Tổng quan về Ngân hàng ở Các Thị trường Mới nổi 3.1 Hệ thống Ngân hàng Mới nổi Moody’s đã xếp hạng tín dụng cho gần 1000 ngân hàng trên toàn thế giới, và khoảng 40% trong số này là nằm ớ
Trang 1Tháng 4 năm 1999, chúng tôi đã xuất bản nghiên cứu phương pháp định mức
tín nhiệm có tên gọi “ Rủi ro tín dụng của Ngân hàng – Các mấu chốt cẩn
phân tích cho các Ngân hàng ở những thị trường đã phát triển” Nghiên cứu
này đã vạch ra những tiêu chí cơ bản cần đánh giá phân tích các ngân hàng trêntoàn thế giới Mục đích của nghiên cứu lần này là làm nổi bật những vấn đề cótầm quan trọng đặc biệt khi phân tích chất lượng tín dụng của các ngân hàng ởnhững thị trường mới nổi trên toàn thế giới
Những điểm chung khi phân tích ngân hàng ở Cả Thị trường đã phát triển lẫn thị trường mới nổi.
Moody’s tin tưởng rằng kỹ thuật phân tích rủi ro tín dụng của các ngân hàng cóthể chuyển giao được giữa các vùng, các ngân hàng khác nhau bất chấp cảtrình độ phát triển khác nhau Cách phân tích một ngân hàng của chúng tôi tạiChâu Á cũng giống như phân tích một ngân hàng ở Mỹ Ví dụ, cả hai ngânhàng này đều có thương hiệu mạnh như nhau, xét về dài hạn đều có khả năngsinh lợi Cả hai đều cần một đội ngũ quản lý thạo việc để thực hiện được điềunày Trong cả hai trường hợp, phương pháp phân tích của chúng tôi là vẫn
Trang 2đánh giá tính dễ thay đổi của ngân hàng đến suy thoái kinh tế và ảnh hưởngcủa việc thay đổi môi trường kinh doanh Và trong cả hai trường hợp, chúngtôi xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp, kể cả bằng số tuyệt đối và sosánh với các đơn vị khác cùng ngành đâu nhỉ.
Nhưng vai trò quan trọng của các nhân tố này và những nhân tố khác cũng chỉ
là tương đối và có thể khác nhau giữa thị trường phát triển và thị trường mớinổi Đây là trường hợp bình thường trên toàn thế giới Thậm chí trong cả hệthống các ngân hàng phát triển thì các nhân tố phân tích cũng khác nhau.Ví dụ,trong những năm 1980, ảnh hưởng của quá trình tư nhân hoá và bãi bỏ nhiềuquy định là nhân tố quan trọng khi chúng tôi tiến hành phân tích một số ngânhàng ở các nước Tây Âu Lúc đó, những nhân tố này không phải là yếu tổanhhưởng mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng Mỹ Vì vậy khichúng tôi phân tích các ngân hàng ở những thị trường mới nổi, chúng tôi không
áp dụng các kỹ thuật phân tích cơ bản khi chúng tôi tiến hành phân tích cácngân hàng ở thị trường phát triển Đối với cả hai thị trường, khi tiến hành đánhgiá tín dụng bao giờ chúng tôi cũng đặt một câu hỏi chất lượng tín dụng củangân hàng này là bao nhiêu
Tuy nhiên, rõ ràng rằng các chuyên gia phân tích các ngân hàng ở những thịtrường mới nối phải tập trung nhiều hơn vào một số vấn đề này, nhưng lạikhông tập trung vào các vấn đề khác trong trường hợp ngân hàng ở những thịtrường phát triển Công cụ phân tích có thể làm sáng tỏ chất lượng tín dụng ởcác thị trường đã phát triển có thể không phù hợp với việc phân tích ở các thị
trường mới nổi và ngược lại Mục đích của sự dẫn nhập đặc biệt này là làm nổi
bật và giải thích rõ các vấn đề cần tập trung khác nhau
2 Tính Đa nghĩa
Moody không có định nghĩa chính thức nào về cái gọi là “thị trường mới nổi”hoặc “ngân hàng ở thị trường mới nổi Chúng tôi nghĩ rằng khó có thể có ngườinào mà đưa ra được một định nghĩa nhất quán không gây tranh cãi Các ngânhàng mới nổi có mặt khắp nơi từ những ngân hàng mạnh nhất và phức tạp nhấthoạt động ở những nền kinh tế mạnh nhất và phát triển nhất, đến những ngânhàng yếu kém nhất hoạt động ở những nền kinh tế yếu nhất và kém phát triểnnhất Một ngân hàng đơn lẻ có thể mang đặc tính của thị trường phát triểntrong một số hoạt động kinh doanh của mình nhưng trong một số hoạt độngkinh doanh khác lại không tinh vi như thế Quan trọng hơn là, chúng tôi nghĩrằng năng lực của các chuyên gia phân tích của chúng tôi không được nâng lênnhờ việc dành thời gian vào việc cố gắng đưa ra một định nghĩa Do đó, quý vị
sẽ thấy thuật ngữ mà Moody’s đưa ra trong báo cáo về thị trường mới nổi, cácnền kinh tế đang phát triển, nền kinh tế chuyển đổi và v v… Tuy nhiên, chính
Trang 3chúng tôi cũng nhận thấy rằng đôi khi những định nghĩa này phải được sử dụng
một cách đơn giản để đảm bảo việc xử lý số liệu diễn ra chính xác Vì vậy, ví
dụ, bảng ở phần 3 đưa ra định nghĩa về thị trường mới nổi do IMF sử dụng
3 Tổng quan về Ngân hàng ở Các Thị trường Mới nổi
3.1 Hệ thống Ngân hàng Mới nổi
Moody’s đã xếp hạng tín dụng cho gần 1000 ngân hàng trên toàn thế giới, và
khoảng 40% trong số này là nằm ớ những nước được gọi là “mới nổi” Trong
vài năm qua, thị phần của Moody’s ở những thị trường mới nổi tăng lên đáng
kể, bằng chứng là bảng dưới đây
Định mức tín nhiệm ngân hàng bao gồm một loạt các hoạt động định mức ở thị
trường mới nổi Là do các ngân hàng thống lĩnh vị trí trung gian tài chính mà
không giống gì với nhiều nền kinh tế phát triển Ví dụ, chúng tôi hy vọng rằng,
khi thị trường phát triển thì phân tích các ngân hàng cho vay có bảo đảm, các
công ty tài chính, trái phiếu công ty và các công cụ dùng để cơ cấu tài chính ở
thị trường mới nổi sẽ tăng lên
Báo cáo của chúng tôi về Rủi ro Tín dụng của Ngân hàng (Phân tích cơ bản về
ngân hàng ờ các thị trường phát triển) đã xác định có bốn loại hình hoạt động
ngân hàng cơ bản là: (i) ngân hàng lớn (qui mô liên bang hoặc toàn cầu), (ii)
, Châu Á, 13%
, Các nước công nghiệp Ptriển trừ
Mỹ, 37%
, Trung đông và Châu Phi, 10%
, Mỹ, 24%
, Châu Âu
và FSU, 6%
Bảng phân bố các ngân hàng được chỉ định xếp hạng khả năng tài chính theo vùng
Trang 4ngân hàng bán lẻ lớn, (iii) ngân hàng chuyên doanh, (iv) ngân hàng khu vực hoặc địa phương Sự phân biệt như vậy thì không thể áp dụng ở các thị trường
mới nổi Cách phân biệt mà có vẻ hợp lý hơn là:
Ngân hàng quốc doanh với những nhiệm vụ chức năng cụ thể như sau: ví
dụ như Ngân hàng Phát triển, ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng tiết kiệm(Sperbank ở Nga, Ceska Sporitelna ở Cộng hoà Czech, Caixa Economica ởBrazil); và ngân hàng có các nhiệm vụ đặc biệt khác (Bank Bumiputra ởMalaysia)
Nhứng ngân hàng này thường phụ thuộc rất nặng nề vào kinh doanh của chínhphủ, có thể hoặc không thể có lợi nhuận Những ngân hàng này có chất lượngtài sản rất thấp, nhưng lại được hưởng lợi ích khác từ nhà nước như hoãn nợtheo quy định hoặc các chương trình hỗ trợ khác Đặc điểm chung của cácngân hàng này là chúng có hạng khả năng tài chính thấp, như hạng tiền gửi của
họ lại gần sát với định mức tín nhiệm quốc gia vì khả năng nhận được hỗ trợlớn từ nhà nước khi xảy ra khủng hoảng
Ngân hàng quốc doanh không có nhiệm vụ chức năng cụ thể hoặc chứcnăng nhiệm vụ gốc của nó đã bị gộp lại với lĩnh vực kinh doanh chung củangân hàng: ví dụ, bốn ngân hàng quốc doanh của Ai Cập, hay Banco củaBrazil hoặc Krung Thai Bank Vị trí pháp lý của các ngân hàng này là
“doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước” Những ngân hàng này thường cóthương hiệu lớn hơn những ngân hàng có nhiệm vụ cụ thể nhưng cũng phảichịu những món nợ không có khả năng thu hồi được của Chính phủ Vềmặt pháp lý, những ngân hàng này là “doanh nghiệp nhà nước” và phảichống lại sự kiểm soát quan liêu và can thiệp của giới chính trị
Ngân hàng tư nhân: Ví thế của ngân hàng tư nhân rất khác nhau ở thịtrường mới nổi Ở Châu Mỹ La tinh, trong nhiều năm liền, ngân hàng tưnhân đóng vai trò chính trên thị trường Ở một số nước Trung Đông, trướcđây các ngân hàng tư nhân đóng vai trò khiêm tốn, nhưng giờ đây kể từ khivai trò của khu vực nhà nước mờ nhạt dần đi, thì vai trò của các ngân hàng
tư nhân đã trở nên quan trọng hơn Ở một số nước Đông Âu, các ngân hàngkhu vực tư nhân nổi lên như một hiện tượng tương đối mới Ở Châu Á, cácngân hàng tư nhân từ lâu đã là một nhân tố quan trọng trong hệ thống tàichính của các nước này
Đặc điểm của các ngân hàng tư nhân là cơ cấu sở hữu khác nhau Ví dụ, một sốngân hàng do một hoặc hai tập đoàn sở hữu và quản lý như là “ngân hàng củanhà” vì lợi ích của các tập đoàn, ví dụ như một vài ngân hàng ở Nga Một sốthì kiểu như ngân hàng của gia đình Nhưng các ngân hàng tư nhân cũng tồntại dưới hình thức công khai niêm yết cổ phiếu và quản lý hoàn toàn theonguyên tắc thương mại
Từ trước tới nay, các ngân hàng tư nhân không gặp vấn đề về gánh nặng chấtlượng tài sản và thường có tiền sử thu nhập tốt hơn, bởi vì mục tiêu của những
Trang 5ngân hàng này kinh doanh và kỳ vọng thu nhập hợp lý, (không giống như cácngân hàng quốc doanh buộc phải tham gia vào các hoạt động mà không có lãi).Các ngân hàng này có xu hướng hạng năng lực tài chính cao hơn các ngânhàng quốc doanh, nhưng hạng tiền gửi của các ngân hàng này thì thường thấphơn so với các ngân hàng quốc doanh được hỗ trợ của nhà nước khi có khủnghoảng
Khi rủi ro xảy ra do quá đơn giản hoá, người ta có thể nói rằng sự khác biệtchính giữa các loại ngân hàng khác nhau ở các thị trường mới nổi là giữa ngânhàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân Nhưng một đặc tính quan trọng của thịtrường mới nổi là, tư nhân hoá và giảm bớt qui định, thủ tục dẫn tới sự thay đổinhanh chóng cơ cấu sở hữu trong hệ thống ngân hàng Không chỉ các ngânhàng nhà nước chuyển sang tư nhân hoá, mà cả vai trò của các ngân hàng tưnhân cũng thay đổi mạnh mẽ, từ vai trò khiêm tốn trong một hệ thống do ngânhàng quốc doanh thống trị sang vai trò người trong cuộc Điều quan trọng đốivới các chuyên gia phân tích ngân hàng là phải tiên đoán và tự hỏi xem trongtương lai hệ thống ngân hàng sẽ như thế nào và trong một môi trường như thếthì loại hình ngân hàng nào sẽ thành công
3.2 Vai trò ngày càng cao của các Ngân hàng Ở Các Thị trường Mới nổi
Hệ thống ngân hàng thường có vị trí thống trị trong thị trường tài chính mớinổi Không chỉ là vấn đề ngân hàng giữ vai trò trung gian tài chính kiểm soátgiữa người gửi tiền và người đi vay tiền Đôi khi, ngân hàng còn giữ vai tròthống trị các lĩnh vực hoạt động tài chính khác ở thị trường trong nước ví dụnhư môi giới cổ phiếu, quản lý quỹ, công ty cho thuê tài chính, và có thể là cảbảo hiểm Quyền thống trị này, khi mà đã có, phản ánh sự kém phát triển củanền kinh tế bản địa Tất cả các nước đều cần phải có ngân hàng, nhưng chỉ mớiđây thôi nhiều nước đã bị thuyết phục rằng phải có trao đổi giao dịch chứngkhoán, hoặc tự do hoá thị trường tài chính của họ một cách đầy đủ cho phépthành lập các định chế tài chính phi ngân hàng như tổ chức tín dụng tiêu dùng.Bởi vì tự do hoá và giảm bớt quy định cho phép tạo ra các định chế và sảnphẩm tài chính mới, ngân hàng trong hàng ngũ tiên phong bởi vì chả có mấyđịnh chế tài chính khác trong nước lại có cả vốn lẫn sự thông hiểu về thị trườngtài chính một yêu cầu bắt buộc khi tham gia vào một lĩnh vực như thế Tuynhiên, thời gian qua đi, chúng tôi hy vọng rằng sẽ chứng kiến những thành viênmới của thị trường cạnh tranh với vị thế của ngân hàng trên thương trường ví
dụ như các nhà môi giới độc lập, các công ty tài chính tiêu dùng hoặc các công
ty cho thuê tài chính
Khi thị trường tài chính phát triển rực rõ, ngân hàng sẽ dề dàng dành được mức năng lực tài chính cao hơn.
Trang 6Xu thế này có vẻ như trái ngược với việc xếp hạng ngân hàng Khi thị trườngtài chính phát triển, cơ hội cho ngân hàng đa dạng hoá và nâng cao thu nhập từnhững dịch vụ và sản phẩm mới sẽ tăng lên Mặt khác, nếu tính trung hạn, khảnăng sinh lợi của ngân hàng cũng bị cạnh tranh gay gắt từ các thành viên mớitham gia thị trường Ảnh hưởng của cả hai xu hướng này chỉ có thể xem xéttrên cơ sở từng trường hợp cụ thể, nhưng nói chung, chúng tôi tin tưởng rằngngân hàng thà phát triển trong một thị trường tài chính phát triển và có thể dựbáo trước một môi trường mà có thể đa dạng hoá rủi ro và luồng thu nhập, hơn
là lớn mạnh trong một môi trường nhỏ hẹp và chưa phát triển dù cho thị trường
đó do ngân hàng thống trị Khi thị trường tài chính chín muồi, ngân hàng sẽ dễdàng dành được mức năng lực tài chính cao hơn
3.3 Rủi ro tín dụng ngân hàng ở các nước chuyển đổi.
Nhiều ngân hàng ở những thị trường mới nổi hãy còn mơ hồ mung lung vềkhái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng Khi mà xảy ra trường hợp này , thì nó lạithường xuyên xảy ra bởi vì hệ thống ngân hàng trước đây thường bị nhà nướckiểm soát ngân hàng nào thì được phép làm gì, cho đối tượng nào vay, lãi suấtbao nhiêu Yêu cầu kiểm tra một số người cho vay, chủ yếu là các công tycông chúng cũng ít, dù cho những công ty này thực tế không trả được nợ, màcũng chả có quy định lập dự phòng hay tỉ lệ dữ trữ Các ngân hàng là một phầncủa hệ thống trong nước mà ở đó vốn tín dụng luân chuyển trong tất cả cácngành kinh tế khác nhau Hệ thống kế toán, và đặc biệt là máy in của chínhphủ, có thể được sử dụng để lấp đầy khoảng cách giữa chính sách kinh tế vàthực tế tài chính Giữa khối lượng dồn tích và tiền mặt Hệ thống ngân hàngTrung Quốc vẫn là một ví dụ về hoạt động ngân hàng chỉ huy
Chả có mấy ngân hàng trung ương áp dụng hệ thống kế toán Panglossian cả.Tuy nhiên, văn hoá tín dụng (mà cụ thể hơn là, thiếu văn hoá tín dụng) cái màthường tồn tại lâu dài sau khi thay đổi chuẩn mực kế toán và các quy định vềtín dụng Đây là nhân tố quan trọng cho chúng ta khi tiến hành định mức tínnhiệm ngân hàng tại các nước này.Chúng ta cố gắng hiểu xem liệu ngân hàng
có xây dựng văn hoá tín dụng dựa trên các phân tích về khẳ năng trả nợ bằngtiền và đúng hạn của khách hàng., điều này ngược hẳn với những gì người tađang nói rằng ngân hàng dựa hết vào sự trợ giúp của nhà nước, giá trị tài sảnthế chấp(điều mà trong hệ thống pháp luật chưa phát triển không chấp thuận.)hoặc mối quan hệ cá nhân lâu dài giữa giám đốc chi nhánh và tổng giám đốccủa bên đi vay Chúng tôi tin tưởng rằng cơ chế kiểm soát tín dụng có quy tắc-ban tín dụng là cần thiết, việc này hạn chế được quyền hành hay không chophép bất cứ một cá nhân nào, với tư cách quản lý đồng ý cho đối tượng vay cólịch sử tín dụng không tốt, không đảm bảo đầy đủ khả năng trả nợ Thời gianqua đi, thiếu văn hoá tín dụng sẽ làm xói mòn các nguyên tắc an toàn như ví
Trang 7ban tín dụng (Tầm quan trọng của công tác quản lý trong việc quyết định chấtlượng tín dụng ngân hàng sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở các phần sau.)
3.4 Phương pháp và Ý nghĩa của hệ thống xếp hạng của Moody’s
Moody’s thực hiện các dịch vụ định mức tín nhiệm như nhau ở những thịtrường mới nổi vì Moody’s đã làm nhiều nơi khác nhau trên thế giới Địnhmức tín nhiệm phổ biến nhất la định mức tín nhiệm nợ và tiền gửi, và địnhmức năng lực tài chính của ngân hàng (FSRs) Định mức tín nhiệm nợ và tiềngửi chạy từ Aaa đến C đối với các khoản nợ và tiền gửi dài hạn và các khoảnPrime -1 hoặc Phi Prime ngắn hạn.FSRs chạy từ A đến E
Ký hiệu xếp hạng của Moody’s
Nợ/tiền gửi dài hạn Nợ/tiền gửi ngắn hạn Hạng năng lực tài chính
Định mức xếp hạng ngắn hạn là nói đến các công cụ có thời gian đáo hạn dưới 1 năm Tất cả
các mức đều là mức đáng đầu tư trừ Not Prime.
1994, lại đo lường năng lực tài chính của ngân hàng một cách riêng biệt, khôngtính gì tới chuyển rủi ro cho nhà nước hoặc không có sự hỗ trợ ngấm ngầmhoặc lộ liếu nào từ một bên thứ ba FSRs nên được coi là một công cụ xếp hạng
nợ và tiền gửi bổ trợ, mà không thể thay thế được cho cách đầu
Trang 8Dịch vụ định mức tín nhiệm của Moody có thể so sánh trên toán cầu, ngân hàng tốt nhất ở mỗi thị trường không phải lúc nào cũng nhận được hạng
A năng lực tài chính đâu.
FSRs thu hút sự chú ý của cộng đồng nhà đầu tư ở thị trường mới nổi hơn làđịnh mức tín nhiệm nợ/tiền gửi Thường thì sự chú ý càng tăng lên khi mà kếtquả của hầu hết các ngân hàng hoặc của tất cả các ngân hàng trong một nướcđều không vượt qua đươc trần của nước đó (vì vậy những ngân hàng mạnhtrong nước cũng chỉ nhận được mức xếp hạng như các ngân hàng yếu kémtrong nước) hoặc trong một nước mà nhiều khả năng các ngân hàng đều được
hỗ trợ khi có khủng hoảng (thì ngân hàng yếu kém cũng đạt tới mức trần củanước đó, nhận cùng mức xếp hạng tương đương với ngân hàng mạnh trongnước đó) Nên nhớ rằng FSRs không bao giờ thay thế được cho định mức tínnhiệm nợ/tiền gửi- hai phương pháp này đánh giá hai vấn đề khác nhau
Vì vậy ví dụ, nếu một nhà đầu tư cần so sánh khả năng trả nợ của các ngânhàng và thấy rằng những ngân hàng có mức xếp hạng tiền gửi xác định nhưnglại có FSRs khác nhau, nhà đầu tư không thể sử dụng FSRs để xác định xemngân hàng nào có khả năng trả nợ cao nhất Nếu xếp hạng tiền gửi của cácngân hàng bằng nhau thì có nghĩa là khả năng trả nợ của các ngân hàng này lànhư nhau Nhưng nếu nhà đầu tư khác – lại không muốn xem xét khả năng trả
nợ của ngân hàng- mà họ lại muốn phân biệt được các ngân hàng Trong mộtchừng mực nào đó, họ có thể phân biệt được ngân hàng bằng năng lực tài chínhnội tại của mỗi ngân hàng, FSRs sẽ tạo điều kiện cho họ làm được việc này Ởnơi nào bắt buộc phải chấp nhận rủi ro quốc gia nếu một giao dịch được thựchiện thì đối tác được chấp nhận nhiều nhất chỉ có thể là các ngân hàng có nănglực tài chính cao nhất
Định mức tín nhiệm của Moody’s có thể so sánh được trên toàn cầu và kết quả
là các ngân hàng ở những thị trường mới nổi có xu hướng có mức xếp hạngthấp hơn mức xếp hạng của các ngân hàng ở những thị trường phát triển Vàđiều này là một thực tế và thường thì những ngân hàng tốt nhất ở một nướcnhư thế không bao giờ được xếp hạng trên D hoặc D+ về năng lực tài chính
Cụ thể là khó có một ngân hàng nào ở một môi trường kinh tế tài chính bất ởn
mà lại có định mức xếp hạng năng lực tài chính ở mức cuối cùng của bậc caohơn trong thang xếp hạng
Xếp hạng Nợ/Tiền gửi Xếp hạng Năng lực tài chính của
ngân hàng
* Đo lường khả năng trả nợ của ngân
hàng * Đo lường năng lực của từng ngânhàng riêng biệt
* Trả lời câu hỏi: “Ngân hàng này có
khả năng trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ * Trả lời câu hỏi, “Ngân hàng này cócần bên thứ ba nào hỗ trợ trong tương
Trang 9tài chính của mình không?” hoặc “ Nếu
tôi gửi vào ngân hàng 1$ thì tôi sẽ lấy
lại được bao nhiêu”
lai hay không?”
* Sử dụng thang bảng xếp hạng từ Aaa
đến C
* Sử dụng thang bảng xếp hạng từ A(mức cao nhất) đến E Dấu A”+” có thểthêm vào cho các xếp hạng B, C, D, E.3.5Tháng 4/1999 Rủi ro tổng thể và rủi ro cụ thể
Rủi ro của ngân hàng có thể chia ra làm rủi ro tổng thể, áp dụng cho toàn bộngân hàng trong hệ thống và suy rộng ra là có thể cả sức mạnh kinh tế của mộtquốc gia, và rủi ro cụ thể, gắn với từng ngân hàng Ở thị trường đã phát triển,khó có thể hình dung ra rằng khó khăn mà ngân hàng gặp phải chỉ có thể là dorủi ro tổng thể, ngay cả khi những rủi ro như vậy chắc chắn có ảnh hưởng tớihoạt động của ngân hàng – trong phần lớn các trường hợp thất bại của ngânhàng là do điều hành sai, chiến lược quản lý rủi ro không tốt, bạn hàng vớ vẩn,
v v…Ở những thị trường đang phát triển, rủi ro tổng thể hiện ra rõ ràng hơn.Rủi ro tổng thể không chỉ trầm trọng hơn mà các ngân hàng còn khó có đểtránh được hậu quả của cú sốc kinh tế nặng nề do nó gây ra ( kiểu như mất giáđồng bản tệ) hoặc suy thoái kinh tế trầm trọng
Rõ ràng là, ngân hàng mà có cách thức quản trị tốt hơn và có bảng cân đối tốthơn thì sẽ đương đầu với rủi ro tổng thể dễ dàng hơn, nhưng nếu rủi ro tổng thểhiện hữu như là một mối đe doạ cho toàn bộ hệ thống ngân hàng thì rõ ràngrằng không có ngân hàng nào có thể đạt mức xếp hạng FSRs ở mức cao nhấttrong bảng xếp hạng Ví dụ, như trường hợp của Leban, không ngân hàng đạtđến mức trên D, bởi vì rủi ro tổng thể bao gồm cả sự mất giá nghiêm trọng củađồng nội tệ, và công cuộc tái thiết hậu nội chiến thì ngừng trệ Trong nhữngtrường hợp như vậy, chỉ có ngân hàng có được quản trị tốt, có hệ số tài chínhhiện thời lành mạnh mới có thể đương đầu được với khó khăn Ở một số nướcChâu Á bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhưIndonesia, Thai Lan, các ngân hàng vỡ nợ có chủ định trong hệ thống đã đượccảnh báo trước với việc xếp hạng năng lực tài chính của họ chỉ đạt thứ hang Ehoặc E+
4 Mối Quan Hệ giữa Định mức Tín nhiệm Ngân hàng và Định mức tín nhiệm Quốc gia.
Không có ngân hàng nào có mức tín nhiệm nợ bằng ngoại tệ nào cao hơn trầnđịnh mức tín nhiệm quốc gia nơi mà ngân hàng này đặt trụ sở Ở những thịtrường phát triển, thì khó có điều ngược lại Bởi vì trần tín nhiệm quốc giá đãkhá là cao rổi thương thì từ mức Aa Nhưng ở những thị trường đang phát
Trang 10triển, thì bức tranh có thể là rất khác Trần hạng mức tín nhiệm quốc gia thìthấp và thường là giới hạn đối với hạng mức tín nhiệm nợ/tiền gửi của cácngân hàng Kết quả là, trần hạng mức tín nhiệm quốc gia lại là một nhân tốquan trọng quyết định hạng mức tín nhiệm của các ngân hàng ở thị trường mớinổi hơn hẳn ở các thị trường phát triển ( Như đã giải thích ở trên, Hạng mứcNăng lực Tài chính không bị ảnh hưởng bởi trần hạng mức tín nhiệm quốc gia
vì nó chỉ đo lường năng lực của riêng bản thân ngân hàng mà thôi không tínhtới các rào cản giới hạn hay hỗ trợ từ bên ngoài
4.1 Vai trò của Trần Trái Phiếu/ Tiền gửi
Trước khi đưa ra hạng mức tín nhiệm ngân hàng tại một nước, Moody’s phảiđưa ra trần hạng mức tín nhiệmk quốc gia của nước đó áp dụng vào các tráiphiếu ngoại tệ và tiền gửi ngân hàng ở nước đó Nhứng trần phải không phải lànhư hạng mức tín nhiệm trái phiếu chính phủ, mặc dù trong thực tế, hai loạinày gần như nhau hoặc trong trường hợp là tiền gửi thì cũng có mối tươngđồng Hạng mức tín nhiệm của chính phủ là hạng mức căn cứ vào một số loạitrái phiếu cụ thể do chính phủ quy định: ví dụ như Ngân hàng Trung ƯơngTunisia, Liên Bang Cộng hoà Brazil
Do đó, về khái niệm là sai khi nói rằng “không có ngân hàng nào được xếphạng cao hơn hạng mức chính phủ của nước mà ngân hàng đó đặt trụ sở”, ngay
cả khi trong thực tế tuyên bố như vậy gần như lúc nào cũng đúng Về kháiniệm tuyên bố chính xác phải là “ không ngân hàng nào được xếp hạng caohơn trần hạng mức tín nhiệm quốc gia nơi ngân hàng đó đặt trụ sở” mặc dù rõràng rằng tuyên bố này cũng chỉ là lặp lại thôi, bởi vì trần hạng mức tín nhiệmquốc gia là một tổ hợp, định nghĩa của khái niệm này là “ hàng mức cao nhất
mà trái phiếu hoặc tiền gửi mà bất cứ ngân hàng nào ở nước đó đạt được.”(Lưu ý là tất cả tranh luận là chỉ đề cập đến xếp hạng ngoại tệ Dưới đây mớibàn về bản tệ)
4.2 Mối quan hệ giữa trần định mức tín nhiệm quốc gia với Định mức tín nhiệm Trái phiếu Chính phủ
Trường hợp thông thường là tổ chức phát hành bằng đồng ngoại tệ có rủi rothấp nhất ở bất cứ nước nào chính là chính phủ của nước đó Điều này khôngchỉ do là chính phủ nắm giữ nhiều ngoại tệ nhất trong nước đó (dự trữ ngoạihối, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thuộc sở hữu nhà nước như dầu lửa)
mà còn do khả năng của chính phủ trong việc thu mua ngoại tệ từ các khu vựckhác trong nền kinh tế nhằm hoàn tất các nghĩa vụ của chính phủ Trường hợpđơn giản nhất là khi chính phủ áp đặt hạn chế chuyển ngoại tệ nghĩa là khu vực
tư nhân không được phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài và/hoặc buộc phải gửi
Trang 11ngoại tệ vào một cơ quan trong nước Quyền điểu tiết của Ngân hàng Trungương, quyền lập pháp của Chính phủ (và, đặc biệt là độc quyền nhà nướccưỡng chế thi hành) cho phép chính phủ làm được điều này.
Điều này không hề mang tính lý thuyết chút nào Khi chính phủ gặp khó khăntrong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình với nước ngoài họ sẽ thực hànhquyền này tìm cách xoá bỏ khó khắn của mình bằng cách hạn chế khu vực tưnhân chuyển và sử dụng ngoại hối Và những biện pháp đó tỏ ra có hiệu quảngay Vì vậy khi Chính phủ Brazil gặp khó khăn vào cuối những năm 1980s,
họ đã ngăn cản các ngân hàng nước này thực hiện các giao dịch ngoại hối.Cũng có những ngân hàng của Brazil không chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ củamình mà còn muốn làm thế thể bảo vệ danh tiếng của ngân hàng Nhưng kếtquả của việc cấm đoán đó là họ cũng không thể
Trong phần chủ đề này có một điều loại trừ, và nó giúp minh hoạ cho chủ đềgạch chân dưới đây:
Trần định mức tín nhiệm trái phiếu/tiền gửi bằng ngoại tệ ở tất cả 11 nướckhu vực Châu Âu là Aaa, thậm chí ở những nước đó trái phiếu chính phủcòn có hạng mức tín nhiệm thấp hơn cơ (ví dụ như trái phiếu chính phủItalia xếp ở mức Aa3) Điều này là do chính phủ các nước khu vực Châu
Âu không còn quyền áp đặt hạn chế chuyển tiền đối với các ngân hàngtrong nước nữa Quyền đó hiện giờ thuộc về Ngân hàng Trung Ương Châu
Âu và chúng tôi xem ngân hàng đó là rủi ro tín dụng thấp nhất Châu Âu.Kết quả là, một ngân hàng Italia (hoặc doanh nghiệp) có thể xếp hạng caohơn Aa3 so với chính phủ Italia
Chú ý rằng tiềm năng cho các ngân hàng có hạng mức tín nhiệm cao hơn
chính phủ phải dựa vào cơ cấu thể chế và pháp luật mà cả hai đều là đốitượng cũng không phải là đối tượng xem xét vể khà năng trả nợ (mắc dầutất nhiên khả năng trả nợ sẽ quyết định liệu ngân hàng đó có thật sự có hạngmức tín nhiệm cao hơn hay không) Ở những thị trường mới nổi, đôi khichúng tôi đưa ra chủ đề ngân hàng lẽ ra cũng có thể định mức tín nhiệm caohơn chính phủ nước đó bởi vì tiềm lực tài chính của ngân hàng mạnhhơn.Ví dụ như trong suốt thời kỳ nội chiến các ngân hàng của Lebanon dựavào khả năng chống chọi của mình trong khi chính phủ đã không thể thựchiện nhiệm vụ của mình Nhưng chủ đề về Lebanon không thể hiện đượcđiểm mấu chốt rằng chính phủ nước này có khả năng áp đặt hạn chế chuyểnngoại tệ và, xét từ ví dụ của các nước khác, có thể sẽ làm như vậy khi xảy
ra khủng hoảng để bảo vệ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệcủa mình
Trang 12Trường hợp cụ thể như Châu Âu trần định mức tín nhiệm quốc gia lại bằng địnhmức tín nhiệm của trái phiếu Chính phủ là hiếm khi xảy ra, thông thường thì trầntín nhiệm tiền gửi của một nước sẽ khác với trần tín nhiệm trái phiếu quốc gia (và
đó cũng từ trái phiếu chính phủ mà ra cả thôi) Đối với hạng xem xét đầu tư, điểnhình thì cũng có mức độ khác biệt giữa trần tín nhiệm quốc gia cho trái phiếu và
hệ số đó cho tiền gửi, trong một số trường hợp thì khoảng trống là lớn hơn Như ởMexico, vào tháng 6 năm 1999 trần tín nhiệm trái phiếu là Ba2, và trần tín nhiệmtiền gửi là B1; ở Hàn Quốc là Ba1 và Caa1; ở Indonesia là B3 và Ca (Một lần nữacần lưu ý rằng tất cả là đều đang nói đến đồng tiền là ngoại tệ)
Điểm mấu chốt cần nhớ là sự khác biệt giữa hai loại công cụ là trái phiếu và tiềngửi chứ không phải giữa các đơn vị phát hành (ngân hàng và chính phủ)
Lý do áp đặt trần tín nhiệm tiền gửi thấp hơn trần tín nhiệm trái phiếu là trong thực
tế chính phủ sẵn sàng áp đặt hạn chế chuyển tiền đối với tiền gửi hơn là đối vớitrái phiếu Nguyên nhân chính là bởi vì hậu quả của việc chính phủ mất khả năngthanh toán với trái phiếu lên quyền cai trị của chính phủ nghiêm trọng hơn so vớiviệc mất khả năng thanh toán đối với tiền gửi Trái phiếu có xu hướng là một vănbản chặt chẽ hơn, có quy định nơi thanh toán trên thị trường quốc tế, và kết quả lànhững hành động hợp pháp phản ứng lại với tình trạng mất khả năng thanh toán sẽđạt tới đỉnh điểm dễ dàng hơn Hơn thế nữa, trái phiếu thường là công cụ khôngghi danh, nên rất khó xác định được danh tính người đầu tư và thương thuyết với
họ Ngược lại, tiền gửi thì thường chỉ phát sinh trong nước
Sở dĩ cần phải phân biệt hạng mức tín nhiệm giữa trái phiếu và tiền gửi thành hạngxem xét đầu tư và hạng không đầu tư là vì tính rủi ro cao hơn của tiền gửi phátsinh do hậu quả của các hành động của nhà nước (ví dụ như chính phủ hạn chếchuyển tiền) Ở hạng nên đầu tư khó có khả năng chính phủ gặp khó khăn trầmtrọng đến mức chính phủ phải áp đặt lệnh hạn chế Ở hạng xem xét đầu tư, một sựkiện của chính phủ sẽ trở thành một nhân tố to lớn hơn trong phân tích, vì vậy dựđoán về phản ứng của chính phủ sẽ trở nên quan trọng hơn (ví dụ phân biệt giữatrái phiếu và tiền gửi)
Đôi khi, trần hạng mức tín nhiệm tiền gửi lại bằng một mức dưới cả mức trần hạngmức tín nhiệm trái phiếu Điều này chỉ xảy ra nếu hệ thống ngân hàng hoạt độngkém hiệu quả so với các ngành khác ở đất nước đó Quyết định mở rộng khoảngcách này ra thực chất là do một số trường hợp cụ thể của chính hệ thống ngânhàng của đất nước chứ không phải là do quan sát tổng thể xem định mức tín nhiệmtrái phiếu/ tiền gửi được xếp vào loại nào (vì là thực tế luôn luôn tồn tại mộtkhoảng cách ở hạng xem xét đầu tư)
4.3 Tại sao các ngân hàng nước ngoài lại được xếp hạng tín nhiệm cao hơn các ngân hàng trong nước.
Trang 13Các ngân hàng nước ngoài cóthể có hạng mức tín nhiệm cao hơn các ngân hàngtrong nước Mặc dầu các cơ quan pháp luật và quản lý thường có quyền ngăn cảncác ngân hàng nước ngoài đăng ký ở thị trường nước họ thực hiện trách nhiệmbằng đồng bản tệ, trong thực tế, có những lý do bắt buộc các cơ quan luật phápkhó có thể làm vậy, thậm chí ngay cả khi xảy ra khủng hoảng kinh tế.
Lý do đầu tiên là nếu các cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào luồng tự do củacác quỹ nước ngoài, thì lập tức niềm tin trên thị trường ngân hàng quốc tế sẽ biếnmất và các hoạt động của ngân hàng nước ngoài sẽ hướng tới phân bổ ở nơikhác.Lý do thứ hai là khả năng sẵn sàng can thiệp của các cơ quan quản lý nhànước cũng sẽ gặp phải vấn đề về khả nằng áp dụng biện pháp mà họ lựa chọn.Cácngân hàng nước ngoài thương không để một lượng lớn tiền dưới dạng tài sản trongnước, mà họ cũng không triển khai nhiều hoạt động kinh doanh ở trên nước chủnhà đang gặp hiểm nguy đâu nếu họ phải hứng chịu các biện pháp của các cơquan quản lý trong nước Tóm lại, các cơ quan quản lý nhà nước của nước sở tạithường không khuyến khích hoặc chỉ can thiệp một cách rất hạn chế vào việcthanh toán ra nước ngoài của các ngân hàng nước ngoài thậm chí ngay cả trongthời kỳ khủng hoảng
Phân tích của chúng tôi thấy rằng, có nhiều loại ngân hàng nước ngoài khácnhau – ví dụ thị trường nước ngoài ở Bahrain bao gồm các ngân hàng thành lập
ở Bahrain và có vị thế kinh doanh ở đó, và các ngân hàng này là chi nhánh củacác ngân hàng quốc tế được thành lập và đặt trụ sở chính ở nhiều nơi trên thếgiới (ví dụ ngân hàng hải ngoại Bahrain của ABN- Amro) Trong trường hợp làchi nhánh, độ tín nhiệm của các ngân hàng nước ngoài cũng bị ảnh hưởng bởi
độ tín nhiệm của các ngân hàng mẹ Ví dụ, chi nhánh tại quốc đảo Cayman củamột ngân hàng Brazil sẽ bị khống chế bởi mức độ trần tín nhiệm nợ/tiền gửicủa Brazil mặc dù ngân hàng nước ngoài đó nằm ở quốc đảo Cayman có thểđược xếp hạng đến mức Aa3 hoặc Aaa (tuỳ thuộc vào loại hình giấy phép kinhdoanh)
4.4 Định mức tín nhiệm theo Đồng Nội tệ
Thỉnh thoảng Moody’s cũng tiến hành định mức tín nhiệm công cụ nợ bằngđồng nội tệ và điểm mấu chốt là nợ và tiền gửi của ngân hàng có thể được địnhmức cao hơn chính phủ nước đó (Cũng như nợ của các tổ chức phát hànhthuộc khu vực tư nhân khác) Mặc dù trong vòng 5Tháng 4/19990 năm qua, có khối trườnghợp chính phủ áp đặt giới hạn chuyển ngoại tệ, rất hiếm khi nào thấy có lệnh
áp đặt giới hạn chuyển nội tệ Một phần là do đối với một chính phủ việc hạnchế chuyển đồng nội tệ khó hơn nhiều so với hạn chế chuyển đồng ngoại tệ.Phân tích mà lấy cơ sở là đồng nội tệ thì thường hay tập trung nhiều vào môitrường luật pháp và kinh tế của nước đó, còn định mức xếp hạng đồng ngoại tệ
Trang 14thì thường hay tập trung vào khả năng tài chính để trả nợ của nước đó hơn (Sựkhác biệt là mỗi cái nhấn mạnh vào những mặt khác nhau mặc dù cả hai đềuxem xét cùng những vấn đề như nhau.) Do dó định mức tín nhiệm đồng nội tệthường xem xét rủi ro về thay đổi cơ chế hay khả năng xảy ra nội chiến, có thểdẫn tới quịt nợ; tiên đoán khả năng của hệ thống pháp luật, khả năng và tínhlỏng của hệ thống thanh toán; và nguy cơ xảy ra siêu lạm phát (chính phủ cóthể áp đặt kiểm soát thanh toán nhằm cố gắng ngăn chặn việc trượt dốc vàosiêu lạm phát)
Còn hơn cả khi đưa ra “trần tín nhiệm” là khi chúng tôi đưa ra việc xếp hạngtheo đồng ngoại tệ, Moody’s có “cẩm nang” nội tệ cho thấy mức độ mà một tổchức tài chính mạnh nhất trong nước có thể đạt được Những tổ chức phát hànhmạnh nhất có thể không phải là chính phủ Phần lớn việc định mức tín nhiệmtheo đồng nội tệ có ý nghĩa hơn so với việc làm tương tự theo đồng ngoại tệ 4.5Tháng 4/1999 Ý nghĩa của Sự hỗ trợ từ Bên Thứ Ba
Khả năng trả nợ của một ngân hàng không chỉ do thực lực tài chính của bảnthân nó quyết định Một ngân hàng yếu có thể có khả năng trả nợ cao hơn nếu
nó chắc chắn được một bên thứ ba mạnh mẽ tài trợ khi xảy ra khủng hoảng(như chính phủ, cổ đông, những người có cùng thị trường) Việc xem xét khảnăng tài trợ như vậy là vấn đề quan trọng ở riêng các thị trường mới nổi nơi mànhiều ngân hàng quả thực có thực lực tài chính yếu
Một ngân hàng yếu có thể có khả năng trả nợ lớn nếu nó chắc chắn được mộtbên thứ ba mạnh mẽ tài trợ khi xảy ra khủng hoảng
Khả năng tài trợ thường được dự báo dựa trên quan điểm là một ngân hàng nào
đó “quá lớn không thể đổ vỡ được”.Tuy nhiên ý kiến đó bao gồm một loạt cácvấn đề và thậm chí tự bản cụm từ này cũng gây ra hiểu nhầm – thuật ngữ đúngphải viết là “quá lớn không được phép đổ vỡ” Chính phủ thì hầu như lúc nàocũng có cách để cứu vớt một ngân hàng vì vậy nếu ngân hàng nào đổ vỡ, thì đó
là do chính phủ muốn thế Một giải pháp đầy đủ về các vấn đề này đã đượcMoody’s xuất bản như là một Ý kiến đóng góp Đặc biệt của Moody’s “ Phântích khả năng Khả năng Hỗ trợ Chính thức cho Các Ngân hàng gặp vấn đề”.Tháng 5Tháng 4/1999 năm 1997 Nhân sự kiện này, quý vị nên lưu ý các điểm sau:
Rất hiếm khi người cho vay mất tiền nếu ngân hàng bị đổ vỡ Trên khắp thếgiới này, các cơ quan tài chính nỗ lực tránh tác động ngược trở lại lên toàn bộnền kinh tế nếu một trong những ngân hàng trong nước đó đổ vỡ Chúng tôithấy tình trạng này không thay đổi mấy so với trước đó, mặc dầu nhưng nhàlàm luật luôn tỉnh tảo trước nguy cơ rủi ro đạo đức kinh doanh có thể phát sinh
do được bảo trợ
Trang 15Bất chấp điều này, chính chúng ta nghĩ rằng điều quan trọng là phải hiểu chínhxác tại tao một ngân hàng hoặc một nhóm các ngân hàng cụ thể nào đó lạiđược hỗ trợ khi khủng hoảng chúng ta rất không ngợp thấy một tuyên bố rấtnhạt như kiểu “chính phủ sẽ không bao giờ để cho bất cứ ngân hàng nào trênthị trường này đổ vỡ” Tuyên bố có vẻ đúng, nhưng chúng ta cần phải hiểu làtại sao lại thể Ví dụ, có thể rằng đất nước do một chính phủ yếu kém màkhông thể làm được một việc di thường nào điều hành, ví như để cử tri bị mấttiền tiết kiệm Nếu một chính phủ mạnh mà lên nắm chính quyền, khả năng chophép điểu này xảy ra có thể tăng lên.
Tính kịp thời của việc hỗ trợ cũng là một vấn đề quan trọng Theo định nghĩacủa Moody’s, một ngân hàng mà chậm thanh toán nợ tức là đang trong tìnhtrạng vỡ nợ dù cho nếu tất cả tiền đến hạn, lãi suất đã chậm trả cuối cùng cũngđược trả hết Kết quả là, một trong số các câu hỏi mà chúng tôi xem xét là liệuchính phủ có một cơ chế phân bổ trước để hỗ trợ cho các ngân hàng trong suốtthời kỳ khủng hoảng hay không, và liệu chính phủ có quyết định trước nhữngtiêu chuẩn được sử dụng quá khoản hỗ trợ hay không (ví dụ như hỗ trợ tự động
từ 5Tháng 4/1999 ngân hàng lớn nhất, nhưng các ngân hàng còn lại là tuỳ từng trường hợp)
Khả năng tiên đoán chính xác về việc hỗ trợ không có ý nghĩa tạo điều kiệncho ngân hàng được xếp hạng đến mức trần tín nhiệm quốc gia.Hãy xem xét ví
dụ về mặt lý thuyết sau giữa hai ngân hàng, cả hai đều có khả năng được hỗ trợkhi xảy ra khủng hoảng như nhau nhưng một trong hai ngân hàng này có thựclực tài chính yếu còn ngân hàng kia lại có thực lực tài chính mạnh Việc ngânhàng có thực lực tài chính yếu hơn có khả năng yêu cầu hỗ trợ khả năng thanhtoán nợ của nó là một yếu tố không chắc chắn điều mà không có ở các ngânhàng khoẻ mạnh hơn Người ta có thể không xác định được đúng lúc khủnghoảng là nặng nề nhất để có hỗ trợ đúng lúc nhất; có thể nảy sinh các vấn đềhậu cần (ví dụ các nhà quản lý và nhà làm luật không cùng quan điểm giảiquyết vấn đề); để một ngân hàng vỡ nợ có thể khiến các nhà tài trợ nước ngoài
đề nghị một khoản tài trợ kinh tế trọn gói, và vân vân Trong điều kiện các thứ
khác không thay đổi, tính không chắc chắn tăng thêm này sẽ là cho các ngân
hàng có thực lực yếu hơn sẽ có mức tín nhiệm nợ/tiền gửi thấp hơn so với cácngân hàng có thực lực khoẻ mạnh hơn
Sự khác biệt chính của Việc tập trung Khi định mức tín nhiệm các ngân hàng ởthị trường mới nổi khác hẳn với ở thị trường phát triển
Thống kê tài chính và Các chỉ số ít có giá trị trong việc đánh giá sức mạnh củamột ngân hàng và so sánh các ngân hàng với nhau
Trang 16Điều này xảy ra cũng là vì hai lý do Một là, công khai thì thường kém toándiện hơn và chuẩn mực kiểm toán thì kém nghiêm khắc hơn ở các nước đangphát triển Một cách đơn giản là, những con số này không thể đưa ra một bứctranh chính xác về những gì đang diễn ra trong một ngân hàng, và những con
số này có thể gây hiểu nhầm Ví dụ, tháng 6 năm 1998, chúng tôi có bài Tổng
quan Hệ thống Ngân hàng – Trung Quốc cảnh báo rằng “Kết quả tài chính của
các ngân hàng Trung Quốc vẫn không thể cho phép người khác đánh giá mộtcách chính xác – các số liệu được ẩn bản có thể được hiểu một cách tốt nhất làphương tiện chính thức chuyển tải quan điểm chính thức các ngân hàng củaTrung Quốc có sức mạnh tài chính và ngày càng mạnh hơn do kiểm soát chặtchẽ và quy củ hơn.”
Hai là các con số và tỉ số có thể là đối tượng thay đổi nhanh và mạnh ở các thịtrường mới nổi, vì vậy dù cho các con số này có giải thích rõ ràng hơn về vị thếhiện tại của một ngân hàng thì chúng cũng không mấy giá trị khi tien đoán về
vị thế tương lai của ngân hàng
Một nguyên tắc chung là, chúng ta tin rằng ở thị trường mới nổi, những con số
ấn hành có khả năng là các chỉ số trễ về các vấn đề của ngân hàng hơn là chỉ sốchủ đạo
Một nguyên tắc chung là, chúng ta tin rằng ở thị trường mới nổi, những con số
ấn hành có khả năng là các chỉ số trễ về các vấn đề của ngân hàng hơn là chỉ sốquan trọng về các vấn đề của một ngân hàng Ở những thị trường mới nổi,chúng tôi không thể dựa vào các con số thống kê để như kiểu dấu hiệu về cácvấn đề phát triển Theo thời gian, con số cũng là các dấu hiệu, ngân hàng có thể
đã ở bên bờ vực phá sản
5.2 Nền kinh tế và Môi trường mà Ngân hàng hoạt động là chỉ báo về sức mạnh tài chính quan trọng hơn hẳn
Điều này là bởi vì môi trường kinh tế và chính trị ở những thị trường mới nổi
có xu hướng kém ổn định hơn ở những thị trường phát triển, và bởi vì quy môcủa bất cứ sự thay đổi nào cũg lớn hơn hẳn Ở nhiều cấp độ, điều này là đúng
đã là khá cao 22% rồi, cùng với gói tài khoá nhằm tiết kiệm gần 20 tỷ R$
Trang 17cho chính phủ liên bang đã gây ra cuộc suy thoái kinh tế và dẫn tới sự cohẹp lại của nhu cầu tín dụng.” Không có khả năng một ngân hàng ở thịtrường phát triển lại phải đối mặt với sự thay đổi chính sách tiền tệ lớn nhưthế.
Hệ thống ngân hàng ở những nền kinh tế chuyển đổi là đối tượng bị ảhhưởng của thay đổi chính sách nhiều hơn những ngân hàng ở thị trườngphát triển Đối với các nhà phân tích tín dụng, ẩn ý chính của điều này làmôi trường cạnh tranh có thể thay đổi, các ngân hàng hiện có có thể sápnhập lại với nhau, các ngân hàng mới có thể xuất hiện, vai trò và quyền sởhữu ngân hàng có thể thay đổi, và các tổ chức tài chính phi ngân hàng cóthể nỏi lên làm suy yếu thương hiệu kinh doanh của các ngân hàng Cạnhtranh cũng sẽ đến từ phía các ngân hàng nước ngoài (hệ thống tinh vi hơn,nguồn lực thì dồi dào hơn hẳn), điều này phụ thuộc vào mức độ cho phép
mở cửa của Chính phủ
Chúng tôi cũng sẽ chỉ ra rằng ở những thị trường mà số liệu thống kê có thểkhông phải là một cẩm nang hữu ích về sức mạnh tài chính của ngân hàng thìđiều quan trọng là ít ra cũng phỉa hiểu tổng thể những gì hình thành nên thịtrường ngân hàng Hiểu được xu thế rộng hơn sẽ giú các nhà phân tích hiểu cáccon số của từng tổ chức tốt hơn Ví dụ, khó có thể hiểu được sự thay đổi lớn về
hệ số sinh lời trên tài sản của các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ nếu không có mộtđánh giá chính xác về môi trường siêu lạm phát của nước này
5.3 Sức mạnh của Vốn và Các khoản Dự phòng là một nhân tố quan trọng trong phân tích các ngân hàng ở những thị trường mới nổi hơn là phân tích trường hợp của các thị trường đã phát triển.
Ở những thị trường đã phát triển, sự giảm sút của chất lượng tín dụng thườngxảy ra từ từ như là một phần của chu kỳ kinh doanh dẫn đến thời kỳ ngân hàngphải tăng mức dự trữ Nhưng ở những thị trường mới nổi, chất lượng tín dụng
tế ngày càng lớn hơn Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng không thểlập dự phòng nhưng bị bắt buộc phải lập ngay bằng nguồn vốn các khoản dự
Trang 18trữ Kết quả là quy mô vốn ngày càng trở nên quan trọng hơn Một chỉ số chính
về khả năng trả nợ ở những thị trường mới nổi là phần trăm vốn chủ sở hữutrên nợ ròng Tỉ số này là một chỉ báo về tỉ phần nợ của ngân hàng phải trả trêntổng số giá trị tài sản thuần
5.4 Ở Những Thị trường Mới nổi, Ngày cáng có nhiểu Trường hợp Định mức Tín nhiệm Trái phiếu và Tiền gửi hoặc được nâng cao bởi khả năng được ngân hàng khác hỗ trợ khi xảy ra khủng hoảng hoặc bị giới hạn bởi trần định mức tín nhiệm quốc gia
Khả năng hỗ trợ của chính phủ hoặc một bên thứ ba cho một ngân hàng cónguy cơ đổ vỡ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc quyết định định mứctín nhiệm nợ và tiền gửi ở thị trường mới nổi Phần vì sự đổ vỡ của ngân hàng
có xác suất xảy ra tức thì ở thị trường mới nổi cao hơn là ở thị trường đã pháttriển Nhưng cũng còn có lý do là số lượng các ngân hàng có thực lực yếu kém
ở thị trường mới nổi nhiều hơn và một số trong số các ngân hàng này cũng hoạtđộng ở các nước mà chính phủ cũng chỉ cam kết bảo trợ có mức độ khi cácngân hàng này không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Ví dụ, Ngânhàng Nationale Agricole của Tunisia định mức tín nhiệm sức mạnh tài chính là
E, phản ánh quan điểm của chúng ta rằng ngân hàng này thực sự yếu kém, tuynhiên nó lại có định mức tín nhiệm tiền gửi ngoại tệ là Ba1, bởi vì ngân hàngtrung ương Tunisia (xếp hạng Baa3) có thể giúp nó không bị đổ vỡ khi xảy rakhủng hoảng
Mặt khác, bởi vì trần định mức tín nhiệm quốc gia ở thị trường mới nổi thườngthấp hơn định mức tín nhiệm quốc gia ở thị trường đang phát triển Thườngxảy ra các trường họp định mức tín nhiệm của ngân hàng mạnh bị giới hạnhơn Ở Tây Bắc Âu, trần định mức tín nhiệm quốc gia là Aa hoặc cao hơn, vìvậy ít ngân hàng nào có khả năng bị giới hạn bởi trần định mức tín nhiệm quốcgia Các thị trường mới nổi hiếm khi được định mức tín nhiệm lên đến mức A
và thường thì thấp hơn một chút Có một cách khác khi nói để khái niệm hoáviệc này là ngân hàng phải đối mặc với hai rủi ro chính – phá sản và khả năngthanh toán – tạm ngừng giao dịch ngoại tệ.Trong những trường hợp của nhữngngân hàng ở thị trường mới nổi, người ta thấy rằng rủi ro sau là lớn hơn, vàđiều này làm cho định mức tín nhiệm quốc gia thấp hơn
6 Phương pháp Định mức Tín nhiệm Ngân hàng ở Thị trường Mới nổi
Trang 19Mô hình định mức tín nhiệm của Moody’s áp dụng cho tất cả các ngân hàngtrên khắp thế giới, bất kể là ngân hàng đó có trụ sở tại đâu., vì vậy “Bảy Tiêuchí” của phân tích ngân hàng được vạch ra trong bản nghiên cứu Phương phápĐịnh mức Tín nhiệm của chúng tôi về Rủi ro Tín dụng của Ngân hàng ở nhữngthị trường phát triển cũng làm cơ sở để đánh giá những thị trường đã pháttriển.”Bảy Tiêu chí” đó là:
1 Môi trường kinh doanhS
2 Sở hữu và Quản trị
3 Giá trị Thương hiệu
4 Khả năng sinh lợi
5 Lịch sử rủi ro
6 Phân tích vốn kinh tế
7 Ưu tiên và Chiến lược Quản lý
Điều quan trọng là phải lưu ý rằng chỉ có hai trong số bảy vấn đề này đề cập rõràng tới tình hình tài chính của ngân hàng – đó là khả năng sinh lợi và lịch sửrủi ro Ngày nay tình hình tài chính của một ngân hàng đóng vai trò quan trọngtrong phân tích của chúng tôi, nhưng chúng tôi tin rằng xét trong dài hạn,những vấn đề như thương hiệu kinh doanh, chất lượng quản lý có tác độngmạnh mẽ hơn tới sức mạnh tài chính của ngân hàng Đôi khi cũng có trườnghợp ngân hàng được định mức tín nhiệm cao hơn so với mức cơ bản vì rằng chỉ
số tài chính của họ cao hơn chỉ số của các ngân hàng khác những ngân hàng đãđược xếp hạng cao hơn Tuy nhiên, một ngân hàng có các chỉ số thấp hơn vẫnđược xếp hạng cao hơn nếu như chúng ta tin rằng những nhân tố định tính khác
sẽ có thể cho thấy trong dài hạn những hệ số sẽ cao hơn
6.1 Phương pháp định mức tín nhiệm khống dựa vào một
“Checklist” hay “Thang điểm” nào
Đôi khi người ta hỏi chúng tôi rằng chúng tôi gắn cho mỗi nhân tố quyền sốnào khi thực định mức tín nhiệm – chất lượng tài sản là quan trọng nhất hay chỉ
số tài chính? Câu trả lời là chúng tôi không thực hiện định mức tín nhiệm theocách đó Vấn đề là chúng tôi tự hỏi là, “Điều gì quyết định mức tín nhiệm?”
“Đặc điểm của ngân hàng này những ngân hàng sẽ quyết định mức tín nhiệmcủa chính nó là gì –tiêu cực hay tích cực- xét trong dài hạn?”
Trang 20Những vấn đề có khả năng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của một ngânhàng trong mọi trường hợp đều như nhau; chúng có thể thuộc vào một trong
“bảy tiêu chí” nói trên Nhưng trong thực tế, vấn đề chính ảnh hưởng với mứctín nhiệm thì rất khác nhau so ngân hàng này với ngân hàng khác Đối với mộtngân hàng, lịch sử có thu nhập cao có thể vượt qua được cả lo lắng về việc sắptới sẽ bỏ bớt các quy định; nhưng ngân hàng khác thì quản lý kém có thể dẫntới định mức tín nhiệm thấp bất chấp cả việc có chỉ số tài chính mạnh và vânvân Nghệ thuật phân tích ngân hàng là phải xác định được cá yếu tố chính tácđộng tới định mức tín nhiệm và đánh giá xem trong phạm vi nào thì nó có thểảnh hưởng tới mức tín nhiệm của ngân hàng trong dài hạn?
7 Môi trường kinh doanh của Ngân hàng
Điều kiện kinh doanh là lí do duy nhất và quan trọng nhất giải thích tại sao cácngân hàng ở thị trường mới nổi là cái hạng chỉ được định mức tín nhiệm sứcmạnh tài chính thấp hơn so với các ngân hàng thị trường phát triển Khi chúngtôi đánh giá môi trường kinh doanh, chúng tôi luôn đặt ra câu hỏi “Những ngânhàng ở thị trường này phải có những cơ hội nào mới thiết lập được một lịch sử
về thu nhập mạnh, lắm loại và có thể phòng bị được thế?” Bằng trực giácchúng tôi thấy rõ ràng rằng dễ dàng có được một lịch sử thu nhập như thế ởnhững thị trường đã phát triền, lớn mạnh, đa dạng và lành mạnh hơn là ở mộtthị trường không phải là như thế Dù cho nhiều nền kinh tế mới nổi cũng lớn,nhưng nó không có xu hường là đã chín muồi; chúng chủ yếu dựa vào một số
Chuyên gia Phân tích Ngân hàng và Kỳ Thủ
Cách đây mấy năm, các nhà khoa học nghĩ ra một phương pháp thử mà thông qua đó kiểm tra sự khác biệt giữa các kỳ thủ chuẩn của các câu lạc bộ và các kiện tướng cờ vua Máy cảm biến được gắn vào mẳt của các kỳ thủ nó cho nhà khoa học thấy các kỳ thủ đang tập trung vào điểm nào trên bàn cờ khi họ đang xem xét di chuyển quân cờ nào Sự khác biệt giữa hai kỳ thủ này rất thu hút được sự chú ý Các kỳ thủ của các câu lạc bộ nhìn quanh tất cả các điểm trên bàn cờ, cân nhắc các nước đi khác nhau của các con cờ có thể di chuyển được trong một phậm vi rộng Ngược lại các kiện tướng lại chỉ nhìn vào một vài ô cờ thôi và hai hay ba quân cờ Họ đã xác định được các quân cờ và các nước cờ chính sẽ dẫn tới kết cục của cả ván cờ Trong số hàng triệu nước đi tiềm năng sẵn có trên bàn cờ (và trong môn cờ vua, có hàng triệu nước đi) các kiện tượng chỉ để ý đến một vài nước
Các chuyên gia phân tích ngân hàng của Moody’s phải cố gắng làm việc kiểu như các kiện tướng Chúng tôi biết rằng khối vấn đề có thể ảnh hưởng tới mức tín nhiệm của một ngân hàng nhưng chúng tôi chỉ tập trung xác định những cái gì thật sự làm tác động tới chất lượng tín dụng của một ngân hàng
Trang 21ngành chính (như khai khoáng) và khả năng thanh toán của cả chính phủ vàkhu vực tư nhân đều mong manh không ổn định.
Điều kiện kinh doanh là lí do duy nhất và quan trọng nhất giải thích tại sao các ngân hàng ở thị trường mới nổi là cái hạng chỉ được định mức tín nhiệm sức mạnh tài chính thấp hơn so với các ngân hàng thị trường phát triển
7.1 Sức khoẻ và Cấu trúc của nền Kinh tế
Ở những thị trường mới nổi, phân tích của chúng tôi bắt đầu với việc đánh giámôi trường kinh tế vĩ mô Các nhân tố bao gồm cả viễn cảnh tăng trưởng kinh
tế, khả năng ổn định tỉ giá hối đoái, và xu hướng diễn biến lạm phát Ví dụ,một ngân hàng khó có thể mạnh được nếu nó hoạt động ở một nền kinh tế đangsuy thoái trầm trọng Hoặc sự giảm giá tiền tệ lớn có thể ảnh hưởng tới tínhhợp lý của bảng cân đối kế toán Ví dụ, so sánh môi trường kinh doanh của bất
cứ nước nào trong 11 nước thành viên cũ của EU với môi trường kinh doanh ởNga Khi chúng tôi phân tích các ngân hàng ở 11 nước thành viên cũ của EUchúng tôi rất tin tưởng rằng các nước này sẽ không phải vật lộn với một đợtlạm phát hoặc đồng tiền mất giá bất ngờ Chúng tôi cũng khá tin vào mức độtăng trưởng của các nước này sẽ không dao động trong vòng hai hoặc ba nămtới Ở Nga, không chỉ có những nhân tố kinh tế đó kém hấp dẫn hơn, mà chúngcòn khó đoán biết được hơn Sự gia tăng lạm phát không đoán trước được ởcác nước thuộc EU đó có nghĩa là lạm phát ở mức 4 -5Tháng 4/1999% một năm Nhưng ởNga, điều này có thể là lạm phát tăng 200%
(Hãy nhớ rằng phân tích này khác hẳn với việc đánh giá hệ số quốc gia đã nhắcđến ở trên Trong trường hợp này, chúng tôi đang nhắm tới một điều kiện đánglưu ý mà ngân hàng hoạt động trong điều kiện này và nó ảnh hưởng như thếnào đối với thực lực tài chính nội tại của ngân hàng Ở đây chúng tôi khôngđánh giá xem những điều kiện này ảnh hưởng thế nào tới khả năng trả nợ củachính phủ - điều mà có thể dẫn tới việc áp đặt các “điều luật giới hạn quốc gia”như kiểu kiểm soát ngoại hối Phân tích về “các điều luật giới hạn quốc gia”
có thể thông qua trần định mức tín nhiệm nợ/tiền gửi mà áp dụng đối với địnhmức tín nhiệm tất cả các ngân hàng)
Giai đoạn tiếp theo của phân tích là xem xét tính đa dạng và trình độ của nềnkinh tế Nền kinh tế có bao gồm một loạt các doanh nghiệp lành mạnh baotrùm hết tất cả các hoạt động kinh tế mà kết quả hoạt động của nó có phần nào
đó có tương quan ngược chiều không (nghĩa là nếu một ngành hoạt động yếuthì ngành khác có thể vẫn hoạt động tốt)? Các nước xuất khẩu dầu mỏ ở vùngVịnh Ả Rập là một ví dụ Ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt, chủ yếu làthuộc sở hữu nhà nước, chiếm ít nhất 1/3 GDP, và khu vực tư nhân thì chủ yếu
Trang 22dựa vào các hợp động với nhà nước Hoạt động của khu vực tư nhân mà khôngdựa vào các hợp đồng với chính phủ thì khó mà mở rộng được hoạt độngthương mại và phân bố nhập khẩu Kết quả là “ mảnh đất dành cho doanhnghiệp” ở các nước này rất hạn chế Hơn thế nữa, nếu giá dầu giảm, khả năngthanh toán của chính phủ sẽ khó khăn hơn (khoảng ¾ tổng htu của chính phủ là
từ kinh doanh dầu mỏ và khí đốt) Điều này không chỉ ảnh hưởng tới nhữngcông ty phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của chính phủ Bởi vì, chi tiêu củachính phủ - cả trực tiếp và gián tiếp – đều chiếm một tỷ trọng lớn trong tổnghoạt động kinh tế, gần như tất cả mọi người đều bị ảnh hưởng Vì vậy, bất cứmột ngân hàng nào cũng rất khó tự tránh khổi những ảnh hưởng khi nền kinh tế
đi xuống Một số ngành sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn ngành khác, nhưng tất cả sẽ
bị ảnh hưởng theo nhiều cách khác nhau
7.2 Những Xu hướng trên Thị trường Vốn, Phi trung gian hoá
và Cấu trúc của Hệ thống Ngân hàng.
Điều quan trọng là phải hiểu được vài trò của ngân hàng trong hệ thống tàichính nói chung Trước đó chúng tôi đã nói ràng ngân hàng có xu hướng thốngtrị thị trường tài chính tại các nến kinh tế mới nổi Việc thống trị này đem đếncho ngân hàng hai cái lợi lớn:
Quyền làm giá – ngân hàng có thể quyết định “lãi suất áp dụng” đối với tiềngửi và cho vay, và mức phí áp dụng cho các dịch vụ tài chính Quyền lựcnày không cần dựa trên thoả thuận cấu kết nào hết Nó có thể là hậu quảcuộc tính ý trong việc đặt giá của những người tham gia thị trường ( nhứngngười không quan tâm tới việc khuyấy động tới cơ cấu làm giá) và sự thiếuvắng của các gương mặt mới trong chiến lược làm giá tổng thể để phân chiathị phần
Khả năng thu lợi từ những thay đổi của việc phân bố tài sản công chúng –
ví dụ, ảnh hưởng của việc tiền gửi chảy khỏi ngân hàng và chảy vào cácquỹ tương hỗ là nhỏ nhất nếu ngân hàng kiểm soát ngành quỹ tương hỗ củađịa phương Rõ ràng là vấn đề lập quỹ và thanh toán đang tăng lên, nhưngnếu ngân hàng đoạt lại được phí quản lý thì lợi nhuận lề mà họ mất đi dorút tiền kiệm, thì ngân hàng vẫn bảo toàn lợi nhuận của mình
Khi mà thị trường tài chính phát triển, có thêm nhiều thành viên mới và cácngân hàng bắt đầu mất đi hai lợi thế này của mình Tốc độ phát triển của thịtrường tài chính phụ thuộc vào một vài nhân tố, bao gồm cả thái độ ứng xử của
cơ quan quản lý nhà nước trong việc cấp phép cho thành viên mới Ngân hàngTrung Ương thường rất hay bảo hộ cho hệ thống ngân hàng của họ và khôngmuốn hệ thống này suy yếu bởi có sự tham gia của thành viên mới Tiềm năngphát triển của thị trường vốn cũng sẽ ảnh hưởng tới tốc độ thay đổi – một nền
Trang 23kinh tế lớn có nhiều loại doanh nghiệp khác nhau và các ngành công ích mạnh
có khả năng thu hút được sự quan tâm của các nhà tài phiệt của địa phương vàcác định chế tài chính nước ngoài theo đuổi Một thị trường trầm lắng hơn thì
có thể sẽ nằm ngoài sự quan tâm của các thành viên
Do đó các chuyên gia phân tích ngân hàng cần phải xem xét tới thương hiệu
mà ngân hàng có được trên thị trường tài chính và khả năng thương hiệu này sẽthay đổi Như chúng tôi đã nói từ trước, thị trường tài chính phát triển và đadạng là một phần của môi trường kinh doanh tiên tiến, vì vậy một số ngân hàng(“kẻ chiến thắng”) có thể thu lợi ngay cả khi thường hiệu của ngân hàng bị suyyếu Xác định được kẻ thắng người thua là nhiệm vụ trung tâm của cách phântích này
Việc xem xét ngân hàng ngân hàng trong bối cảnh của hệ thống tài chính nóichung, bước tiếp theo là xem xem mỗi ngân hàng bị ảnh hưởng như thế nào bởi
sự thay đổi cấu trúc của thị trường ngân hàng Chúng ta phải xem xem liệu cácnhà làm luật có thể cấp phép cho các ngân hàng mới cạnh tranh cùng với cácngân hàng hiện có hay không Liệu họ có khuyến khích hoặc cản trở sự sápnhập, hợp nhất và liệu các nhà làm luật có mở cửa thị trường cho các đối thủcạnh tranh nước ngoài hay không Ở thị trường mà các ngân hàng lớn ngàycàng lớn mạnh, có thể thông qua việc sáp nhập hoặc liên minh chiến lược vớicác đối tác nước ngoài, thì các ngân hàng nhỏ hơn và yếu hơn sẽ bị cách lykhỏi nhịp sống xã hội Nhưng trong hệ thống ngân hàng bị kiểm soát và thủtiêu cạnh tranh, những ngân hàng nhỏ như vậy vẫn có thể tồn tại, nhưng khi thịtrường được tự do hoá hơn, các ngân hàng lớn hơn có thể theo đuổi chiến lượcgiá luỹ tiến Lợi thế kinh tế theo quy mô lúc này cũng xuất hiện Khả năng dễxảy ra nhất là hai loại hình ngân hàng này sẽ sáp nhập vào nhau, và hình thànhmột ngân hàng lớn có thương hiệu quốc gia và hoạt động trên khắp toàn cầu,
và ngân hàng khu vực Những ngân hàng nằm ở mức giữa sẽ thấy rằng càngngày càng khó tồn tại
Các nước thành viên của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu trước đây đã nhanhchóng có sự thay đổi cơ cấu hệ thống ngân hàng theo hướng tư nhân hoá, sự đổ
vỡ của các ngân hàng lớn và sự cấp phép cho cấc ngân hàng mới hoạt động, cảđịa phương và nước ngoài .Trong bối cảnh đó, một ngân hàng hôm nay có thể
là thành viên dẫn đầu có thể ngày mai không còn vị trí này nữa Và vì các quyđịnh về hoạt động ngân hàng thường là vấn đề được chính trị hoá cao, việcđoán trước cơ cấu của thị trường ngân hàng gồm cả việc hiểu các tuyên ngônchính trị của các đảng phái chính trị đang cạnh tranh với nhau và khả năngnhững phe phái này nắm được quyền lực
7.3 Hiệu quả của Chính sách
Trang 24Vì ở thị trường phát triển, chúng tôi đánh giá khả năng các nhà làm luật biếtchắc được sự lành mạnh của các ngân hàng trong hệ thống và cũng như nănglực của ngân hàng và tính sẵn sàng can thiệp ngắn chặn các vấn đề này sinhthành khùng hoảng Điều này cũng liên quan tới việc đánh giá không chỉ là sựcạnh tranh của các nhà làm luật mà còn ảnh hưởng tới quyền lực mà họ đangnắm trong tay (Ngân hàng trung ương hiếm có đủ nguồn để vực dậy một ngânhàng – mà nguồn chủ yếu là từ Bộ Tài Chính, và Bộ này có những đặc quyềnkhác và có nhiều ảnh hưởng so với ngân hàng trung ương.)
Liên quan đến vấn đề cạnh tranh, một nhà phân tích luôn muốn biết ngân hàngtrung ương thường xuyên kiểm tra các ngân hàng thương mại tới mức nào Ví
dụ, nếu các nhà làm luật có chỉ có một nhúm nhân viên mà lại phải thanh tra 5Tháng 4/19990ngân hàng, thế thì chất lượng thanh tra khó có thể cao được nếu không có kiểmtoán độc lập xem lại báo cáo về các lĩnh vực hoạt động cụ thể của ngân hàng.Nhà phân tích sẽ cố gắng xem lại xem các nhà làm luật hiểu được đến mức nàomột số rủi ro phức tạp mà ngân hàng phải đối mặt Ví dụ, chúng tôi đã chứngkiến các trường hợp mà nhà làm luật bảo các ngân hàng thiết lập phòng quản lýrủi ro mà không có ý kiến rõ ràng là nhà làm luật muốn đánh giá các ngân hàngnhư thế nào Ở đây nguy hiểm ở chỗ các ngân hàng có thể lại trội hơn nhữngngười giám sát ngân hàng
Tính sẵn sàng và khả năng của các nhà làm luật ép buộc thi hành luật cũng lại
là một vấn đề quan trọng khác Chuyên gia phân tích nên hỏi các nhà làm luật
đã làm gì nếu họ phát hiện ra ngân hàng vi phạm các quy định mà họ đặt ra, vàliệu có ngân hàng nào bị đóng cửa không Đây là một lĩnh vực mà phạm vicông việc của chuyên gia phân tích ngân hàng sẽ tổ chức những cuộc họp giữacác ngân hàng với những nhà làm luật để cùng đọc các bài báo địa phương, vàliên lạc với những người như nhà báo, luật sư và nhà tư vấn Việc một ngânhàng nhỏ chỉ bị khiển trách rất nhẹ nhàng khi vi phạm các qui định này thì bảnthân việc đó dường như cũng chả có ý nghĩa gì Nhưng nếu một cổ đông lớntrong trong ngân hàng đó có quan hệ với một bộ trưởng trong chính phủ, thì sựviệc bắt đầu được nhìn nhận là có vấn đề Loại thông tin nguồn đó thường cầnphải hiểu được ý nghĩa thực sự của sự việc và hiếm khi được coi là thông tin cơbản
7.4 Đánh giá tầm quan trọng của Các tác động của Chính sách Của nước ngoài
Các thành viên bên ngoài, như Ngân hàng Thế giới hoạc Ngân hàng Phát triển
và Tái thiết Châu Âu (EBRD) có ảnh hưởng quan trọng tới định hướng của hệthống ngân hàng trong một nước, và ảnh hưởng tới việc các cơ quan quản lýnhà nước sẽ phản ứng thế nào khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng Ví dụ, khiđàm phán một gói tài trợ vói chính quyến Hàn Quốc, cả WB, IMF đều giãi bày
Trang 25mối lo lắng về cái gọi là nguy cơ “ỷ thế làm liều” (moral hazard) mà sẽ có hậuquả nếu tất cả các ngân hàng đều được hỗ trợ một cách rõ ràng, mặc dù chínhquyền Hàn Quốc rất muốn tiếp tục áp dụng chính sách cho dãn nợ và hỗ trợ để
mà tất cả các ngân hàng có thể được bảo vệ Những sự việc này như khủnghoảng ở Mexico năm 1995Tháng 4/1999, khủng hoảng Châu Á năm 1997/98 và việc vỡ nợcủa Nga tháng 8/1998 đã dẫn tới nhiều nhiều ý kiến về vấn đề hỗ trợ của nướcngoài cho các nến kinh tế gặp vấn đề Tiếp theo, đối với các chuyên gia phântích ngân hàng để hiểu được ưu tiên về chính sách của các định chế đa phương
và các nước như Mỹ là một vấn đề ngày càng quan trọng Những định chế này
sẽ quyết định trường hợp nào khoản hỗ trợ sẽ được mở rộng tới các nền kinh tếthị trường mới nổi và tới từng ngân hàng
7.5 Tính Minh Bạch
Những ngân hàng và hệ thống ngân hàng ở thị trường mới nổi có xu hướngkém minh bạch hơn so với các ngân hàng và hệ thống ngân hàng ở các thịtrường phát triển, và đó là lý do quan trọng giải thích vì sao các ngân hàng ởthị trương mới nỏi lại có định mức tín nhiệm thấp hơn Lưu ý rằng định mứctín nhiệm thấp hơn như vây không chỉ là sản phẩm của đầu óc bảo thủ của cácchuyên gia phân tích, mặc dầu điều đó cũng có một vai trò nhất định (khi thôngtin không hoàn hảo hoặc không đáng tin cậy thì phải thận trọng hơn thế thôi.Kém minh bạch trong thị trường ngân hàng trực tiếp dẫn tới nhiều vấn đề trong
hệ thống ngân hàng bởi vì ngân hàng trong thị trường đó phải ra quyết địnhkinh doanh dựa trên các thông tin không hoàn hảo hoặc không chính xác và dovậy họ dễ mắc phải việc ra quyết định sai lầm hơn
Cũng có trường hợp người ta cố tình không minh bạch để che đậy vấn đề - khi
mà mọt hệ thống tài chính hoặc một ngân hàng lành mạnh, các nhà làm luật có
xu hướng ca ngợi sự thật Khi mà nó không thế, thì họ thích che đậy nó hơn.Thiết minh bạch khiến các nhà quản lý phải ngừng giải quyết các vấn đề nảysinh và phải tiếp tục giả vờ như không có gì sai trái
Khi đánh giá tính minh bạch chúng ta xem xét hai vấn đề sau:
mức độ công khai hoạt động của một ngân hàng và nền kinh tế vĩ mô
tính đáng tin cậy của thông tin công bố (Đơn giản là đưa ra, nhưng nó cóthật không?)
Ở mức độ của từng ngân hàng, điều đầu tiên chúng tôi hỏi là liệu báo cáo củangân hàng có tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế hay không, bao gồm cảchuẩn mực về công bố các món nợ xấu, thị giá chứng khoán và giá trị hợp lýcủa các khoản đầu tư không định giá Chúng tôi cũng xem xét tính nhất quáncủa công tác kế toán, để mà có thể phân biệt được các xu hướng Chúng tôi
Trang 26quan tâm liệu chúng tôi xem ngân hàng đó có phân loại lại các khoản mục từnhững năm trước hay không và muốn hiểu xem tại sao lại như thế Các chuyêngia phân tích của Moody thường hỏi ý kiến cac chuyên gia kế toán trong nướcqui định kế toán hiện hành trong nước đó và liệu có lĩnh vực cụ thể nào màtheo quan điểm của họ, tính minh bạch là còn kém không.
Giai đoạn đầu tiên khi đánh giá khả năng tin cậy được của việc công bố củangân hàng là hỏi lại ý kiến kiểm toán trong Báo cáo Thường niên, và đánh giálại ý kiến kiểm toán Tình báo thị trường nên chỉ ra rằng liệu có kiểm toán viênnào có tai tiếng do không nghiêm khắc bằng các kiểm toán viên khác không.Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc kế toán trong nước cấu kết với một trongnhững công ty kiểm toán lớn của quốc tế thì tự bản thân nó đã toát lên việckhông đảm bảo nguyên tắc kiểm toán nghiêm túc Mặc dù tìn đồn và những lờiđàm tiếu trên thị trường không bao giờ là cơ sở phân tích, nó có thể cảnh báocho các chuyên gia phân tích những vấn đề có thể đã dược đàm phán giữa ngânhàng và những nhà làm luật rồi Không thể căng thẳng đến mức mà các chuyêngia phân tích thị trường mới nổi không thể chỉ dựa vào các thông tin do ngânhàng và các nhà làm luật cung cấp
Chúng tôi quan tâm liệu nếu chúng tôi thấy ngân hàng thường xuyên thay đổicông ty kiểm toán (trừ khi các nhà làm luật yêu cầu cứ vài năm phải thay đổicông ty kiểm toán) Một dấu hiệu cảnh báo khác là trường hợp ngân hàng loanbáo kết quả thường niên muộn hơn rất nhiều so với năm trước đó Sự chậm trễnày có thể do sự bất đồng giữa công ty kiểm toán và các nhà làm luật
Không thể căng thẳng đến mức mà các chuyên gia phân tích thị trường mới nổi không thể chỉ dựa vào các thông tin do ngân hàng và các nhà làm luật cung cấp.
Phần lớn các dấu hiệu cảnh báo này là bằng chứng cứ từ Báo cáo Thường niêncủa ngân hàng Không nên coi nhẹ giá trị của tất cả các cách đọc Báo cáothường niên của ngân hàng Cụ thể là, không nên tập trung quá vào những lưu
ý đầu tiên về những tài khoản ở ngay phần giới thiệu, ví dụ bao gồm cả lưu ývới dấu kiểm soát.Thêm vào việc trả lời câu hỏi cụ thể các chuyên gia phântích có thể có, Báo cáo Thường niên cũng cung cấp một chỉ báo tốt về thái độchung của cả ngân hàng về việc công khai
Chất lượng công bố quan trọng hơn cả số lượng Hệ thống ngân hàng Israel làmột ví dụ Báo cáo thường niên của các ngân hàng Israel thường dày khoảng
200 trang, khoản 100 trang chú thích cho các báo tài chính Tuy nhiên, chuyêngia phân tích ở nước ngoài muốn biết tỉ số nợ không hoạt động trên tổng nợcủa ngân hàng thì cũng là một điều khó thực hiện Chú thích cho các tài khoảnkhông chỉ rõ hết được tổng số nợ không hoạt động và tổng số nợ của ngân
Trang 27hàng Có thể lấy được số liệu nhưng sai sót trong đó cũng dễ mắc phải nếungười lấy số liệu không am hiểu về hệ thống ngân hàng của Israel Triết lý
đằng sau sự công bố thông tin của các ngân hàng Israel có vẻ là giống sự phân
loại hơn là sự giải thích Nợ không hoạt động được phân loại thành rất nhiều
loại khác nhau – đưa ra cách phân loại chi tiết hơn hẳn các cách phân loại màngười ta vẫn mong đợi Nhưng cũng chả ai nỗ lực nào nhằm củng cố lại mức
độ chi tiết đó thành loại tỷ số có ý nghía hơn cho chuyên gia phân tích sử dụng.Nếu các chuyên gia phân tích không tự bỏ sức ra làm, thì các con số không thểcho thấy liệu liệu bảng cân đối kế toán của công ty là mạnh hay yếu Hệ thốngnày được thiết kế vì lợi ích của các nhà làm luật (đặc quyền ưu tiên của họthường là phân loại) chứ không phải vì các chuyên gia phân tích tín dụng (ưutiên giải thích) Đây cũng thường là các trường hợp mà hệ thống ngân hàngtrước đây đã từng thuộc sở hữu nhà nước như kiểu Israel
Chất lượng công bố quan trọng hơn cả số lượng
Chúng tôi gắn tầm quan trọng riêng cho chất lượng của sự công bố, đối ngượcvới viêc nộp thông tin một cách bí mật cho các công ty định mức nhiệm hoặccác ngân hàng khác Thông tin công bố công khai là đối tượng xem xét vàtranh cãi của công chúng và do đó có thể chính xác hơn
7.6 Hệ thống Pháp luật
Hiểu được hệ thống pháp luật là một nhân tố quan trọng khi phân tích ngânhàng ở những thị trường mới nổi Một hệ thống pháp lý mà không thể đoánbiết được, không thể bắt buộc thi hành được, không hoàn hảo và tham nhũng sẽxoá sạch hiệu quả của tất cả các lĩnh vực khác trong xã hội Thêm vào đó cũng
có cách mà hệ thống pháp luật sai trái sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả hoạtđộng của ngân hàng
Vấn đề chính là liệu ngân hàng có chấp nhận mức bồi thường theo toà xửnhững người không trả nợ đúng hạn không Vấn đề không chỉ là liệu toà cóđứng về phía lợi ích của ngân hàng hay không; mà còn phải yêu cầu bắt buộcthi hành án (vì vậy nhà của con nợ phải được sang tên hoặc tịch thu tài sản) Vàngay cả nếu phán quyết và lệnh cưỡng chế là có thể, nếu toàn bộ quá trình phảimất nhiều năm, năm này qua năm khác, thì cũng chẳng đáng theo đuổi Mộtngân hàng mà biết rằng phải mất 5Tháng 4/1999 năm mới thu lại hết giá trị thế chấp từ mộtcon nợ dây dưa – thậm chí phán quyết của toà án đứng về phía ngân hàng – cókhi còn phải cắt đứt vụ đó chỉ cần thu lại một phần bằng đúng giá trị thực nợ
Và tất nhiên con nợ biết rằng ngân hàng sẽ phải đối mặt với lựa chọn đó
Ở một vài xã hội, người ta dường như còn đứng trên cả pháp luật Ở đây cácchuyên gia phân tích phải có kinh nghiệm hiểu biết về đất nước quan tâm, và
Trang 28cần phải trao đổi với người ở bên ngoài hệ thống ngân hàng đó Có một số khuvực trên thế giới mà hệ thống ngân hàng ở đó cứ khăng khăng rằng họ có thểkiện bất cứ con nợ nào ra toà, phán quyết của toà án đứng về lợi ích của họ - vàtuy nhiên điều quan trọng là ở đó chúng tôi (và cả họ) đều hiểu rằng điều đóđơn giản là không có thật.
Có một cách khác mà theo đó hệ thống pháp luật có mối liên hệ quan trọng với
hệ thống ngân hàng Chuyên gia phân tích nên hỏi xem liệu hệ thống pháp luậttạo điều kiện hay hạn chế sự phát triển của thị trường vốn Ở nhiều thị trườngmới nổi, những vấn đề như sự lệ thuộc/ đặc quyền đòi hỏi không có cơ sở rõràng trong luật Chứng khoán hoá, thế chấp và thậm chí sở hữu cổ phần côngchúng có thể yêu cầu thay đổi luật áp dụng trước khi chúng trở thành hiện thực
Ai cấp là là một ví dụ - vào đầu những năm 1990, Ai Cập bị chỉ trích vì kémphát triển chương trình tự do hoá kinh tế của nước này, và không thể phủ nhậnrằng mục tiêu của chính phủ về những vấn để như tư nhân hoá thường bị nhỡ.Nhưng một lĩnh vực mà có sự thay đổi đáng kể luật điều chỉnh thị trường vốn
Vì vậy ví dụ, luật ban hành được 40 năm về tỉ lệ lãi suất tối đa 7% của tráiphiéu địa phương đã bị huỷ bỏ Ngân hàng được phép quản lý quỹ đầu tư củamình Ngân hàng nước ngoài cũng được phép giao dịch bằng đồng nội tệ Nếunhư không có sự cải tiến hệ thống pháp luật, thì các hoạt động tài chính củachính phủ tại Ai Cập,sự phát triển sau này của thị trường vốn Ai Cập trongthập kỷ qua là không thể
có ngụ ý xấu rằng định mức tín nhiệm sức mạnh tài chính của ngân hàng chắcchẵn cũng thấp
Thuộc sở hữu công cũng giúp cho ngân hàng có một khả năng tiếp cận với việckinh doanh của chinh phủ Nó có thể giúp ngân hàng huy động được nhiều tiềngửi hơn từ các quỹ hưu trí của nhà nước và các cơ quan chính phủ khác Vấn
đề đối với các chuyên gia phân tích là liệu ngành kinh doanh này có lợi nhuậnkhông, liệu có thể duy trì như thế được không, và liệu bất cứ một hợp động béo
bở của chính phủ có thể chuyển từ ngân hàng cho một bên khác được không
Ví dụ, ngân hàng nông nghiệp quốc doanh có xu hướng độc quyền cho vay đối