa phương theo quy định tại Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 làcác dự án có tính chất xã hội hoá cao, lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn kéo dài
Bên cạnh đó nguồn vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPTĐP là vốn Nhà nước ngoàingân sách, vì vậy việc để xảy ra rủi ro sẽ gây mất vốn của nhà nước làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến công tác quản lý, điều hành phát triển KTXH của địa phương, gâythất thoát vốn, ảnh hưởng đến uy tín của chính quyền với nhân dân
Chính vì khả năng rủi ro và những tác động nói trên mà quản trị rủi ro tronglĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP là vô cùng cần thiết, nó không chỉ ảnhhưởng đến an ninh tài chính của Quỹ mà còn là một trong những yếu tố tác độngđến an ninh kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương
Trang 271.4.2 Nội dung quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP
Hình 1.1 Quy trình quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP bao gồm cácnội dung:
1.4.2.1 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro
Việc xây dựng chiến lược hay chính sách quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vayđầu tư dựa vào quy chế cho vay, quy chế thẩm định tài sản, quy chế quản trị rủi ro
mà Quỹ đã đề ra cũng như kinh nghiệm từ quản lý mà Quỹ có được
1.4.2.2 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro
Trang 28Các rủi ro mà Quỹ gặp phải và
nguồn gốc của các rủi ro cần phải
được nhận biết và định rõ
Khả năng chấp nhận rủi ro của Quỹ
cần được xác định và mô tả dựa trên
các mục tiêu kinh doanh của Quỹ
Quy trình định lượng rủi ro phải đượcthiết kế chặt chẽ sao cho có thể bao gồmtất cả những nguồn rủi ro trọng yếu
Quy trình định lượng rủi ro cũng cần phảiđáp ứng được nhu cầu của người sử dụngthông tin
Trước hết, để quản trị được rủi ro thì phải nhận biết được rủi ro Đây là mộtquá trình liên tục, có hệ thống khi xác định các loại rủi ro có thể xảy ra trong chovay đầu tư Nhận dạng rủi ro trong lĩnh vực cho vay nhằm thu thập những thông tin
về nguồn gốc, đối tượng và dự đoán các tổn thất có thể xảy ra, đề xuất các giải pháp
đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay phù hợp.Nhậndạng rủi ro bao gồm: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường lĩnh vực cho vayđầu tư và toàn bộ lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ Để nhận dạng được rủi ro,người quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dấu hiệu rủi ro đã, đang và cóthể xảy ra trong lĩnh vực cho vay đầu tư:
- Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành khảo sát trên các ứng viên;
- Phân tích tình hình tài chính của khách hàng;
- Kiểm tra tình hình thực tế của dự án đầu tư, cơ sở hạ tầng của khách hàng;
- Phân tích và đánh giá hợp đồng;
- Phân tích và đánh giá lưu đồ;
- Thu thập các thông tin liên quan đến khách hàng, dự án đầu tư;
- Làm việc với các phòng ban chức năng và các cơ quan quản lý nhà nước cóliên quan
Sau khi đã nhận dạng được rủi ro, cần phải phân tích rủi ro để phát hiện đượcnguyên nhân gây ra rủi ro trong cho vay đầu tư là gì, từ đó mới tìm ra các biện phápphòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra và những tổn thất nó mang đến Phân tích rủi rođòi hỏi người phân tích phải có được đầy đủ thông tin và khả năng tổng hợp, phântích, đánh giá và kỹ năng chuyên môn nhất định
Sau khi phân tích được nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến rủi ro trong
Trang 29cho vay đầu tư, công tác tiếp theo cần phải tiến hành là đo lường rủi ro, xác định rõrủi ro nào là phổ biến nhất, nguy hiểm nhất, dẫn đến hệ quả nghiêm trọng nhất vàđánh giá được mức độ nghiêm trọng của nó.
Các mô hình đo lường rủi ro:
* Mô hình điểm số Z (Z- credit scoring model):
Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự rủi ro phá sản củadoanh nghiệp luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiêncứu về tài chính doanh nghiệp Có nhiều công cụ đã được phát triển để làm việcnày, trong đó chỉ số Z của Altman là công cụ được cả hai giới học thuật và thựchành công nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới Chỉ số Altman Z – score (gọi tắt
là chỉ số Z – score) được phát triển năm1968 bởi giáo sư EdwardI Altman, trườngkinh doanh Leonard N Stern, thuộc trường Đại học New York, dựa vào việc nghiêncứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ Mặc dù chỉ số Z –score này được tìm ra tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tincậy cao
Ban đầu giáo sư Altman sử dụng đến 22 chỉ tiêu tài chính (Financial Ratio)khác nhau để tính chỉ số Z-score, sau đó ông phát triển thêm và rút gọn lại còn sửdụng 5 chỉ tiêu Cụ thể, Z-score được tính với 5 chỉ số tài chính được ký hiệu từX1,X2,X3,X4,X5 bao gồm:
X1: Tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản (Working Capitals/ Total Assets).X2:Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản (Retain Earnings/Total Assets).X3: Tỷ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản (EBIT/TotalAssets)
X4: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của tổng nợ(Market Value of Total Equyty/Book values of total Liabilities)
X5:Tỷ số doanh số trên tổng tài sản (Sales/TotalAssets)
Ngoài ra, từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I Altman đã phát triển raZ’ và Z’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanhnghiệp:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất, Z–score được tính theo
Trang 30Nếu Z’’ >2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phásản.
Nếu 1.2 <Z’ <2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơphá sản
Nếu Z <1.1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.Chỉ số Z càng cao thì người vay cao xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khichỉ số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy
cơ vỡ nợ cao Theo Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phảiđược xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao và ngân hàng chỉ cấp tín dụngkhi điểm số Z được cải thiện
Trang 31Tuy nhiên, mô hình này có những hạn chế là chỉ phân biệt được khách hàngthành hai nhóm vỡ nợ và không vỡ nợ Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiềuloại, từ không trả hay chậm trễ trong việc trả tiền vay đến không trả Như vậy, cần
có một mô hình chính xác hơn, với nhiều thang điểm khác nhau để phân loại kháchhàng thành nhiều nhóm Hơn nữa, mô hình này không tính tới một số nhân tố quantrọng nhưng khó lượng hoá, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tíndụng của khách hàng như danh tiếng, mối quan hệ truyền thống hay yếu tố vĩ mônhư chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh
* Mô hình ước tính tổn thất dự kiến (Expected Loss Model):
Mô hình ước tính tổn thất dự kiến là một mô hình để đo lường rủi ro tín dụng
Mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng: Công thức tính: EL = PD x EAD x LGD
Trong đó:
- PD: Probability of Default – xác suất khách hàng không trả được nợ;
- LGD: Loss Given Default – tỉ trọng tổn thất ước tính;
- EAD: Exposure at Default – tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm kháchhàng không trả được nợ;
- EL: Expected Loss – tổn thất có thể ước tính
Xác suất khách hàng không trả được nợ (PD)
- PD dựa trên các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm:+ Các khoản nợ đã trả;
+ Khoản nợ trong hạn;
+ Các khoản nợ không thu hồi được.
- Để tính được PD trong 1 năm thì phải tính trên dữ liệu dư nợ của khách hàngtrong vòng ít nhất 5 năm trước đó, gồm:
+ Nhóm dữ liệu tài chính (các hệ số tài chính và đánh giá của các tổ chức xếphạng)
+ Nhóm dữ liệu phi tài chính: năng lực quản lý, khả năng tăng trưởng của
Trang 32+ Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo: (khả năng trả nợ) hạn mức thấu chi, số
dư tiền gửi… Và tính PD dựa trên mô hình Logistic
Tỉ trọng tổn thất ước tính (LGD)
LGD: tỉ trọng phần vốn bị tổn thất/tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng khôngtrả được nợ.
- LGD gồm: Gốc, lãi chưa trả được, chi phí phát sinh…
LGD = (EAD – Số tiền có thể thu hồi)/EAD
- Số tiền có thể thu hồi phụ thuộc: TSBĐ + Cơ cấu tài sản của khách hàng +Yếu tố vĩ mô
- Có 3 phương pháp tính LGD:
+ Market LGD: Sử dụng với các khoản tín dụng được mua bán trên thị trường.LGD bằng giá của khoản tín dụng đó trên thị trường = hiện tại hoá tất cả các dòngtiền có thể thu hồi được của khoản tín dụng trong tương lai.
+ Workout LGD: LGD căn cứ vào việc xử lí các khoản tín dụng không trảđược nợ Ngân hàng ước tính các dòng tiền trong tương lai, khoảng thời gian dựkiến thu hồi được các dòng tiền đó và chiết khấu về hiện tại Khó khăn: dự tính tínhchính xác CF, t, DR
+ Implied Market LGD: căn cứ vào giá các trái phiếu rủi ro trên thị trường
* Mô hình định tính 6C
Quy tắc 6C trong tín dụng bao gồm: Character; Capacity; Cashflow;Collateral; Conditions; Control
- Character – tính chất, đặc điểm, phân loại:
+ Quan hệ vay trả đã qua;
+ Kinh nghiệm của các Quỹ ĐTPTĐP khác đối với khách hàng này;
+ Mục đích khoản vay;
+ Khả năng phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp;+ Phân loại tín dụng, mức độ tín chấp của khoản vay;
Trang 33+ Có người bảo lãnh cho khoản vay hay không.
- Capacity – năng lực tài chính:
+ Năng lực hành vi dân sự của chủ doanh nghiệp và của người bảo lãnh;
+ Những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn;+ Mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu
sở hữu, chủ sở hữu, tính chất hoạt động, sản phẩm, khách hàng chính, người cungcấp chính của doanh nghiệp
- Capital – Cấu trúc vốn:
+ Thu nhập đã qua, tình hình phân chia cổ tức, doanh thu bán hàng;
+ Cashflow hiện tại và dự kiến;
+ Tính thanh khoản của tài sản lưu động;
+ Vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho;
+ Cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ;
+ Kiểm soát chi phí;
+ Các tỷ lệ về khả năng trả lãi;
+ Khả năng và chất lượng quản lý;
+ Những thay đổi gần đây trong phương pháp hạch toán kế toán
- Collateral – tài sản đảm bảo:
+ Đã được dùng để bảo lãnh cho người khác;
+ Vị thế của Quỹ đối với việc đòi cầm cố/thế chấp đối với tài sản;
+ Nhu cầu vay vốn trong tương lai
Trang 34- Conditions – điều kiện:
+ Địa vị cạnh tranh hiện tại của khách hàng trong ngành và thị phần dự kiến+ Kết quả hoạt động của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh kháctrong ngành;
- Control – kiểm soát:
+ Các luật, quy định, quy chế hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đangđược xem xét;
+ Đủ hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát;
+ Hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các bên;+ Mức độ phù hợp của khoản vay đối với quy chế, quy định của Quỹ;
+ Ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, vềsản phẩm, về các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khoản vay
1.4.2.3 Kiểm soát và hạn chế, phòng ngừa rủi ro
Các giới hạn rủi ro phải thống nhất với
các chính sách của Quỹ và các giới hạn
đã được phê duyệt
Quản lý rủi ro cũng cần bảo đảm các
hoạt động kinh doanh của Quỹ không
Các báo cáo về rủi ro cần phải cung cấpnhững thông tin thích hợp, chính xác vàkịp thời về tình trạng rủi ro của ngânhàng cho Ban lãnh đạo
Trang 35phải gánh chịu những rủi ro làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến khả năng cạnh
tranh của Quỹ
Các cá nhân thực hiện hoạt động kiểmsoát rủi ro cần phải độc lập với nhữngngười thực hiện việc chấp nhận rủi ro(thực hiện các hoạt động làm phát sinhrủi ro)
Rủi ro có thể xảy đến bất kỳ lúc nào, bất kỳ giai đoạn nào của quá trình chovay đầu tư tại Quỹ Chính vì thế khâu kiểm soát và phòng ngừa rủi ro là vô cùngcần thiết và cấp bách Kiểm soát và phòng ngừa bằng cách sử dụng những công cụ,biện pháp, quy trình, quy chế…để hạn chế một cách tối thiếu hệ quả mà rủi ro mangđến Kiểm soát tín dụng tốt sẽ giúp Quỹ phân tán rủi ro tín dụng, thực hiện tốt việcthẩm định khách hàng và khả năng trả nợ của khách hàng; giám sát và hỗ trợ kháchhàng trong suốt quá trình sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả Xây dựng chínhsách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro, chấp hànhtốt việc trích lập dự phòng rủi ro cũng như nâng cao trình độ và phẩm chất cán bộtín dụng là một trong số những biện pháp nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro tíndụng có thể xảy ra
Các hoạt động kiểm soát phải được xem là các hoạt động không thể tách rờitrong hoạt động thường ngày của Quỹ
* Kiểm tra ở cấp độ lãnh đạo cao cấp
Việc kiểm tra này đạt được thông qua việc Hội đồng quản lý Quỹ và BanGiám đốc nhận được bản trình bày, bản báo cáo định kỳ về vị thế rủi ro, sự tuân thủ
và các ngoại lệ về rủi ro và báo cáo thực trạng rủi ro
* Kiểm soát hoạt động
Những kiểm tra này được tiến hành thường xuyên hơn kiểm tra ở cấp độ lãnhđạo cao cấp và ở mức độ chi tiết hơn Chúng được tiến hành ở cấp độ phòng ban vàbao gồm việc kiểm tra các hoạt động rủi ro, các báo cáo vị thế rủi ro, tình trạng vàcác ngoại lệ về rủi ro Tần số và nội dung báo cáo cần phải dựa trên yêu cầu côngviệc kinh doanh của Quỹ
* Tuân thủ các giới hạn rủi ro
Trang 36Đặt ra các giới hạn và đảm bảo chúng được tuân thủ là một chức năng kiểmsoát rủi ro quan trọng Ví dụ sự tập trung về tín dụng có thể tránh được thông quaviệc áp dụng các giới hạn đối với danh mục tín dụng.
* Phê duyệt và uỷ quyền
Việc yêu cầu phê duyệt và uỷ quyền cho các khoản cấp tín dụng hơn một giớihạn nhất định nào đó, các giới hạn được tạo ra liên quan đến sự phân quyền sẽ đảmbảo rằng việc chấp nhận rủi ro của Quỹ được phê duyệt bởi các cấp lãnh đạo phùhợp Điều này cũng góp phần đảm bảo việc quy trách nhiệm cho các hành vi đãthực hiện
* Thẩm tra và đối chiếu
Thẩm tra và đối chiếu là một kiểm soát quan trọng bởi chúng được thiết kếnhằm phát hiện các sai sót và/hoặc các vấn đề ẩn chứa trong các hoạt động Kết quảcủa quá trình thẩm tra và đối chiếu cần phải được chuyển đến cấp lãnh đạo phù hợp
và như vậy sẽ đảm bảo cho việc hạn chế rủi ro
* Hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả cần phải:
- Đảm bảo tồn tại sự phân quyền phù hợp;
- Đảm bảo cán bộ chuyên trách không được giao những trách nhiệm mâuthuẫn với nhau;
- Những tình huống mâu thuẫn lợi ích được phát hiện, giảm thiểu và xem xét
kỹ lưỡng;
- Tồn tại các quy trình và trình tự phê duyệt được ghi chép đầy đủ bằng vănbản và các quy trình này được tiết hành thống nhất cho toàn bộ ngân hàng
Ngoài ra, Quỹ có thể sử dụng một số công cụ phát sinh để kiểm soát và phân
tán rủi ro tín dụng như: Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit default swaps):
Đây là một công cụ tài chính bảo hiểm cho những tài sản mang tính rủi ro Bên mua hợpđồng chuyển rủi ro vỡ nợ (default risk) tới công ty bảo hiểm hoặc nhà phát hành hợp
đồng hoán đổi bằng khoản phí bảo hiểm; Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro (Risky credit swap) thông qua môi giới, Quỹ sẽ mua một hợp đồng quyền bán đối với
một bộ phận của danh mục tín dụng hay đầu tư hoặc tìm một tổ chức đảm bảo cho các
Trang 37khoản vay ngay cả trong trường hợp không thể thu hồi được vốn: mua – bán nợ; Trái phiếu ràng buộc (Credit-lined notes) là sự kết hợp giữa các khoản nợ thông thường và
hợp đồng quyền tín dụng giúp cho các tổ chức tín dụng trong đó có Quỹ ĐTPTĐP có thểlinh hoạt hơn trong quá trình thanh toán và quyền được giảm mức thanh toán nếu cónhững thay đổi lớn trong một số yếu tố
1.4.2.4 Báo cáo rủi ro
Việc báo cáo rủi ro được thực hiện trong suốt quá trình từ xem xét cấp tíndụng đến khi Quỹ thu hồi được vốn vay Căn cứ vào những thông tin thu được trongbáo cáo rủi ro, cấp quản lý của Quỹ ĐTPTĐP sẽ xác định được những khách hàngnào có thể gây ra rủi ro, mức độ rủi ro có thể xảy ra từ đó đưa ra biện pháp xử lý kịpthời để tối thiểu hóa tổn thất có thể xảy ra
+ Trường hợp do sự thay đổi của chính sách Nhà nước làm ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động của dự án dẫn đến chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc trả nợ vaythì chủ đầu tư được xem xét gia hạn nợ, xóa, giảm lãi tiền vay hoặc khoanh nợ;+ Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn do nguyên nhân khách quan gây rathiệt hại tài sản mà chủ đầu tư không trả được nợ và đã được cơ quan có thẩmquyền xác nhận thì xử lý rủi ro như sau: Sử dụng nguồn tài chính của chủ đầu tưtheo quy định để thu hồi nợ, sử dụng tiền bồi thường của cơ quan bảo hiểm nếu có;được xem xét xóa một phần hoặc toàn bộ số nợ vay còn lại
Khi rủi ro xảy ra, Quỹ có thể xử lý rủi ro bằng cách tự khắc phục rủi ro: Sửdụng Quỹ dự phòng rủi ro trong trường hợp đơn vị vay vốn bị giải thể, phá sản;hoặc các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ khó đòi không có khả năng thu hồi.Mặt khác, khi cả hai bên Quỹ và đơn vị vay cùng ký cam kết hợp đồng tín
Trang 38dụng có điều khoản TSBĐ, Quỹ có thể phát mại TSBĐ để thu hồi nợ Nếu số tiền
dự phòng cụ thể và tiền phát mại TSBĐ không đủ bù đắp số vốn đã cho vay thì Quỹ
ra Tuy nhiên, rủi ro là không mong muốn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với bất
kỳ khách hàng nào, lĩnh vực nào nếu người quản lý không có những công cụ quảntrị rủi ro một cách linh hoạt và hợp lý Vì vậy, quản trị rủi ro chặt chẽ sẽ giúp Quỹđưa ra những nhận xét, đánh giá tín dụng phù hợp và sớm phát hiện những rủi ro từkhách hàng hiện tại, từ đó nhanh chóng xử lý rủi ro khi mới chớm xuất hiện giảmthiểu tối đa khả năng mất vốn và lãi
Để đánh giá công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của Quỹ ĐTPTĐP,một số tiêu chí được sử dụng như sau:
* Mức giảm tỷ lệ dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 5
Nợ rủi ro là nợ của những đơn vị vay vốn được đánh giá là có dấu hiệu khókhăn về khả năng trả nợ hoặc đã không trả được nợ đúng hạn (nợ từ nhóm 2 đếnnhóm 5) Các khoản nợ này có thể là nợ trong hạn, nợ cơ cấu lại thời gian trả nợtrong hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thời hạn và nợ quá hạn Tỷ lệ này càngcao thì rủi ro càng lớn Tỷ lệ dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 5 so với kỳ trướcgiảm đồng nghĩa với việc, những khoản nợ đủ tiêu chuẩn chiếm tỷ trọng cao hơnnhững khoản nợ quá hạn, nợ xấu, nợ không có khả năng thu hồi; nói cách khác,công tác quản trị rủi ro có nhiều chuyển biến tích cực
* Biến động trong cơ cấu nhóm nợ
Trang 39Biến động trong cơ cấu nhóm nợ là sự thay đổi tỷ trọng của từng nhóm nợtrong tổng dư nợ cho vay của Quỹ Tỷ trọng các nhóm nợ có rủi ro cao hơn giảm điđồng nghĩa với việc quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư đạt hiệu quả tốt vàngược lại.
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = (Nợ quá hạn/Dư nợ cho vay đầu tư) ×100%
Tỷ lệ nợ xấu (%) = (Nợ xấu/Dư nợ cho vay đầu tư) ×100%
Nợ quá hạn là nợ đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, phản ánh cáckhoản nợ mà Quỹ không thu được đúng hạn Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi rotrong hoạt động cho vay của Quỹ càng lớn
Nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, là những khoản nợ mà khả năng trả nợcủa khách hàng không còn cao, phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhiều lần, nợ quá hạnlâu ngày không trả Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao thể hiện khả năng thu hồi lại cáckhoản vay của Quỹ gặp khó khăn, đòi hỏi phải có biện pháp hữu hiệu để giải quyết
* Mức giảm tỷ lệ nợ xấu
Mức giảm tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu cơ bản trong việc đánh giáhiệu quả công tác quản trị rủi ro lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ Chỉ tiêu này chobiết chính xác hơn tình hình rủi ro trong hoạt động cho vay của Quỹ khi nó cho biếtmức giảm của những khoản vay không có khả năng thu hồi của Quỹ
Mức giảm tỷ lệ nợ xấu = Tỷ lệ nợ xấu kỳ t - Tỷ lệ nợ xấu kỳ t-1
* Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng so với tổng dư nợ cho vay đầu tư
-tỷ lệ xóa nợ ròng sovới tổng dư nợ chovay kỳ t-1
Tỷ lệ xóa nợ ròng so với tổng dư nợ = (Nợ không có khả năng thu hồi phải xóanợ/Tổng dư nợ cho vay đầu tư)×100%
Chỉ tiêu này phản ánh mức tổn thất thật sự và đánh giá chính xác hơn công tácquản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ Chỉ tiêu này giảm đồng nghĩavới việc công tác quản trị rủi ro có hiệu quả hơn và ngược lại
* Mức giảm tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay
Trang 40Tỷ lệ dự phòng rủi ro = (Dự phòng rủi ro hoạt động cho vay/Tổng dư nợ chovay đầu tư) ×100%
Dự phòng rủi ro trong hoạt động cho vay là sự chuẩn bị của Quỹ cho cáckhoản vay bị tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập Quỹ dự phòng rủi ro hàngnăm trích từ nguồn thu nhập của Quỹ Việc trích lập dự phòng rủi ro dựa trên kếtquả phân loại toàn bộ các khoản nợ khác nhau của Quỹ, tỷ lệ trích tăng dần theomức độ rủi ro của khoản vay Tỷ lệ dự phòng rủi ro cao thể hiện mức độ rủi ro caotrong hoạt động cho vay của Quỹ Mức độ giảm Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho biết đượchiệu quả công tác quản trị rủi ro của Quỹ, chỉ tiêu này giảm nhiều chứng tỏ công tácquản trị rủi ro có hiệu quả và ngược lại Do đó, việc phân cấp quản lý, cấp phêduyệt sẽ đảm bảo các quyết định được đưa ra một cách chính xác, thận trọng vàhiệu quả
- Quy chế cho vay đầu tư, quy chế quản lý TSBĐ khoản vay, quy chế quản lýrủi ro: Là những quy chế cần thiết phải được Quỹ xây dựng một cách chặt chẽ, khoahọc và hiện đại Quy chế cho vay thường quy định điều kiện cho vay đầu tư, nguyêntắc vay, thời gian vay, lãi suất vay, giới hạn cho vay (đối với một dự án không quá20% vốn chủ sở hữu của Quỹ tại thời điểm thực hiện và không quá 80% tổng vốnđầu tư của dự án), mức dư nợ cho vay (tổng mức dư nợ cho vay đối với một đơn vịvay vốn không vượt quá 25% vốn chủ sở hữu của Quỹ), quy định rõ thẩm quyềncho vay, … Quy chế quản lý TSBĐ phải quy định rõ điều kiện và nghĩa vụ của bênbảo đảm tiền vay, phạm vi bảo đảm, trình tự cũng như nguyên tắc xử lý TSBĐ …nhằm giảm thiểu tối đa những rủi ro tín dụng và những thiệt hại do rủi ro gây ra.Quy chế quản lý rủi ro phải xác định được các loại nợ theo nhóm từ đó xác địnhđược mức trích lập dự phòng chung, dự phòng riêng cho từng nhóm nợ rủi ro, cũngnhư trình tự xử lý rủi ro … Việc xây dựng hệ thống các quy chế nêu trên không chỉ
là cơ sở pháp lý và cơ sở hoạt động của Quỹ trong việc cấp tín dụng cho vay đầu tư
mà còn giúp Quỹ ĐTPTĐP giảm thiểu những rủi ro tín dụng và hạn chế tổn thất cóthể xảy ra, từ đó nâng cao quản trị rủi ro trong lĩnh vực cho vay đầu tư của Quỹ