Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội...67 2.5 Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MINH PHƯƠNG
TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG PHẦN CHUNG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MINH PHƯƠNG
TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG PHẦN CHUNG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực khoa học, đồng thời tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của luận văn này Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân th nh c m n! ành cảm ơn! ảm ơn! ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
TRẦN MINH PHƯƠNG
MỤC LỤC
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 9
1.1 Khái niệm, nội hàm và ý nghĩa tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam 10
1.1.1 Khái niệm, nội hàm tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam 10
1.1.2 Ý nghĩa tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam 13
1.2 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ 15
1.2.1 Quan niệm về người dưới 18 tuổi phạm tội và chính sách pháp luật hình sự áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 15
1.2.2 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam trước năm 1985 18
Trang 51.2.3 Tính nhân đạo về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 24
1.3 Tính nhân đạo của pháp luật quốc tế về người dưới 18 tuổi phạm tội 31
1.3.1 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật quốc tế 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
Chương 2: SỰ THỂ HIỆN TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA CÁC QUY ĐỊNH
VỀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG PHẦN CHUNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 46 2.1 Sự thể hiện tính nhân đạo trong quy định về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội 48 2.2 Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 52 2.3 Sự thể hiện tính nhân đạo trong quy định về các biện pháp xử lý chuyển hướng, biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 61 2.4 Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 67 2.5 Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định khác của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 2015 đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
Chương 3: SỰ THỂ HIỆN TÍNH NHÂN ĐẠO QUA THỰC TIỄN ÁP
DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014 - 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH NÀY TRONG TƯƠNG LAI 79
Trang 63.1 Sự thể hiện tính nhân đạo qua thực tiễn áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam trên địa
bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018 79
3.2 Những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân cơ bản trong việc áp dụng các quy định mang tính nhân đạo về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội 83
3.2.1 Những tồn tại, vướng mắc 83
3.2.2 Những nguyên nhân cơ bản 87
3.3 Định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định mang tính nhân đạo về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 88
3.3.1 Hoàn thiện các quy định mang tính nhân đạo về người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 88
3.3.2 Những giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN CHUNG 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7TANDTC: Tòa án nhân dân tối caoTNHS: Trách nhiệm hình sự
VKSNDTC: Viện kiểm sát tối cao
Trang 8Tổng thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm của Tòa
Hình sự - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai
đoạn 2014 - 2018
80
3.2
Tổng thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội của hai cấp Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội
giai đoạn 2014 - 2018
80
3.3
Tổng số thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm có
người dưới 18 tuổi phạm tội và hình phạt được áp
dụng của Tòa Hình sự - Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018
82
3.4
Cơ cấu loại tội phạm do người dưới 18 tuổi thực
hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2014 - 2018
82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước ta luôn quantâm đến hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là hệthống pháp luật hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn đấu tranh phòng,chống tội phạm trong giai đoạn mới cũng như đáp ứng yêu cầu đối với các camkết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trên cơ sở đó Đảng Cộng sản ViệtNam đã ban hành các văn bản, tiêu biểu như các Nghị quyết số 08-NQ/TWngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/6/2005, các Kết luận của Bộ Chính trị như Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014; các Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc lần X, XI, XII của Đảng để chỉ đạo, định hướngviệc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó có các quy định pháp luật hình
sự Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhànước ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ củacông dân và là cơ sở quan trọng để các đạo luật về hình sự ghi nhận vấn đề này.Những năm qua, pháp luật nước ta đã thể chế hóa đường lối, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước trong đó có nội dung cơ bản là ghi nhận và bảo đảm thựchiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược cải cách tưpháp đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội và đối ngoạicủa đất nước Tuy nhiên, tình hình tội phạm ở nước ta vẫn diễn biến hết sứcphức tạp, với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó nhómtội phạm do người dưới 18 tuổi (trước đây được gọi là người chưa thành niên)thực hiện ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất Điều này đặt ra yêu cầucần phải có những chính sách pháp luật hình sự phù hợp để vừa đáp ứng đượcyêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, thể hiện tính nghiêm minh của phápluật đối với tội phạm nói chung vừa đảm bảo tính nhân đạo trong việc giáo dục,phòng ngừa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trang 10Từ khi pháp điển hóa lần đầu tiên năm 1985, BLHS đã có những ghi nhận
cụ thể về người dưới 18 tuổi phạm tội Mặc dù còn nhiều hạn chế, tuy nhiênchính BLHS năm 1985 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc sửa đổi và hoànthiện các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong các đạo luật về hình sựsau này Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, BLHS có những quy định vềviệc áp dụng pháp luật trong xử lý tội phạm và người phạm tội, tuy nhiên dựatrên những yếu tố đặc thù như độ tuổi; giới tính; tình trạng hạn chế năng lựchành vi…mà BLHS có những chính sách riêng thể hiện tính nhân đạo, tínhhướng thiện trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự để giải quyết vụ án.Trong đó các quy định đối với việc xử lý vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tộithể hiện rõ nét nhất chính sách hình sự nhân đạo – là đặc trưng cơ bản của phápluật hình sự Việt Nam trong chính sách xử lý tội phạm và người phạm tội Trảiqua ba lần pháp điển hóa năm 1985, năm 1999 và năm 2015 của BLHS, chếđịnh người dưới 18 tuổi phạm tội luôn được quan tâm, tiếp thu những ý kiếnđóng góp để sửa đổi và hoàn thiện, phù hợp với các quy định của Công ước vềquyền trẻ em năm 1989, Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp lý khác vàthực tiễn tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, thể hiện tính nhânđạo trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ngày càngcao hơn, sát hơn so với đặc điểm, sự phát triển về nhận thức và tác động của xãhội đối với đối tượng này
Bắt đầu từ BLHS năm 2015, thuật ngữ “người chưa thành niên” trong cácBLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 đã được nhà làm luật thay thế bằng thuậtngữ “người dưới 18 tuổi”, như vậy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽđược hiểu là người chưa thành niên theo như các BLHS trước đây và để đảmbảo tính thống nhất trong việc nghiên cứu nội dung của Luận văn này, tác giả
sẽ sử dụng thuật ngữ “ người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa
thành niên” xuyên suốt luận văn kể cả các quy định của pháp luật quốc tế về
người chưa thành niên cũng được thay đổi cho phù hợp; tác giả chỉ trừ những
Trang 11đoạn trích nguyên văn từ tài liệu tham khảo của các tác giả khác, điều luật trongcác Bộ luật hình sự (BLHS) sẽ giữ đúng nội dung.
BLHS 2015 có cấu trúc bao gồm : Phần chung và Phần riêng Tuy nhiên,
do tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của những vấn đề liên quan đếntrách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng nhưgiới hạn phạm vi nội dung của luận văn Vậy nên, trong khuôn khổ của luậnvăn thạc sĩ, tác giả chỉ có thể đề cập đến những vấn đề nào liên quan đến Phầnchung mà không đề cập đến các quy định của Phần riêng trong luận văn này
Để tiếp tục có những đánh giá, nhận xét mang tính chuyên sâu về tính nhânđạo của BLHS năm 2015 đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tác giả chọn đề tài:
“Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội).” làm Luận văn thạc sĩ Luật học thấy là cấp thiết hiện nay.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính nhân đạo của BLHS là một trong những chính sách hình sự quantrọng của Nhà nước ta trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đóthể hiện rõ nhất trong các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội Trongthời gian qua, nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các tác giả đã có nhữngcông trình nghiên cứu liên quan đến các quy định của BLHS về người dưới 18tuổi phạm tội, tuy nhiên chỉ ở mức độ khái quát chung trong chính sách hình
sự, các nguyên tắc xử lý Trong đó bao gồm các công trình sau:
Trước hết về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:1) “Chương XII – Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”,
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2001, tái bản năm 2003, 2007 (Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên);
2) “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội“ giáo
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb
Công an nhân dân 2005;
Trang 123) TS Trần Văn Biên – TS Đinh Thế Hưng ,Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2017;
4) Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 lần thứ nhất,Nxb
Thông tin và truyền thông năm 2017
Về luận án tiến sĩ có các đề tài:
1) “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam” của tiến sĩ Hồ Sỹ
Sơn năm 2007, Viện Nhà nước và pháp luật;
2) “Tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay (Giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa)” của tiến sĩ Phạm
Đình Chi năm 2005, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội;
3) “Pháp luật về quyền của con người chưa thành niên phạm tội ở Việt
Nam” của tiến sĩ Vũ Thị Thu Quyên 2015, Học viện chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh;
4) “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
hiện nay” của tiến sĩ Hoàng Minh Đức năm 2016, Học viện Khoa học xã hội.
Về luận văn thạc sĩ có các đề tài:
1) “Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt
Nam” của thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh năm 2008, Khoa Luật – Đại học Quốc
gia Hà Nội;
2) “Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật
hình sự Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Tiến Hoàn năm 2013, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội;
3) “Vấn đề quyền con người và can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế”
của thạc sĩ Phạm Thị Hồng Xuyến năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội;
4) “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự việt nam” của thạc sĩ Mai
Chí Đức năm 2017, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội;
Trang 135) “Nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp
luật hình sự Việt Nam” của thạc sĩ Trần Thị Thùy Dương năm 2018, Viện
Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – Học viện Khoa học xã hội
Về các bài viết đăng tạp chí khoa học có:
1) “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên; Những khía cạnh
pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học (Phần thứ
I, những khía cạnh pháp lý hình sự)” của PGS.TSKH Lê Văn Cảm và TS Đỗ
Thị Phượng đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20-10/2004;
2) “Những khía cạnh pháp lý hình sự về các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của TS Trịnh Tiến Việt
đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 13/2010;
3) “Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và sự thể hiệntrong Bộ luật hình sự” của Lê Thị Sơn đăng trên tạp chí Luật học số 3/2015
Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực tế trên tác giả sẽ phân tích, đánhgiá và tiếp thu các nội dung có giá trị khoa học phù hợp của các công trìnhnày trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến luận văn; những quanđiểm, luận điểm, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã được thừanhận, được sử dụng trong các công trình nghiên cứu trên
Thông qua những nghiên cứu về lý luận, quy định pháp luật hình sự hiệnhành và hoạt động thực tiễn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụngtrong việc áp dụng các quy định của BLHS để giải quyết các vụ án có ngườidưới 18 tuổi phạm tội, tác giả sẽ chỉ ra những tồn tại và hạn chế Trên cơ sở
đó tìm ra những nguyên nhân, vướng mắc, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoànthiện pháp luật hình sự để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội phạmnói chung và thể hiện tính nhân đạo trong việc áp dụng những quy định củaBLHS năm 2015 đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng
Do đó, luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhànghiên cứu khoa học luật nói chung và khoa học luật hình sự nói riêng, người
Trang 14tiến hành tố tụng và các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinhchuyên ngành Tư pháp hình sự, cũng như góp phần phục vụ hoạt động lậppháp và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong công tác đấu tranh phòng,chống tội phạm ở nước ta hiện nay.
3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận văn được thực hiện trên cơ sởphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kếthợp phương pháp luận khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạmhọc, Tâm lý học, Xã hội học với các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làmsáng tỏ tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trongPhần chung BLHS năm 2015
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước Luận văn sử dụng các phương pháp nghiêncứu như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, kết hợp với một số phương phápkhác theo yêu cầu của nội dung đề tài nghiên cứu Tùy từng nội dung và phạm vinghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu và lựa chọnđịa điểm nghiên cứu cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả, chất lượng cao nhất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là tính nhân đạocủa các quy định trong Phần chung BLHS năm 2015 đối với người dưới 18tuổi phạm tội cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thànhphố Hà Nội
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu toàn diện các quy định thể hiện tínhnhân đạo trong Phần chung BLHS năm 2015 liên quan đến người dưới 18 tuổiphạm tội; mở rộng phạm vi nghiên cứu tính nhân đạo của các quy định trongPhần chung BLHS năm 2015 và chỉ ra sự thể hiện tính nhân đạo trong việc áp
Trang 15dụng pháp luật của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bànthành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018.
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nội dung đề tài, Luận văn sẽ thực hiện những mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục kế thừa, phát huy các kết quả của những quan điểm,
công trình nghiên cứu đã được công bố trước đây từ đó đi đến thống nhấtnhận thức chung về tính nhân đạo trong các quy định của BLHS năm 2015đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Thứ hai, nghiên cứu và chỉ ra được những nội dung cơ bản về tính nhân
đạo của các quy định trong Phần chung BLHS năm 2015 đối với người dưới 18tuổi phạm tội, phân tích quá trình hình thành và phát triển các quy định này từthời kỳ trước năm 1985 và những lần pháp điển hóa BLHS, nghiên cứu phápluật so sánh của một số quốc gia trên thế giới có nền pháp luật điển hình về tínhnhân đạo trong các quy định của BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Thứ ba, tổng kết thực tiễn việc áp dụng các quy định trong BLHS về
người dưới 18 tuổi phạm tội trên cơ sở số liệu thực tiễn công tác xét xử củahai cấp Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018, từ đó chỉ
ra những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân và định hướng tiếp tục hoànthiện các quy định này trong thời gian tới
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn
Thông qua những nghiên cứu về lý luận và phân tích, đánh giá tình hìnhthực tiễn áp dụng các quy định trong Phần chung BLHS năm 2015 về ngườidưới 18 tuổi phạm tội, tác giả chỉ ra những tồn tại, hạn chế Trên cơ sở đó tìm
ra những nguyên nhân, vướng mắc, đưa ra các giải pháp để định hướng tiếptục hoàn thiện các quy định này trong thời gian tới cũng như nâng cao hiệuquả việc áp dụng các quy định này trong BLHS năm 2015 về người dưới 18tuổi phạm tội
Trang 167 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mụccác từ viết tắt, Danh mục các bảng số liệu và Phụ lục, nội dung của luận văngồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về tính nhân đạo của các quy định đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự
Chương 2 Sự thể hiện tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18
tuổi phạm tội trong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015
Chương 3 Sự thể hiện tính nhân đạo qua thực tiễn áp dụng các quy định
về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên địa bànthành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018 và định hướng tiếp tục hoàn thiệncác quy định này trong tương lai
Trang 17Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
Việt Nam là đất nước có lịch sử hình thành và phát triển trải qua hàng
ngàn năm, có nền văn hóa đa dạng, phong phú nhưng vẫn thể hiện được bảnsắc dân tộc với những nét đẹp truyền thống được giữ gìn và phát triển quatừng thế hệ Nói tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, không thểkhông nhắc đến những tư tưởng, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn,thể hiện đạo lý về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống phápluật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng đượcthể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết Tư tưởng này cũng được xác định là kim chỉnam trong suốt lịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau mà nổi bật hơn cả
là Bộ luật Hồng Đức thời kỳ phong kiến và các BLHS được pháp điển hóa từnăm 1985 cho đến nay
Tư tưởng nhân đạo trong pháp luật hình sự thể hiện bản chất của Nhànước, chế độ thông qua việc ứng xử của Nhà nước đối với tội phạm và ngườiphạm tội Ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử hoặc ở các quốc gia trên thế giới,BLHS ra đời đều nhằm mục đích bảo vệ những giá trị cơ bản, cốt lõi nhưquyền con người, quyền công dân, chế độ chính trị…bị tội phạm xâm phạm.Tuy nhiên việc xử lý tội phạm không chỉ đơn thuần là trừng trị mà đó là mộtquá trình đấu tranh, cảm hóa, giáo dục đối với tội phạm Chính vì vậy, tưtưởng nhân đạo luôn được ghi nhận trong các đạo luật hình sự để thể hiệnquan điểm, chính sách của Nhà nước đối với việc xử lý tội phạm, thể hiệnquan điểm cứng rắn, trừng trị cũng như sự khoan hồng, bao dung đối vớinhững con người lầm lỡ vướng vào vòng lao lý
Qua những lần pháp điển hóa BLHS, tư tưởng nhân đạo trong việc xử lýngười phạm tội đã được Nhà nước ta ghi nhận và ngày càng được bổ sung,
Trang 18hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta cũng như đáp ứngnhững đòi hỏi, yêu cầu trong các quy định quốc tế mà Việt Nam là thành viên
ký kết hoặc tham gia BLHS năm 2015 ra đời đánh dấu sự chuyển mình quantrọng trong việc xây dựng BLHS mang tính hướng thiện cao hơn, đảm bảo tối
đa quyền con người, quyền công dân Theo đó, một trong những nội dungtrọng tâm được đề cập đến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện trongBLHS năm 2015 đó chính là việc xác định các đối tượng ưu tiên được hưởngchính sách nhân đạo của nhà nước khi phạm tội hoặc khi xét xử được quantâm bao gồm: Phụ nữ có thai, người dưới 18 tuổi, người già Đặc biệt đối vớiđối tượng là người dưới 18 tuổi, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý và nhữnggiới hạn trong nhận thức, BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽtrong chính sách hình sự So với các BLHS trước đây, BLHS năm 2015 đãđược sửa đổi theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổiphạm tội, trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nóichung và tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng
Vì vậy, để tiếp tục có những phân tích, đánh giá sâu hơn về tính nhân đạocủa các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Namchúng ta cần nghiên cứu một cách tổng thể về mặt lý luận của quy phạm này
1.1 Khái niệm, nội hàm và ý nghĩa tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, nội hàm tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và nhà nước tathể hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm được xác định trên cơ sở coitrọng cả mục đích trừng trị và giáo dục, phòng ngừa tội phạm, trong đó mụcđích giáo dục người phạm tội, đề cao tính hướng thiện luôn được đặt lên hàngđầu Từ xưa đến nay, pháp luật hình sự Việt Nam luôn coi trọng và đề caotính nhân đạo trong việc xử lý tội phạm và người phạm tội, trong đó người già
và trẻ em luôn là đối tượng được pháp luật đặc biệt chiếu cố Quốc triều hình
Trang 19luật của thời Nhà Lê có quy định đặc biệt chiếu cố đối với người già, trẻ em,người tàn tật và phụ nữ phạm tội Tồn tại với ý nghĩa xã hội sâu sắc, quantrọng, tính nhân đạo thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng giữa con người với conngười về lòng yêu thương cũng như mối quan hệ giữa Nhà nước và công dântrong các quan hệ xã hội mà trong đó có lĩnh vực pháp luật hình sự.
Theo đại từ điển tiếng Việt thì nhân đạo là “đạo đức thể hiện tình thương
yêu với ý thức tôn trọng giá trị, phẩm chất của con người” [19, tr.1238] Nhân
đạo được hiểu theo nghĩa là đường đi của con người, đạo làm người Conđường đó còn gọi là đạo lí, đạo lí là phải tôn trọng quyền lợi chính đáng củacon người, không được xâm phạm đến sinh mệnh, thân thể, sự tự do về tưtưởng cũng như tình cảm của con người, thể hiện sự yêu thương, quý trọnggiá trị con người
Xã hội loài người luôn có sự vận động không ngừng để phát triển, trong
đó các giá trị cốt lõi luôn được tôn trọng và gìn giữ qua thời gian Bất cứ một
xã hội nào cũng tôn vinh cái đẹp, cái tốt, cái nhân văn, luôn hướng đến xâydựng một Nhà nước với sự hoàn thiện cao nhất mà ở đó người dân được sốngtrong một xã hội lành mạnh, an toàn và được đối xử một cách công bằng Bởivậy những giá trị về mặt đạo đức luôn có “đất lành” để phát huy hiệu quả, từ
đó cùng với các công cụ quản lý xã hội khác của Nhà nước để điều chỉnhhành vi của con người theo một khuôn khổ, đúng mực và hài hòa Thực tiễncho thấy pháp luật và đạo đức đã hình thành nên một phạm trù mang tính chấtcăn cơ, và mang tính ràng buộc đối với hầu hết các hệ thống pháp luật trên thếgiới đó là tính nhân đạo Pháp luật và nhân đạo luôn có sự tác động qua lại lẫnnhau từ đó hình thành nên các giá trị đời sống mang tính tích cực Trong đótính nhân đạo sẽ là nhân tố tác động đến việc hình thành và hoàn thiện hệthống pháp luật cơ bản của quốc gia, dân tộc mà nổi bật hơn cả đó là phápluật hình sự; ngược lại pháp luật hình sự được xây dựng trên nền tảng tínhnhân đạo sẽ thể hiện được bản chất Nhà nước trong việc đấu tranh chống tội
Trang 20phạm cũng như đảm bảo nguyên tắc phòng ngừa chung Bên cạnh đó, việc phápluật thực định ghi nhận tính nhân đạo sẽ củng cố và giữ gìn, phát huy những giátrị cốt lõi trong đời sống xã hội nói chung và đời sống pháp lý nói riêng.
Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, vấn đề nhân đạo đã được đề cập đến rấtnhiều, nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển, hoànthiện của pháp luật hình sự qua các thời kỳ mà BLHS là văn bản thể hiện rõnhất chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước trong việc xử lý tội phạm vàngười phạm tội Trong khoa học pháp lý hình sự, các tác giả đã chỉ ra biểuhiện của tính nhân đạo trong chính những nguyên tắc cơ bản của BLHS, vàcũng từ đó đã có nhiều tác giả đưa ra được khái niệm tính nhân đạo trong luật
hình sự Việt Nam như Phạm Văn Tỉnh nhận định nhân đạo là “với cái đức
yêu thương con người, trên cơ sở tôn trọng phẩm giá, quyền và lợi ích của con người, nhân đạo là phạm trù khoa học xã hội học và là một giá trị xã hội được sản sinh trong quá trình đấu tranh chống cái ác của loài người, đặc biệt trong thời kỳ đấu tranh vì tự do, bình đẳng” [45, tr.29] hay như TS Hồ Sỹ
Sơn đưa ra khái niệm về nhân đạo như sau:
“Ở nghĩa rộng, nhân đạo được hiểu là sự thừa nhận cá nhân là một giá
trị, khẳng định lợi ích của con người là tiêu chí đánh giá các quan hệ xã hội Vấn đề nhân đạo, vì vậy là vấn đề con người, liên quan đến tất cả mọi người Ở nghĩa hẹp, nhân đạo được hiểu là sự yêu thương, quý trọng con người, là
sự đối xử nhân từ, có tình người đối với họ” [40, tr.24].
Dù có hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa thì nhân đạo chính là vốn quýcủa con người, xuất phát từ bản chất yêu thương đồng loại, tôn trọng nhữnggiá trị tốt đẹp để hướng đến một xã hội công bằng, văn minh
Trên cơ sở những quan niệm của con người về tính nhân đạo trong đờisống xã hội cũng như trong khoa học pháp lý hình sự, tác giả đưa ra quan
điểm cá nhân về tính nhân đạo trong luật hình sự như sau: “tính nhân đạo
trong luật hình sự là sự ghi nhận những tư tưởng, chính sách của Đảng, Nhà
Trang 21nước thể hiện đầy đủ và cụ thể trong BLHS về các giá trị của con người, tôn trọng và bảo vệ tối đa quyền con người, sự khoan hồng đối với người phạm tội bằng công lý và sự công bằng của xã hội”
Xuất phát từ những khái niệm và luận giải của tác giả về tính nhân đạotrong luật hình sự Việt Nam có thể chỉ ra nội hàm của tính nhân đạo như sau:
Thứ nhất, tính nhân đạo trong luật hình sự là sự ghi nhận những tư
tưởng, chính sách của Đảng, Nhà nước
Thứ hai, tính nhân đạo được thể hiện đầy đủ và cụ thể nhất trong BLHS Thứ ba, tính nhân đạo ghi nhận các giá trị của con người, tôn trọng và
bảo vệ tối đa quyền con người, sự khoan hồng đối với người phạm tội bằngcông lý và sự công bằng của xã hội
1.1.2 Ý nghĩa tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Nhân đạo là một phạm trù lịch sử cụ thể và tính giai cấp Khi xã hội loàingười phân chia giai cấp thì bắt đầu có sự bất bình đẳng, chính điều này đãnảy sinh ra các phong trào đấu tranh chống lại cái ác, đòi quyền tự do, bìnhđẳng giữa con người với con người với nhau Chính từ đây “nhân đạo” cũngxuất hiện như là sự ghi nhận những giá trị cốt lõi của xã hội và là một trongnhững lý do để khi Nhà nước và Pháp luật ra đời thì nhân đạo đã được ghinhận một cách chính thống và rộng rãi Mỗi xã hội khác nhau hay nói cáchkhác mỗi Nhà nước khác nhau có quan niệm về tính nhân đạo khác nhau docác điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội của các xã hội tương ứng quyết định.Trên cơ sở các yếu tố khác nhau đưa lại đã hình thành nên tư tưởng nhân đạo
từ hạt nhân nhỏ nhất đó là mỗi con người đến nhóm người và lan rộng đếntừng hệ thống pháp luật và toàn xã hội, do vậy ngay cả trong một xã hội nhấtđịnh đã không có và không thể có sự nhận thức và quan niệm thống nhất vềnhân đạo Mặt khác, tính nhân đạo còn được thể hiện ở các quan niệm truyềnthống của con người qua các quy tắc sống, những phong tục tập quán riêng…được lưu truyền và gìn giữ qua các thế hệ
Trang 22Chính vì vậy, trong luật hình sự, nhân đạo có ý nghĩa vô cùng to lớntrong việc định hướng xây dựng cũng như áp dụng các quy định của BLHScủa một quốc gia Trong luật hình sự Việt Nam, tính nhân đạo là một trongnhững biểu hiện xuyên suốt và liên tục, có ý nghĩa quan trọng trong công tácđấu tranh, xử lý người phạm tội và phòng ngừa tội phạm Điều đó được thểhiện qua những ý nghĩa sau:
Thứ nhất, tính nhân đạo là biểu hiện rõ nét và cụ thể nhất của một trong
những nguyên tắc cơ bản của BLHS nhằm bảo đảm những lợi ích tối thiểu,bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm và tính mạng củacon người
Thứ hai, tính nhân đạo là sự thể chế hóa quan điểm, chính sách của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam về con người, đề cao tínhbao dung, coi giáo dục, thuyết phục nhân cách trong con người là chủ yếu như
tục ngữ Việt Nam có câu “ đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy
lại” Do vậy, sự hối cải, ăn năn và biết sửa chữa sai lầm luôn được đón nhận
không chỉ trong xã hội mà còn trong cả pháp luật Khi xem xét TNHS, Cơquan tiến hành tố tụng phải chú ý đến nhiều khía cạnh như độ tuổi, tình trạngsức khỏe, tình trạng nhận thức khi phạm tội là cơ sở chính để quyết định hìnhphạt tương xứng, phù hợp với hành vi, hậu quả của tội phạm gây ra, điều nàycũng xuất phát từ tư tưởng tôn trọng con người của truyền thống dân tộc ViệtNam đã được ghi nhận trong nguyên tắc nhân đạo XHCN của pháp luật hình
sự Việt Nam
Thứ ba, tính nhân đạo trong luật hình sự là cơ sở cho người phạm tội tự
nguyện cải tạo, có cơ hội để sớm hòa nhập vào cộng đồng như: quy định vềmiễn trách nhiệm hình sự, miễn, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điềukiện, án treo…
Như vậy, tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam thể hiện rõ nét tínhnhân văn, bảo vệ tối đa quyền con người, thể hiện bản chất Nhà nước của
Trang 23nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Namcoi con người là trung tâm của mọi đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng nước XHCN Việt Namdân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
1.2 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.1 Quan niệm về người dưới 18 tuổi phạm tội và chính sách pháp luật hình sự áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất
cả các dân tộc trên thế giới Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung vàphương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnhphúc của mọi người Về mặt pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực,nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế bảo vệ bởi luật quốcgia và luật quốc tế [50, tr.7]
Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, quyền con người được đề cập xuyênsuốt và là thước đo để đánh giá, so sánh chính sách hình sự của các quốc giavới nhau Là bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách hình sự, chính sách
xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã thể hiện rõ nét bản chất Nhànước thông qua các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luậthình sự, mà cụ thể và tiêu biểu nhất đó chính là BLHS Ở Việt Nam, vấn đềchính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã có nhiều sự thay đổitrong thời gian qua, việc xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật hình
sự để điều chỉnh nhóm đối tượng dưới 18 tuổi được nghiên cứu, khảo sát rất
kỹ lưỡng để đảm bảo tính phù hợp với đặc trưng con người Việt Nam nhưngcũng không lạc nhịp so với sự phát triển của xã hội và quy chuẩn quốc tế.Căn cứ vào những đặc điểm của người dưới 18 tuổi là những người chưahoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, nhận thức xã hội, chưa có đầy đủquyền lợi và nghĩa vụ của một công dân nên pháp luật hình sự đã có những
Trang 24quy định riêng đối với nhóm người này [20, tr.17] Kế thừa và phát huy tưtưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, hệ thốngpháp luật, chính sách, chăm sóc bảo vệ trẻ em đã từng bước được hoàn thiện.Việc phòng ngừa và điều tra tội phạm, xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phảithận trọng và chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì đây là đối tượng dễ bị tổnthương nhất trọng xã hội Chính vì vậy việc quy định chính sách xử lý đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội là vấn đề vừa mang tính pháp lý vừa mang tínhnhân văn, trong đó đề cao tính giáo dục, cảm hóa và phòng ngừa là chủ yếu.Khi tiến hành phòng ngừa và điều tra tội phạm, xử lý người dưới 18 tuổiphạm tội cần chú ý xác định đối tượng tác động trong phòng ngừa tội phạm,trong đó phải làm rõ về độ tuổi, đặc điểm tâm lý để có thể áp dụng pháp luậtphù hợp, đảm bảo tối đa quyền của người dưới 18 tuổi So với pháp luật quốc
tế thì pháp luật Việt Nam cũng có quy định khác về người dưới 18 tuổi phạmtội, việc định lượng tuổi chịu TNHS là căn cứ rõ ràng cho các cơ quan tiếnhành tố tụng áp dụng pháp luật một cách kịp thời và chính xác, tránh sự hiểulầm đối tượng Pháp luật Việt Nam không đồng nhất người dưới 18 tuổi vớitrẻ em như tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồngLiên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 [25] Ở Việt Nam tuổi của ngườidưới 18 tuổi được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, BLHS năm
2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Dân
sự năm 2015, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và một số văn bản quyphạm pháp luật khác Các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi là dưới 18 tuổi
và mỗi văn bản lại có những quy định riêng theo từng lĩnh vực cụ thể đối với ngườidưới 18 tuổi Tuy nhiên khái niệm trẻ em trong Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thì
lại quy định độ tuổi khác đó là: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [37].
Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người đượctích lũy theo thời gian cùng những trải nghiệm trong chính cuộc sống Điều
Trang 25đó được thể hiện qua độ tuổi, và độ tuổi chính là tiền đề để đánh giá mức độtrưởng thành của từng cá nhân Ở mỗi quốc gia khác nhau, với những đặc thù
về nguồn gốc giống nòi, đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau thì sự phát triểncủa mỗi con người cũng có sự chênh lệch, tuy nhiên đó chỉ là sự chênh lệchkhông đáng kể Theo quy chuẩn quốc tế được nhiều quốc gia thừa nhận thìngười có độ tuổi dưới 18 là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt Đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội luôn được pháp luật hình sự các quốc gia coi là người
có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi ở mức độ hạn chế hơn
so với người từ đủ 18 tuổi trở lên Ở những người dưới 18 tuổi, hệ tư tưởng,hành vi chưa phát triển một cách hoàn thiện, ổn định, bền vững, khả năng tựkiềm chế chưa cao, tạo điều kiện để xảy ra nhưng tư tưởng, hành vi bộc phát,mang tính bản năng hoặc có thể thực hiện hành vi phạm tội do bị người khác
dụ dỗ, kích động, thúc đẩy, lôi kéo mà chính bản thân những người đó khôngnhận thức được Bên cạnh đó, với năng lực nhận thức và năng lực điều khiểnhành vi còn hạn chế, người dưới 18 tuổi có thể thực hiện tội phạm do ý thứcchưa đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đánh giá sai các tìnhhuống và yêu cầu của xã hội, do vậy khi xem xét xử lý đối với những ngườidưới 18 tuổi thì cũng cần phải áp dụng những quy định mang tính chất giảmnhẹ đặc biệt mà pháp luật hình sự mặc định thừa nhận như là một nguyên tắcchung [17, tr.11-12]
Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam quy định người dưới 18 tuổi phảichịu TNHS, tuy nhiên có giới hạn về độ tuổi và phạm vi chịu TNHS Theo
đó, chỉ người nào từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội mới phải chịuTNHS theo quy định của BLHS [36]
Khi tiến hành xử lý đối với một người dưới 18 tuổi phạm tội thì phápluật áp dụng phải có những đặc thù riêng và phải đảm bảo lợi ích tốt nhất chongười dưới 18 tuổi, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mụcđích giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai làm, phát triển lành mạnh, trở thành
Trang 26công dân có ích cho xã hội Chính vì vậy, chính sách pháp luật đối với ngườidưới 18 phạm tội phải được xây dựng trên tinh thần nguyên tắc nhân đạo, bởi
vì nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tư tưởngchỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng, áp dụng và hoàn thiện pháp luật hình
sự, mà nội dung cơ bản của nó là sự khoan hồng của luật hình sự đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội
1.2.2 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam trước năm 1985
Trong tiến trình phát triển của lịch sử luật pháp hình sự nước ta thời kỳphong kiến thì chúng ta không thể không nhắc đến Quốc triều hình luật thờinhà Lê hay còn được gọi với cái tên khác là Bộ luật Hồng Đức Ra đời vàogiữa thế kỷ XV, Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện sự nổi bật về những điểm tiến
bộ trong hoạt động lập pháp so với các bộ luật khác, bao gồm cả trước và sau
nó Thậm chí, nhiều yếu tố còn có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng và hoànchỉnh hệ thống luật của nước ta hiện nay, nhất là tính nhân đạo đối với việc
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội Là Bộ luật của Nhà nước phong kiến,mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng không vì thế mà Bộ luật Hồng Đứcthể hiện sự chuyên quyền, độc đoán, bảo vệ sự thống trị của tầng lớp quý tộc,thượng lưu mà ở trong đó còn chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ với những quyphạm bảo vệ quyền của dân chúng, tâng lớp dưới Nhiều quy định của Bộ luậtlại tập trung bảo vệ những người có vị trí thấp trong xã hội chống lại sự ứchiếp, sách nhiễu, bóc lột của tầng lớp cao hơn
Đặc biệt, Bộ luật này còn có một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ
nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh truyền thống nhân đạo,truyền thống tôn trọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làmnền tảng của quốc gia… Tính dân tộc thể hiện đậm nét trong việc kế thừa vàphát huy những thành tựu pháp luật của các triều đại trước, kết hợp với những
ưu điểm của pháp luật phong kiến Trung Hoa để xây dựng lên một bộ luật
Trang 27phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam Ngày nay, trẻ em, phụ
nữ, người tàn tật, người già yếu… được xếp vào nhóm “đối tượng dễ bị tổnthương” cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng thì hơn 500 năm trước,trong Bộ luật Hồng Đức đã có những quy định về trách nhiệm của xã hội,nhất là của quan chức đối với nhóm người này Đây chính là một trong nhữngđiểm tiến bộ, nhân đạo của pháp luật thời Hậu Lê [29, tr.240- 244]
Từ xưa đến nay, người già và trẻ em luôn là đối tượng được pháp luật đặcbiệt chiếu cố Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) của triều Lê đặc biệtchiếu cố người già, trẻ em, người tàn tật và phụ nữ phạm tội Tuy nhiên, khiphạm tội thập ác, họ không được hưởng nguyên tắc chiếu cố này [28, tr.1]
Thập ác là mười tội có tính chất đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến cáckhách thể quan trọng nhất như các tội xâm phạm vương quyền (mưu phản,mưu đại nghịch, mưu bạn, đại bất kính), các tội xâm phạm đến quan hệ hônnhân, gia đình của xã hội phong kiến (ác nghịch, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa,nội loạn), các tội xâm phạm nghiêm trọng đạo đức, truyền thống xã hội mangtính nguồn gốc được thừa nhận rộng rãi, dã man tàn ác (bất đạo) Theo Bộ luậtHồng Đức, nếu con cháu các hàng nghị công phạm tội thì được nghị giảm căn
cứ lệ ấm của ông bà, cha mẹ, khi còn nhỏ mà phạm tội, khi lớn mới phát giáctội thì xử theo luật tuổi nhỏ nếu nhóm tuổi này mà phạm tội phản nghịch, giếtngười thì nhà vua sẽ quyết định hình phạt (QĐHP) ; đối với người từ 90 tuổitrở lên và từ 7 tuổi trở xuống dẫu có phạm phải tội chết thì cũng được miễn án
tử hình; người già từ 80 tuổi trở lên, trẻ em từ 10 tuổi trở xuống, người bị ác tật
mà ăn trộm, đánh người bị thương thì được chuộc tội bằng tiền; người già từ 70tuổi trở lên, trẻ em từ 15 tuổi trở xuống, người tàn phế có thể chuộc tội bằngtiền Nghiêm cấm áp dụng hình thức tra khảo với một số đối tượng và vấn đề
liên quan đến người làm chứng, “Những người đáng được nghị xét giảm tội
như 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống, người bị phế tật thì không được tra khảo
họ, chỉ cần căn cứ lời khai của nhân chứng mà định tội” [23] Ngoài ra Bộ luật
Trang 28Hồng Đức còn chú ý bảo vệ đối tượng trẻ em bằng các quy định tại Điều 313
như: “Trẻ nhỏ mồ côi và phụ nữ tự bán mình không người bảo lãnh thì kẻ mua
và kẻ viết văn khế, kẻ làm chứng đều bị xử roi, trượng theo luật (nữ bị đánh 50 roi, nam bị đánh 80 trượng) đòi lại tiền trả cho kẻ mua, hủy bỏ văn khế Kẻ cô độc, khốn cùng từ 15 tuổi trở lên tự nguyện bán mình thì cho phép” Theo Điều
605: “Nếu ai bắt được trẻ con đi lạc thì phải báo quan làm bằng chứng thật, có
ai đến nhận thì được lấy tiền nuôi dưỡng (mỗi tháng 5 tiền), trái luật không cho người ta nhận con thì xử tội nhẹ hơn tội quyến rũ một bậc” (Điều 604).
Trường hợp kẻ nào “làm chuyện ngược ngạo (lượm trẻ lạc về, không nuôi còn
hành hạ) để đến nỗi con người ta chết thì đánh 80 trượng, đền 5 quan tiền nhân mạng cho cha mẹ đứa trẻ chết” [51].
Ngoài ra, thời kỳ Nhà nước phong kiến Việt Nam còn ghi nhận những tưtưởng nhân đạo thể hiện trong Bộ Hoàng Việt luật lệ Điểm nổi bật của các
Bộ luật này đó là việc quy định có tính chất giảm nhẹ đặc biệt TNHS củangười dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện khá rõ nét, cho phép người dưới 18 tuổiphạm tội được chuộc bằng tiền, không bắt tội người dưới 18 tuổi thực hiệnmột số tội phạm khi họ ở độ tuổi quá nhỏ, việc áp dụng hình phạt cụ thể đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội thường được giảm nhẹ hơn so với người đãthành niên phạm tội tương ứng Tính nhân đạo trong quy định của pháp luậthình sự về tội phạm và hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Nhànước phong kiến Việt Nam lại càng được khẳng định rõ nét hơn trong mốiliên hệ so sánh với các quy định thể hiện chính sách hình sự hà khắc và hệthống hình phạt tàn khốc của pháp luật hình sự thời kỳ phong kiến Ngoài ra,một đặc điểm nữa về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luậthình sự phong kiến là TNHS tập thể Điều đó có nghĩa là, mặc dù bản thânngười dưới 18 tuổi không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nhưng họ vẫn
có thể bị đem ra xét xử và phải chịu hình phạt khi một người nào đó trong giađình, dòng tộc thực hiện một trong những hành vi xâm hại nghiêm trọng đến
Trang 29quan hệ Vua tôi, an ninh quốc gia, tính mạng và sở hữu cá nhân Nhưng cũngcần phải thấy rằng, nguyên tắc TNHS tập thể trong các Bộ luật này không làmmất đi giá trị tư tưởng nhân đạo trong việc xử lý đối với người dưới 18 tuổiphạm tội [17, tr.31-32].
Sau thời kỳ phong kiến, nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, bằng hiệpước Pa tơ nốt năm 1884, Pháp đã chia nước ta thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ,Nam kỳ với những hệ thống pháp luật khác nhau song song với pháp luật chínhquốc để dễ bề cai trị Thời kỳ này đa số các quy phạm pháp luật hình Việt Namđược tạo thành chủ yếu là từ các chế định của BLHS năm 1810 của chính quốc
và một số quy định cũ còn được giữ lại và kế thừa từ pháp luật hình sự phongkiến của nước ta mà cụ thể là Bộ luật Gia Long thời nhà Nguyễn [15, tr.89].Tuy nhiên thời kỳ này, các chế định cơ bản trong hệ thống pháp luật ở ba miềnvẫn mang tính nhân đạo dù ở mức độ hạn chế đối với người dưới 18 tuổi bị kết
án bằng các quy định về giảm nhẹ và miễn hình phạt
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, miền Bắc nước ta bước vàocông cuộc tái thiết sau chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thời kỳ này,pháp luật được áp dụng chủ yếu là các Sắc lệnh của Chủ tịch nước, Quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ, các Công văn của Tòa án nhân dân tối cao(TANDTC)…Trong đó vấn đề giải quyết các vụ án hình sự có người phạm tội
là người dưới 18 tuổi cũng còn nhiều bất cập do hệ thống pháp luật chưa hoànchỉnh Trong đó có thể chỉ ra một số văn bản pháp lý quy định về người dưới
18 tuổi như Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa quy định tại Điều 7 “Người vị thành niên là con trai hay
con gái chưa đủ 18 tuổi” [44] hay Quyết định số 217-TTg ngày 18/12/1967
của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lại các trường giáo dục thiếu niên
hư và Chỉ thị số 46 ngày 14/01/1969 của TANDTC quy định về tuổi chịu
TNHS như sau: “Nói chung, đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thì không đưa ra
Tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết
Trang 30phải đưa ra xét xử thì có châm chước đến tuổi còn non trẻ của chúng; Riêng đối với loại tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng Về những thiệt hại do hành vi của trẻ vị thành niên gây ra thì bố mẹ hoặc người đỡ đầu chúng phải chịu trách nhiệm bồi thường”
hay Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá tội các phạm nhân (một số loại tộiphạm trước ngày 19/8/1945), theo đó việc xá tội cho các phạm nhân có áp dụngđối với người dưới 18 tuổi phạm tội Có thể nói đây là những văn bản quan trọngnhất trong việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi, mặc dù việc quy định còn sơ sàinhưng nội dung của các văn bản pháp lý này, nhất là Quyết định 217-TTg có ýnghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án hình sự có người phạm tội dưới 18tuổi thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, tạo điều kiện hết sức cho người dưới 18tuổi phát triển mà không đưa chúng vào vòng lao lý quá sớm
Trong những năm từ năm 1965 đến năm 1968, TANDTC đã đề ra chủtrương thông qua tổng kết hoạt động xét xử đối với các vụ án có người dưới
18 tuổi phạm tội như sau: “Về nguyên tắc, từ 14 tuổi tròn trở lên được coi là
có trách nhiệm về mặt hình sự Nói chung đối với lứa tuổi từ 14 tuổi đến 16 tuổi thì chỉ nên truy tố, xét xử những trường hợp phạm các loại tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, hiếp dâm Đối với lứa tuổi từ 16 tuổi đến 18 tuổi, nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng, nói chung cần xét xử, nhưng so với người lớn cần xử nhẹ hơn” [18, tr.86].
Để hỗ trợ cho đường lối xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thìđồng thời phải nghiêm trị bọn phạm tội người lớn lấy cắp, làm ăn phi pháp,chứa chấp, tiêu thụ của gian, lưu manh côn đồ, bọn lôi kéo, xúi giục trẻ emphạm tội là chính; cũng cần xử phạt nghiêm khắc một số ít người dưới 18 tuổiphạm tội đặc biệt nghiêm trọng Mặc dù các chủ trương nêu trên mới chỉ làcủa TANDTC, là những hướng dẫn mang tính chất đại cương nhưng đã đượccác ngành Công an, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án coi như căn cứ pháp luật
về tuổi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi
Trang 31Theo hướng dẫn của TANDTC tại chuyên đề sơ kết kinh nghiệm xét xửcác vụ án về người dưới 18 tuổi phạm tội (gửi kèm theo Công văn số 37-
NCPL ngày 16/01/1976 của TANDTC), thì: “Đối với những trường hợp
người chưa thành niên (NCTN) từ 13 tuổi đến 14 tuổi có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an (như giết người, cố ý gây thương tích nặng) hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản có tính chất hủy hoại (như đốt nhà gây hậu quả rất nghiêm trọng), đặc biệt đối với những hành vi mà người lớn thực hiện, thì có thể xử phạt tới hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình, thì nếu căn cứ vào mọi tình tiết có thể kết luận được rằng: Người dưới 18 tuổi
đó đã nhận thức được tính nguy hiểm và chống đối xã hội của hành vi của mình, và nếu dư luận xã hội đặc biệt căm phẫn, mà không có một biện pháp tác động xã hội có thể thỏa mãn việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung, thì cá biệt có thể xử phạt về hình sự nếu người đó bị truy cứu TNHS” Điều
này xuất phát từ chính sách nhân đạo và quan điểm chỉ đạo của Đảng Tínhchất giảm nhẹ và mục đích giáo dục phòng ngừa là chính đối với người dưới
18 tuổi phạm tội còn được thể hiện trong việc hướng dẫn áp dụng hình phạtđối với đối tượng này của TANDTC, cụ thể: trước thực trạng có một số đốitượng người dưới 18 tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi lêu lổng, có hành vitrộm cắp nhiều lần, có em bỏ nhà đi lang thang, liên tục trộm cắp, có khi nhậpbọn với một số tên lưu manh chuyên nghiệp, sống bằng các nguồn làm ăn phipháp thì vấn đề đặt ra là có áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp hay không? Về vấn đề này TANCTC hướng dẫn như sau: “Đối với loại
này không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp vì bị cáo tuổi đời còn ít, sớm bị quy là lưu manh chuyên nghiệp thì rất dễ đẩy chúng vào con đường tuyệt vọng” “Chỉ nên phạt tù giam một vị thành niên phạm tội trộm cắp nếu hành vi phạm tội có nhiều tình tiết nghiêm trọng, có tính chất nguy hiểm cao, nếu tội phạm của người dưới 18 tuổi có tính chất bình thường chỉ nên đưa
Trang 32vào trường phổ thông công nông nghiệp, hoặc giao cho gia đình bảo lĩnh (nếu
có điều kiện) hoặc chỉ nên áp dụng biện pháp án treo” [17, tr.33-35].
Điểm tiến bộ trong luật hình sự thời kỳ này là đã xác định độ tuổi 14 làtuổi bắt đầu phải chịu TNHS, nhưng không phải mọi trường hợp người từ đủ
14 tuổi trở lên thực hiện hành vi bị coi là tội phạm đều bị đưa ra xét xử mà chỉđưa ra xét xử trong trường hợp cần thiết, đối với người từ 14 đến dưới 16 tuổichỉ đưa ra xét xử trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng, điều chủ yếu khitruy cứu TNHS của người chưa thành niên là phải nhìn các giác độ yêu cầucủa xã hội đối với việc giáo dục thiếu niên [44, tr.16]
Như vậy, trước thời kỳ năm 1985 khi BLHS đầu tiên của nước ta đượcpháp điển hóa thì tư tưởng nhân đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự
có người dưới 18 tuổi đã được quan tâm, trong đó ngành Tòa án đã có nhiềutổng kết thực tiễn xét xử để ban hành những hướng dẫn kịp thời cho hoạtđộng xét xử, đảm bảo việc truy cứu TNHS đối với người dưới 18 tuổi chỉđược thực hiện trong trường hợp thật cần thiết và không làm ảnh hướng đến
sự phát triển về nhân cách của trẻ em, điều này thể hiện tính chất nhân đạocủa pháp luật thời kỳ này đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và là cơ sởquan trọng cho việc ghi nhận các quy định này vào BLHS năm 1985 vànhững BLHS sau này
1.2.3 Tính nhân đạo về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình
sự Việt Nam từ năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015.
Đúng 10 năm sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, hai miền Bắc Namsum họp thì cũng là khoảng thời gian để tiến hành công cuộc kiến thiết đấtnước sau chiến tranh Lúc này, đất nước trong thời kỳ bao cấp với vô vànnhững khó khăn, tuy nhiên bước đầu nước ta cũng đã đạt được một số thànhtựu về kinh tế xã hội, trong đó có việc hoàn thiện hệ thống pháp luật màBLHS năm 1985 là minh chứng rõ ràng nhất – đây là văn bản pháp luật vềhình sự lớn nhất và đầu tiên nhất được pháp điển hóa của Nước cộng hòa
Trang 33XHCN Việt Nam và là nguồn trực tiếp duy nhất của pháp luật hình sự ViệtNam có nội dung thể hiện sự hoàn thiện nhất Nội dung của BLHS năm 1985
đã kế thừa những giá trị về nội dung trong các văn bản pháp luật của thời kỳtrước và bổ sung thêm những quan điểm, vấn đề mới phù hợp với tình hìnhnước ta Có thể nói việc ra đời BLHS vào thời điểm này có giá trị không chỉvới hoạt động của hệ thống tư pháp mà nó còn đáp ứng kịp thời việc điềuchỉnh các quan hệ xã hội đang tồn tại một cách khách quan, góp phần vàocông cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, phục vụ thiết thực cho công cuộccải cách, mở cửa đất nước theo nội dung của Đại hội VI – Đảng cộng sản ViệtNam năm 1986
Kế thừa và phát triển luật hình sự của Nhà nước ta từ Cách mạng thángTám cũng như tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh và phòng ngừa tội phạm ởnước ta trong mấy chục năm qua và dự kiến tình hình tội phạm trong thời giantới, BLHS năm 1985 đã có những quy định thể hiện tính nhân đạo sâu sắc đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội (BLHS năm 1985 gọi là NCTN phạm tội).BLHS năm 1985 đã dành hẳn một chương (Chương 7 với 11 điều) để quy định
về việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội Lần đầu tiên một Bộ luật có giá trịpháp lý cao đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nhómđối tượng người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó bao gồm các quy định trong Bộluật về việc giải quyết các vụ án có đối tượng phạm tội là người dưới 18 tuổi, cụthể Điều 59 BLHS năm 1985 đã thể hiện rõ nét chính sách hình sự nhân đạo đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội bằng quy định về các nguyên tắc xử lý
Có thể nói, đây là bước ngoặt lớn trong hệ thống tư pháp hình sự ViệtNam kể từ khi BLHS năm 1985 ra đời, cùng với những nguyên tắc xử lý tộiphạm chung thì việc quy định các nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành viphạm tội của người dưới 18 tuổi đã tháo được nút thắt bấy lâu nay của các cơquan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án có người dưới 18 tuổiphạm tội Mặc dù các nguyên tắc này lần đầu được pháp điển hóa nhưng cũng
Trang 34đã thể hiện khá đầy đủ và rõ nét tính nhân đạo của chính sách hình sự đối vớiđối tượng đặc biệt – người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó ngay nguyên tắcđầu tiên BLHS năm 1985 đã chỉ rõ việc xử lý hành vi phạm tội của ngườidưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triểnlành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Bên cạnh đó, BLHS năm
1985 cũng thể hiện một số quy định khác mang tính nhân đạo đối với việc xử
lý người dưới 18 tuổi phạm tội như: quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự(Điều 58); Các biện pháp tư pháp và hình phạt (Điều 60); Tổng hợp hình phạt(Điều 65) Cùng với các quy định của BLHS năm 1985 thìngày 13 tháng 11năm 1986 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định số 141 - HĐBT ban hành quychế về buộc phải chịu thử thách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (từ đủ 16tuổi đến dưới 18 tuổi) phạm tội ít nghiêm trọng đã bị Toà án quyết định buộcphải chịu thử thách với mục đích nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm,phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội Nội dung củaquy chế cũng quy định rõ trách nhiệm của tất cả gia đình, xã hội trong việcgiám sát, giáo dục và giúp đỡ người dưới 18 tuổi khi họ buộc phải áp dụngbiện pháp này [42, tr.27]
Mặc dù lần đầu tiên nước ta pháp điển hóa BLHS nhưng đây được coi làthành tựu lớn và quan trọng của luật pháp hình sự Việt Nam nhằm góp phầntăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do hiến địnhcủa con người và của công dân đã được các bản Hiến pháp Việt Nam trước đóghi nhận [15, tr.230-231]
Qua bốn lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 với hơn 14 năm thi hành
đã phát huy được hiệu quả to lớn và đóng góp không nhỏ vào công cuộc đấutranh phòng chống tội phạm ở nước ta Bắt đầu từ năm 1986, đất nước ta tiếnhành mở cửa, hội nhập sâu rộng hơn với thế giới bên ngoài, các loại hình kinh
tế tư nhân được khuyến khích phát triển, đời sống xã hội có nhiều thay đổi rõrệt, điều này cũng đặt ra yêu cầu trong việc hoàn thiện pháp luật trong đó có
Trang 35BLHS để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra Tại kỳ họp Quốc hội khóa X
đã thông qua BLHS năm 1999 với 344 Điều/24 Chương, trong đó chế định vềngười dưới 18 tuổi phạm tội tiếp tục có những sửa đổi, bổ sung để phù hợphơn về mặt kỹ thuật lập pháp Tuy nhiên nếu xét về tính nhân đạo của phápluật hình sự đối với thì chúng ta có thể thấy BLHS năm 1999 có cả những ưuđiểm và hạn chế so với BLHS năm 1985, cụ thể:
Về ưu điểm: Phạm vi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi được thu hẹphơn, theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về cáctội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng Việc BLHS năm
1999 phân loại tội phạm thành bốn loại đã thể hiện tính nhân đạo trong việc
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, so với BLHS năm 1985 thì người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội mà có khung hình phạt từtrên 7 năm tù hoặc các tội phạm khác có quy định hình phạt là chung thânhoặc tử hình Đối với BLHS năm 1985 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi phải chịu TNHS đối với các tội nghiêm trọng do cố ý và có khung hìnhphạt từ 5 năm tù trở lên Về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạmtội thì BLHS năm 1999 cũng quy định chủ thể có thẩm quyền miễn TNHScho người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ có VKS như quy định của BLHSnăm 1985 mà còn cả Cơ quan điều tra, Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng[31] Bên cạnh đó, BLHS năm 1999 cũng quy định biện pháp tư pháp Giáodục tại xã, phường, thị trấn thay thế cho biện pháp buộc phải chịu thử tháchtheo BLHS năm 1985, trong đó quy định mới này đã mở rộng thêm trườnghợp được áp dụng biện pháp tư pháp này đối với người dưới 18 tuổi phạm tộinghiêm trọng Về hình phạt tù có thời hạn thì BLHS năm 1999 đã quy định rõ
từng trường hợp cụ thể tại Điều 74 “1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười
Trang 36tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định” [31].
Điều này đã giải quyết được những khó khăn vướng mắc cho Tòa ántrong việc áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mà mứchình phạt cao nhất của điều luật đó tối đa là hai mươi năm tù
Chính sách miễn, giảm hình phạt đã tuyên đối với phạm tội được ngườidưới 18 tuổi quy định tại Điều 76 BLHS năm 1999 So với quy định tại Điều
66 BLHS năm 1985, thì BLHS năm 1999 quy định chi tiết và cụ thể hơn vềđiều kiện và mức giảm, miễn chấp hành hình phạt đã tuyên, cụ thể:
Thứ nhất, về hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù có hai
trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên với các điều kiện tương ứng:Trường hợp thứ nhất, phải có hai điều kiện là có nhiều tiến bộ và đã chấphành được một phần tư thời hạn (cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn)
mà Tòa án đã tuyên phạt Về mức giảm trong trường hợp này Luật chỉ quyđịnh đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến bốn năm nhưng phải đảmbảo đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên Như vậy,mức tối thiểu của thời hạn được giảm không bị luật không chế; Trường hợpthứ hai, không cần phải có điều kiện là đã chấp hành được bao nhiêu thời hạnhình phạt đã tuyên.Việc xét giảm, miễn chấp hành hình phạt còn lại được xemxét và quyết định ngay khi xuất hiện một trong hai điều kiện là lập công hoặcmắc bệnh hiểm nghèo Lập công là có thành tích xuất sắc trong cuộc sống,trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khenthưởng hoặc chứng nhận [18, tr.92]
Trang 37Người mắc bệnh hiểm nghèo là người bị bệnh đến mức không thể tiếptục chấp hành được các hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù và nếu
để tiếp tục chấp hành các hình phạt đó sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ
Do đó, cần phải cho họ miễn hoặc giảm chấp hành hình phạt để họ có điềukiện chữa bệnh Các bệnh hiểm nghèo như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổchướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ
4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và cótiên lượng xấu…[43]
Thứ hai, việc miễn, giảm hình phạt tiền đã tuyên đối với người dưới 18
tuổi phạm tội BLHS không quy định đã chấp hành được bao nhiêu mà chỉquy định là khi có một trong hai điều kiện: có sự thay đổi về hoàn cảnh kinh
tế như lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai hỏa hoạn, tainạn hoặc ốm đau gây ra và lập công lớn thì có thể được giảm hoặc miễn việcchấp hành hình phạt tiền còn lại Tòa án chỉ xét và quyết định giảm hoặc miễnviệc chấp hành phần hình phạt tiền còn lại khi Viện trưởng VKS đang kiểmsát thi hành bản án đó có văn bản đề nghị [18, tr.93]
Về hạn chế: So với BLHS năm 1985 thì hệ thống hình phạt được ápdụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được mở rộng, theo đó người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng hình phạt tiền nếu người đó có thunhập hoặc có tài sản riêng Quy định hình phạt tiền (Điều 72) đã cho thấy việchình phạt hóa theo hướng tăng nặng hơn so với BLHS năm 1985 (không quyđịnh), chính vì vậy, xét về tính nhân đạo khi xem xét tương quan hệ thốnghình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì BLHS năm
1985 ưu việt hơn, thể hiện triệt để tính nhân đạo đối với việc xử lý người dưới
18 tuổi phạm tội (BLHS năm 1985 chỉ có ba hình phạt được áp dụng so vớibốn hình phạt theo BLHS năm 1999)
Trong giai đoạn này, tình hình người dưới 18 tuổivi phạm pháp luật đang
có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, tỷ lệ tái phạm tương đối cao,
Trang 38thực tiễn áp dụng những quy định về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi gặpnhiều khó khăn, vướng mắc, bên cạnh đó, cùng với sự phát triển và thay đổinhanh chóng về mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại và trước nhữngyêu cầu hội nhập quốc tế theo hướng bảo vệ tốt hơn nữa cho người dưới 18tuổi, hệ thống tư pháp của Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế nhất định nhưcác biện pháp thay thế xử lý chính thức chưa được quan tâm, các quy địnhchưa thực sự bảo đảm vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tính “thân thiện” trongquy trình tố tụng như yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ trẻ em Những bất cập này đặt ra yêu cầu phải xem xét, nghiên cứu để có những sửađổi, bổ sung kịp thời hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói chung,pháp luật liên quan đến hệ thống xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng
mà trong đó việc xây dựng một hệ thống các biện pháp chuyển hướng và quytrình xử lý chuyển hướng cụ thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hếtsức cần thiết nhằm bảo vệ tốt hơn lợi ích của người dưới 18 tuổi, đáp ứng yêucầu của thực tiễn cũng như đảm bảo thực thi các nghĩa vụ quốc tế của ViệtNam Việc quy định biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội thể hiện những tiến bộ rõ rệt trong nhận thức cũng nhưthực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam [18, tr.98-99].Như vậy, qua việc nghiên cứu các quy định của BLHS năm 1985 vàBLHS năm 1999 đã thấy rõ được chính sách hình sự chủ đạo của Nhà nước tađối với người dưới 18 tuổi phạm tội đó là chính sách nhân đạo, dù mỗi thời kỳđều có sự khác nhau tuy nhiên xuyên suốt quá trình hình thành và phát triểncủa pháp luật hình sự Việt Nam luôn đặt vấn đề nhân đạo lên hàng đầu, thểhiện bản chất của Nhà nước thông qua BLHS nói chung và các quy phạm liênquan đến người dưới 18 tuổi phạm tội Với việc tiếp tục xây dựng và hoànthiện các quy định pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội sẽtạo tiền đề pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứatuổi chưa thành niên đạt hiệu quả tốt, góp phần đa dạng hóa các hình thức
Trang 39tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối vớithanh, thiếu niên nhằm ngăn ngừa các nguy cơ dẫn đến việc người dưới 18tuổi phạm tội Đấu tranh quyết liệt với các tệ nạn xã hội, các hành vi vi phạmpháp luật, các biểu hiện hoạt động phạm tội của người dưới 18 tuổi Phát huyvai trò, trách nhiệm của gia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản
lý, tạo việc làm, tái hòa nhập cộng đồng cho người dưới 18 tuổi phạm tội trở
về sau khi chấp hành xong các loại hình phạt và các biện pháp tư pháp Đâycũng là mục đích mà Đảng và Nhà nước ta hướng đến trong việc xây dựngmột thế hệ trẻ giàu nhiệt huyết, đam mê và năng đông, đáp ứng yêu cầu củatiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Với những quy định nêu trên cho thấy đường lối xử lý đối với ngườidưới 18 tuổi trong các BLHS trước năm 2015 luôn được cân nhắc, ưu tiên, tạomọi điều kiện thuận lợi nhất cho người dưới 18 tuổi phạm tội có cơ hội sửachữa sai lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội…
1.3 Tính nhân đạo của pháp luật quốc tế về người dưới 18 tuổi phạm tội
1.3.1 Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật quốc tế.
Kể từ khi sáng lập đến nay, Liên hợp quốc (LHQ) luôn quan tâm đến cácchính sách về trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em phạm tội, trong đó xác địnhviệc truy tố, giam giữ đối với trẻ em cần phải hạn chế áp dụng trừ các trườnghợp khác theo quy định của pháp luật quốc gia nhưng phải đảm bảo quyềncủa trẻ em bị truy cứu TNHS ở mức cao nhất Việc xây dựng nên hệ thốngvăn bản pháp luật quốc tế về trẻ em đã tạo điều kiện thuận lợi cho các quốcgia thành viên vận dụng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sựquốc gia Bởi, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, người dưới 18 tuổi luôn lànhóm đối tượng được pháp luật – xã hội quan tâm, chăm sóc đặc biệt kể cảtrong trường hợp họ thực hiện hành vi trái pháp luật hành chính, hình sự… thì
Trang 40bất kể xã hội nào cũng luôn dành sự cảm thông chia sẻ, giúp đỡ, tạo mọi điềukiện cho người dưới 18 tuổi có động lực, ý chí phấn đấu sửa sai, cải tạo, giáodục để trở lại hòa nhập với cuộc sống bình thường, tham gia học tập và laođộng như những người bình thường khác, từ đó khẳng định tư cách của bảnthân mỗi người trong gia đình và xã hội [18, tr.40].
Từ năm 1945, LHQ và các nước trên thế giới đã và đang đưa nhữngnguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách quốc gia liên quan đến quyềncủa trẻ em, của người dưới 18 tuổi Tính đến nay, LHQ đã ban hành nhiều
văn kiện tư pháp về người dưới 18 tuổi như: Công ước về quyền trẻ em;
Những quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với NCTN còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm ở NCTN; Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc
về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do Tất cả các văn kiện pháp lý quốc tế
này hiện nay Việt Nam đều phê chuẩn tham gia
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn
đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và NCTN để đề cập đếnviệc tăng cường khả năng bảo vệ trẻ em cho phù hợp với mỗi lĩnh vực Trongmột số văn bản, khái niệm trẻ em được gọi là NCTN hoặc thanh, thiếu niên.Tuy nhiên, trong quan hệ với pháp luật và thực thi pháp luật quốc tế, trẻ emthường được gọi là NCTN và có gắn độ tuổi dưới 18 kèm theo, cụ thể:
Một là, theo điểm a, c mục 2.2 phần I Quy tắc Bắc Kinh được Đại hộiđồng LHQ thông qua ngày 29/11/1985 về quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của
LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN nêu rõ:
“a NCTN là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn.
c NCTN phạm tội là trẻ em hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là đã phạm tội” [24].
Hai là, Theo điểm a, mục 11 phần II Các quy tắc của LHQ về bảo vệ