LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại công ty SVT Thái Dương em đã nhận được sự giúp đỡ của các th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại công ty SVT Thái Dương em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt để em hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho em có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này
Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, TS Đặng Thị Mai Lan đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
và những người thân đã động viên, dành những tình cảm vô cùng quý báu cho
em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày…tháng… năm 2019
Sinh viên
HOÀNG VĂN LINH
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Chuẩn bị điều kiện để nuôi gà 27
Bảng 3.2 Nhiệt độ chuồng gà 28
Bảng 3.3 Thời gian chiếu sáng cho gà 28
Bảng 3.4 Kết quả cho gà ăn 29
Bảng 3.5 Thành phần giá trị dinh dưỡng 29
Bảng 4.1 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 30
Bảng 4.2 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc 31
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vaccine 32
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà tại trại 34
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà thịt lông màu 35
Bảng 4.6 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các giai đoạn 36
Bảng 4.7 Khả năng tiêu thụ thức ăn (tính chung trống, mái) 37
Bảng 4.8 Sinh trưởng tích lũy ( g/con ) 38
Bảng 4.9 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà 39
Bảng 4.10 Những công tác khác 40
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 4
2.1.3 Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại 5
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 6
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6
2.2 Tổng quan tài liệu 6
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng 6
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 7
2.2.3 Đặc điểm tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 11
2.2.4 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng và gà F1 14
2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt 16
2.2.6 Giới thiệu thuốc sử dụng trong đề tài 19
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 20
Trang 72.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 25
3.1 Đối tượng 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
3.3 Nội dung thực hiện 25
3.4 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 25
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 25
3.4.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà tại trại 26
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 30
4.1 Kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà tại nơi thực tập 30
4.1.2 Công tác thú y 30
4.2 Tình hình mắc bệnh và kết quả điều trị cho đàn gà tại cơ sở 33
4.2.1 Tình hình mắc bệnh của đàn gà 33
4.2.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại cơ sở 35
4.3 Tỷ lệ nuôi sống và khả năng tiêu thụ thức ăn của đàn gà 36
4.3.1 Tỷ lệ nuôi sống 36
4.4 Công tác khác 39
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang phát triển, trong đó sản xuất nông nghiệp
đã trở thành nghề truyền thống và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết tháng
6 năm 2018, ước đàn bò có 5,58 triệu con; tăng 2,2%; trong đó bò sữa có 310 nghìn con, tăng 5,6%; đàn trâu có 2,48 triệu con, giảm 1%; đàn gia cầm khoảng 378 triệu con, tăng 5,2%; đàn lợn có 26,42 triệu con, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2017
Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á
Hiện nay, ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Bên cạnh đó, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người
về thực phẩm có nguồn gốc động vật như: thịt, trứng, sữa ngày càng cao
Ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất Nên ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gia cầm, với nhiều quy mô khác nhau Bên cạnh những giống gà và phương thức nuôi truyền thống thì đã xuất hiện những giống gà mới và phương thức nuôi hiện đại, trong đó thực hiện nuôi gà theo phương thức chuồng kín đang được áp dụng ngày càng rộng rãi Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, em tiến hành thực
hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà lông màu tại trại Bùi Văn Đàn, xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, Hà Nội”
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Chương Mỹ Là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 20km Có ranh giới:
Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai
Phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện Thanh Oai
Phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức
Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình)
* Diện tích, đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 232,94 km²; là huyện có diện tích lớn thứ 3 của thành phố Dân số 30,5 vạn người Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và 2 thị trấn Mật độ dân số trung bình 1.309 người/km² Toàn huyện có trên 70.000 hộ dân; người dân tộc Kinh chiếm đại
đa số, dân tộc Mường có 01 thôn Đồng Ké với 123 hộ dân, 471 nhân khẩu; ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số khác ở rải rác tại các xã, thị trấn
Có gần 100 cơ quan, đơn vị Nhà nước, Trung ương và Thành phố đóng trên địa bàn; Chương Mỹ có 01 khu công nghiệp, 9 cụm điểm công nghiệp và trên 10 nghìn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cá thể đang hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế trong những năm qua
* Địa hình
Địa hình của huyện được chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng Đồi gò, vùng
“Núi sót” và vùng Đồng bằng với hệ thống sông Bùi - sông Tích phía Tây,
Trang 11sông Đáy bao bọc phía Đông huyện đã tạo tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng này từ rất sớm Đồng thời kết hợp với hệ thống đồi núi, sông hồ, đồng ruộng tạo nên những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, thơ mộng và đầy ắp những huyền thoại: Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc các xã Phụng Châu, Tiên Phương, Ngọc Hoà, Hoàng Văn Thụ, Thủy Xuân Tiên… dải núi rừng và hồ phía Tây của huyện vừa là cảnh quan đẹp vừa là tuyến phòng thủ tự nhiên vững chắc về phía Tây Nam của Thủ đô
* Điều kiện khí hậu
Chương Mỹ có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông khô lạnh Khí hậu phân hoá theo địa hình Vùng đồng bằng có độ cao trung bình 5-7 m, chịu ảnh hưởng của gió biển, khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 23,8oC; lượng mưa trung bình 1700 - 1800 mm Vùng đồi gò có độ cao trung bình từ 15 m - 50 m Khí hậu lục địa có ảnh hưởng gió Lào, nhiệt độ trung bình 23,5oC, lượng mưa trung bình 2.300 - 2.400 mm, là vùng khí hậu mát
mẻ, nhiệt độ trung bình 18oC Lượng mưa trung bình trên 2300 mm
* Tài nguyên
Gồm những loại khoáng sản chủ yếu như đá vôi, đá granít ốp lát, sét
Cao Lanh, Đồng, pirít, nước khoáng
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định 2010) đạt: 11.795 tỷ đồng, đạt: 98,9% so với kế hoạch và bằng 111,5% so cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng 11,5% Trong đó:
- Về sản xuất Công nghiệp - (theo giá cố định 2010) đạt: 6.730 tỷ đồng đạt: 98,5% kế hoạch và bằng 113,1% so với cùng kỳ; tốc độ tăng trưởng đạt: 13,1% Trên địa bàn hiện có trên 356 doanh nghiệp và trên 12.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cá thể đang hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại
Trang 12hiệu quả kinh tế Đã tổ chức 71 lớp dạy nghề với 2.800 học viên bằng chương trình khuyến công của huyện với kinh phí 2,9 tỷ đồng Toàn huyện có 175/215 làng có nghề Trong đó: Có 34 làng được thành phố công nhận làng nghề
- Về Thương mại - dịch vụ - du lịch:Giá trị sản xuất ngành thương mại
- dịch vụ (giá cố định 2010) đạt: 2.175 tỷ đồng đạt 100,6% kế hoạch và bằng 119,7% so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 19,7%
- Sản xuất Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản: Giá trị sản xuất ngành Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản (giá cố định 2010) đạt 2.890 tỷ đồng đạt 98,5% so kế hoạch và bằng 102,6 % so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 2,6%
- Về trồng trọt: Tổng sản lượng lương thực đạt 123.693 tấn, đạt 112,4%
kế hoạch; riêng thóc đạt 115.190 tấn đạt 113 % kế hoạch
- Về chăn nuôi: Tổng giá trị sản xuất 170 tỷ đồng đạt 103% kế hoạch
và bằng 113% so với cùng kỳ
2.1.3 Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại
Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau:
- Trang trại được xây mới và hoạt động năm 2016, trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh và camera theo dõi, sân trại được bê tông hóa
- Được lắp đặt, trang bị máng ăn, máng uống uống tự động, mỗi trại gồm 4 đường ăn tự động và 4 đường nước tự động, nền trại cán bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt
- Có 1 kho thức ăn, 1 máy phát điện, mỗi chuồng 6 quạt thông gió và mỗi trại có 1 máy heater và 1 lò than được thiết kế bên ngoài chuồng , 1 lò gồm có 3 bếp nhỏ
- Trong mỗi chuồng có 2 nhiệt kế và các cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt
độ trong chuồng nuôi
Trang 13- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước
- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện
- Diện tích chuồng trại là 2400 m² gồm 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi
5.000 con và có chiều dài 45m, chiều rộng 15m
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại
+ Trại được xây dựng theo mô hình chăn nuôi công nghiệp, trang thiết
bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay
- Khó khăn:
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng
Là một sinh vật, hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh
trưởng là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trang 14Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [16], đã đưa ra khái niệm: sinh trưởng của cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương,
da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [7], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền
từ đời trước”
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.2.2.1 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt
- Tỷ lệ nuôi sống: Là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm
- Sinh trưởng:
+ Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Đồ thị sinh trưởng tích lũy
có hình chữ S
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là hiệu số của khối lượng cơ thể cuối kỳ và khối lượng cơ thể đầu kỳ chia cho thời gian giữa hai kỳ cân Đồ thị sinh tuyệt đối có hình parabol
+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước
và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng
Trang 15tương đối có dạng hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi
- Tiêu thụ thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nồng độ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của mỗi loại gia cầm, chất lượng giống, mùa vụ Thông qua chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Dựa vào lượng thức ăn thu nhận và năng suất của mỗi đàn gia cầm, người ta tính được tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm chăn nuôi (FCR) Vì vậy, lượng thức ăn thu nhận có một ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất của ngành chăn nuôi gia cầm
- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau
- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:
+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống
+ Tỷ lệ thịt lườn:là tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt lườn với khối lượng thân thịt.Tách thịt lườn bằng cách: rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông và cơ ngực sâu bên trái, bỏ xương, cân
+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt
Trang 16+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối
lượng thân thịt
- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời gian nuôi
- Chỉ số sản xuất (Economic number - EN): EN càng cao thể hiện hiệu quả kinh tế càng lớn
2.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của dòng giống
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [16] thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định, trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái
Theo Phùng Đức Tiến (1997) [10], đã xác định biến dị di truyền về tốc
độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính Theo Siegel và Dumington (1978) [14] thì những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn
gà trống
Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm
có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Brandsch A.và Bichel H 1978) [1]
Trang 17- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống
Theo Chambers J R (1990) [16] thì tương quan giữa khối lượng của
gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng về protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gà ở các giai đoạn khác nhau
- Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh; nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K W, 1992 [15])
Chế độ chiếu sáng ảnh hưởng tới khả năng lấy thức ăn, sinh trưởng do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Tổng thời gian chiếu sáng cho gà thịt từ 1 ngày đến 4 tuần khoảng 20 - 24 giờ và 10 - 18 giờ cho gà từ 5 tuần đến xuất bán Nguồn cây trồng vật nuôi(2015) [18] Đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá
Trang 18trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ
thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo
2.2.3 Đặc điểm tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật
có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm
- Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức
ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001 [5])
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều đầu mút dây thần kinh, có tác dụng cảm giác
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt
là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng tiêu hóa
Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu rồi vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt
Trang 19* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 - 120g thức ăn Giữa các
cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn vào thẳng phần dưới thực quản
và dạ dày không qua túi diều (Cây trông vật nuôi, 2015) [19]
* Tiêu hóa ở dạ dày
- Tiêu hóa ở dạ dày tuyến
Dạ dày tuyến giống như cái túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy, tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH = 3,1 - 4,5
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzym và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các
tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên (Trần Long, 1994) [4]
- Tiêu hóa ở dạ dày cơ
Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan
Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (ở lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua) sau đó thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (ở thực quản và diều), qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)
Dưới ảnh hưởng của men amylaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ
Trang 20Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: Gà khoảng 11,3 ml; còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất Sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn
* Tiêu hóa ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào tá tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột
Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với
tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic, lypolytic và cả men enterokinaza
Dịch tụy là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH = 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn
có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )
Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amylaza, mantaza, invertaza và lipaza
Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này
Các men amylaza và mantaza phân giải các polysacarit thành các monosacarit như glucoza Lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo
Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở
Trang 21khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá
ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu
Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật
có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như
đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn
2.2.4 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng và gà F1
2.2.4.1 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri
Trang 22Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng, chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi (Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn (2001) [6]
* Khả năng sản xuất
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [12], thì: khối lượng mới nở là 30 -
31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là 1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon, màu trắng
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 - 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 - 15 quả Năng xuất trứng có thể đạt từ 70
- 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6%; tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78%, tỷ lệ
gà con loại I đạt 94,1%
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn
Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7%; khối lượng con trống 1140,70 g; con mái 940,50 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75% Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37%
2.2.4.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng
* Nguồn gốc
Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa Trung Quốc do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, được nhập vào nước ta từ sau năm 1997
* Đặc điểm ngoại hình
Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta Lông màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa Sở dĩ gọi là gà Lương Phượng
vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ
Gà trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa
Trang 23phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon
* Khả năng sản xuất
Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 -1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam Nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả
2.2.4.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)
Thế hệ con lai vẫn giữ được màu lông tương tự gà Ri, qua ba thế hệ tự giao ngoại hình vẫn ổn định, tỷ lệ nuôi sống từ 1 - 19 tuần tuổi là 89 - 91 % khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,7 - 1,9 kg, sản lượng đến 52 tuần tuổi đạt 115 - 118 quả/mái
Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97 - 100%, khối lượng cơ thể 2,0 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn tăng khối lượng cơ thể
là 3,2 - 3,3 kg Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 96%, khối lượng cơ thể 1,8 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,8 - 3,0 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri
2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt
Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:
Trang 24đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ Lông xù, ỉa chảy,
phân trắng mùi hôi khắm có bọt trắng, có khi lẫn máu, phân bết quanh hậu
môn, gà chết 2 - 3 ngày sau khi phát bệnh
+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính) Gà biểu hiện gầy yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt,…
- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ, tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử
- Phòng bệnh:
+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc
+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà
+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những
phân gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh
+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh
+ Dùng dung dịch formol 2 - 5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi
và khu vực xung quanh
- Điều trị:
+ Dùng Ampicillin pha vào nước hoặc trộn vào thức ăn liều 1g/10kg thể trọng dùng 4 - 6 ngày lien tục
Trang 25+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày
+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn
duy trì ở mức độ thấp
+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các
loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli) Vì vậy
trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E.Coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng:
âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc
- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông
thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho
uống thuốc để phòng bệnh
- Điều trị:
+ Doxycycline (50%): liều 1g/25kg thể trọng, uống liên tục : 5 ngày
* Bệnh cầu trùng
- Nguyên nhân: Do các loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra Gà con 9
- 10 ngày tuổi bắt đầu nhiễm bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn từ 15 –
45 ngày tuổi Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm Theo Đoàn Văn Hùng (2014) [20], các loại cầu trùng gây bệnh cho gà tồn tại rất lâu ngoài môi trường và rất khó tiêu diệt bằng các loại thuốc sát khuẩn cũng như vôi bột vì vậy đàn gà rất dễ bị mắc bệnh từ môi trường
- Triệu chứng:
Trang 26+ Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã, chậm chạp, phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn
+ Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng, cánh
tê liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu Tỷ lệ ốm cao,
nhiều gà chết
- Bệnh tích:
+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu
+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột có
nhiều đốm trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng
- Điều trị:
+ Dùng Diclazuril: liều 1ml/20kg thể trọng dung 4-6 ngày liên tục
2.2.6 Giới thiệu thuốc sử dụng trong đề tài
*Ampicillin
Ampicillin là kháng sinh nhóm β – Lactam – Penicillin bán tổng hợp,
có hoạt phổ tác động rộng, diệt khuẩn cao với cả vi khuẩn Gram (+) và vi
khuẩn Gram (-) nhất là các tụ cầu, Escherichia Con, Salmonella, Pasteurella, Leptospira, Mycoplasma
- Công dụng: dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do các loại vi khuẩn mẫn cảm với Ampicillin như: Viêm gan truyền nhiễm, viêm đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục, các bệnh viêm da, nhiễm trùng máu, viêm đa khớp
- Các bệnh đường ruột, ỉa chảy do E.Coli, phân trắng, tụ huyết trùng,
đóng dấu, phù thũng sau cai sữa ở lợn cao, ung khí than, viêm khớp, viêm vú, viêm tử cung ở trâu, bò, dê, cừu
- Liều lượng, cách dùng:
+ Liều phòng: 1g/15kg thể trọng, dùng 3 – 5 ngày
+ Liều trị: 1g/10kg thể trọng, dùng lien tục 5 – 7 ngày
* Doxycycline
Trang 27Doxycycline có kháng khuẩn phổ rộng với các vi khuẩn Gram (+) như
Staphylococcus, Streptococcus, Actinomyces; các vi khuẩn Gram (-) như E.Coli, Klebsiella bacteroides, Enterobacter, Proteus và Pseudomonasaeruginosa, Salmonella, Bordetella spp, Brucella, Bartonella, Haemophilus spp, Pasteurella multocida, Shigella và Yersinia pestis, kể cả Mycoplasma, Chlamydia, Rickettsia,
Doxycycline có ái lực rất mạnh đến các mô phổi, vì thế nó đặc biệt thích hợp trong phòng và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp
- Chỉ định: dùng trên lợn, bê, nghé, gia cầm và thủy cầm
Gia cầm và thủy cầm: bệnh CRD, viêm túi khí do E.coli, tiêu chảy phân trắng do E.coli, thương hàn,…
- Liều lượng và cách dùng:
+ Trộn thức ăn hay pha nước uống: dùng 3 - 5 ngày
+ Gia cầm và thủy cầm: 1g/1 - 2 lít nước uống
*Diclazuril
Diclazuril là kháng sinh ức chế cầu trùng được sử dụng cho phòng
ngừa và điều trị bệnh cầu trùng ở gia cầm do: Eimeria tenella, Eimeria mivati,
Eimeria necatrix, Eimeria brunetti, Eimeria maxima,…
- Chỉ định: dùng trên bê, nghé, cừu, gia cầm phòng và trị bệnh cầu trùng
- Liều lượng, cách dùng:
+ Liều phòng: 1g/20kg thể trọng
+ Điều trị: 1g/10 – 15kg thể trọng
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002 Năm 2006, đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi
Trang 28Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến năm 2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng bình quân 7,87%/năm Trong đó số lượng đàn gà thời gian 1990 - 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm số lượng đầu con giảm Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà cao sản Đồng thời với việc đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp,
từ năm 1995 đã tập trung nghiên cứu các giống gà chăn thả có năng suất, chất lượng cao trên phạm vi cả nước
Theo Trần Công Xuân và cs (2001) [8], khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Lương Phượng của Trung Quốc đã kết luận: dòng M1có tuổi đẻ quả trứng đầu lúc 145 ngày tuổi, đẻ 5% lúc 160 ngày tuổi, 30% lúc 170 ngày tuổi và đạt 50% lúc 184 ngày tuổi Khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 55,42 gam, tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,92%, tỷ lệ phôi đạt 94,59%, tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp là 83,11%, tỷ lệ nở/ tổng trứng có phôi đạt 88,08%
Theo Trần Công Xuân và cs (1991) [9] khi nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của bốn dòng gà kabir ông bà nhập nội nuôi tại trung tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn Nuôi đã kết luận: khả năng sinh sản khá cao, năng suất trứng đến 70 tuần tuổi mái B: 163,34 quả, mái D quần thể 177,03 quả Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giống thấp, tương đương 2,94
và 2,97 kg, khối lượng trứng trung bình 55 - 56 gam, đơn vị Haugh: 84 Tỷ lệ trứng chọn ấp là 92 - 93% Tỷ lệ trứng có phôi 92,18 - 96,02%
Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng hoa dòng M1, M2 nuôi tại trại thực nghiệm Liên Ninh: Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) [2] cho biết: sức sống cao qua các giai đoạn của hai dòng gà Gà con 1 - 5 tuần tuổi dòng M1 đạt 97,3 - 97,8%; dòng M2 đạt 96,3% Gà 6 - 20 tuần dòng