1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

103 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong phạm vi các biện pháp phòng, chống phi h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG

Trang 2

NGHIỆP

TRẦN THỊ HỒNG NHUNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ THU THỦY

Trang 3

HÀ NỘI - 2017

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Số liệu sử dụng, phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Nội dung luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Trần Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu, nhiệt tình của các thầy cô và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô Nguyễn Thị Thu Thủy, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Sau đại học - Viện đại học Mở Hà Nội và tập thể lớp CHL K4 đã luôn động viên, giúp

đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trần Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN………

LỜI CẢM ƠN………

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 6 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp………

6 1.1.1 Quyền sở hữu công nghiệp……… 6

1.1.2 Cạnh tranh không lành mạnh……… 11

1.1.3 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp………

18 1.2 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp……

21 1.3 Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp………

22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

26

Trang 6

HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG CÁC HÀNH VI NÀY

2.1 Thực trạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp hiện nay………

26

2.2 Thực tiễn pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp………

32

2.2.1 Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền

sở hữu công nghiệp………

Trang 7

VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN

SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

3.1 Các quan điểm phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

71

3.1.1 Xác định và đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo cơ chế dân sự 72 3.1.2 Hạn chế xử lý xâm phạm quyền bằng biện pháp hành chính, từng bước chuyển dịch sang cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án………

75

3.1.3 Đảm bảo nguyên tắc phòng, chống và thực thi quyền sở hữu công nghiệp theo hướng kết hợp hài hòa lợi ích công cộng với lợi ích của chủ thể quyền trong việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp ………

Trang 8

Công ước Paris năm 1883 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp

đuợc ký kết tháng 03/1883 tại Paris

Hiệp định thương mại Việt Nam

– Hoa Kỳ

Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại Hiệp định Trips Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khoa học, kỹ thuật, công nghệ không chỉ là sáng tạo đơn thuần của con người mà nó đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chất quyết định đến năng suất lao động Tuy nhiên, sản phẩm “khoa học, kỹ thuật” mà con người tạo ra lại có những nét đặc thù không giống như các vật phẩm khác, đó là những vật phẩm vô hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếm hữu cho riêng mình, chúng rất dễ bị chiếm dụng, tước đoạt, việc bảo vệ thành quả của các hoạt động sở hữu công nghiệp đa dạng và phong phú, nó không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mang tính toàn cầu

Xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng SHCN, chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng SHCN của đối thủ cạnh tranh để kiếm lời

và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh Bởi vậy việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền SHCN là tất yếu Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật SHTT Khi nền kinh tế càng phát triển thì những hành vi này càng nhiều Thực tế đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHTT, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền SHTT và chính sách bảo đảm cạnh tranh lành mạnh

Nhiều quốc gia trên thế giới nhìn nhận được mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHTT nên đã có chính sách cũng như pháp luật giải quyết các vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT.Vấn đề này được quy định trong công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN năm 1883 (khoản 2, khoản 3, Điều 10bis)

và Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ - Trips năm 1994(khoản 2 Điều 8 và Điều 40) Ở Việt Nam, cạnh tranh liên quan đến quyền SHCN lần đầu tiên được quy định tại Nghị định của Chính phủ số 54/2000/NĐ – CP ngày 31/10/2000 về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống CTKLM liên quan

Trang 10

2

đến quyền SHCN Hiện nay, vấn đề này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau như: Luật cạnh tranh năm 2004; Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Luật chuyển giao công nghệ năm 2007; Nghị định của Chính phủ số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT; Nghị định của Chính phủ số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định về

xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp Ở nước ta, mặc dù hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN đã xuất hiện và được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tuy nhiên đây vẫn là vấn đề mới, quy định pháp luật chưa rõ ràng

và kinh nghiệm của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết loại việc này còn thiếu

Trong khuôn khổ Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, tác giả

đã chọn đề tài: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở

hữu công nghiệp” Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong phạm vi các biện pháp phòng, chống phi hình sự, phi hành chính và trong phạm vi pháp luật Việt Nam từ đó đưa ra một số quan điểm và giải pháp phòng, chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cạnh tranh không lành mạnh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều hình thức như luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo, bài báo, tạp

chí điện tử như:“Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của TS.Lê Danh Vĩnh, Hoàng

Xuân Bắc, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội (2006), bài viết

“Chuyên đề về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Nguyễn Như Quỳnh đăng trên tạp chí Thương mại số 12/2013 hay như “Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam”,

của tác giả Nguyễn Hồng Bắc đăng trên Tạp chí luật họcsố 3 năm 2010….Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học đã đề cập về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và quyền SHCN dưới nhiều góc độ khác nhau như pháp luật, kinh tế, kỹ thuật Các tài liệu này đã thành công trong việc phân tích, đề cập tương đối đầy đủ

Trang 11

3

đến các khái niệm cơ bản về hành vi CTKLM và quyền SHCN Tuy nhiên, cho đến nay chưa nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và vấn đề phòng, chống các hành vi này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, tác giả xác định các quan điểm và giải pháp phòng, chống các hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN tại Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN và vấn đề phòng, chống

- Phân tích hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay và thực trạng phòng, chống

- Đưa ra quan điểm và giải pháp phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

4 Cơ sở phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Để thực hiện nghiên cứu các vấn đề thuộc đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

4

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, đánh giá, so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn Các phương pháp này được sử dụng trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền SHCN

Phạm vi nghiên cứu:

Hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN và vấn đề phòng chống các hành vi này có nội dung rất rộng và liên quan đến nhiều lĩnh pháp luật khác, đặc biệt là các đạo luật kinh tế chuyên ngành có quy định liên quan đến cạnh tranh, liên quan đến quyền SHTT, pháp luật về hành chính, pháp luật về dân sự, pháp luật về hình sự Do đó, luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam như: mối quan hệgiữa quy định về hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN trong LCT với các quy định về hành vi này trong Luật SHTT và trong một sốđạo luật kinh tếchuyên ngành về thương mại, quảng cáo, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, vềchất lượng hàng hoá, một số quy định của pháp luật dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại… Luận văn cũng tập trung nghiên cứu các biện pháp phòng, chống các hành vi này trong phạm vi các vi các biện pháp phòng, chống phi hình

sự, phi hành chính

6 Bố cục luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn có bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

Trang 13

5

Chương 2: Thực trạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến

quyền sở hữu công nghiệp hiện nay và thực trạng phòng, chống các hành vi này

Chương 3: Quan điểm và giải pháp phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

Trang 14

6

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN

SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

1.1.1 Quyền sở hữu công nghiệp

Trí tuệ con người có sức sáng tạo vô tận và chính nó đã giúp con người nhận thức được sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan Trí tuệ là tài sản vật chất nhưng mang những đặc thù riêng Nếu như tài sản hữu hình có thể bị bào mòn theo năm tháng, thì tài sản trí tuệ dường như được tích tụ nâng lên và phát huy mạnh mẽ khi đem ra sử dụng Do đó, mỗi quốc gia cần có trách nhiệm bảo hộ và phát huy tài sản trí tuệ của loài người

SHTT là khái niệm lâu đời nhưng mới được quan tâm tại Việt Nam thời gian gần đây Quyền SHTT bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động

sở hữu trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng

Quyền SHTT là một khái niệm pháp lý ra đời và gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “quyền SHTT” thường được hiểu theo hai nghĩa khách quan và chủ quan: Theo nghĩa khách quan, quyền SHTT là một chế định pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tượng SHTT được nhà nước bảo hộ; theo nghĩa chủ quan, quyền SHTT là quyền, nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển

Trang 15

7

giao quyền SHTT Tóm lại, quyền SHTT là quyền của chủ thể đối với một sản phẩm trí tuệ nào đó do minh sáng tạo ra hoặc sở hữu được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Khái niệm về quyền SHTT trên đề cập đến 3 yếu tố cơ bản: Đối tượng của quyền SHTT là sản phẩm trí tuệ, được tạo ra trực tiếp bởi tư duy, sáng tạo của hoạt động trí óc của con người và được thể hiện dưới một hình thái vật chất nhất định; chủ thể của quyền SHTT có thể là cá nhân, tổ chức hoặc tập thể là người đã sáng tạo ra hoặc sở hữu sản phẩm trí tuệ; quyền của chủ thể SHTT phải là quyền được pháp luật thừa nhận, tức là bất cứ quyền nào mà tác giả, chủ sở hữu hoặc người sử dụng có được đối vởi sản phẩm trí tuệ đều phải do pháp luật quy định

Đặc điểm của quyền SHTT là có giới hạn về thời gian, không gian và nội dung của quyền mà quyền SHTT được bảo vệ

Xét khía cạnh thời gian: Thời điểm phát sinh quyền SHTT và thời hạn mà quyền SHTT được bảo vệ phải được pháp luật thừa nhận và quy định.Tuỳ theo đối tượng quyền SHTT, loại hình quyền SHTT, nội dung quyền SHTT mà thời điểm phát sinh và thời hạn bảo vệ quyền sở hữu đối với đối tượng của SHTT là khác nhau Ví dụ, quyền tác giả đối với một tác phẩm nghệ thuật phát sinh ngay khi tác phẩm nghệ thuật được hình thành mà không cần đăng kí quyền tác giả còn quyền

sở hữu kiểu dáng công nghiệp chỉ phát sinh khi đăng kí quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận

Xét khía cạnh không gian: quyền SHTT chỉ được bảo vệ trong phạm vi không gian nhất định, có thể là một lãnh thổ quốc gia hoặc là một khu vực,thậm chí trên phạm vi toàn cầu,tuỳ thuộc vào việc xác lập quyền SHTT đó.Ví dụ nhãn hiệu Nike được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu, còn giầy Thượng Đình chỉ được bảo vệ trên phạm vi toàn quốc

Nội dung quyền: Quyền SHTT của một chủ thể đối với một đối tượng quyền nào đó được giới hạn theo quy định của pháp luật

Trang 16

8

Thực tế chỉ ra rằng SHTT nói chung và SHCN nói riêng là vấn đề chịu ảnh hưởng lớn của sự vận động, phát triển của khoa học, công nghệ và đời sống xã hội[18] Các điều ước được ký kết từ năm 1967 trở lại đây, trong đó đáng chú ý là Hiệp định TRIPS đã đưa ra và làm rõ thêm những loại hình mới của SHTT Xu hướng này cho thấy tính năng động của SHTT trong việc thích ứng với sự phát triển của công nghệ và văn hóa, nói cách khác, nội hàm của khái niệm quyền SHCN vẫn đang ngày càng được mở rộng bao trùm các đối tượng mới của đời sống

xã hội

Tại Nhật Bản, quyền SHCN là tên gọi chung của 4 loại: Quyền sáng chế, quyền mẫu mới thực dụng, quyền thương hiệu, quyền kiểu dáng Quyền SHCN tại Nhật được nhìn nhận như quyền lợi với mục đích đóng góp cho sự phát triển của khoa học và kỹ thuật của Nhật Bản Là quyền đóng vai trò trung tâm của quyền SHTT

Ở Việt Nam, khái niệm về quyền SHCN được quy định cụ thể hơn:“Quyền

sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”(khoản 4 Điều 4 Luật SHTT)

Quyền SHCN là một trong hai bộ phận quan trọng của quyền SHTT.Quyền SHCN là một loại tài sản vô hình gắn liền với uy tín của cơ sở sản xuất kinh doanh, thông qua việc bảo hộ các đối tượng có chức năng nhận dạng như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại Người sản xuất, người tiêu dùng nhận biết được hàng hóa của một cơ sở sản xuất chủ yếu căn cứ vào các dấu hiệu phân biệt như kiểu dáng sản phẩm, nhãn hiệu, tên gọi gắn trên hàng hóa Việc bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp sẽ giúp cho việc bảo vệ uy tín của sản phẩm, chống lại các hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh khác

Trang 17

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội Giải pháp hữu ích là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng

áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố

đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa

lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó

Các đối tượng SHCN không được Nhà nước bảo hộ: Nhà nước không bảo

hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà pháp luật về sở hữu công nghiệp quy định không được bảo hộ

- Các đối tượng SHCN mà quyền SHCN phát sinh và tồn tại khi hội đủ các điều kiện nhất định mà không cần thông qua văn bằng bảo hộ SHCN bao gồm: chỉ dẫn địa lý; bí mật thương mại; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Trang 18

10

Chỉ dẫn địa lý là thông tin về nguồn gốc của hàng hoá: từ ngữ; dấu hiệu; biểu tượng; hình ảnh để chỉ: một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương mà hàng hoá được sản xuất ra từ đó Chất lượng, uy tín, danh tiếng của hàng hoá là do nguồn gốc địa lý tạo nên.Ví dụ "Made in Japan" (điện tử), "Vạn Phúc" (lụa tơ tằm);

"Bát Tràng" (gốm, sứ)…Một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt là "Tên gọi xuất xứ hàng hoá".Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là

“Tên gọi xuất xứ hàng hoá”

Bí mật thương mại là bất cứ thông tin bí mật nào mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp đều đáp ứng tiêu chuẩn.Bí mật thương mại có thể liên quan đến các loại thông tin khác nhau: + Kỹ thuật và khoa học + Thương mại + Tài chính + Thông tin phủ định

Các đối tượng SHCN đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu và người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.Vì vậy, quyền khai thác, sử dụng và chống lại những hành vi xâm phạm quyền SHCN như

là hành vi CTKLM là nội dung quan trọng của quyền SHCN

Chủ thể của quyền SHCN gồm tác giả của đối tượng mang tính sáng tạo và chủ văn bằng bảo hộ Tác giả là người sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, mạch tích hợp bán dẫn Cá nhân, tổ chức được cấp văn bằng bảo hộ là chủ sở hữu các đối tượng SHCN Đối với chỉ dẫn địa lý, chủ văn bằng bảo hộ không có quyền

sở hữu đối tượng đó mà có quyền sử dụng trong sản xuất kinh doanh Đối với tên thương mại và bí mật kinh doanh, chủ sở hữu của các đối tượng này là cá nhân, tổ chức mang tên thương mại trong kinh doanh hoặc có bí mật kinh doanh một cách hợp pháp

Đối với tác giả thì quyền nhân thân có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học Tác giả là người sáng tạo ra đối tượng SHCN Đây là kết quả

Trang 19

Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện nay, đối nghịch với hành vi kinh doanh lành mạnh, trung thực, ngày càng xuất hiện nhiều loại hành vi làm ăn chụp giật, sử dụng các thủ đoạn không minh bạch, CTKLM của những doanh nghiệp vì nôn nóng muốn có lợi nhuận tức thời mà không muốn đầu tư nhiều tiền bạc và công sức Họ đã thực hiện các hành vi thương mại không trung thực nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh, lợi nhuận cho bản thân mình Hành vi đó ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác, đến người tiêu dùng và rộng ra là tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế

Đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về CTKLM Nhìn chung, có

3 quan niệm cơ bản như sau:

Quan niệm thứ nhất được thể hiện trong Điều 10Bis của Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN, theo đó, “bất kì hành vi nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là CTKLM”

Quan niệm thứ hai cho rằng “CTKLM bao gồm tất cả các hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công

Trang 20

Như vậy, theo quan niệm thứ hai, phạm vi các hành vi bị coi là CTKLM là rất rộng, có thể bao gồm cả các hành vi hạn chế cạnh tranh Điều này sẽ gây khó khăn trong việc sử dụng phương thức áp dụng pháp luật do bản chất, tính chất, mức

độ nguy hại cho thị trường của các hành vi trên là khác nhau Ngược lại, phạm vi các hành vi CTKLM theo quan điểm thứ nhất lại chỉ bó hẹp ở các hành vi “không trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp” Quan niệm thứ ba đã dung hoà được hạn chế của hai quan niệm còn lại, khi cạnh tranh không chỉ có trong lĩnh vực công nghiệp như trong quan niệm thứ nhất, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác Đây cũng chính là quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam khi đưa ra khái niệm CTKLM.Là một đốitượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm CTKLM không được đưa ra trong Luật SHTT Luật SHTT chỉ liệt kê những hành vi bị coi là CTKLM Khái niệm “cạnh tranh không lành mạnh” được quy định tại khoản 4 Điều 3 trong LCT như sau:

“Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”

Xuất phát khái niệm về hành vi CTKLM nêu trên, có thể xác định một số đặc điểm cơ bản của hành vi CTKLM như sau[24]:

- Hành vi CTKLM trước hết là một hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện Có thể phân tích vấn đề này trên hai khía cạnh:

Trang 21

13

Thứ nhất, trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh

nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tương quan với các doanh nghiệp khác, do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xem xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có thể can thiệp vào nhiều hoạt động khác nhau của đời sống kinh

tế Đặc điểm này khiến cho pháp luật về CTKLM tại một số quốc gia có thể có phạm vi áp dụng rất rộng và điều chỉnh những hành vi đa dạng Một ví dụ gần đây được nhiều người biết đến là Điều 18 của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bản quy định về việc hối lộ cũng bị coi là một dạng hành vi CTKLM[13] Quy định này được bổ sung năm 1998 và được coi là sự nội luật hoá Công ước của

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) về Chống hối lộ đối với quan chức nước ngoài trong giao dịch quốc tế

Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các doanh nghiệp tham gia

hoạt động kinh doanh trên thị trường Ở đây, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường Trên một phạm vi rộng hơn, các quy định về CTKLM còn có thể áp dụng đối với hành vi của các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hành nghề tự do (bác

sỹ, luật sư, kiến trúc sư…) Và cuối cùng, liên quan đến trách nhiệm cá nhân, theo một truyền thống chung của pháp luật cạnh tranh, một số quốc gia còn mở rộng phạm vi đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý về vi phạm đến các cá nhân là lãnh đạo doanh nghiệp và không loại trừ các chế tài mang tính hình sự Lấy tiếp ví dụ tại Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản nêu trên, hình phạt tối đa đối với các cá nhân vi phạm có thể lên đến 10 năm tù và 10 triệu yên tiền phạt[9]

- Tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi

và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Đặc điểm này phần nào thể

Trang 22

14

hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về CTKLM, các quy định về CTKLM được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, không thể một sớm một chiều mà có được Mặt khác, đặc điểm này cũng đòi hỏi cơ quan

xử lý về hành vi CTKLM phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để phán định một hành vi có đi ngược lại những quy tắc xử sự chung trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không Như đã phân tích ở phần trên, với nền kinh tế thị trường mới hình thành, các thông lệ, tập quán thương mại tại Việt Nam chưa đủ thời gian để tạo thành các chuẩn mực đạo đức kinh doanh được các tổ chức, cá nhân cùng nhận thức giống nhau và tự nguyên thực hiện như những quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc Tuy nhiên, tác giả cho rằng vẫn có một

số nguyên tắc được khẳng định cả trong pháp luật và thực tiễn có thể sử dụng để đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh, cũng là những nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự, thương mại được quy định tại văn bản luật khác như Bộ luật Dân sự hay Luật Doanh nghiệp Đó là các nguyên tắc như trung thực, thiện chí, tự nguyện, hợp tác, cẩn trọng… Và những nguyên tắc khác có thể được đề xuất trong tương lai phù hợp với yêu cầu thực tế của công cuộc phát triển kinh tế xã hội Do đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh dựa trên các thông lệ kinh doanh trung thực, thiện chí, pháp luật về CTKLM luôn có trọng tâm bảo vệ các doanh nghiệp trung thực, các chuẩn mực hành vi của doanh nghiệp được xem là trọng tâm ban đầu để xây dựng các quy định trong lĩnh vực này Một hoạt động kinh doanh nhất định bị đa số trong cộng đồng doanh nghiệp phản đối thì hiếm khi được coi là là cạnh tranh lành mạnh.Mặt khác, một số thông lệ kinh doanh được công nhận trong một số ngành, lĩnh vực nhất định, song lại bị coi là sai trái ở những ngành, lĩnh vực khác Trong những trường hợp như vậy, việc đánh giá hành vi phải dựa trên các chuẩn mực chung hơn về đạo đức kinh doanh, trong đó xem xét khả năng quyền lợi của người tiêu dùng bị phương hại Cũng có những trường hợp hành

vi thoạt đầu không gây hại cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác, nhưng

về lâu dài vẫn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, do đó cần phải có biện pháp ngăn chặn thích hợp Do đó, để đánh giá một hành vi CTKLM thể không xem

Trang 23

15

xét tác động của hành vi đó đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác Một khía cạnh khác cần phân tích liên quan đến đặc điểm đi ngược lại thông lệ, chuẩn mực đạo đức kinh doanh của hành vi CTKLM, đó là yếu tố chủ quan của bên thực hiện hành vi Một hành vi CTKLM điển hình luôn gắn với lỗi cố ý của bên vi phạm, mặc dù biết hoặc buộc phải biết đến các thông lệ, chuẩn mực đặt ra đối với hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn cố tình vi phạm Tuy nhiên, trong thực tiễn xử lý, việc xem xét đánh giá yếu tố lỗi được trao cho toà án hoặc cơ quan xử lý

vụ việc, và nhiều trường hợp mang tính chất suy đoán hơn là đòi hỏi các bằng chứng cụ thể về ý định CTKLM của bên thực hiện hành vi Và khi vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được nhấn mạnh định hướng thực thi pháp luật về CTKLM thì việc xem xét yếu tố lỗi càng không mang tính quyết định Về nguyên tắc, một hành vi của doanh nghiệp cho dù chỉ là vô ý, bất cẩn nhưng gây thiệt hại cho người tiêu dùng cũng vẫn phải bị ngăn chặn

- Một hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng và đặc biệt được chú ý khi việc xử lý CTKLM được tiến hành trong khuôn khổ kiện dân sự và gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hại thực tế được coi là bắt buộc để bắt đầu tiến trình xử lý hành vi CTKLM hay không Tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của cơ quan xử lý, có các cách thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành vi CTKLM Trong nhiều trường hợp, cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc “đe doạ gây thiệt hại”, cũng như các thiệt hại không tính toán được cụ thể về cơ hội kinh doanh là đủ để coi một hành vi CTKLM

và đáng bị ngăn cấm Về đối tượng chịu thiệt hại, dễ thấy hành viCTKLM có thể tác động đến nhiều đối tượng khác nhau tham gia thị trường khác nhau, trong đó hai nhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng Điều 3 của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Đức cấm “các hành vi CTKLM có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác”[9] Luật Cạnh tranh Việt Nam có

Trang 24

16

đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tượng này không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về CTKLM của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước hành vi CTKLM tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường Trong đa số trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trường là doanh nghiệp và người tiêu dùng Trước đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng khi xác định một hành vi là CTKLM ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành mà không cần xem xét ảnh hưởng đến các đối tượng khác, đặc biệt là người tiêu dùng Hiện nay, cách nhìn nhận về hành vi CTKLM trở nên cân bằng hơn, cơ quan xử lý thường phải đánh giá cả thiệt hại của người tiêu dùng và các đối tượng khác để kết luận về vi phạm Cần thấy rằng trong một phạm vi thị trường hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành vi cạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó, do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định một hành vi là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ Trên thực tế, các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhưng đem lại lợi ích thực tế cho người tiêu dùng sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ điển hình là trường hợp quảng cáo so sánh, trước đây bị coi là một trong những hành vi CTKLM điển hình, tuy nhiên từ sự cân nhắc lợi ích nó đem lại cho người tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm), mà hành vi này đến nay đã được chấp nhận với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông tin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng công kích đối thủ cạnh tranh Việt Nam hiện còn lại là một trong số rất ít các quốc gia trên thế giới cấm tuyệt đối các hình thức quảng cáo so sánh trực tiếp, mà không cần xét đến nội dung quảng cáo

Quyền chống CTKLM được coi là một trong những đối tượng của quyền SHCN Có quy định như vậy là bởi đối tượng SHCN là một yếu tổ thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít các doanh nghiệp thực hiện hành

Trang 25

17

viCTKLM làm xâm hại đến các đối tượng SHCN của đối thủ để thu lợi bất chính trong kinh doanh Ngoài ra, tính độc quyền của quyền SHCN có thể bị các doanh nghiệp sở hữu quyền lạm dụng để cản trở thương mại Do vậy, pháp luật phải thừa nhận cho các chủ thể kinh doanh quyền chống CTKLM như là một nội dung của quyền SHCN để đối phó với các loại hành vi CTKLM có thể gặp phải

Trước thực trạng các hành vi CTKLM diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp

và tinh vi trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất, việc công nhận và thực thi quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể bị xâm phạm lợi ích do các hành vi CTKLM kể trên là rất cần thiết

Quyền chống CTKLM là một nội dung cơ bản của quyền SHCN Tuy nhiên, quyền chống CTKLM cũng mang những đặc điểm riêng, khác biệt với các đối tượng còn lại của quyền SHCN:

Một là, quyền chống CTKLM chỉ được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.Và khi hành vi CTKLM này ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền, pháp luật cho phép chủ thể này thực hiện quyền chống CTKLM để tự bảo vệ mình

Hai là, quyền chống CTKLM có thể cùng một lúc thuộc về nhiều người.Trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực tạo ra nhiều lợi nhuận, việc có nhiều chủ thể cùng tham gia là điều không thể tránh khỏi Cùng một thời điểm, một chủ thể có thể cạnh tranh với nhiều chủ thể khác nhau, dẫn đến khả năng một hành vi CTKLM ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau và do vậy, nhiều bên sẽ có quyền chống hành vi CTKLM này

Ba là, quyền chống CTKLM không thể chuyển giao Nếu như các quyền SHTT khác như: quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chủ sở hữu luôn có quyền thực hiện các hoạt động chuyển nhượng, mua bán, li-xăng… thì đối với quyền chống CTKLM, chủ thể quyền không thể chuyển giao cho chủ thể

Trang 26

dùng liên quan đến quyền SHCN”

Việc quy định các hành vi CTKLM đã xuất hiện từ rất sớm và hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành các quy định điều chỉnh, xử lý các hành

vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN trong pháp luật của quốc gia

Các hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN được đề cập tới lần đầu tiên trong Công ước Paris năm 1883 Đây cũng được coi là công ước quốc tế đầu tiên và quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động bảo hộ quyền chống CTKLM liên quan đến SHCN Điều 10bis Công ước Paris quy định về hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN như sau: “Các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm cho công dân của các nước thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành động cạnh tranh không lành mạnh; bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh Cụ thể, những hành động sau đây phải bị ngăn cấm: Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ

sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh;Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với

cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của người cạnh

Trang 27

19

tranh;Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp đểsử dụng hoặc số lượng của hàng hoá.”

Do đối tượng SHCN là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi CTKLM xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh Hành vi CTKLM xuất hiện ở mọi lĩnh vực SHCN

Không phải bất cứ hành vi xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp liên quan đến đối tượng SHCN đều bị coi là CTKLM liên quan đến quyền SHCN Để xác định một hành vi là hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN thì hành vi ấy phải có đầy đủ các đặc điểm cấu thành sau:

sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng

- Thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh:

Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi CTKLM Việc xác định thiệt hại (vật chất hoặc tinh thần) là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại:

Trang 28

20

Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp, nội tại, không phải là sự suy diễn chủ quan Hành vi CTKLM là hành vi diễn ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau Bên thực hiện hành vi CTKLM chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây ra thiệt hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi CTKLM của mình

Không như hành vi CTKLM nói chung, hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN nói riêng, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành hành vi vi phạm Một khi các đối tượng của quyền SHTT đã được đăng ký theo đúng trình tự pháp luật quy định thì các chủ thể khác được suy đoán là đã biết tới quyền của chủ thể quyền

Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp:

Hành vi CTKLM liên quan tới quyền SHCN cũng mang các đặc điểm của hành vi CTKLM nói chung đã được phân tích ở trên như:

- Là một hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện;

- Đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường;

- Một hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác

Bên cạnh đó hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN còn có đặc điểm tương đối riêng biệt là xâm hại các đối tượng sở hữu công nghiệp Ví dụ hành vi làm hàng nhái, hàng giả, thông tin sai lệch tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý… Nếu một hành vi bị coi là hành vi CTKLM liên quan tới quyền SHCN, thì nó

Trang 29

21

sẽ vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh, vừa vi phạm pháp luật về SHCN Như vậy giữa pháp luật về phòng chống hành vi CTKLM và pháp luật về SHCN có mối quan hệ nội tại gắn bó chặt chẽ và trực tiếp ảnh hưởng đến nhau Điều này thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa pháp luật về chống CTKLM và pháp luật về sử dụng các đối tượng SHCN trong hoạt động thương mại[23]

1.2 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp

- Về phạm vi áp dụng:

Chỉ có thể tạo thành hành vi vi phạm quyền SHCN khi có một quyền SHCN hợp pháp đang được bảo hộ bị xâm phạm Nói một cách khác, sẽ không có khái niệm về vi phạm quyền SHCN khi mà quyền đó không hề tồn tại, ví dụ như trường hợp một nhãn hiệu không đăng ký thì không thể căn cứ vào pháp luật về SHCN để được bảo vệ khi bị xâm phạm Tuy nhiên, cũng trong trường hợp này lại hoàn toàn

có thể áp dụng Luật cạnh tranh đểđiều chỉnh, theo đó hành vi sửdụng chỉdẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh

là một dạng của hành vi CTKLM, không phụ thuộc vào việc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký hay chưa Từ sự phân tích này có thể thấy, những “đối tượng có liên quan đến SHCN” thuộc phạm vi áp dụng LCT rộng hơn so với pháp luật về SHCN Các đối tượng như khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng, bao bì… nếu không được bảo

hộ bằng các quy định riêng về SHCN thì hoàn toàn có thể tìm thấy cơ sở pháp lý để bảo vệ trong LCT

- Về yếu tố chủ thể:

Không thể nói đến hành vi CTKLM khi mà trên thực tế các chủ thể không ở

trong vị thế "cạnh tranh” với nhau Cụ thể, chỉ có thể kết luận về hành vi CTKLM

nếu các chủ thể có hành vi bị cấm đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan (khoản

1 Điều 3 LCT) theo nguyên tắc được pháp luật các nước thừa nhận rằng: “Mọi

Trang 30

hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải “nhằm mục đích cạnh tranh”, do đó, không thể

nói tới CTKLM khi mà chủ thể không biết mình đang thực hiện hành vi bị cấm Đối với lĩnh vực SHCN, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành hành vi vi phạm Một khi các đối tượng của quyền SHCN đã được đăng ký theo đúng trình tự pháp luật quy định thì các chủ thể khác được suy đoán là đã biết tới quyền của chủ thể quyền Do đó, sẽ cấu thành hành vi vi phạm quyền SHCN mọi hành vi thuộc độc quyền của chủ sở hữu quyền SHCN mà không được chủ sở hữu cho phép

Trên cơ sở xác định đúng mục đích điều chỉnh và bản chất hành vi như trên, chúng ta có thể dễ dàng lựa chọn quy phạm pháp luật đề điều chỉnh Những trường hợp xâm phạm quyền SHCN với ý thức chủ quan rõ ràng là nhằm mục đích tư lợi thì áp dụng các quy định của pháp luật bảo hộ quyền SHCN để giải quyết còn những trường hợp xâm phạm quyền SHCN nhằm mục đích CTKLM thì phải áp dụng các quy định của pháp luật chống CTKLM đề giải quyết

1.3 Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

Các hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN bao gồm:

Thứ nhất: Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ, xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc các đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ

Trang 31

23

Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá Như vậy, chỉ dẫn thương mại có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng SHCN như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp Các đối tượng này có đặc tính ưu việt trong việc truyền tin đến người tiêu dùng về các loại hàng hoá và dịch vụ lưu thông trên thị trường và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay không của các chủ doanh nghiệp (đồng thời là chủ sở hữu của các đối tượng SHCN trên)

Sử dụng chỉ dẫn thương mại là gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao

bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờgiao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo, bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó Tất cả các hành vi trên đều nhằm mục đích lợi dụng ảnh hưởng không uy tín của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác để trục lợi Bên cạnh đó, chúng tất yếu sẽ gây thiệt hại hay làm lu mờ uy tín, danh tiếng của các cơ sở sản xuất kinh doanh và cuối cùng người phải gánh chịu mọi thiệt hại trực tiệp chính là các khách hàng và người tiêu dùng do bị nhầm lẫn khi lựa chọn hàng hoá, dịch vụ cho mình thông qua các dấu hiệu, thông tin sai lệch đó

Thứ hai: Việc sử dụng nhãn hiệu của người là đại diện hoặc đại lí của chủ

sở hữu nhãn hiệu Loại hành vi CTKLM này liên quan đến các yếu tố như có việc

sử dụng nhãn hiệu của người là đại diện hoặc đại lí của chủ sở hữu nhãn hiệu tại nước ngoài; giữa Việt Nam và nước đó có điều ước quốc tế được kí kết trong đó quy định cấm việc sử dụng này việc sử dụng nhãn hiệu của người là đại diện hay đại lí của chủ sở hữu nhãn hiệu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lí do chính đáng

Tính không trung thực khi sử dụng nhãn hiệu luôn là một loại hành vi bị cấm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Bởi lẽ, người sử dụng là người đại diện hay đại lí của chủ sở hữu nhãn hiệu nên họ phải nhận thức được rằng có nhãn hiệu thuộc sở hữu của người khác đang tồn tại Mặt khác, việc sử dụng của họ nhằm

Trang 32

24

mục đích lợi dụng uy tín của nhãn hiệu để trục lợi và để ngăn cản việc lưu thông của hàng hoá mang nhãn hiệu đó trên thị trường nước ngoài mà họ đang là đại lí hoặc đại diện

Thứ ba: Hành vi CTKLM liên quan đến tên miền: Đăng kí, chiếm giữ quyền

sử dụng hoặc sử dụng tên miền;loại tên miền: trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí đang được bảo hộ của người khác

Mục đích của việc sử dụng: Nhằm chiếm giữ tên miền, lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí tương ứng

Như vậy, hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN được pháp luật điều chỉnh chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí Đây được coi là những yếu tố không thể thiếu đối với mọi loại hàng hoá và dịch vụ khi lưu thông trên thị trường Cạnh tranh là một đặc điểm tất yếu của nền kinh tế thị trường nhưng những hành vi CTKLM, đặc biệt liên quan đến các đối tượng SHCN cần được phát hiện và xử lí nghiêm minh Quyền chống CTKLM này được pháp luật trao cho các chủ sở hữu đối tượng SHCN để chính họ

có ý thức bảo vệ tuyệt đối các quyền cơ bản của mình

Kết luận Chương 1

Tóm lại, ở Chương 1, em tiến hành nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và vấn đề phòng, chống các hành vi này bao gồm: việc nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp như khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nhiệp; phân loại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp… Qua nghiên cứu và phân tích, Chương 1 đã làm rõ: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn

Trang 33

25

mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng liên quan đến qyền SHCN Từ đó phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền SHCN với hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp Từ đó làm cơ sở cho việc xác định các hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN xảy ra trên thực tế Việt Nam hiện nay và các biện pháp phòng chống

phi hình sự, phi hành chính các hành vi này ở chương 2

Trang 34

26

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG CÁC

liên quan đến quyền SHCN:

- Nhóm hành vi đầu tiên: Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

là hành vi phổ biến nhất Có thể kể ra một số vụ tranh chấp điển hình liên quan đến hành vi này đã bị xử lý Hành vi đầu tiên bị xử lý đó là của công ty Cổphần Dược phẩm Hà Tây (HaTaphar) theo quyết định số 129/QĐ của ChánhThanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ Và đây là quyết định xử lý hành vi CTKLM đầu tiên được

xử lý ở Việt Nam Hành vi của công ty CP Dược Phẩm Hà Tây là “sản xuất các sản phẩm thuốc gắn nhãn GASTRODIC, trong đó vỏ hộp thuốc và vỏ gói thuốc có cách trình bày các chi tiết, màu sắc, kiểu dáng, bao bì, kiểu chữ, cỡ chữ tương tự như cách trình bày trên bao bì sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu GASTROPULGITE, do Cty S.C.R.A.S (Pháp) thuộc tập đoàn IPSEN sản xuất Việc Công ty Cổphần dược phẩm Hà Tây sử dụng các chỉ dẫn thương mại như trên đã gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và thể hiện là hành vi CTKLM (theo quy định tại Điều 130 Luật SHTT),

Trang 35

27

vi phạm điểm a khoản 2 Điều 30 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Ngoài ra, Thanh tra Bộ KH&CN cũng đã ra quyết định xử phạt Cty Xuyên Á do có hành vi phân phối sản phẩm thuốc trên cho Cty cổ phần dược phẩm Hà Tây Sau đó, toàn

bộ số hàng vi phạm trên đã bị tiêu huỷ Và theo ông Lê Văn Kiều, Chánh thanh tra

Bộ Khoa học Công nghệ thì từ trước đến nay các hành vi vi phạm về SHCN bị xử phạt rất nhiều, nhưng không có trường hợp nào bị xử lý về hành vi CTKLM Mặc

dù Nghị định số 54 ngày 03/10/2000 của Chính phủ có nội dung về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống CTKLM liên quan tới SHTT nhưng chỉ đề cập về mặt quản lý, không quy định việc xử phạt nên các hành vi CTKLM đều thoát Nhưng đến khi có Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì đã có chế tài đầy đủ và Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây là doanh nghiệp đầu tiên bị xử phạt theo hành vi này

Trường hợp thứ hai, kiểu dáng bao bì của Công ty Bột mì Đại Phong trình bày ổn định từ năm 2002 đến nay đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và được biết đến rộng rãi hơn so với kiểu dáng bao bì của Công

ty Bột mì Đại Nam Trong 7 năm gần đây, sản lượng sản phẩm bột mì của Công ty Đại Phong từ trên 43 tấn đến trên 84 tấn và doanh thu bán hàng của sản phẩm bột

mì đạt từ 600 triệu đồng đến gần 1,4 tỉ đồng/năm Từ năm 2010 đến nay, hằng năm, Công ty Đại Phong đều chi hàng trăm triệu đến trên 2 tỉ đồng cho việc quảng cáo sản phẩm ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước Kiểu dáng bao bì của sản phẩm đã trở nên quen thuộc, tạo ấn tượng riêng biệt, người tiêu dùng dễ dàng nhận biết khi lựa chọn sản phẩm Trong khi đó Công ty Đại Nam được thành lập từ tháng 8-2016 và bắt đầu bán sản phẩm vào đầu năm 2017 Điều này cho thấy Công ty Bột mì Đại Phong đã sử dụng kiểu dáng bao bì từ trước và được biết đến rộng rãi so với kiểu dáng bao bì của Công ty Bột mì Đại Nam Thêm vào đó, ông Phạm Minh Hiền - cổ đông chính của Công ty Bột mì Đại Nam trước đây là tổng đại lý của Công ty Bột

mì Đại Phong Điều này cho thấy ông Hiền biết về các nhãn hiệu cũng như các kiểu

Trang 36

28

dáng bao bì sản phẩm bột mì của Công ty Đại Phong Việc sử dụng các kiểu dáng bao bì sản phẩm bột mì có thiết kế, trang trí màu sắc, cách trình bày tương tự như các kiểu dáng bao bì sản phẩm bột mì của Công ty Bột mì Đại Phong có dấu hiệu lợi dụng uy tín trên chỉ dẫn thương mại đã được sử dụng của Công ty Bột mì Đại Phong Vì vậy, hành vi sử dụng kiểu dáng bao bì sản phẩm bột mì của Công ty Bột

mì Đại Nam trong trường hợp này chứa dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.[6]

Trường hợp thứ ba, vụ việc Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt My và Công

ty trách nhiệm hữu hạn Quang Minh sản xuất hai loại trà xanh mang nhãn hiệu O2

và trà xanh Ω có các dấu hiệu trùng, tương tự với nhãn hiệu trà xanh 0 độ của Công

ty Tân Hiệp Phát Trà xanh 0 độ của Công ty Tân Hiệp Phát đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và kiểu dáng, mẫu mã bao bì Nhãn hiệu trà xanh 0 độvới bao gồm: logo Number One và chữ 0 độ thật to trên nhãn hàng Hiện dòng sản phẩm này có sức tiêu thụ rất mạnh trên thị trường nước giải khát, chiếm trên 40% thị phần nước giải khát của doanh nghiệp Lợi dụng uy tín sẵn có trên thị trường của sản phẩm trà xanh 0 độ, Công ty Việt My đã sản xuất loại trà xanh mang nhãn hiệu O2 có các dấu hiệu màu sắc, bao bì, cách trình bày nhãn hiệu hàng hóa trên bao bì sản phẩm giống hệt với nhãn hiệu trà xanh 0 độcủa Công ty Tân Hiệp Phát Tiếp đó, trên thị trường tiếp tục xuất hiện sản phẩm trà xanh mang nhãn hiệu Ω của Công ty Quang Minh với các dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu trà xanh 0

độ của Tân Hiệp Phát

Trước vụ việc như trên, Công ty Tân Hiệp Phát đã có ý định khởi kiện hai Công ty Việt My và Công ty Quang Minh ra toà án vì tội nhái nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, trước hành động xin lỗi công khai của hai đơn vị vi phạm, Công ty Tân Hiệp Phát đã huỷ bỏ quyết định khởi kiện hai Công ty trên, đổi lại hai Công ty này buộc phải cam kết thu hồi các sản phẩm nhái mang nhãn hiệu O2 và Ω đang lưu thông trên thị trường cho đến ngày 04/08/2007 Tổng cộng có hơn 30.000 chai trà xanh O2 đã bị thu hồi và tiêu huỷ Các sản phẩm trà xanh Ω chưa được tung ra thị

Trang 37

29

trường, tuy nhiên Công ty Quang Minh cũng cam kết tiêu hủy toàn bộvỏ chai và nhãn mác dự tính đưa ra thị trường[12]

Ngoài ra, còn rất nhiều các hành vi khác thường xuyên diễn ra, như các hành

vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về tên gọi xuất xứ hàng hoá thường tập trung vào những địa danh có đặc sản nổi tiếng

Không chỉ số lượng các vụ việc làm giả nhãn hiệu ngày càng tăng mà tính chất thủ đoạn của các hành vi CTKLM còn trở lên tinh vi hơn đánh lừa người tiêu dùng Các hành vi làm giả, làm nhái nhãn hiệu tinh vi tới mức chính các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm bị xâm hại cũng không thể phát hiện ra Đến khi phát hiện ra, tuy có một số biện pháp khắc phục nhưng không đáng kể, nhiều doanh nghiệp đành sống chung với hàng giả và đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho các doanh nghiệp

- Đối với nhóm hành vi thứ 2: hành vi sử dụng nhãn hiệu nước ngoài tại Việt

Nam mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đó trên thực tế tại Việt Nam hiện nay chưa xảy ra tranh chấp nào Nhưng trên thực tế rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam đã bị thực hiện các hành vi này tại nước ngoài

Trường hợp đòi lại thương hiệu Vinataba là một ví dụ điển hình: Sự việc được phát hiện vào năm 2002, khi thương hiệu này bị công ty của Indonesia có tên

là P.T Putra Stabat Industri chiếm đoạt bằng việc đăng ký thương hiệu tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và 9 nước ASEAN Để tìm lại thương hiệu của mình ở các quốc gia trên, Vinataba đã phải bỏ ra khoản chi phí đến hàng tỷ đồng cho việc bảo vệ thương hiệu ở nước ngoài Tại Indonesia, tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã được công nhận là doanh nghiệp có quyền sở hữu thương hiệu Vinataba, công ty P.T Putra Stabat do không chứng minh được quyền sở hữu của mình đã buộc phải hủy bỏ các sản phẩm mang thương hiệu Vinataba ở thị trường Indonesia [8]

Ví dụ về những cố gắng mà chủ doanh nghiệp Kẹo dừa Bến Tre là một ví dụ khá hay cho các doanh nghiệp học hỏi Năm 1998, khi đang có doanh số tiêu thụ tại

Trang 38

30

thị trường Trung Quốc rất cao, nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre của bà Nguyễn Thị Tỏ (tức Hai Tỏ) bỗng sụt giảm nghiêm trọng Qua dò hỏi bà được biết trên thị trường đang có sản phẩm kẹo dừa giả, nhái kẹo dừa Bến Tre, bà đã quyết định đi Trung Quốc kiện Doanh nghiệp Rừng dừa – doanh nghiệp làm nhái sản phẩm Bến Tre Tháng 08 năm 2008, bà được biết Công ty TNHH Rừng Dừa đã đăng kí độc quyền nhãn hiệu tại Trung Quốc được 8 tháng, chỉ còn ba tháng nữa là được cấp bằng độc quyền Cùng người phiên dịch, bà đến trình bày sự việc tại Cục Quản lý hành chính Công thương nhãn hiệu hàng hóa quốc gia nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nêu rõ những thiệt hại về kinh tế và luật pháp mà doanh nghiệp làm giả gây ra tại thị trường Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời đề nghị hai vấn đề: Từ chối cấp nhãn hiệu hàng hóa cho Doanh nghiệp Rừng dừa, dựa trên phân loại nhóm 30 (chủng loại kẹo theo quy định của quốc tế) và phê duyệt cho nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre với hình phân biệt là người đàn bà đeo kính Tháng 5 năm 1999, tám tháng sau đăng kí, nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre được cấp bằng độc quyền sáng chế, cho phép lưu hành trên lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời sản phẩm của doanh nghiệp Rừng Dừa được xác nhận là hàng nhái, không đủ tiêu chuẩn lưu hành Bà Tỏ đem giấy tờ chứng nhận đến tận Đảo Hải Nam, nơi Rừng Dừa “đóng đô”, thuyết phục nhờ chính quyền địa phương xử lý toàn bộ số sản phẩm giả[5]

Xuất phát từ vị trí những doanh nghiệp Việt Nam bị thiệt hại do việc thực hiện hành vi này tại nước ngoài có thể thấy, quy định này là cần thiết Tuy nhiên để đảm bảo cho quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam thì Việt Nam nên kí kết các hiệp định nhằm điều chỉnh vấn đề này, vì thực tế hiện nay, rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam đã gây dựng được cho mình một nhãn hiệu mạnh nên khả năng bị xâm phạm là rất nhiều

Xây dựng thương hiệu đã khó, nhưng việc bảo vệ các thương hiệu này còn khó hơn nhiều, mất thương hiệu đồng nghĩa với việc mất thị trường Khi mất quyền

sở hữu nhãn hiệu, doanh nghiệp không chỉ mất thị trường, hàng thật biến thành hàng giả vì nhãn hiệu của mình đã được bản hộ bởi một đơn vị khác… mà còn ảnh

Trang 39

31

hưởng lâu dài tới uy tín của doanh nghiệp Do vậy, trước hết các doanh nghiệp phải chủ động trong việc bảo vệ thương hiệu của mình bằng việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế để xác lập quyền sở hữu của mình, tránh việc bị một bên thứ 3 đăng ký chiếm chỗ từ đó thực hiện các hành vi CTKLM trên thị trường quốc tế đối với doanh nghiệp mình

- Với nhóm hành vi thứ 3: là hành vi đăng kí, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc

sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn

Trường hợp điển hình của một doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thang máy như sau: doanh nghiệp đã đăng ký nhãn hiệu và dùng nhãn hiệu làm tên miền website nhưng thông tin của doanh nghiệp đưa lên website chưa được bao lâu thì bị một doanh nghiệp khác cùng ngành nghề sao chép Doanh nghiệp (sao chép) không chỉ dùng tên miền tương tự mà còn dùng toàn bộ hình ảnh, thông tin quảng bá của

họ để đưa lên website của mình Hậu quả là người tiêu dùng đã từng truy cập website của doanh nghiệp gốc nhầm lẫn đăng nhập và mua phải hàng hóa kém chất lượng của doanh nghiệp Do vậy khách hàng đã kiến nghị và mất 1 phần niềm tin với doanh nghiệp “gốc” Bức xúc trước tình hình này, doanh nghiệp đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm trên Hành vi vi phạm kiểu này đang là thách thức đối với các cơ quan thực thi pháp luật, bởi khi cơ quan thực thi

có mặt thì doanh nghiệp sao chép đã gỡ bỏ thông tin; một thời gian sau, thông tin vi phạm lại tiếp tục được đưa lên như cũ Có rất nhiều nhãn hiệu, tên thương mại của doanh nghiệp có “tên tuổi” của Việt Nam bị người khác lấy đi đăng ký tên miền, sau đó, họ dùng tên miền này để chào bán lại cho chính công ty của họ

Nếu mua lại, doanh nghiệp sẽ phải tốn một khoản tiền lớn gấp đôi, thậm chí gấp 5 đến 10 lần so với phí đăng ký một tên miền khác còn nếu không mua lại họ

sẽ bán lại cho những doanh nghiệp khác.Việc sử dụng tên miền trùng lắp với nhãn hiệu, tên thương mại của mình để quảng cáo, bán hàng trên mạng sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp gốc

Trang 40

32

Có thể nói, thực trạng diễn ra các hành vi CTKLM liên quan đến SHTT đang diễn ra đúng như nhận định cùa Bà Trương Thuỳ Trang, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh “CTKLM trong SHTT hiện đang là vấn

đề nóng và diễn ra thường xuyên, ở tất cả mọi lĩnh vực ngành nghề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và gây ra sự nhầm lẫn, lừa dối đối với người tiêu dùng Nguyên nhân của những hành vi CTKLM là do nhận thức và hiểu biết của doanh nghiệp chưa đầy đủ và đúng đắn Bên cạnh đó, có những động

cơ chủ tâm, nhằm mục đích gây ra thiệt hại, làm cản trở đến thương mại bình thường của đối thủ cạnh tranh Các điều kiện phát sinh diễn ra CTKLM gần như luôn luôn bên cạnh nhu cầu muốn thu lợi”[14]

Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều hành vi CTKLM đã và đang diễn ra dưới mọi hình thức trên thị trường Việc phòng chống các hành vi CTKLM này là hết sức cần thiết để thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp đã nỗ lực trong việc xây dựng thành công một thương hiệu bằng uy tín với khách hàng, tạo ra

sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường

2.2 Thực tiễn pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

2.2.1 Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

Mặc dù chưa có một chế định riêng biệt điều chỉnh các hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN nhưng kể từ khi chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định pháp lý có liên quan đến việc điều chỉnh hành vi CTKLM liên quan đến quyền

SHCN diễn ra trên thị trường như:

- Bộluật Hình sự 2015;

- Bộ luật Dân sự 2015;

Ngày đăng: 01/05/2020, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w