Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung đặc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI CÁC TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ : TRẦN HỮU HIỆU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Hữu Hiệu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Viện Đại học Mở Hà Nội và của TS Nguyễn Triều Dương, tôi đã thực hiện đề tài:“Thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại các Tòa án
mình
Để hoàn thành công trình này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn trực tiếp TS Nguyễn Triều Dương, đã tận tình hướng dẫn tôi, kể từ khi hình thành ý tưởng đến khi luận văn được hoàn thiện; tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy cô trong trường Viện Đại học Mở Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô Khoa Sau đại học đã luôn quan tâm và có những nhắc nhở kịp thời để tôi có thể hoàn thiện luận văn đúng thời hạn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Tuy nhiên, do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, lần đầu tiên tôi thực hiện nghiên cứu một đề tài có tính chuyên sâu nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Hữu Hiệu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và những đóng góp của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤPKINH DOANH THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 7
1.1.1 Khái niệm thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 7
1.1.2 Ý nghĩa của việc ghi nhận và quy định trong luật thực định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 17 1.2 Cơ sở của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại 18
1.2.1 Cơ sở lý luận 18
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại 21
1.3.1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật 21
Trang 51.3.2 Trình độ hiểu biết pháp luật của người dân 22
1.3 3 Trách nhiệm và sự trợ giúp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân 23
1.3.4 Trách nhiệm, sự trợ giúp của Tòa án 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
Chương 2 26
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC 26
VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 26
2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại 26
2.1.1 Quy định của pháp luật về chủ thể cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại 26
2.1.3 Quy định của pháp luật về thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại. 42
2.1.4 Quy định của pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại. 50
2.2 Một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
Chương 3 60
THỰC TIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ 60
VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 60
3.1 Thực tiễn thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương 60
3.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội và cơ cấu, tổ chức của các Tòa án nhân dân của tỉnh Hải Dương 60
3.1.2 Tình hình thụ lý các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Tòa án nhân dân của tỉnh Hải Dương 61
3.1.3 Tình hình thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Tòa án nhân dân tỉnh
Trang 63.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ
và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại 66
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh 66
3.2.2 Đầy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân 67
3.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân 68
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng………70
3.2.5 Thúc đẩy công tác đàm phán, ký Hiệp định song phương và tham gia vào một số công ước đa phương về tương trợ tư pháp……….71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
KẾT LUẬN CHUNG 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự TTDS Tố tụng dân sự
TAND Tòa án nhân dân TNHH Trách nhiệm hữu hạn KDTM Kinh doanh thương mại
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp thì những xung đột về lợi ích giữa các cá nhân với nhau, giữa các cá nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân với nhau càng phức tạp về nội dung và gay gắt về mức độ Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh doanh, thương mại thì các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại xảy ra càng nhiều, đó là quy luật tất yếu khách quan Tính chất và nội dung của các quan hệ kinh doanh thương mại tác động mạnh
mẽ đến tranh chấp kinh doanh thương mại Sự phát triển của nền kinh tế cũng hình thành những phương thức giải quyết tranh chấp Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa
vụ của các bên Một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thuận lợi, minh bạch là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế Thực tiễn cho thấy, khi các bên tranh chấp kinh doanh thương mại không thể tự thương lượng hoặc qua hòa giải hoặc trọng tài
để giải quyết tranh chấp thì việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là biện pháp tối ưu
Trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp KDTM nói riêng, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh là rất quan trọng,
nó có vai trò quyết định đến việc giải quyết đúng đắn các vụ án tranh chấp, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hôi chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan Ở Việt Nam hiện nay, trình tự giải quyết vụ án tranh chấp dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng đều được quy định chung trong Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015 đã có những quy định cụ thể về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh Tuy nhiên,thực tiễn
áp dụngpháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh để giải quyết, xét xử các vụ án KDTM cho thấy còn nhiều vướng mắc, bất cập Đó là các quy định về nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự và việc
Trang 9thực hiện nguyên tắc này trên thực tế; các quy định về chủ thể có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, trình tự thủ tục cung cấp chứng cứ và việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết các tranh chấp nói chung trong đó có tranh chấp về KDTM Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung đặc biệt là trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM để từ
đó đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật là hết sức cần thiết
Tự những sự phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Thủ tục cung
cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến vấn đề thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (TTDS) nói chung và trong giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng Trước khi Bộ
luật tố tụng dân sự (BLTTDS) được ban hành, có bài "Đánh giá chứng cứtrong một
vụkiệnđòi nợ " của tác giả Tạ Ngọc Hải, Tạp chí TAND, số 1 năm 1990; bài "Nghĩa
vụcung cấp chứng cứvà nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự" của tác giả
Phan Hữu Thư, Tạp chíDân chủ và pháp luật, số 9/1998; luận văn thạc sĩ "Chứng
cứvà hoạtđộngchứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả VũTrọng
Hiếu, năm 1998;bài "Đánh giá toàn bộchứng cứmới tìm ra bản chất sựviệc" của tác giả Duy Kiên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1/2000; bài "Xácđịnhđịa vịtốtụng
củađương sự và đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự" của tác giả Nguyễn
ThếGiai,Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000; luận văn thạc sĩ "Vềviệc cung cấp
và thu thập chứng cứ trong giai đoạn giải quyết vụ kiện dân sự theo thủ tục sơ thẩm " của tác giả Nguyễn Minh Hằng, năm 2003; bài "Chứng cứ và chứng minh
trong tố tụng dân sự" của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh, Tạp chí Luật học, số đặc
Trang 10bài "Một vài suy nghĩvềvấnđềchứng cứvà chứng minhđược quyđịnhtrong Bộ luật tố
tụng dân sự" của tác giả Tưởng Duy Lượng,đăng trên Tạp chíTAND, tháng 10 năm
2004; bài "Những nguyên tắc tốtụng dân sự đặc trưngtrong Bộ luật Tố tụng dân
sự", của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh,đăng trên Tạp chíKiểm sát, số tháng 2 năm
2005; luận văn "Chứng cứvà chứng minh trong tốtụng dân sự theo quy định của
pháp luật Việt Nam " của tác giả Lê ThịGiang Yên,năm 2005; luận án "Chế định
chứng minh trong tốtụng dân sựViệt Nam", của tác giả Nguyễn Minh Hằng, năm
2007; sách chuyên khảo "Hoạtđộng chứngminh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam" của Tiến sĩNguyễn Minh Hằng do Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính xuất
bản năm 2009; bài "Thu thậpchứng cứ và chứng minh theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự", của tác giả Tưởng Duy
Lượng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 12/2011 v.v
Ở góc độ nghiên cứu về hoạt động giải quyết các tranh chấp KDTM cũng đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:Giải quyếttranh chấp kinh
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
kinh doanh theoBộ luật Tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành
(Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Phápluật số 6/2005); Giải quyết tranh chấp
năm 2003) Các luận án tiếnsỹ như luận án “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh
“Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ việc KDTM theo pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Tiến Một số luận văn thạc sĩ liên quanđến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM
như: “Mộtsố giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
của tác giả Vũ Quốc Hùng…
Trang 11Có thể thấy về vấn đề thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và giải quyết các vụ án tranh chấp về KDTM nói riêng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu cụ thể, toàn diện về vấn đề thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các tranh chấp KDTM, cũng như nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn cụ thể là tỉnh Hải Dương Do đó, việc tác giả chọn vấn đề nghiên cứu trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM qua thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, qua đó đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp KDTM và thủtục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM;
- Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp KDTM nói riêng
- Đánh giá được ưu điểm và hạn chế, bất cập của quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp KDTM
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các tranh chấp
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các quy phạm pháp luật hiệnhành
liên quan trực tiếp đến vấn đề thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các tranh chấp KDTM mà chủ yếu là quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 và những văn bản pháp luật có liên quan
thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM thông qua thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương trong phạm vi
05 năm (2012 -2016)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra, các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và những đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn, xác định những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM Tác giả của luận văn với mong muốn đây là công trình nghiên cứu có ít nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động giảng dạy pháp lý cũng như tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật
về giải quyết tranh chấp KDTM
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại
Trang 13Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại
Chương 3: Thực tiễn thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Tòa án nhân dântỉnh Hải Dương và một số kiến nghị
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN
TRANH CHẤPKINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Những bất đồng, mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên chúng được phân loại theo tiêu chí của ngành luật đó Tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại Khái niệm kinh doanh được nêu tại khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm
về hoạt động thương mại tương đối giản đơn nhưng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định:Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 gọi chung là
Trang 15hoạt động kinh doanh, thương mại và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế
mà dùng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt
kê đầy đủ hơn các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của TAND
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ gọi chung là trong hoạt động KDTM
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể điều hòa thì tranh chấp mới xảy ra
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thương mại thì giáo trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm về tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các họat động thương mại.1
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một
số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng
Như vậy, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại Và có thể định nghĩa một cách ngắn gọn
Trang 16đối với tranh chấp KDTM như sau: Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM
Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên có thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc điểm pháp lý sau:
KDTM Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM thường là thương nhân
(cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau
bên trong mối quan hệ cụ thể Về bản chất, các quan hệ KDTMchính là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm:
Tranh chấp về mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; kí gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kĩ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
Tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Trang 17Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ… (được gọi chung là các hoạt động KDTM) Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do đó các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay
từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở
sự nhanh chóng, ít tốn kém và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ hội kinh doanh của họ
Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM là các quy định điều chỉnh quy trình tiến hành giải quyết các tranh chấp KDTM, bao gồm các quy trình từ khi
có tranh chấp đến khi quá trình giải quyết tranh chấp hoàn thiện
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là quá trình phân xử
để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm Việc giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền lợi hợp pháp
bị bên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết Kết quả giải quyết tranh chấp KDTM là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người đứng ra giải quyết tranh chấp
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án,cụ thể là giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM.Giải quyết các tranh chấp KDTM bằng Tòa án là việc các bên thông qua Tòa án có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp giữa họ với nhau trên cơ sở các quy định của pháp luật
Trang 18Việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng Tòa án có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, việc giải quyết các tranh chấp chỉ được tiến hành trên cơ sở thực hiện các quy định pháp luật về mặt nội dung và hình thức một cách chặt chẽ;
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp thương mại được tiến hành một cách công khai trừ một số trường hợp đặc biết theo quy định của pháp luật;
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp thương mại có thể được tiến hành qua nhiều giai đoạn xét xử;
Theo từ điển tiếng Việt, “thủ tục” là “công việc giấy mà tuần tự phải làm
theo phép”2 Theo nghĩa thông thường, thủ tục được hiểu là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất bao gồm các nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn
Trong một vụ án dân sựnói chung, vụ án tranh chấp KDTM nói riêng luôn chứa đựng những mâu thuẫn giữa các bên đương sự Để giải quyết được vụ án dân
sự thì mọi vấn đề của vụ án dù bên nào nêu ra cũng đều phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ án đó Nhưng để giải quyết được vụ án dân sự đúng pháp luật, khách quan thì những chủ thể tham gia tố tụng và Tòa án cần phải chứng minh được những tình tiết trong vụ án là “có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý
Trang 19
lẽ”3 Do chứng minh là hoạt động có tính chất chi phối kết quả giải quyết vụ án dân
sự của Tòa án nên có nội hàm rất rộng Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy rõ là có thật, là đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định Do vậy, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh trong tố tụng dân sự cũng rất đa dạng Nhưng
để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp luật và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự Quá trình chứng minh được diễn ra xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án Hoạt động chứng minh trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng Trong đó, hoạt động thu thập, giao nộp, tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của các chủ thể mang tính quyết định Do đó, chứng minh thường được hiểu theo nghĩa là hoạt động thu thập, giao nộp, cung cấp chứng cứ, xác minh chứng cứ, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh.Nhưng hoạt động chứng minh không chỉ dừng lại ở đó mà nó còn là việc chỉ ra cơ sở pháp lý đối với yêu cầu của đương sự Như vậy, chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ án
Trong các vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng được Tòa án giải quyết có rất nhiều tình tiết, sự kiện mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó Những tình tiết, sự kiện này thường xảy ra trước khi có đơn khởi kiện đến Tòa án nhưng để giải quyết được vụ việc dân sự vẫn phải làm rõ chúng Trong mối liên quan chung và qua lại giữa các tình tiết, sự kiện, không tình tiết sự kiện nào xảy ra trên thực tế lại không có mối liên hệ với các tình tiết, sự kiện khác; không tình tiết, sự kiện nào xảy ra lại không để lại tin tức, dấu vết Tin tức, dấu vết của một tình tiết, sự kiện có thể được ghi lại trong trí nhớ của những người trực tiếp chứng kiến tình tiết, sự kiện hoặc để lại dấu vết trên các tài liệu, đồ vật Do vậy,
Trang 20mặc dù chúng đã xảy ra trước khi có đơn kiện đến Tòa án người ta vẫn có thể biết
về chúng Để xác định được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Tòa án phải nghe lời trình bầy của đương sự, người làm chứng là những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến và xem xét các tài liệu, đồ vật có chứa đựng các tin tức, dấu vết, sự kiện
Trong tố tụng dân sự, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức nhất định do Tòa án sử dụng làm
cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được gọi là chứng cứ Do vậy, nếu hiểu theo nghĩa chung, chứng cứ là cái có thật mà căn cứ vào đó để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Các hoạt động tố tụng cung cấp, giao nộp, xem xét, đánh giá và sử dụng chứng cứ thường bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau Để đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự được đúng đắn thì các hoạt động tố tụng này phải được pháp luật quy định đầy đủ và chặt chẽ Từ đó, chứng cứ được định nghĩa như sau: Chứng cứ là cái có thật, được xác định theo một trình tự do luật định Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự
Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự Song để mọi người có thể nhận thức được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, đĩa ghi hình Từ điều này, trên thực tế thường có cách hiểu chứng cứ trong vụ việc dân sự
là những phương tiện phản ánh lại chúng như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi
âm, ghi hình đó Như vậy, ở đây đã coi là chứng cứ cả những sự kiện dựa vào đó Tòa án xác định các tình tiết của vụ việc dân sự và những phương tiện phục vụ cho việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Nếu suy cho cùng những phương tiện đó chẳng qua là chỉ hình thức biểu hiện bên ngoài của chứng cứ Để giải quyết được vụ việc dân sự, Tòa án phải căn cứ vào những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được phản ánh trong các phương tiện đó nên nó mới là chứng cứ
Trang 21Chứng cứ và chứng minh là hai khái niệm khác nhau Chứng cứ là cơ sở, căn
cứ cho hoạt động chứng minh Không thể có hoạt động chứng minh hay nói cách khác, không thể chứng minh được nếu như không có chứng cứ
Nguyên tắc cơ bản của TTDS là đương sự đưa ra yêu cầu sẽ phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Yêu cầu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp, bị đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ
có cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho việc bác bỏ đó là có căn
cứ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đồng thời với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thì đương sự sẽ phải chịu hậu quả pháp lý Hậu quả pháp lý này là việc được Tòa án công nhận quyền và lợi ích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Ngược lại sẽ phải chịu hậu quả bất lợi khi không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc yêu cầu của người khác đối với mình Để đương sự thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình thì đương sự
có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Do mô hình tố tụng dân sự của Việt Nam là kết hợp giữ tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng nên Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ Tòa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự Khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp không đủ cơ sở giải quyết thì Tòa án yêu cầu các đương sự cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ Trường hợp các đương sự không thể cung cấp được các chứng cứ và
có yêu cầu thì theo quy định của BLTTDS Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý chứng cứ giao nộp chứng cứ
Trang 22cho Tòa án Sau khi có các chứng cứ, thì Tòa án phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trước khi sử dụng
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về thu thập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng
Theo tác giả Tưởng Duy Lượng, “Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự,
cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụng các biện pháp để thu thập”4 Đề cập ở phạm vi rộng vàkhái quát hơn tác giả Nguyễn Minh Hằng cho rằng: “Hoạt động thu thập chứng cứ được hiểu là hoạt động tố tụng dân
sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật
tố tụng dân sự quy định”5
So sánh hai quan điểm trên thấy rằng các tác giả đều có những điểm chung
về khái niệm thu thập chứng cứ, đó là: Thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng dân
sự của các chủ thể chứng minh; được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật
tố tụng dân sự quy định Tuy nhiên khái niệm thu thập chứng cứ của tác giả Tưởng Duy Lượng đưa ra trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 theo đó chỉ
có cơ quan tiến hành tố tụng mới có hoạt động thu thập chứng cứ Bộ luật tố tụng
2004 quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhưng không phải trường hợp nào đương sự cũng có ngay chứng cứ mà để có chứng cứ giao nộp, thì đương sự phải thực hiện việc thu thập Chính vì vậy, Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015 đã quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật
4 Tưởng Duy Lượng (2005), “Chứng cứ và chứng minh – Sự thay đổi nhận thức trong Pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Đặc san Nghề Luật, (10), Hà Nội.tr.12
5Nguyễn Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sựViệt Nam, Luận án
tiến sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Hà Nội.tr.164
Trang 23Hà Nội thì “Thu thập chứng cứ là việcphát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa
vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự” Kháiniệm này đã đề cập đến được bản chất của biện pháp thu thập chứng cứ cũng như mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ nhằm để “nghiên cứu”, “đánh giá và sử dụng” trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Tuy nhiên, khái niệm trên chưalàm nổi bật lên được vấn đề chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ
và trình tự, thủ tục tiến hành thu thập chứng cứ Bởi lẽ chứng cứ phải được thu thập thông qua việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng như điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định mới có giá trị pháp lý và được sử dụng vào việc giải quyết vụ án
Như vậy có thể hiểu:Thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minhtrong giải
quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại là cách thức, trình tự mà chủ thể
có nghĩa vụ cung cấp và chứng minh thực hiện việc thu thập, giao nộp, cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng nhằm bảo đảm việc giải quyết đúng đắn các tranh chấp kinh doanh thương mại
Thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM được quy định chung trong BLTTDS Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm riêng của quan hệ tranh chấp KDTM nên thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM có những đặc điểm riêng sau đây:
giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM là các cá nhân, tổ chức kinh doanh nên thường trình độ hiểu biết pháp luật và có sự trợ giúp pháp lý tốt hơn; các chủ thể thường cung cấp được nhiều tài liệu chứng cứ ban đầu;
lớn do các quan hệ kinh doanh thương mại thường đan xen với nhau;
Thứ ba, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM thực hiện thường phức tạp hơn vì vụ việc lớn có giá trị cao; tình tiết phức tạp, thường phải có ý kiến của cơ quan hưu quan…
Trang 24Thứ tư, theo quy định của BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp KDTM ngắn hơn thời hạn giải quyết vụ án dân sự khác
1.1.2 Ý nghĩa của việc ghi nhận và quy định trong luật thực định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
- Đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án:
Trong thực tiễn việc giải quyết các vụ án KDTM của Tòa án hiện nay thì tỷ
lệ số vụ việc dân sự được giải quyết hoàn toàn dựa vào chứng cứ và việc tự chứng minh của các đương sự là không nhiều, trong phần lớn các vụ ánTòa án đều thực hiện việc xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật Việc pháp luật TTDS quy địnhcho Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi thỏa mãn những điều kiện nhất định sẽ có tác dụng to lớn trong việc xây dựng hồ sơ vụ việc, củng cố các chứng cứ quan trọng của vụ việc dân sự phải giải quyết, Tòa án sẽ có thêm cơ sở, căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc, công tác xét xử của Tòa án thông qua đó được khách quan chính xác
và triệt để hơn
- Đối với với việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì việc pháp luật quy định các đương sự có quyền yêu cầu Toà án hỗ trợ thu thập chứng cứ khi đương sự tự mình không thể thực hiện được là rất cần thiết Hiện nay BLTTDS quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự
là một nguyên tắc trong tố tụng dân sự Tuy nhiên BLTTS chưa quy định tạo ra được cơ chế để các bên đương sự có thể làm tốt nghĩa vụ chứng minh của mình, đặc biệt là những khó khăn đương sự gặp phải trong quá trình thu thập chứng cứ Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trước Tòa án Vì vậy, tạo ra cơ chế bảo đảm được đương sự thu thập được chứng cứ
và sự hỗ trợ của Tòa án đối với các đương sự thu thập chứng cứ trong một số trường hợp sẽ có tác dụng giúp các đương sự thực hiện được nghĩa vụ chứng minh để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 25- Đối với xã hội:
Hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của các chủ thể mà trong đó Tòa án là cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp có chức năng xét
xử để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho các quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại phát triển Việc pháp luật ghi nhận thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự và các chủ thể khác trong đó giúp Tòa án giải quyết đúng đắn, kịp thời các tranh chấp kinh doanh thương mại góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh lạnh mạnh
1.2 Cơ sở của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các
vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
1.2.1 Cơ sở lý luận
Tố tụng dân sự Việt Nam thể hiện rõ nét tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án, trên cơ sở hồ sơ này
để giải quyết vụ án Quá trình cung cấp, giao nộp chứng cứ và xác minh thu thập chứng cứ cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ vụ án dân sự Do vậy, hồ sơ vụ án dân sự là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giải quyết vụ án
Trước hết, đương sự là người trong cuộc vì vậy đương sự là người trực tiếp đang lưu giữ các tài liệu chứng cứ và biết rõ các tài liệu chứng cứ có thể chứng minh cho quyền lợi của minh Vì vậy, đương sự hoặc người đại diện của đương sự
sẽ phải thực hiện việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ
Ngoàiviệc phải đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, công bằng đúng pháp luật,Tòa án còn phải có trách nhiệm giải quyết vụ án tranh chấp KDTM đúng thời hạn luật định Tòa án là cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá toàn bộ chứng
cứ để giải quyết đúng đắn vụ án, việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn khách quan,toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy
Trang 26đủ, đúng pháp luật hay không Trách nhiệm của Tòa án là phải đảm bảo trong hồ sơ
vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án
Do vậy, mặc dù ghi nhận nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ án, nhưng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự thì Tòa án phải xác định xem trong vụ việc dân sự phải chứng minh làm rõ những vấn đề gì? Các tài liệu, chứng cứ do đương sự và người tham gia tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ việc dân sự chưa? Cần phải thu thập bổ sung những tài liệu chứng cứ nào? Vì vậy mặc dù đề cao vai trò chứng minh của đương sự nhưng cần phải nhận thức rằng trong điều kiện của nước ta hiện nay thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn giữ vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng
Thẩm phán là người trực tiếp thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, là người tiếp xúc, nghiên cứu, trực tiếp đánh giá các chứng cứ, tiếp xúc với các đương sự, nghe các đương sự trình bày yêu cầu cũng như lý lẽ chứng minh của mình Từ đó bằng sự hiểu biết pháp luật và nghiệp vụ của mình, Thẩm phán hiểu rõ những vấn đề khúc mắc cần làm rõ trong vụ việc để yêu cầu đương sự hoặc tự mình chủ động thu thập, xác minh chứng cứ theo quy định Do vậy, hiệu quả chứng minh sẽ cao hơn, tránh tình trạng thu thập chứng cứ tràn lan, không trọng tâm dẫn đến chứng cứ thu thập không có giá trị chứng minh
Tòa án là cơ quan tư pháp thực hiện vai trò là cơ quan bảo vệ công lý,do vậy hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ giúp Tòa án thực hiện vai trò bảo vệ công lý của mình.Trong nhà nước pháp quyền, Tòa án luôn là người đại diện
và người thực thi công lý Vấn đề thực thi công lý của Tòa án gắn liền với việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân Tòa án Việt nam ngoài nhiệm vụ xét xử các vụ án theo quy định của pháp luật, thì trong phạm vi chức năng của mình, Tòa
án có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo
vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng tài sản, danh dự nhân phẩm của công dân Trong vụ án dân sự nói chung, vụ án tranh chấp KDTM nói riêng thường quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, lợi ích của các bên
Trang 27đương sự thường đối lập nhau nên sẽ có việc bên nguyên đơn cung cấp chứng cứ gây bất lợi cho bị đơn và ngược lại Hành vi này nhiều khi làm sai lệch một vụ án nếu Tòa án không công tâm, nếu không có các biện pháp thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ chính xác, khách quan Vì vậy, việc quy định thủ tục cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ là để giúp cho đuơng sự và các chủ thể chứng minh thực hiện được vai trò bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý.Khi có tranh chấp không tự hòa giải được, người dân phải tìm đến Tòa án để được phân giải đúng sai, khi có vi phạm thì Tòa án là nơi cuối cùng để xử lý trách nhiệm trên cơ sở công lý Quá trình yêu cầu Tòa án thực thi công lý chính là quá trình tiếp cận công lý của công dân Quá trình đó bắt đầu từ nhu cầu được tiếp cận công lý và kết thúc là phán quyết và thực hiện phán quyết của Tòa án Để tiếp cận được với công lý, người dân phải được biết và có khả năng để biết công lý nằm ở đâu,đến với công lý bằng con đường nào và với phương tiện gì.Như vậy, những quy định về thủ tục cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tạo điều kiện để người dân biết được để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong TTDS của mình, tạo điều kiện cho để Tòa án tìm ra sự thật khách quan, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự công bằng, thuyết phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Với đặc thù lànước có nền kinh tế đang phát triển, mặt bằng kinh tế của người dân nói chung còn thấp, sự hiểu biết và tiếp cận pháp luật còn có nhiều hạn chế, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên mặc dù việc sửa đổi pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian qua ở Việt Namđã đề cao vai trò cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự, nhưng thực tế đương sự chưa thể thực hiện tốt vai trò này Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung, Tòa án vẫn phải chủ độngthu thập, xác minh chứng cứ rất nhiều trên cơ sở quy định của BLTTDS Sở dĩ như vậy vì nếu đương sự tự mình thu thập toàn bộ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì sẽ gặp khó khăn do bản thân họ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, không xác định được chứng cứ nào cần
Trang 28cơ quan tổ chức quản lý nếu để đương sự tự thu thập sẽ có nhiều trở ngại Mặt khác đội ngũ Luật sư, trợ giúp viên pháp lý ở nước ta còn thiếu nhiều và chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã Do vậy, phần lớn các đương sự không có khả năng kinh tế sẽ khó tìm được sự hỗ trợ về mặt pháp lý trong quá tố tụng cung cấp chứng
cứ cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình Trong khi đó điều kiện kinh tế xã hội của nước ta chưa cho phép chúng ta quy định việc tham gia tố tụng của Luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự sẽ dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Pháp luật quy định thủ tục để đương sự thu thập, cung cấp giao nộp chứng
cứ, các biện pháp Tòa án thu thập chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại là rất cần thiết, nó xuất phát từ thực tiễn về điều kiện kinh tế
xã hội, trình độ dân trí nước ta Căn cứ vào yêu cầu của các đương sự, Tòa án ra các quyết định thu thập chứng cứ để hỗ trợ các đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình
Nghiên cứu và đánh giá chứng cứ là các hoạt động của Tòa án trong quá trình chứng minh trong tố tụng dân sự Sau quá trình cung cấp, thu thập chứng cứ thì hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án đóng vai trò quyết định trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự Kết quả của việc nghiên cứu chứng cứ, đánh giá chứng cứ giúp Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án
1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
Việc thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh là cơ sở quan trọng trong việc bảo đảm giải quyết đúng đắn các tranh chấp dân sự nói chung và vụ án tranh chấp KDTM nói riêng Tuy nhiên, việc thực hiện có hiệu quả hay không các thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau:
1.3.1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Như chúng ta đã biết các quy định của pháp luật tạo ra “hành lang” cho các
chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Trang 29Hệ thống quy phạm pháp luật quy định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM có nhiệm vụ chỉ ra cách thức, trình tự các bước và thủ tục để các chủ thể tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập, giao nộp, cung cấp chứng cứ và chứng minh để giải quyết vụ án Nếu hệ thống quy phạm pháp luật đó đồng bộ, phù hợp với thực tiễn thì tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình một cách thuận lợi, kịp thời góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, đảm bảo tiến độ, thời hạn quy định của pháp luật và đạt được chất lượng giải quyết tranh chấp, phán quyết của Tòa án đảm bảo quy định của pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tranh chấp trong vụ án Ngược lại, nếu hệ thống quy phạm pháp luật đó thiếu đồng
bộ, không phù họp với thực tiễn thì sẽ gây khó khăn, vướng mắc cho các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự và các chủ thể tiến hành tố tụng khó có thể thực hiện được một cách toàn diện, khách quan dẫn đến chất lượng chứng cứ không đảm bảo, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng giải quyết vụ án Hệ thống quy phạm pháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh không đồng bộ và không phù hợp với thực tiễn cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực, lợi ích cá nhân,
“chạy”,làm thay đổi bản chất vụ án, dẫn đến sai sót trong phán quyết giải quyết các
vụ án tranh chấp KDTM, ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của Tòa án - biểu tượng của công lý
1.3.2 Trình độ hiểu biết pháp luật của người dân
Có hệ thống pháp luật về trình tự, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án tranh chấp KDTM hoàn thiện, đồng bộ là yếu tố mang tính tiên quyết đảm bảo thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án KDTM Tuy nhiên yếu tố quan trọng để thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong thực tế là chủ thể thực hiện thủ tục, trước hết là người dân, đương sự trong vụ án Nếu đương sự có trình độ nhận thức pháp luật tốt, nắm rõ quy định của pháp luật về trình tự thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh
Trang 30luật định thì chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án sẽ được thu thập đầy đủ, kịp thời, hợp pháp; việc chứng minh, làm rõ những tình tiết cần giải quyết trong vụ
án sẽ nhanh chóng, đầy đủ, khách quan; phán quyết của Tòa án sẽ đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Trong vụ
án tranh chấp KDTM các chủ thể tham gia tố tụng thường là thương nhân, họ là những người có nhận thức và hiểu biết pháp luật ở mức độ nhất định Đối với thương nhân lớn thông thường trong tổ chức của họ có bộ phận chuyên gia về pháp luật Chính vì vậy, việc thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM của các chủ thể tham gia tố tụng thường rất tốt, tạo điều kiện để Tòa án đẩy nhanh được tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết xét xử vụ án
1.3 3 Trách nhiệm và sự trợ giúp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Như chúng ta đã biết, về nguyên tắc đương sự đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp KDTM thì phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp Nhưng không phải đương sự nào cũng trực tiếp quản lý và lưu giữ được các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án tranh chấp KDTM mà họ đang tham gia Để có đầy đủ chứng cứ giao nộp cho Tòa án chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp, đương sự phải thực hiện việc thu thập chứng cứ đang do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác quản lý, lưu giữ Trường hợp họ không thể tự thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án thu thập hoặc trong trường hợp luật định, Tòa án có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho Tòa án Tòa án thực hiện các thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá, thẩm định giá, trưng cầu giám định…Như vậy, để các chủ thể chứng minh thực hiện được việc thu thập, cung cấp, xác minh chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự nói chung, các vụ án tranh chấp KDTM nói riêng, rất cần có sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan Nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân này có trách nhiệm trong việc cung cấp chứng cứ và thực hiện các thủ tục hỗ trợ tư pháp thì thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp được thuận lợi và nhanh
Trang 31chóng Ngược lại, nếu họ không có trách nhiệm, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ hoặc thực hiện các nhiệm vụ bổ trợ tư pháp thì sẽ gây khó khăn cho quá trình thực hiện việc cung cấp chứng cứ và chứng minh của các chủ thể chứng minh Thực tế có nhiều trường hợp vụ án phải tạm đình chỉ để chờ kết quả thực hiện việc cung cấp chứng cứ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
1.3.4 Trách nhiệm, sự trợ giúp của Tòa án
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng và là một chủ thể tố tụng tham gia vào quá trình chứng minh, có quyền phán quyết để giải quyết nội dung vụ án Chính vì vậy, Tòa án phải là cơ quan chủ trì, định hướng hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa
án phải xác định được quan hệ pháp luật có tranh chấp, những vấn đề cần chứng minh, trường hợp các đương cung cấp chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án phải định hướng hỗ trợ đương sự, yêu cầu các đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ Trong các trường hợp luật định, Tòa án thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ Một trong các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án là uy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ Tòa án được ủy thác thu thập chứng cứ phải có trách nhiệm thực hiện việc ủy thác trong thời hạn luật định và gửi tài liệu chứng cứ thu thập được cho Tòa án đã ủy thác Thực tế có trường hợp Tòa án nhận được ủy thác không thực hiện đúng nội dung, thời hạn ủy thác gây khó khăn cho Tòa án đang trực tiếp giải quyết vụ án trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ Mặt khác chúng ta cũng thấy rằng, toàn bộ tài liệu chứng cứ do các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập đều được giao cho Tòa án để lưu vào hồ sơ do Tòa án xây dựng và quản lý Như vậy, Tòa án là cơ quan chủ yếu thực hiện việc bảo quản chứng cứ Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Tòa án có trách nhiệm thì sẽ định hướng tốt và tạo điều kiện cho đương sự thu thập và cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ Nếu Tòa án thiếu trách nhiệm, non nghiệp vụ thì không định hướng, giúp đỡ được đương sự thu thập, giao nộp chứng cứ, hoặc Tòa án không thực hiện việc xác
Trang 32chứng cứ không tốt làm thất lạc chứng cứ, gây khó khăn cho đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được pháp luật Việt Nam quy định với những đặc điểm và cơ chế đặc thù Đây là phương thức được các bên lựa chọn phổ biến hiện nay khi có tranh chấp xảy ra
Ba là, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM là cách thức, trình tự mà chủ thể có nghĩa vụ cung cấp và chứng minh thực hiện việc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết đúng đắn các tranh chấp KDTM
Bốn là, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, sự hiểu biết pháp luật của chủ thể tham gia tố tụng, trách nhiệm và sự trợ giúp của các cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp chứng cứ, trách nhiệm và sự trợ giúp của Tòa án là các yếu tố bảo đảm thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp KDTM
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết cácvụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
2.1.1 Quy định của pháp luật về chủ thể cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại
Trong quá trình tố tụng dân sự, có rất nhiều chủ thể tham gia tố tụng với vai trò, chức năng và nhiệm vụ khác nhau xuất phát từ địa vị tố tụng khi họ tham gia vào vụ việc dân sự đó Để các chủ thể này có thể thực hiện được chức năng, nhiệm
vụ của mình, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định cho mỗi chủ thể những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định, trong đó quan trọng nhất là việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh các tình tiết trong vụ việc dân
sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Một trong những nguyên tắc cơ bản và đặc trưng nhất của tố tụng dân sựđược quy định tại Điều 6 BLTTDSlà: Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án
và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng dân sự quy định Điều 91 BLTTDS quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thâp, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó Đương
sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những
Trang 34việc không nộp hoặc giao nộp không đầy đủ chứng cứ Việc xác định và ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự đầy đủ và cụ thể các quyền và nghĩa vụ này của các chủ thể tham gia tố tụng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Nó là một trong những điều kiện quan trọng để đạt được mục đích là xác định
sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.Mặt khác, với việc quy định cụ thể, rõ ràng quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các chủ thể sẽ tăng tính chủ động, tích cực của họ khi tham gia tố tụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án
Như vậy, chủ thể cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung và trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM nói riêng trước tiên là các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ thể cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM trên thực tế thường là các doanh nhân có trình độ hiểu biết pháp luật và có khả năng thực tế thực hiện quyền thu thập chứng cứ, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Chính vì vậy, các chủ thể này thường cung cấp cho Tòa án được rất nhiều chứng cứ ban đầu phục vụ cho công tác thụ lý và giải quyết vụ án
Ngay từ khi nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 165 BLTTDS thì người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Việc cung cấp (bước đầu) chứng cứ của vụ việc dân sự là cơ sở để Tòa án xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tư cách tham gia tố tụng và các nội dung khác xác định các điều kiện để thụ lý hay không thụ lý vụ án Như vậy, ngay từ thời điểm khởi kiện người khởi kiện đã phải xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là hợp pháp mà trước mắt là quyền được khởi kiện Để thực hiện được quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ khi khởi kiện, cá nhân, tổ chức khởi kiện có quyền chủ động thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ xây dựng hồ sơ khởi kiện của mình
Trang 35Theo quy định tại Điều 189 BLTTDS, người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây: Ngày tháng năm làm đơn; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; họ, tên, địa chỉ của người khởi kiện; họ, tên, địa chỉ của bị đơn; họ, tên, địa chỉ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có); những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); tài liệu chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp; các thông tin khác
mà người khởi kiện thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ Nếu là cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu cuối đơn
Người khởi kiện, về nguyên tắc phải trực tiếp đến Tòa án hoặc qua đường bưu điện nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo các chứng cứ để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Ngay từ khi khởi kiện, nguyên đơn đã phải chứng minh quyền khởi kiện thông qua tư cách chủ thể Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi TTDS, nếu là pháp nhân, người trực tiếp nộp đơn khởi kiện phải chứng minh mình là đại diện theo pháp luật của pháp nhân Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác thì phải chứng minh qua tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền
Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng tín dụngvới Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam để vay số tiền 1.000.000.000đồng, thời hạn vay là một năm Hết một năm, Công ty A không trả được tiền, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng ra Tòa
án Trường hợp này Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phải giao nộp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ xác định tư cách chủ thể của người khởi kiện và người đại diện ký, nộp đơn khởi kiện
Trong những trường hợp cụ thể, tùy theo quan hệ tranh chấp là gì mà các đương sự phải xuất trình cho Tòa án chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Đối với vụ án tranh chấp hợp đồng, thông thường nguyên đơn phải xuất trình các
Trang 36tụng(nếu là cá nhân thì phải xuất trình chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; giấy phép đầu tư, giấy phép kinh doanh, điều lệ của pháp nhân ) Ngoài ra nguyên đơn còn phải xuất trình hợp đồng giữa các bên, giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tương giao dịch của hợp đồng Đối với việc kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phải giao nộp các tài liệu xác định việc xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, tài liệu xác định việc giải quyết tranh chấp giữa các bên
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa
vụ thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình về nội dung và tố tụng Đương sự khi làm hết khả năng mà vẫn không cung cấp được chứng cứ cho Tòa án thì có quyền yêu cầu Tòa tiến hành thu thập, xác minh chứng
cứ theo quy định của pháp luật Đương sự phải nộp các giấy tờ, tài liệu là bản gốc, trong trường hợp không thể giao được bản gốc thì phải giao bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, nếu các đương
sự có tranh chấp về tính hợp pháp của giấy tờ, tài liệu này thì Tòa án yêu cầu các đương sự phải xuất trình bản chính để tiến hành xem xét, giám định Đương sự giao nộp chứng cứ tài liệu, giấy tờ bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp
Cung cấp chứng cứ mới chỉ là một phần của hoạt động chứng minh trong vụ việc dân sự Bởi lẽ, hoạt động xét xử các vụ án KDTM là hoạt động phát sinh trên
cơ sở có sự tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích đối lập nhau nhưng bình đằng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho
cả hai bên đương sự là: "người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải
chứng minh" [5, tr 79] Theo nguyên tắc này, mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những sự kiện, tình tiết mà mình đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và ý kiến của mình, hay nói một cách đơn giản hơn, ai đưa ra một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc ấy Do đó, Điều 91 BLTTDS đã quy định: Đương sự có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phải đưa ra chứng cứ chứng
Trang 37minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ
và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh Quy định này xuất phát từ cơ sở khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung có vi phạm hay tranh chấp, đương
sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có yêu cầu đó, họ biết được những tình tiết, sự kiện trong vụ việc, do đó có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Về mặt tâm lý, khi đưa ra yêu cầu của mình bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chủ động, tự nguyện đưa ra những lý lẽ để chứng minh, bảo vệ quyền lợi của mình Trong mối tương quan giữa các đương sự thì nguyên đơn phải chứng minh trước Nguyên đơn phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý để chứng minh trên cơ sở đó quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được xác lập Bị đơn phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý làm cơ sở cho sự phản đối của mình Điều đó cho thấy, theo quy định của BLTTDS thì nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà đặt ra cả với bên bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Quy định này thể hiện sự bình đẳng, ngang bằng về nghĩa vụ chứng minh, không đương sự nào được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh Sự thiếu bình đẳng về nghĩa vụ chứng minh của đương sự có thể dẫn đến hậu quả chỉ có một bên đưa ra được chứng cứ, lý lẽ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ làm cho Tòa án nhận thức sai sự việc, từ đó sẽ ra phán quyết không đúng bản chất của nó Do đó, bên đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh
mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ Hậu quả của việc không đưa ra đươc chứng cứ để chứng minh là yêu cầu hoặc ý kiến của họ không được Tòa án chấp nhận.Vì vậy, khi tham gia tố tụng, các đương sự phải tích cực thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình mà không được ỷ lại cho chủ thể khác Nếu đương sự không tích cực thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình mà ỷ
Trang 38vụ việc dân sự không được làm sáng tỏ vì những người thực hiện thay có thể không biết hết được sự việc và sẽ đem lại hậu quả bất lợi cho đương sự
Xuất phát từ tính chất đặc thù của các quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, bên bị xâm phạm quyền lợi là những đối tượng yếu thế, không có điều kiện thực tế để thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu hoặc ý kiến của mình, Điều 91 BLTTDS quy định các trường hợp đương sự đưa ra yêu cầu hoặc ý kiến không có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu và ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp Trường hợp này nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về người bị yêu cầu hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cụ thể:
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Hai là, đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
Ba là, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ
Trang 39chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bốn là, các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh Mặc dù được miễn giao nộp một số tài liệu chứng cứ và không phải chứng minh một số tình tiết theo quy định của pháp luật, nhưng những đối tượng nêu trên vẫn phải cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ xác định quan hệ tranh chấp, quyền khởi kiện của mình, các tài liệu chứng cứ khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà mình đang quản lý, lưu giữ Ví dụ: Người tiêu dùng khởi kiện doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong việc gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng Tuy nhiên khi khởi kiện, người tiêu dùng phải giao nộp cho Tòa án các tài liệu như hợp đồng giữa hai bên về việc mua bán, sử dụng hàng hóa dịch vụ, hóa đơn, chứng từ giao nhận và thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các tài liệu khác chứng minh thiệt hại của mình do sử dụng hàng hóa dịch vụ được doanh nghiệp cung cấp
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, họ có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Chẳng hạn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia vào vụ kiện giữa nguyên đơn và bị đơn, họ cho rằng tài sản đang tranh chấp là của họ chứ không phải của nguyên đơn hay bị đơn Trong trường hợp này, nghĩa vụ chứng minh của họ sẽ giống như nghĩa vụ của nguyên đơn khi chứng minh cho yêu cầu của mình
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập dù họ đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn, họ đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cùng nguyên đơn hay bị đơn vì lợi ích của họ gắn với nguyên đơn hoặc bị đơn Việc cung cấp chứng cứ của họ để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự để bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà họ đứng về phía đương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ đối với một bên đương sự; hoặc chứng cứ do họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối về việc kiện đòi hoàn lại
Trang 40Phạm vi nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự phụ thuộc vào phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối của họ Phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối đưa đến đâu thì phạm vi nghĩa vụ chứng minh đến đó Nằm ngoài phạm vi nghĩa vụ chứng minh là quyền chứng minh của đương sự
Nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh không bất biến mà trong những trường hợp nhất định nó có thể dịch chuyển từ bên đương sự này sang một đương sự khác Ví dụ: Khi đưa ra yêu cầu, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng trong một số trường hợp nghĩa vụ chứng minh sẽ được dịch chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn nếu bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc khi bị đơn sử dụng những tình tiết sự kiện nào đó nhằm bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn
Trong thực tế xét xử nhiều người đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Trong nhiều trường hợp, các đương sự không xuất trình được chứng cứ, do đó không chứng minh được yêu cầu của mình Một số tòa quan niệm nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự nên khi khởi kiện nếu đương sự không xuất trình được các chứng cứ (theo quan điểm của họ là đương sự không chứng minh được) nên đã không thụ lý vụ án Mặc dù, việc xuất trình các chứng cứ
đó nằm ngoài khả năng của họ, các chứng cứ đó không phải do họ giữ, mà do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nắm giữ Việc nhận thức như vậy là không đúng với quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và cản trở quyền khởi kiện của đương sự Chủ thể cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của BLTTDS trước tiên là người khởi kiện, các đương sự trong vụ án Trong các trường hợp luật định, Tòa án thực hiện việc thu thập chứng cứ từ các cơ quan, tổ chức cá nhân đang lưu giữ chứng cứ Các cơ quan, tổ chức và các nhân này có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định của BLTTDS Vấn đề này sẽ được phân tích và làm rõ ở phần sau
2.1.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại