– Kết nối điện cực tạo nhịp với MTN tạm thời – Bật monitor theo dõi điện tim cho bệnh nhân... - Thoải mái cho bệnh nhân nhất - Dễ có biến chứng tràn máu, tràn khí hoặc chọc nhầm vào độn
Trang 1Kỹ thuật tạo nhịp tạm thời cấp cứu đường tĩnh mạch tại giường
ThS BS Viên Hoàng Long
Viện Tim mạch quốc gia – Bệnh viện
Bạch Mai
Trang 2• 1952: Zoll lần đầu thử tạo nhịp qua da
• 1959: Falkmann and Walkins lần đầu cấy dây dẫn tạo nhịp sau phẫu thuật
• 1964: Volgen và cộng sự phát minh ra catheter tạo nhịp
• 1965: Kimball and Killip lần đầu tiến hành ca tạo nhịp qua đường tĩnh
Trang 3Tạo nhịp tạm thời qua da
Cực dương Cực âm
Trang 6Chỉ định đặt máy tạo nhịp tạm thời
Trang 7Chỉ định đặt máy tạo nhịp tạm thời
• Nhịp nhanh
– Cắt các rối loạn nhịp nhanh trên thất
– Cắt các rối loạn nhịp thất
Trang 8Chống chỉ định
• Van ba lá nhân tạo
• Hạ thân nhiệt nặng nề (gây ra rung thất khi đặt TNTT)
• Rối loạn đông máu nặng nề
Trang 10Khi nào chúng ta đặt tạo nhịp tạm thời
tại giường
• Trường hợp cấp cứu, bệnh nhân không ổn
định, không đảm bảo an toàn khi vận chuyển đến cathlab
• Không có màn huỳnh quang tăng sáng
Trang 11– Kết nối điện cực tạo nhịp với MTN tạm thời
– Bật monitor theo dõi điện tim cho bệnh nhân
Trang 12Chuẩn bị
• Giải thích cho bệnh nhân và người nhà đồng ý tiến hành thủ thuật
• Bệnh nhân cần được gây mê tốt
• Đảm bảo thông khí tốt cho bệnh nhân
• Đảm bảo đường truyền tĩnh mạch tốt, thuốc cấp cứu đầy đủ
Trang 13Lựa chọn đường vào tĩnh mạch
Trang 14Đường vào Ưu điểm Nhược điểm
TM dưới đòn trái - Đường đi ngắn, trực
tiếp vào buồng tim phải
- Thoải mái cho bệnh nhân nhất
- Dễ có biến chứng tràn máu, tràn khí hoặc chọc nhầm vào động mạch
TM cảnh trong phải - Đường đi ngắn, trực
tiếp vào buồng tim phải
- Có thể bắt động mạch
để làm mốc
- Hạn chế vận động vùng đầu của bệnh nhân
- Có thể có nguy cơ gây huyết khối
Trang 16Kĩ thuật chọc mạch
• Theo nguyên lý Seldinger
• Nếu chọc đường dưới đòn: đưa guidewire vào mạch khoảng 30 cm, nếu vào thuận lợi, không
có sức cản đẩy ra -> không bị lên TM cảnh
• Hoặc khi đẩy guidewire trên monitor xuất hiện ngoại tâm thu nhĩ hoặc ngoại tâm thu thất
Trang 17Tiếp cận đường TM dưới đòn
Trang 18Vuốt cong đầu điện cực
Trang 19Kĩ thuật
• Cần đo trước khoảng cách từ vị trí chọc mạch (sheath) đến thất phải theo đường đi của tĩnh mạch để ước lượng
• Thường vuốt cong đầu điện cực theo 1 hướng
có đánh dấu nhất định (VD: hướng có dòng
chữ trên điện cực) giúp chúng ta phần nào
tưởng tượng được đầu điện cực đang cong về phía nào
Trang 20Kĩ thuật đưa điện cực vào thất phải
- Coi vòng tròn của sheath là một
mặt đồng hồ, hướng cong của
điện cực là kim giờ
- Đối với tĩnh mạch dưới đòn trái:
để hướng cong của điện cực
theo hướng 6-8 giờ
- Đối với tĩnh mạch cảnh trong
phải: để hướng cong của điện
cực theo hướng 8- 10 giờ
- Đối với tĩnh mạch đùi phải: để
hướng cong của điện cực theo
hướng 12h30 – 2h
Trang 21Vị trí điện cực TNTT từ
TM dưới đòn trái
Vòng van ba lá
Trang 22Kĩ thuật đưa điện cực vào thất phải
• Đối với tĩnh mạch dưới đòn trái: đánh dấu điểm giới hạn
sau khi đo khoảng cách đến thất phải Đẩy điện cực đến khi nào còn 4-5 cm là đến điểm giới hạn, quay điện cực theo
chiều kim đồng hồ 45 độ, sau đó đẩy nốt 4-5 cm còn lại
• Đối với tĩnh mạch cảnh trong phải: thường ít phải quay điện cực, nhưng nếu đẩy điện cực nhưng không vào được thất phải, có thể làm tương tự với góc quay nhỏ hơn (10-20 độ)
• Mục đích của việc quay điện cực là giúp điện cực tự do đi qua vòng van ba lá, không vướng vào các hệ thống giải
phẫu phức tạp khác ở vách hoặc thành bên nhĩ phải
Trang 23Vị trí điện cực thường đạt được khi tiếp cận
đường TM dưới đòn và cảnh trong
Trang 24Kĩ thuật đưa điện cực vào thất phải
• Đối với tiếp cận đường tĩnh mạch đùi, việc
đánh dấu khoảng cách giới hạn là rất quan
Trang 25Các vị trí dễ đi lạc khi đặt TNTT theo tĩnh mạch đùi
Trang 26Vị trí điện cực theo đường TM đùi
Trang 27Vị trí điện cực thường hướng tới khi đặt tạo nhịp tạm thời tại giường
Trang 28MTN tại mỏm thất phải
Trang 29ĐTĐ tạo nhịp tạm thời
Trang 30Một số lưu ý
• Trường hợp tạo nhịp tạm thời để cắt cơn nhịp
nhanh trên thất hoặc nhịp chậm xoang có thể chỉ cần đặt điện cực vào nhĩ phải
• Đối với trường hợp BAV III, do mất sự liên lạc
giữa nhĩ và thất, nên đẩy điện cực ở thì cuối cùng sau khi thấy phức bộ QRS trên monitor (hết thời gian tâm thu, van ba lá mở ra)
• Luôn chú ý Monitor để tránh gây các rối loạn nhịp thất cho bệnh nhân
• Không cần quá câu nệ, cầu kì tìm vị trí đẹp, chỉ
cần dẫn ổn định
Trang 31XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN