1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập được 8,5 điểm học kỳ. A, B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản. A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản

11 151 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 31,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A, B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản. A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản. Khi B dắt chiếc xe máy của C ra khỏi cổng (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) bắt giữ. B lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy. Anh T sau đó đã tử vong. Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.

Trang 1

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI 1

BÀI LÀM 2

Câu 1 2

Câu 2 4

Câu 3 5

Câu 4 7

Trang 2

ĐỀ BÀI

Bài tập số 2:

A, B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản A đứng ngoài canh

gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản Khi B dắt chiếc

xe máy của C ra khỏi cổng (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) bắt giữ B lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi

bỏ chạy Anh T sau đó đã tử vong Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS

Câu hỏi:

1 Trên cơ sở phân loại tội phạm tại khoản 1 Điều 9 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B đã thực hiện trong tình huống nêu trên (1,5 điểm)

2 Với hành vi phạm tội nêu trên thì mức phạt tù cao nhất mà toà án có thể

áp dụng đối với B là bao nhiêu năm tù? (2 điểm)

3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm)

4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm)

Trang 3

BÀI LÀM

Câu 1: Trên cơ sở phân loại tội phạm tại khoản 1 Điều 9 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B đã thực hiện trong tình huống nêu trên

Trả lời

1 Cơ sở pháp lý: Điều 9, Điều 123, Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2 Giải quyết vấn đề:

Các loại tội trong thực tế rất đa dạng và phức tạp Cùng một tội nhưng đối với mỗi trường hợp phạm tội khác nhau thì tính chất của hành vi, phương pháp, thủ đoạn, và hậu quả xảy ra cũng rất khác nhau Do vậy đòi hỏi phải phân loại tội phạm để có thể cá thể hóa trách nhiệm hình sự, sự phân biệt và cá thể hóa được chính xác sao cho xét xử đúng người, đúng tội và trách nhiệm hình sự phải phù hợp với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây

Khoản 1 điều 9 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy

là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

Trang 4

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

- Đối với hành vi trộm cắp tài sản của B được áp dụng theo khoản 2 điều

173 BLHS năm 2015 quy định:

“2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến

07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Tái phạm nguy hiểm.”

Xét hành vi trộm cắp của B có dấu hiệu có tổ chức thuộc mục a khoản 2 điều 173, đồng thời kết hợp với khoản 1 điều 9, mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt này là đến 07 năm tù Nên tội trộm cắp tài sản của B là tội phạm nghiêm trọng

- Đối với tội giết người được quy định tại khoản 2 điều 123, BLHS năm 2015: “ Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”

Như vậy, tội giết người của B căn cứ theo khoản 2 điều 123, mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt này là 15 năm tù và theo phân loại tội phạm của khoản 1 điều 9 của BLHS loại tội rất nghiêm trọng

Trang 5

Kết luận: Tội trộm cắp tài sản của B là tội phạm nghiêm trọng

Tội giết người của B là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Câu 2 Với hành vi phạm tội nêu trên thì mức phạt tù cao nhất mà toà

án có thể áp dụng đối với B là bao nhiêu năm tù?

Trả lời

1 Cơ sở pháp lý: Điều 55, 101, 103, 123, 173 BLHS

2 Giải quyết câu hỏi

Khoản 1 Điều 103 BLHS 2015 quy định:

“1 Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ

đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.”

Khoản a Điều 55 quy định:

“Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1 Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là

tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;”

Dựa trên tình huống, hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy

định tại khoản 2 điều 173 BLHS và tội giết người được quy định tại khoản 2 điều 123 BLHS

Trang 6

Theo khoản 2 Điều 173 BLHS, mức hình phạt cao nhất của khung này là 15

năm tù Như vậy, B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo

điều khoản trên với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm Căn cứ theo Điều 101

thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng với B không quá 3/4 mức phạt tù trên

do B dưới 18 tuổi

Tức, B phải chịu mức phạt cao nhất đối với tội này là: 5 năm 3 tháng tù

Cùng với đó, theo khoản 2 Điều 123 quy định có thể thấy B sẽ phải chịu

trách nhiệm hình sự về tội giết người với khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù;

mức phạt cao nhất là 15 năm Căn cứ theo Điều 101 thì mức hình phạt cao nhất

được áp dụng với A không quá 3/4 mức phạt tù trên do A dưới 18 tuổi

Mức hình phạt cao nhất đối với tội này của B là: 11 năm 3 tháng

Từ những căn cứ trên, Tòa án sẽ ra quyết định đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo theo Điều 103 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, mức phạt tù cao nhất B sẽ phải chịu là: 16 năm 6 tháng tù.

Câu 3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người

và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao?

Trả lời

1 Cơ sở pháp lý: Điều 12, Điều 91

2 Giải quyết vấn đề

Nếu B chỉ mới 15 tuổi thì B vẫn phải chịu TNHS về tội giết người mà không phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản trong tình huống trên Vì:

Trách nhiệm hình sự là: một loại trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu sự tác động của các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, chịu các hình phạt do luật hình sự quy định Đây là trách nhiệm phải gánh chịu hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội.1 Ở Việt Nam, căn cứ vào thực tiễn

Trang 7

chống tội phạm và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước khác, luật hình sự xác định 14 tuổi là tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và tuổi 16 là tuổi có TNHS đầy đủ

Căn cứ vào độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 điều 12 BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017):

“2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội

phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249,

250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.

Căn cứ điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

“Điều 91 Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1 Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2 Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và

252 của Bộ luật này;

b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141,

142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;

c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Trang 8

3 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4 Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

5 Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

6 Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng

và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7 Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”

Xét thấy hành vi phạm tội của B trong tình huống B mới 15 tuổi Đối với tội trộm cắp tài sản, như đã phân tích ở câu 1, Tội trộm cắp tài sản mà B thực hiện là tội nghiêm trọng, không thuộc trường hợp của khoản 2 Điều 12 nên B sẽ không phải chịu TNHS về tội phạm này Nhưng đối với tội giết người, tội phạm

B thực hiện được phân tích là tội phạm rất nghiêm trọng và rơi vào một trong

các trường hợp tại khoản 2 Điều 12 nên B sẽ phải chịu TNHS về tội phạm giết

người

Câu 4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao?

Trả lời

Trang 9

2 Giải quyết vấn đề:

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”

Theo nội dung này, đồng phạm phải đòi hỏi có những dấu hiệu sau:

a Những dấu hiệu thuộc mặt khách quan: Có từ hai người trở lên và cùng thực hiện một tội phạm

Trường hợp trên thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất vì có 2 người thực hiện tội phạm và theo đề bài mặc nhiên hiểu hai người này có đủ năng lực trách nhiệm hình sự về tội giết người Nhưng trong hành vi giết ông T, chỉ có một mình B thực hiện tội phạm, A không biết và không tham gia nên không thể thỏa mãn dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm

b Những dấu hiệu về mặt khách quan

Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người tham gia thực hiện tội

phạm đều có lỗi cố ý hoặc đối với những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu thì đồng phạm phải đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội Về tội giết người, không đòi hỏi có dấu hiệu mục đích Và A

hoàn toàn không có lỗi trong tội phạm giết người của B vì A chỉ biết mình có nhiệm vụ canh gác cho B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà ông C chứ không hề biết và cũng không mong muốn tước đoạt mạng sống (giết) ông T Vậy nên A không có lỗi trong tội giết ông T

Qua phân tích trên, ta thấy A và B không thỏa mãn những dấu hiệu của đồng phạm trong tội giết người nên không phải là đồng phạm trong tội giết người Thứ 2, đề bài đề cập đến cấu thành tội phạm giết người của B là theo khoản

2 Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 10

“Điều 123 Tội giết người

1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4 Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ

01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”

Trang 11

Đề bài xác định như vậy chứng tỏ tội phạm giết người của B không thuộc

trường hợp quy định tại điểm o, khoản 1 điều trên, tức cũng không có tổ chức (1

trong các hình thức đồng phạm) nên không là đồng phạm với A trong tội này Như vậy, có thể thấy rằng trong vụ án có đồng phạm trên, A và B đã phạm tội có tổ chức - tức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm2 - trong tội trộm cắp tài sản Trong đó, A đứng ngoài canh gác, tạo điều kiện tinh thần cho B yên tâm thực hiện hành vi trộm cắp, đóng vai trò là người giúp sức; B đóng vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp được mô tả trong CTTP Còn về tội giết ông T là thuộc về trách nhiệm hình sự của riêng B, đây chính là hành vi vượt quá của người đồng phạm được hiểu là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm và hành vi vượt quá này có thể cấu thành tội phạm khác hoặc thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng mà cụ thể trong trường hợp này chính là cấu thành thêm tội danh khác nữa chính là tội giết người quy định tại điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2 Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Ngày đăng: 04/05/2020, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w