1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề: Xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

39 251 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 258,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận việc xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị Khái niệm động cơ học tập và rèn luyện Đặc điểm động cơ học tập và rèn luyện Cấu trúc động cơ học tập và rèn luyện Sự hình thành động cơ học tập và rèn luyện Đặc điểm động cơ học tập và rèn luyện của học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục Vai trò của động cơ học tập và rèn luyện đối với học viên cao học Chuyên ngành Quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị. Thực trạng động cơ học tập và rèn luyện của học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị Giải pháp xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1.

Cơ sở lý luận việc xây dựng động cơ học tập

và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

7

1.1 Khái niệm động cơ học tập và rèn luyện 7

1.2 Đặc điểm động cơ học tập và rèn luyện 19

1.3 Cấu trúc động cơ học tập và rèn luyện 21

1.4 Sự hình thành động cơ học tập và rèn luyện 22

1.5 Đặc điểm động cơ học tập và rèn luyện của học

viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục 261.6

Vai trò của động cơ học tập và rèn luyện đốivới học viên cao học Chuyên ngành Quản lýgiáo dục ở Học viện Chính trị

28

1.7

Thực trạng động cơ học tập và rèn luyện củahọc viên cao học chuyên ngành Quản lý giáodục ở Học viện Chính trị

29

2.

Giải pháp xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

Trang 2

Học tập và rèn luyện là một trong những nội dung chủ yếu, cốt lõi đối vớihọc viên Học viện Chính trị nói chung và học viên Quản lý giáo dục nói riêng.

Là một người học viên, phải luôn có ý thức trau dồi khả năng nghiên cứu, họctập của mình, xác định rõ động cơ, mục đích phấn đấu, tham gia nhiều hoạt độnghọc tập và rèn luyện

Hoạt động học tập và rèn luyện của học viên Quản lý giáo dục không chỉthể hiện ở việc thực hiện tốt trách nhiệm, thể hiện tốt vai trò, mà còn năng độngtrong sáng tạo các hình thức học tập để vận dụng nhiều phương pháp hay, đạthiệu quả thiết thực Điều đó thể hiện đúng tinh thần của Nghị quyết số29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Tiếp tục thực

hiện chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Văn kiện Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định phương hướng: “Giáo dục

là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học…”.

Với những lý do đó, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị hiện nay’’ làm chuyên đề nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao

chất học tập và rèn luyện ở Học viện Chính trị

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên đề

* Mục tiêu của chuyên đề

Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựngđộng cơ học tập và rèn luyện của học viên cao học quản lý giáo dục; đề xuất một

Trang 3

số biện pháp cơ bản nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học viên caohọc chuyên ngành quản lý giáo dục tại Học viện Chính trị.

* Nhiệm vụ của chuyên đề

Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựngđộng cơ học tập và rèn luyện của học viên cao học quản lý giáo dục; đề xuất một

số biện pháp cơ bản nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học viên caohọc chuyên ngành quản lý giáo dục tại Học viện Chính trị

3 Đối tượng, phạm vi của chuyên đề

* Đối tượng của chuyên đề

Chuyên đề tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng động cơ học tập và rènluyện cho học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục

* Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu động cơ học tập và rèn luyện của học viên Chuyên ngành Quản

lý giáo dục

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của chuyên đề

* Cơ sở phương pháp luận

Chuyên đề dựa trên khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của động cơ học tập vàluyện Từ đó luận giải về động cơ học tập và rèn luyện đối với học viên cao họcChuyên ngành quản lý giáo dục

* Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó chú trọng cácphương pháp: quan sát khoa học, phương pháp điều tra, phương pháp phân tích -tổng hợp… rút ra kết luận

5 Đóng góp mới về khoa học của chuyên đề

Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xây dựng động cơhọc tập và rèn luyện của học viên cao học quản lý giáo dục và giải pháp xây

Trang 4

dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành Quản lýgiáo dục ở Học viện Chính trị

6 Ý nghĩa nghiên cứu của chuyên đề

Chuyên đề khẳng định tính đúng đắn lý luận và thực tiễn về xây dựng động

cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục ởHọc viện Chính trị

Làm cơ sở để cùng các lực lượng liên quan trong Nhà trường nâng cao hiệuquả xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngànhQuản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

Thông qua nghiên cứu và thực hiện đề tài sẽ góp phần nâng cao hiểu biết,khả năng tư duy và rút ra những kinh nghiệm cho nhóm tác giả

7 Kết cấu của chuyên đề

Chuyên đề gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, mục lục, danh mục tàiliệu tham khảo

Trang 5

1 Cơ sở lý luận việc xây dựng động cơ học tập và rèn luyện cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục ở Học viện Chính trị

1.1 Khái niệm động cơ học tập và rèn luyện

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về vấn đề

Động cơ là một hiện tượng tâm lý đặc biệt và hết sức phức tạp Chính vìvậy, đã có khá nhiều tác giả, các nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâmnghiên cứu Các nghiên cứu tâm lý học về động cơ, một mặt nhằm vào việc hoànthiện lý luận về động cơ nói chung, mặt khác hướng vào phân tích các động cơ cụthể, trong đó có động cơ học tập và rèn luyện

a Các nghiên cứu ở nước ngoài

* Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Phương Tây

Ngay từ đầu, các nhà tâm lý học Phương Tây đã chú ý đến hiện tượng tâm lý thúc đẩy hành vi con người và đưa đến những lý thuyết khác nhau về động cơ

Trường phái phân tâm học, đứng đầu là S Freud (1856 - 1939), đã tuyệt đốihoá vai trò của bản năng, coi đó là động lực cơ bản của hành vi con người Trongcuốn "Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục", Freud đã khẳng định khái niệm căn bản

"libiđô" và cho rằng đây là một số năng lượng gần như cố định, vốn có ở tất cả các

cá nhân, liên hệ chủ yếu với bản năng tính dục của họ Năng lượng "libiđô" là cănnguyên, cội nguồn của mọi hành vi con người Điều này, đúng như ý kiến củaDavid Stafford - Clark: "Ba tiểu luận" đã mang lại cơ sở "giải thích nhu cầu dồnnén và nguồn năng lượng xúc cảm nằm bên dưới những vận động và những ứng

xử có ý thức và vô thức, mà Freud gọi năng lượng ấy là libiđô"

Năm 1920, trong tác phẩm " Mặt bên kia của nguyên tắc thoả mãn" và sau đónăm 1923, trong cuốn " Tôi và nó ", Freud đã trình bày mô hình nhân cách với cấutrúc ba bộ phận: '' cái nó " (id), " cái tôi " (ego) và " siêu tôi " (Superego) Trong ba

bộ phận này, " cái nó ", hay nói cách khác, yếu tố bản năng là cội nguồn căn bảnnhất thúc đẩy mọi hoạt động của con người Lý luận về nhân cách của Freud đượcxây dựng trên cơ sở hai tiền đề Thứ nhất, mọi hành vi của con người được thúcđẩy và điều khiển bởi bản năng tình dục và bản năng xâm khích Thứ hai, ý thứcchỉ tham gia rất ít vào quá trình điều chỉnh hành vi Điều này cho thấy, Freud đã

Trang 6

xem xét con người nói chung và vấn đề động cơ nói riêng dưới góc độ sinh vậtthuần tuý mà chưa chú ý đến bản chất xã hội của nó.

Sau này, "con người sinh vật, bản năng" đã được các đại biểu của chủ nghĩaFreud mới cải tiến thêm một bước A.Adler(1870 - 1937), đã đưa ra ý kiến thay thếyếu tố bản năng tình dục bằng yếu tố quyền lực Theo đó "động lực cơ bản củahành vi con người là ý chí quyền lực, ý chí hùng mạnh" Thực ra, quan niệm nàycũng không khác gì mấy so với quan niệm của Freud vì " ý chí quyền lực " lại đượcxem như một năng lực bẩm sinh, một sức mạnh bản năng

Một số ý kiến khác trong trường phái phân tâm học mới như ý kiến củaR.Horney, E.Fromm đã bắt đầu chú ý đến sự ảnh hưởng của xã hội tới hành vi củacon người nhưng trong cách giải thích của họ thì yếu tố bản năng vẫn còn bộc lộvai trò chủ đạo đối với việc thúc đẩy hành vi con người

Trường phái tâm lý học hành vi, đại biểu là J Watson (1878 - 1958), ngay

từ đầu đã tuyên bố dứt khoát rằng, phải lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu.Thuyết hành vi cổ điển (J.Watson), do chủ trương đi tìm mô hình động cơ vànhững quy luật của nó trong việc nghiên cứu động vật và sử dụng những kết quảthu được để giải thích hành vi con người đã đưa đến lý giải hành vi con ngườitheo công thức S -R (Kích thích phản ứng), nghĩa là: cứ kích thích vào cơ thể thì

sẽ tạo ra hành vi, phản ứng nhất định Như vậy, hành vi chỉ còn lại là các cử độngnhư một cái máy đáp ứng lại kích thích của môi trường; đồng thời, tính tích cực,tính chủ thể của con người sống thực đã bị tước bỏ Điều này dẫn đến kết luận:Không cần thiết phải nghiên cứu động cơ

Có thể nói, thuyết hành vi cổ điển chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề động

cơ, yếu tố bên trong thúc đẩy hoạt động mà mới chỉ quan tâm đến các sự kiện, các biểuhiện bên ngoài của hành vi như những phản ứng đáp lại kích thích của môi trường Một số người đã cải biên lý thuyết hành vi cổ điển của J.Watson dẫn đếnchủ nghĩa hành vi mới (E.Tolman, K Hull, B.F S Kinner) Chủ nghĩa hành vi mớimuốn nghiên cứu khâu trung gian giữa S và R mà chủ nghĩa hành vi cổ điển đã bỏqua Các tác giả này cho rằng, yếu tố trung gian bao gồm ý định, chương trình, hìnhảnh, tri thức, kỹ xảo Tuy nhiên, cái qui định động cơ vẫn là những kích thích vật

Trang 7

Năm 1932, E.Tolman đã đưa ra khái niệm những ham thích Những hamthích thứ nhất thúc đẩy hành động nhằm thoả mãn những nhu cầu bản năng, sinhvật của con người như : ăn, nghỉ, bài tiết, khiếp sợ Những ham thích thứ hai lànhững kích thích sinh ra từ hoàn cảnh xã hội như tính tò mò, tính bắt chước, lòng tựtrọng Mặc dù E.Tolman đã cố gắng đưa các khái niệm"ham thích","nhu cầu bẩmsinh", "kích thích cơ thể" để giải quyết vấn đề động cơ song kết cục là không pháthiện ra cấu trúc phạm vi động cơ, không chỉ ra được những hệ thống động cơ phứctạp của chúng Có thể nói rằng, chủ nghĩa hành vi mới, tuy chưa giải thích đượcthấu đáo về vấn đề động cơ nhưng đã để lại một bước tiến trong lịch sử về việcnghiên cứu hiện tượng tâm lý này.

Dòng phái tâm lý học Nhân văn: Đại biểu nổi nhất của dòng phái này là

Abraham Maslow(1907-1970) và Carl Rogers (1900) Các tác giả này lấy nhâncách làm đối tượng nghiên cứu của mình, với điểm xuất phát xem nhân cách như làmột hệ thống trọn vẹn, với "cái tôi" vốn có, bẩm sinh

Abraham Maslow, trong thuyết "tự khẳng định", đã cho rằng "động lực chínhcủa nhân cách là mong muốn trở thành cái mà nó có thể thực hiện bằng tất cả khảnăng, ý chí của mình"[Dẫn theo 32, tr 14] Ông đã xây dựng hệ thống thứ bậc nhucầu gồm: Nhóm các nhu cầu tự khẳng định, tự thể hiện ; nhóm các nhu cầu tâm lýnhư nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu giao lưu và nhóm các nhu cầu cơ sở như nhu cầu

an toàn, nhu cầu sinh lý Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ bậc, trật tự.A.Maslow coi nhu cầu "tự khẳng định" là nhu cầu có vị trí cao nhất, có tính quyếtđịnh đến thái độ, hành vi con người; các nhu cầu về sinh lý là các nhu cầu bậc dưới.Tác giả này đã thừa nhận, động cơ thúc đẩy hoạt động của nhân cách gắn liền vớiviệc thoả mãn nhu cầu bậc trên và nhu cầu bậc dưới của con người Điểm nổi bậttrong lý thuyết của A.Maslow là đã tìm ra mối quan hệ gắn bó giữa động cơ và nhucầu Điều này có ý nghĩa lớn cho việc tìm hiểu về động cơ hoạt động của con người

Trường phái tâm lý học Gestalt: Tâm lý học Gestalt ra đời vào khoảng

năm1913 do M.Wertheimer (1880-1943), V.Kohler (1887-1967) và K.Koffka(1886-1941) xây dựng nên Trường phái này chủ yếu nghiên cứu tri giác và các quiluật của nó, và ngoài ra còn nghiên cứu một phần về tư duy

Trang 8

K.Lewin, một trong những đại biểu của dòng tâm lý học này đã chú ý nhiềuhơn đến vấn đề nhân cách, vấn đề hoạt động và trạng thái xúc động, vấn đề động

cơ Ông và các cộng sự đã lấy khái niệm "trường tâm lý " để làm cơ sở nghiên cứutâm lý người, trong đó có lĩnh vực động cơ

A.Kraten, H.Hoppe và B.Barker đã tiến hành nhiều thực nghiệm nghiên cứuviệc hình thành những động cơ thúc đẩy con người hành động trong những điềukiện khác nhau và bước đầu đưa ra cách lý giải về cơ sở năng động của hành vi, vềnhững trạng thái căng thẳng cũng như sự ảnh hưởng của nó đến tính chất của động

cơ con người Tuy vậy, các tác giả này đã xem xét động cơ một cách phiến diện ởchỗ : Hiểu tâm lý như một trường lực nào đó và tất cả mọi sự thay đổi của động cơchỉ là quan hệ tác động của trường lực bên trong Điều này dẫn đến quan niệm khôngthừa nhận tác động của thế giới bên ngoài đối với nhân cách, phủ nhận tác động củathế giới bên ngoài trong việc hình thành động cơ

Tóm lại, các nhà tâm lý học Phương Tây đã có nhiều quan niệm về nguồn

gốc và hệ thống những động lực thúc đẩy, định hướng hoạt động của con người.Mặc dù cách lý giải khác nhau song các tác giả đều thừa nhận rằng, hoạt động củacon người phải do những động lực thúc đẩy và hướng tới những mục đích nhất địnhtrong cuộc sống Đây là đóng góp đáng trân trọng trong lĩnh vực nghiên cứu động

cơ của con người Tuy nhiên, các nhà tâm lý học Phương Tây, khi xác định bảnchất của động cơ, phần lớn đã nghiêng về bản năng sinh vật, quan niệm về động cơcòn bó hẹp trong năng lượng thuần tuý vốn có của con người Đó là cách nhìnthiếu khoa học, chưa vạch ra được bản chất xã hội đích thực của động cơ

* Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết

Vấn đề động cơ trong tâm lý học Mác - xít được giải quyết trên cơ sở triếthọc chứa đựng trong các luận điểm của C.Mác và Ph Ăngghen về vấn đề conngười và động lực thúc đẩy hoạt động của con người

C.Mác, khi phê phán tính trừu tượng, duy tâm của Phoi ơ bắc trong việc lýgiải bản chất của con người, đã nêu lên luận điểm : "Bản chất của con người khôngphải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của

nó bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội " Điều này cho thấy,nghiên cứu động cơ của con người, phải xuất phát từ con người có thực, con người

Trang 9

trong những điều kiện xã hội lịch sử, con người hoạt động , phải vạch ra được bảnchất xã hội của động cơ.

Xoay quanh vấn đề cái gì thúc đẩy con người hoạt động, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong lịch sử triết học đã có sự hiều lầm tai hại Nhiều người đã ngộnhận, cái thúc đẩy con người hoạt động là tư duy, là nhận thức của họ Thực rakhông như vậy Cái thúc đẩy con người hoạt động không phải là ý thức, là tư duyhay nhận thức của họ mà là nhu cầu Ph.Ăng ghen đã giải thích vấn đề này nhưsau: "đáng lẽ phải giải thích hoạt động từ nhu cầu của mình( những nhu cầu đó tấtnhiên đã được phản ánh vào đầu óc người ta và đã làm cho họ ý thức về những nhucầu đó) thì người ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình, vàchính vì thế dần dần xuất hiện thế giới quan duy tâm"

Các luận điểm triết học trên được vận dụng vào các công trình nghiên cứucủa L.X Vưgôtxki, A.N.Lêônchiev cũng như nhiều nhà tâm lý học khác nhưX.L.Rubinstêin, A.V.Pêtrôvxki, A.R.Luria, B.F.Lomov, V.G.Axêev, V.N.Miasisev,P.A.Ru Đich, N.Đ.Lêvitov, V.A.Kruchetxki và đưa đến những phát hiện khoahọc về động cơ của con người

B F Lomov, trong tác phẩm " Những vấn đề lý luận và phương pháp luậncủa tâm lý học", đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của động cơ trong nhâncách cũng như tính chất phức tạp của quá trình hình thành động cơ Theo ông, động

cơ của con người hình thành không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ trực tiếp giữacon người với nhau mà còn " hình thành dưới tác động sâu sắc của đời sống tư

tưởng xã hội: hệ tư tưởng, chính trị, đạo đức, luật pháp, thẩm mỹ ".

A N Lêônchiev, trong cuốn " hoạt động, ý thức, nhân cách" đã cho rằng,động cơ là thành phần tất yếu trong cấu trúc của hoạt động, có tác dụng kích thích,thúc đẩy hoạt động Tác giả thừa nhận: " Không có hoạt động nào không có độngcơ; hoạt động " không động cơ" không phải là hoạt động thiếu động cơ mà là hoạt

động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan".

X L Rubinstêin, khi nghiên cứu về lĩnh vực động cơ, đã nhận xét: Động cơ

là yếu tố thúc đẩy và định hướng cá nhân tích cực tham gia vào các quá trình xã hộikhác nhau, làm cho nhân cách có khuynh hướng năng động, tức là thể hiện mặthoạt động của nó

Trang 10

P A Ru Đich, tác giả chủ biên cuốn "Tâm lý học" (1974), đã có khá nhiềucông trình nghiên cứu về động cơ Ông quan tâm đến các dạng động cơ cụ thể nhưđộng cơ lao động, động cơ của hành vi ý chí, động cơ hoạt động thể thao Ru Đichkhẳng định tầm quan trọng của động cơ mang ý nghĩa xã hội khi ông viết: "Cáichiếm vị trí lớn trong các động cơ hoạt động của con người là khát vọng đạt được

sự đánh giá có tính chất xã hội đối với hoạt động của mình"

Bên cạnh những nghiên cứu về động cơ nói chung, vấn đề động cơ học tập

và rèn luyện cũng đã được một số tác giả bàn đến

Tác giả N Đ Lêvitov cho rằng, động cơ học tập và rèn luyện có ý nghĩa lớnđối với việc hình thành nhân cách và việc tự quyết định đường đời của thanh niên.Hứng thú, năng lực và mức độ chuẩn bị đối với nghề đã chọn, nguyện vọng muốnđược rèn luyện trong công tác là những động cơ cá nhân bên trong Đồng thời,những lời khuyên, tấm gương của người khác cũng như những lý do có tính chấtsinh hoạt và vật chất là những động cơ bên ngoài của việc chọn nghề Khi chọnnghề thì xu hướng xã hội thường kết hợp với các yếu tố cá nhân như hứng thú vớimột công việc hoặc nhận thấy mình có năng lực về lĩnh vực hoạt động nào đó

b Các nghiên cứu ở trong nước

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện các nghiên cứu về động cơdựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của tâm lý học Mác-xít Các công trìnhnghiên cứu về động cơ thuộc các lĩnh vực hoạt động khác nhau có chiều hướngtăng về số lượng và ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và ý nghĩa của nóđối với đời sống xã hội Có thể điểm qua một số công trình sau:

Thứ nhất, những nghiên cứu về động cơ nói chung:

TS Lê Hương, trong bài "Cấu trúc động cơ của con người" đã cho rằng:

"Trong cấu trúc động cơ của con người ít nhất có thể có hai thành phần, hai khíacạnh khác nhau: khía cạnh nội dung và khía cạnh lực"

PGS TS Mạc Văn Trang, khi bàn đến động cơ đã khẳng định, động cơ chính

là cái vì nó mà người ta hoạt động

Trang 11

GS TS Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: "Nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giớiquan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách, chúng làđộng lực của hành vi, của hoạt động".

Thứ hai, những nghiên cứu về động cơ chính trị - đạo đức:

Phạm Thị Hưng Trinh, có bài "Động cơ hoạt động tự quản ở trẻ em 9 tuổitrường thực nghiệm Giảng Võ"

Phạm Thị Nguyệt Lãng, có công trình "Cơ sở tâm lý học của việc hình thànhđộng cơ vì xã hội ở học sinh cấp III" ( Luận án TS Tâm lý học)

Các tác giả này đã cho rằng, muốn rèn luyện nhân cách tốt cho học sinh, phảihình thành, phát triển động cơ đúng đắn Đó là động cơ mang tính chất xã hội như :không vụ lợi, biết vì người khác

GS TS Nguyễn Ngọc Phú đã có các công trình: "Động cơ hành vi kỷ luật vàvấn đề rèn luyện tính kỷ luật ở đội ngũ sĩ quan trẻ", "Một số vấn đề lý luận và thựctiễn về kỷ luật quân sự " Các nghiên cứu này đã đi sâu làm rõ vai trò, biểu hiệncũng như các yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến động cơ hành vi kỷ luật Tác giảkhẳng định: "Động cơ hành vi kỷ luật là các động lực bên trong thúc đẩy quân nhânhành động tuân theo các đòi hỏi của điều lệnh, điều lệ quân sự, mệnh lệnh chỉ thịcủa cấp trên, pháp luật của nhà nước Động cơ hành vi kỷ luật là cơ sở trực tiếpcủa hành vi có kỷ luật của quân nhân và là một thành phần quan trọng nhất trongcấu trúc tâm lý của tính kỷ luật"

Thứ ba, những nghiên cứu về động cơ trong hoạt động dạy học

Nội dung này đã được nhiều tác giả đề cập Phạm Thị Đức với bài "Về phạmtrù động cơ học tập của học sinh trong giai đoạn hiện nay" (Tạp chí NCGD số 4 -1994); Đào Thị Oanh: "Một số đặc điểm động cơ học tập ở học sinh lớp chuyêntrường THCS" (Tạp chí NCGD số 12 - 1997); Bùi Văn Huệ và Lý Minh Tiên: " Tìmhiểu đặc điểm động cơ giải bài tập của học sinh" ( Kỷ yếu Hội nghị Tâm lý học lần

Trang 12

VI - 1982); Nguyễn Ngọc Phú, trong cuốn "Tâm lý học sư phạm quân sự" (2001), đãtrình bày các nghiên cứu về động cơ hoạt động dạy, động cơ hoạt động học

Nhìn chung các tác giả trên đây đều cho rằng, động cơ hoạt động dạy và hoạtđộng học là thành tố chủ yếu của hoạt động dạy - học, là cái vì nó mà giáo viên vàhọc sinh tích cực tham gia vào hoạt động này

Lê Văn Hồng, tác giả chủ biên cuốn " Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sưphạm" đã cho rằng: Động cơ học tập của học sinh được hiện thân ở đối tượng củahoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực

mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ Có hai loại động cơ thúc đẩy học sinh học tập lànhững động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội

Thứ tư, những nghiên cứu về động cơ nghề nghiệp:

Đây cũng là phạm vi nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm Nguyễn ánh

Tuyết trong bài "Nguyện vọng chọn nghề của học sinh lớp 10" đã nêu lên nhận xét:Trong số 75% học sinh là con em nông dân thì chỉ có 8% thích nông nghiệp Điềunày cho thấy, hầu hết học sinh cấp III đều có nguyện vọng muốn thoát ly khỏi nôngthôn, thoát ly khỏi nông nghiệp

Nguyễn Ngọc Bích, trong "Động cơ lựa chọn nghề nghiệp của thanh thiếuniên", đã cho rằng: Việc quyết định đối với nghề nghiệp nào đó đòi hỏi ở thanhthiếu niên phải tích cực tham gia vào thế giới lao động, nhìn thấy những tiền đề củamình đối với lao động Ở thanh niên học sinh, động cơ bên trong nổi bật hơn động

cơ bên ngoài Sự lựa chọn nghề giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt đáng kể

GS Phạm Tất Dong, trong cuốn "Nghề nghiệp tương lai" đã nêu lên một sốvấn đề như: Nghề nghiệp và vấn đề lựa chọn nghề nghiệp; hứng thú và năng lựcnghề nghiệp; những lời khuyên, những hiểu biết khi chọn nghề

Tác giả Đào Lan Hương, trong "Bước đầu tìm hiểu thái độ nghề nghiệp củagiáo viên tâm lý - giáo dục ở một số trường sư phạm Hà Nội" ( Luận văn thạc sĩ -1985), đã đi từ quan niệm của A N Lêônchiev và B F Lomov về động cơ để đưa ra

Trang 13

khái niệm " động cơ nghề nghiệp" Theo tác giả, "xét động cơ nghề sư phạm ta phảixét đến lý do chọn nghề của giáo viên" Bước đầu, nghiên cứu cũng đã chỉ ra các mặttrong cấu trúc động cơ nghề sư phạm.

Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến, trong "Tìm hiểu động cơ chọn nghề của sinhviên cao đẳng sư phạm Đà Lạt - Lâm Đồng" ( Luận văn thạc sĩ - 1998), đã đi đếnkết luận: Động cơ chủ đạo thúc đẩy sinh viên vào học nghề dạy học tại trườngCĐSP Đà Lạt là để có việc làm khi ra trường Các động cơ khác thì được xếp ở vịtrí kế tiếp hoặc thứ yếu

Nguyễn Xuân Bính có bài "Phân tích động cơ nghề nghiệp ở học sinh" Theo tácgiả, bất kỳ hoạt động nào cũng do nhiều động cơ thúc đẩy trong sự liên hệ nhau theo thứbậc Hướng kết hợp giữa các động cơ quyết định hình thức hoạt động chủ đạo

Tác giả Trần Trọng Thuỷ có bài "Sự sẵn sàng tâm lý đối với hoạt động nghềnghiệp của sinh viên sư phạm"

Lê Nhị Hà và Nguyễn Quang Uẩn có nghiên cứu "Tìm hiểu sự sẵn sàng tâm

lý của sinh viên sư phạm đối với hoạt động của người giáo viên"

Phạm Thị Ngọc Anh và Đỗ Thị Hoà có nghiên cứu "Nguyện vọng học nghềcủa học sinh phổ thông và các yếu tố ảnh hưởng đến nguyện vọng đó" Các tác giảnày đã nêu lên rằng, đa số học sinh đều có nguyện vọng học tiếp để có trình độ vănhoá cao chứ không muốn đi học nghề ngay Ở một số em học sinh còn chưa hìnhthành nguyện vọng nghề nghiệp Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số yếu tố kháchquan và chủ quan ảnh hưởng đến nguyện vọng nghề nghiệp như phẩm chất tâm lý,yếu tố gia đình, ảnh hưởng của hệ thống thông tin xã hội

Tác giả Trần Trọng Thuỷ, trong cuốn "Tâm lý học lao động" đã cho rằng:Việc chọn nghề là rất quan trọng và khó khăn nên về phía cá nhân người chọn nghềphải có sự suy nghĩ chín chắn, tự giác và về phía xã hội cần có sự định hướng nghềnghiệp cho thanh niên sao cho kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: Năng lực,nguyện vọng cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội

Trang 14

Cũng có một số luận án tiến sĩ tâm lý học đề cập đến động cơ nghề nghiệpnhư là một thành phần của xu hướng nghề nghiệp Chẳng hạn, Hoàng Văn Thanhvới luận án: " Cơ sở tâm lý học của việc hình thành xu hướng nghề nghiệp quân sựcho học viên sĩ quan Tăng - Thiết giáp trong điều kiện hiện nay"; Chu ThanhPhong: " Cơ sở tâm lý của việc củng cố, phát triển xu hướng nghề nghiệp quân sựcho phi công tiêm kích thuộc lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam hiện nay";

Đỗ Mạnh Tôn: " Nghiên cứu sự thích ứng đối với học tập và rèn luyện của học viêncác trường sĩ quan quân đội"

Tóm lại, lĩnh vực động cơ, vốn là vấn đề phức tạp trong tâm lý học song đã

trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các nghiên cứu củacác tác giả nước ngoài về động cơ và động cơ nghề nghiệp đã đạt được nhiều thànhtựu, đặc biệt là những phát hiện và đóng góp của các nhà tâm lý học Xô Viết

Ở trong nước, các nghiên cứu về động cơ là khá phong phú, phản ánh sự chú

ý của các nhà nghiên cứu trong việc khám phá, giải thích hiện tượng tâm lý này.Nhìn chung, những kết quả đạt được của các nghiên cứu về động cơ trên đây là cơ sởtốt để chúng tôi kế thừa quá trình nghiên cứu chuyên đề

1.1.2 Khái niệm về động cơ

Với ý nghĩa chung nhất, động cơ là một cấu trúc khi được kích hoạt mộtcách hợp lý nó sẽ vận hành và tạo ra kết quả từ sự vận hành đó

Đây là cách tiếp cận theo quan điểm cấu trúc - hệ thống, từ cách tiếp cậnnày chúng ta có thể phân biệt hai loại động cơ cơ bản: Động cơ cơ học và động

cơ sinh học Hai loại động cơ này tuy có nguyên tắc hoạt động tương đối giốngnhau nhưng có hai cơ chế hoạt động và hai hệ thống cấu trúc khác nhau:

- Động cơ cơ học theo cơ chế kích hoạt - vận hành ( các loại động cơ chạybằng năng lượng khác nhau thì có cách kích hoạt khác nhau) Cấu trúc động cơthuộc dạng vật thể, có định hình ( bánh răng, thanh chuyền…)

Trang 15

- Động cơ sinh học theo cơ chế kích thích - phản ứng (khác với cơ chếphản xạ đơn thuần và chỉ có ở động vật có hệ thần kinh cấp cao, bộ óc pháttriển) Cấu trúc động cơ thuộc dạng phi vật thể, không định hình, chỉ định tính(bao gồm các thuộc tính tâm lý riêng - cá nhân cấu thành).

Đối với con người là sinh vật bậc cao, có ý thức, động cơ hoạt động củangười là một dạng thức đặc thù có cơ chế phức tạp như sơ đồ sau:

Qua sơ đồ trên, ta thấy hai cơ chế hoạt động có một số nét giống nhau Điểmkhác nhau cơ bản là ở cơ chế của động cơ cơ học, vai trò trung gian của động lựcđược thể hiện rất rõ nét Trong cơ chế động cơ hoạt động của người, động cơ tácđộng trực tiếp lên hành vi không qua trung gian Như vậy, động cơ bao hàm cảđộng lực hay nói cách khác động lực tiềm ẩn trong hoạt động của động cơ

1.1.3 Khái niệm về động cơ học tập và rèn luyện

Hoạt động của người rất đa dạng như hoạt động sản xuất, hoạt động chínhtrị, hoạt động học tập…nhưng mỗi hoạt động đều có một đối tượng hoạt động riêngnhất định, đó là cái cần chiếm lĩnh thông qua hoạt động Thí dụ lương thực, thựcphẩm là đối tượng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, thơ là đối tượng hoạt độngsáng tác của thi sĩ, tri thức là đối tượng hoạt động học tập của người học

Dù ở bất kỳ hoạt động nào, con người cũng cần có động lực thúc đẩy để hoạtđộng được liên tục và đạt kết quả mong muốn tức là phải có động cơ hoạt động

Trang 16

Động cơ hoạt động chính là nguyên nhân làm cho các hoạt động của con ngườiđược duy trì và thúc đẩy thường xuyên, liên tục.

Về khái niệm động cơ, theo từ điển tiếng Việt thì: "Động cơ là cái chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động"

Theo Jean Piaget (1896-1980) - một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ "Động cơ

là tất cả những yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó".

Đây cũng chính là định nghĩa cho động cơ hoạt động của người Động cơhoạt động là yếu tố cơ bản quyết định kết quả của hoạt động

Với các khái niệm dẫn dắt như trên, ta có thể suy ra "Động cơ học tập vàrèn luyện là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập,rèn luyện liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhâncách và hướng tới mục đích học tập đã đề ra"

Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu và động cơ học tập và rèn luyện.

Trang 17

1.2 Đặc điểm động cơ học tập và rèn luyện

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, rèn luyện của người học,trong đó động cơ học tập và rèn luyện là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nhất Động cơhọc tập và rèn luyện là những động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy tính tích cựchoạt động của con người C Mác đã khẳng định: “Con người ta sẽ không làm bất

cứ điều gì, nếu nó không liên quan đến nhu cầu, động cơ của họ…” Vì vậy, xâydựng động cơ học tập và rèn luyện đúng đắn cho học viên cao học quản lý giáo dụchiện nay có một ý nghĩa quan trọng, nhằm nâng cao tính tích cực học tập của họcviên, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu giáo dục - đào tạo, nghiên cứukhoa học của Học viện, của Quân đội trong tình hình mới

Động cơ học tập và rèn luyện của học viên là những nội dung với tư cách làđộng lực thúc đẩy, định hướng hoạt động học tập, rèn luyện của người học trongquá trình đào tạo, nhằm thoả mãn những nhu cầu khác nhau ở mỗi cá nhân Hệthống động cơ học tập và rèn luyện của học viên bao gồm: Động cơ chính trị đạođức, chuyên môn nghề nghiệp, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Mỗi động cơ có

vị trí, vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó:

Động cơ chính trị - đạo đức mang tính xã hội sâu sắc nhằm đạt tới mục đíchbảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ chính trị xã hội Đây là động cơ thúc đẩy người họctìm tòi, nhận thức được các yêu cầu xã hội, những giá trị thực tiễn của nghề nghiệpquân sự, đặc biệt trong tình hình hiện nay Động cơ chính trị - đạo đức khi đượchình thành ở học viên không chỉ thúc đẩy, định hướng toàn bộ hệ thống hành vi,thái độ tích cực đối với hoạt động học tập, rèn luyện, mà còn góp phần hình thành,phát triển bản lĩnh chính trị, phát triển ý thức trách nhiệm đối với quân đội, Tổquốc, nhân dân của người sĩ quan làm công tác quản lý giáo dục trong tương lai Vìvậy, đây là động cơ nền tảng, giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống động cơ hoạt độnghọc tập của người học viên

Trang 18

Động cơ chuyên môn nghề nghiệp là động lực thúc đẩy tính tích cực của họcviên trong việc tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vàcác phẩm chất của người sĩ quan chỉ huy theo mục tiêu yêu cầu đào tạo của Họcviện Đây là động cơ trực tiếp thúc đẩy hoạt động học tập và rèn luyện của ngườihọc, nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi nghề nghiệp quân sự Xây dựng động cơchuyên môn nghề nghiệp đúng đắn là cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo,đồng thời chống được những biểu hiện tiêu cực trong học tập, rèn luyện của họcviên ở Học viện Chính trị hiện nay như học vì thành tích, vì lợi ích cá nhân… nhưvậy sẽ không phản ánh thực chất chất lượng đào tạo cũng như khả năng hoạt độngnghề nghiệp sau khi ra trường ở từng cương vị công tác trong toàn quân.

Động cơ lợi ích vật chất được nảy sinh từ các nhu cầu về vật chất trong hoạtđộng lao động quân sự Nghề nghiệp quân sự là một lĩnh vực hoạt động lao độngđặc thù, sự hy sinh đổ máu cũng như sức lao động của người quân nhân không thểtính bằng tiền, bằng vật chất, nhưng vẫn cần được đáp ứng các nhu cầu về vật chất

để đảm bảo cho cuộc sống và hoạt động của họ Do đó, quan tâm thoả mãn nhữngnhu cầu về lợi ích vật chất của người học trong quá trình đào tạo cũng như bảo đảmcác điều kiện vật chất cho đội ngũ học viên là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy tínhtích cực học tập, rèn luyện nâng cao chất lượng đào tạo cũng như hiệu quả hoạtđộng của người sĩ

Động cơ lợi ích tinh thần nảy sinh từ nhu cầu tinh thần của cá nhân như: vịthế xã hội của nghề nghiệp quân sự, quyền lợi chính trị của người sĩ quan, tự khẳngđịnh mình, truyền thống quân đội, truyền thống gia đình, quê hương Động cơ lợiích tinh thần thường chịu sự chi phối của động cơ chính trị - đạo đức Động cơ lợiích tinh thần lành mạnh tạo cơ sở tích cực cho hoạt động học tập của người họcviên, ngược lại nếu xuất phát từ những lợi ích tinh thần tiêu cực, ích kỷ, cá nhânchủ nghĩa sẽ tác động trở lại làm giảm tính tích cực của động cơ chính trị - đạo đức

Trang 19

Xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học viên là quá trình giúp người học địnhhướng đúng đắn trong quá trình học tập, rèn luyện tại Học viện Trong quá trìnhđào tạo, trên cơ sở những tác động sư phạm làm cho học viên nhận thức, chuyểnhoá những mục tiêu, yêu cầu đào tạo ở Học viện thành những động lực thúc đẩyhoạt động tích cực học tập, rèn luyện, hoàn thành tốt nhất nội dung, chương trìnhđào tạo đề ra Giải quyết vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằmthiết lập cơ sở khoa học để xác định nội dung, phương pháp tác động giáo dục,huấn luyện, hình thành phẩm chất nhân cách người sĩ quan quản lý giáo dục tươnglai một cách có hiệu quả.

1.3 Cấu trúc động cơ học tập và rèn luyện

Trên cơ sở phân tích cơ chế hoạt động của động cơ học tập và rèn luyện, có thểphân định cấu trúc của động cơ học tập và rèn luyện gồm 4 yếu tố cơ bản như:

Sở thích: Là mong muốn của cá nhân nhằm đạt được một kết quả nào đó

và là một thuộc tính tâm lý tương đối bền vững Trong môi trường học tập và rènluyện, sở thích cần được nâng lên thành lý tưởng, ước mơ và biến thành mụcđích, nhu cầu học tập của cá nhân Sở thích sau khi được nâng lên, cụ thể hóathành mục đích học tập và rèn luyện sẽ là một thành tố quan trọng, cốt lõi trongcấu trúc động cơ học tập và rèn luyện của học viên

Năng lực: Là năng lực học tập, đó là khả năng chiếm lĩnh tri thức và các

kỹ năng cần thiết trong học tập, rèn luyện Đối với học viên, đó là kiến thức nềntảng, các kỹ năng cơ bản, hướng nghiêp Đối với học viên, đó là kiến thức bậccao, kỹ năng chuyên ngành Năng lực là yếu tố làm cho học viên tự tin, có quyếttâm vươn lên hướng tới mục tiêu, mục đích học tập, thỏa mãn nhu cầu học tập.Năng lực học tập là tiền đề cho kết quả học tập Quá trình học tập cũng là quátrình học viên rèn luyện năng lực hiện tại của bản thân tiếp cận dần đến năng lựctương lai cần đạt Trong cấu trúc của động cơ học tập, năng lực học tập có vaitrò làm cho động cơ học tập hoạt động có chất lượng, hiệu quả

Ngày đăng: 01/05/2020, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. V.G.A xê ep, Động cơ hành vi và sự hình thành nhân cách, Nxb Tư tưởng, Matxcơva, tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động cơ hành vi và sự hình thành nhân cách
Nhà XB: Nxb Tư tưởng
2. Nguyễn Xuân Bính, Phân tích động cơ nghề nghiệp ở học sinh( Kỷ yếu Hội nghị Tâm lý học toàn quốc lần thứ 6, Hà Nội ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếuHội nghị Tâm lý học toàn quốc lần thứ 6
3. Phạm Tất Dong, Sự lựa chọn tương lai, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lựa chọn tương lai
Nhà XB: Nxb Thanh niên
4. Phạm Tất Dong, Nghề nghiệp tương lai, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp tương lai
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Đại Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Đại Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1998
7. A.K. Marcôva, Hệ động cơ hoạt động học tập của học sinh. Tạp chí“Những vấn đề tâm lý học”, số 3-1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tâm lý học
8. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội
9. Hồ Chí Minh, Về vấn đề học tập, Nxb Sự thật - Hà Nội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề học tập
Nhà XB: Nxb Sự thật - Hà Nội
10. Hồ Chí Minh, Bàn về công tác giáo dục, Nxb Sự thật - Hà Nội,1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác giáo dục
Nhà XB: Nxb Sự thật - Hà Nội
11. Lại Ngọc Hải (Chủ biên - 2002), Định hướng giá trị nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ QĐNDVN hiện nay, Nxb QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nhân cách đội ngũsĩ quan trẻ QĐNDVN hiện nay
Nhà XB: Nxb QĐND
12. Ngô Công Hoàn, Những trắc nghiệm tâm lý, tập 2; Nxb ĐHQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trắc nghiệm tâm lý
Nhà XB: Nxb ĐHQG. Hà Nội
13. Lê Hương, Cấu trúc động cơ của con người (Tạp chí tâm lý học số 6-2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tâm lý học số 6-2002
14. Đào Lan Hương, Bước đầu tìm hiểu thái độ nghề nghiệp của giáo viên tâm lý - giáo dục ở một số trường sư phạm Hà Nội (Luận văn thạc sĩ tâm lý học, 1985) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu thái độ nghề nghiệp của giáo viên tâmlý - giáo dục ở một số trường sư phạm Hà Nội
16. Học viện Chính trị quân sự, Giáo dục học quân sự, Nxb QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học quân sự
Nhà XB: Nxb QĐND
17. Học viện Chính trị quân sự, Tâm lý học, những cơ sở lý luận và phương pháp luận.18. E.A.Klimov, Nay đi học mai làm gì, ĐHSPI HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học, những cơ sở lý luận và phươngpháp luận".18. E.A.Klimov, "Nay đi học mai làm gì
18. A.N.Lêônchiev, Hoạt động, ý thức, nhân cách, Nxb GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, ý thức, nhân cách
Nhà XB: Nxb GD Hà Nội
19. B. Ph. Lômov (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của Tâm lý học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận củaTâm lý học
Tác giả: B. Ph. Lômov
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
20. C. Mác và Ph. Ăng ghen, toàn tập, tập 20, Nxb CTQG Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
21. C. Mác và Ph. Ăng ghen, tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w