1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính việt nam

88 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cả nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên cao học

Bùi Tân Phú

Trang 4

Do điều kiện thời gian nghiên cứu không nhiều và kiến thức bản thân còn hạn chế, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và những người quan tâm đến đề tài

để Luận văn này có thể hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên cao học

Bùi Tân Phú

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Contents

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 4

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 4

4 Câu hỏi nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 5

6.2 Phương pháp xử lý số liệu 5

7 Kết quả nghiên cứu 6

8 Kết cấu của đề tài 6

Chương 1: 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 7

1.1 Tình hình tài chính và phân tích tình hình tài chính 7

1.1.1 Tài chính và tình hình tài chính 7

1.1.2 Phân tích tình hình tài chính 9

Trang 6

iv

1.2 Quy trình phân tích tình hình tài chính 13

1.2.1 Công tác chuẩn bị 13

1.2.2 Tiến hành phân tích 14

1.2.3 Kết thúc phân tích 15

1.3 Công cụ và kỹ thuật phân tích tình hình tài chính 15

1.3.1 So sánh 16

1.3.2 Loại trừ 18

1.3.3 Dupont 20

1.3.4 Các công cụ và kỹ thuật phân tích khác 23

1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính 23

1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 23

1.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính 26

1.4.3 Phân tích cân bằng tài chính 29

1.4.4 Phân tích tình hình thanh toán 32

1.4.5 Phân tích khả năng thanh toán 34

1.4.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh 36

1.4.7 Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ 39

1.4.8 Phân tích rủi ro tài chính 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

Chương 2: 43

THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI NHÀ MÁY VẬT LIỆU CHỊU LỬA KIỀM TÍNH VIỆT NAM 43

2.1 Tổng quan về Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 43

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43

2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh 45

2.2 Thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 48

2.2.1 Quy trình phân tích 48

2.2.2 Công cụ và kỹ thuật phân tích 49

Trang 7

v

2.2.3 Nội dung phân tích 49

2.3 Đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 60

2.3.1 Những thành tựu đạt được 60

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 61

2.3.3 Nguyên nhân 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

Chương 3: 64

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI NHÀ MÁY VẬT LIỆU CHỊU LỬA KIỀM TÍNH VIỆT NAM 64

3.1 Mục tiêu và nguyên tắc hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 64

3.1.1 Mục tiêu hoàn thiện 64

3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 65

3.2 Giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 66

3.2.1 Hoàn thiện quy trình phân tích 66

3.2.2 Hoàn thiện công cụ và kỹ thuật phân tích 66

3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích 69

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam 72

3.3.1 Về phía Nhà nước 72

3.3.2 Về phía Công ty chủ quản và Nhà máy 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

KẾT LUẬN CHUNG 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐKT : Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC : Báo cáo tài chính

HĐĐT : Hoạt động đầu tư

HĐKD : Hoạt động kinh doanh

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Quy mô tổng tài sản Nhà máy giai đoạn 2016 – 2018 50Bảng 2.2: Kết cấu tài sản và nguồn vốn trong 3 năm từ 2016 – 2018 52Bảng 2.3: Bảng tính tỷ lệ vốn chiếm dụng so với vốn bị chiếm dụng ngắn hạn của Nhà máy giai đoạn 2016 – 2018 55Bảng 2.4: Các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của Nhà máy 56Bảng 2.5: Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 – 2017 - 2018 59Bảng 3.1: Bảng phân tích ROA, ROE theo kỹ thuật mô hình Dupont 68Bảng 3.2: Bảng phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ giai đoạn 2017 - 2018 70

Trang 10

viii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý 45Biểu 2.1 Quy mô tổng tài sản Nhà máy giai đoạn 2016 – 2018 51Biểu 2.2 Quy mô tổng Nguồn vốn Nhà máy giai đoạn 2016 – 2018 53Biểu đồ 2.3: Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán – Lợi nhuận thuần giai đoạn 2016-2018 60

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn cầu: tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như: WTO, APEC, AFTA, … và ký nhiều hiệp định song phương và đa phương Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý tài chính

là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam

Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích tình hình tài chính Mục đích của việc phân tích tình hình tài chính là giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp Do đó, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng không chi đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mà các thông tin từ việc phân tích tình hình tài chính còn vô cùng hữu ích đối với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động trong doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý kinh tế

Các thông tin tài chính để ra quyết định có thể là những thông tin của bản thân nội tại doanh nghiệp, có thể là thông tin của các doanh nghiệp cùng ngành, hoặc có thể là thông tin của nền kinh tế vĩ mô Nhưng nguồn thông tin quan trọng nhất đối với người ra quyết định đó là thông tin của bản thân doanh nghiệp đó Với yêu cầu của việc ra quyết định kịp thời và chính xác thì công tác phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp rất quan trọng

Phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp sẽ đánh giá được hoạt động của doanh nghiệp, những gì đạt được và những gì còn tồn tại, từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp cho tình hình tài chính của doanh nghiệp

Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam là đơn vị sản xuất và kinh doanh vật liệu chịu lửa đầu tiên tại Việt Nam Nhà máy đã hoạt động và xây dựng được vị trí nhất định trên thị trường, liên tục mở rộng quy mô kinh doanh và có lợi

Trang 12

2

nhuận tương đối ổn định

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính, trong những năm gần đây, cuối mỗi niên độ kế toán, Nhà máy đã tiến hành phân tích tình hình tài chính nhưng chi là những phân tích mang tính khái quát, chưa có mục đích

và kế hoạch rõ ràng, nội dung và phương pháp tiến hành vẫn chưa hoàn thiện, chưa phát huy được tính ứng dụng thực tiễn của phân tích tình hình tài chính Từ những nhận thức của bản thân về lý luận phân tích tình hình tài chính cũng như qua nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam” làm đề tài cho luận văn của mình

2 Tổng quan nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp

Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp như:

Tác giả Trần Thị Phương Thảo (2010), “Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Tổng Công ty Xây dựng công trình Giao thông 5”, Luận văn thạc sĩ quản trị kình doanh, Trường Đại học Đà Nẵng, đã nghiên cứu tình hình tài chính kinh doanh của Công ty từ năm 2012 đến năm 2014, với đặc trưng của doanh nghiệp hoạt động xây lắp: Nợ phải thu và hàng tồn kho tương đối lớn, sử dụng nguồn tài trợ chủ yếu là nợ Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro trong khả năng thanh khoản Công ty Qua đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính như: Quản lý tốt nợ phải thu, hàng tồn kho; Thường xuyên đánh giá, phân loại khách hàng; Xây dựng kế hoạch đảm bảo thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như cơ cấu lại nợ khi cần thiết

Tác giả Bùi Văn Lâm (2011), “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần VINACONEX 25”, trong luận văn này tác giả đã chi ra những chi tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời được Công ty chú trọng phân tích, nhưng hầu như chi tiến hành so sánh và đánh giá khái quát khả năng sinh lời, chưa đi sâu vào phân tích nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng giảm các chi tiêu khác Qua đó tác

Trang 13

ty với Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn Tuy nhiên, luận văn này chi tập trung phân tích các chi tiêu tài chính trình bày trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh mà chưa đề cập nhiều đến các chi tiêu tài chính trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính, do đó tính thuyết phục của công trình chưa cao

Tác giả Trần Thị Hải Anh (2015), “Phân tích tài chính Công ty Cổ phần xây dựng số 1 - Vinaconex”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã khái quát hóa những vấn đề lý luận về phân tích báo cáo tài chính, tiến hành phân tích và đề xuất những giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng số 1 - Vinaconex Tuy nhiên, luận văn bị giới hạn bởi những hạn chế đã trình bày ở trên Luận văn nhằm phục vụ quản trị doanh nghiệp, hướng tới hoàn thiện hệ thống chi tiêu để đánh giá, phân tích doanh nghiệp tốt hơn nhưng chưa hướng tới phục vụ những đối tượng liên quan khác

Tác giả Lê Thị Dung năm (2015), “Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Công nghệ Dược phẩm Việt Pháp”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo tài chính, đề cập sâu đến các phương pháp cũng như nôi dung phân tích tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, luận văn mới chi dừng lại ở quan điểm của các nhà quản trị, phân tích tình hình tài chính nhằm phát hiện ra những ưu điểm, nhược điểm của công tác phân tích tình hình tài chính đang diễn ra tại Công ty, nhằm xây dựng nên hệ thống chi tiêu để phân tích và hoàn thiện công tác phân tích tại Công ty, mà chưa hướng tới việc phân tích những biến

Trang 14

Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều đã hệ thống hóa được các nội dung cơ bản về công tác phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp và

đề xuất một số giải pháp giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp

Tuy nhiên, với mỗi doanh nghiệp riêng biệt trong nền kinh tế đều có những đặc thù riêng về ngành nghề kinh doanh, về quy mô hoạt động, về tổ chức nhân sự… Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng tình hình tài chính tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam Do đó, để hiểu rõ hơn về thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện phân tích để công ty đánh giá chính xác hơn về tình hình tài chính của mình từ

đó đưa ra những phương án kinh doanh phù hợp

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

- Tìm hiểu và hoàn thiện giải pháp phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam để đưa ra các nhận định, đánh giá về công tác phân tích tài chính tại Nhà máy

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam, đồng thời đưa ra các kiến nghị tạo điều kiện phù hợp để thực hiện các giải pháp đã được đề xuất

4 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 15

5

Câu hỏi về mặt lý luận:

- Phân tích tình hình tài chính có mang lại kết quả như thế nào đến hiệu quả kinh doanh của DN?

- Phân tích tình hình tài chính trong DN bao gồm những nội dung gì?

Câu hỏi thực tiễn:

- Thực trạng Phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam đã phù hợp với yêu cầu quản lý chưa, chỉ ra những ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân?

- Những giải pháp nào có thể sử dụng để hoàn thiện phân tích tình hình tài chính và những điều kiện thực hiện các giải pháp này?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của Luân văn: từ năm 2016 đến năm 2018

• Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Giới hạn tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam + Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2016 đến 2018

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu Tác giả thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu Tác giả thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả nghiên cứu các văn bản, tài liệu về phân tích tài chính doanh nghiệp, có thể phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý công ty, kế toán trưởng và kế toán viên tại Công ty

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tìm hiểu những luận văn, luận án và các bài báo nghiên cứu về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp của các tác giả đi trước

6.2 Phương pháp xử lý số liệu

Trang 16

7 Kết quả nghiên cứu

Khái quát hoá được cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính tại DN nói chung và Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam nói riêng

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và đánh giá về công tác phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam

Hy vọng với những nghiên cứu và đánh giá của mình, đặc biệt là những giải pháp đưa ra, luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị của Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam trong việc ra quyết định nhằm hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy nói riêng và các Doanh nghiệp có cùng lĩnh vực hoạt động nói chung

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính tại các doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam

Trang 17

và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập và

sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của DN” [4, tr.16]

Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính bởi lẽ nó trực tiếp gắn liền và phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh ở các đơn vị cơ sở, nơi trực tiếp sáng tạo ra sản phẩm quốc dân, mặt khác còn có tác đọng quyết định đến thu nhập của các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá vốn chủ sở hữu Nói cách khác hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức huy động phân phối, sử dụng quản lý vốn trong quá trình kinh doanh

Hoạt động tài chính ở doanh nghiệp phải hướng tới các mục tiêu sau:

- Hoạt động tài chính phải giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế thể hiện qua việc thanh toán với các đơn vị có liên quan như Ngân hàng, các đơn vị kinh tế khác mối quan hệ này được cụ thể hoá bằng các chi tiêu đánh giá về mặt lượng, mặt chất và thời gian

Trang 18

8

Hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, nguyên tắc này đòi hỏi phải tối đa hoá việc sử dụng các nguồn vốn, nhưng vẫn đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được hoạt động bình thường và mang lại hiệu quả cao

Hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chấp hành

và tuân thủ các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với nhà nước, kỉ luật với các đơn vị tài chính kinh tế có liên quan

Tình hình tài chính

“Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm Tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay bí đát thể hiện rõ nét chất lượng của toàn bộ hoạt động mà doanh nghiệp đã tiến hành” [6, tr.233]

Tình hình tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp:

Thông tin tình hình tài chính đầy đủ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần

Đối với các nhà đầu tư:

Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp Các nhà

Trang 19

9

đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư

Đối với các nhà cho vay:

Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp

Đối với cơ quan nhà nước:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, thông tin tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ hiểu được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không

Đối với người lao động trong doanh nghiệp

Người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản về tình hình tài chính doanh nghiệp vì các thông tin đó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến hiện tại và tương lai của họ

Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp

1.1.2 Phân tích tình hình tài chính

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp

“Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xáo định thực trạng hay tình trạng tài chính, an ninh tài chính của doanh nghiệp, tìm

ra nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, giúp cho

Trang 20

mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp… Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:

- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này

- Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp

- Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lực kinh

tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp Đồng thời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của

Trang 21

Phân tích tình hình tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính Doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước, các DN thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy

sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của DN như: chủ DN, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng,… kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của DN trên các góc độ khác nhau:

Đối với bản thân doanh nghiệp:

Phân tích tình hình tài chính đối với bản thân DN là phân tích nội bộ phục vụ công tác quản trị, điều hành DN Phân tích tình hình tài chính làm nổi bật điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sang tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn là cơ sở không thể thiếu được để ban lãnh đạo DN ra quyết định, điều hành, kiểm soát việc thực hiện các quyết định kinh doanh trung và dài hạn của DN

Đối với các nhà đầu tư vào DN:

Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các DN Trên cơ

sở phân tích các thông tin tình hình tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh

Trang 22

12

doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của DN từ đó đưa ra những quyết định phù hợp

Đối với người cho vay

Nếu phân tích tình hình tài chính được các nhà đầu tư và quản lý DN thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của DN thì phân tích tình hình tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho DN sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của DN

Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của DN được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của DN, nghĩa là khả năng ứng phó của DN đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của DN mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tùy thuộc vào khả năng sinh lời này

Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của DN Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các TS khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của DN Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi

vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp DN bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người chi vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ bảo hiểm của DN đi vay

Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hóa, dịch vụ cho DN, họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của DN hiện tại và trong thời gian sắp tới

Đối với người lao động trong doanh nghiệp:

Trang 23

13

Mối quan tâm của người lao động trong DN là thu nhập và cơ hội thăng tiến

mà DN dành cho họ Tuy nhiên, cũng có những DN, người hưởng lương có một số

cổ phần nhất định trong DN Đối với những DN này, người hưởng lương có thu nhập từ tiền lương được trả và tiền lời được chia Cả hai khoản thu nhập này phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Do vậy, phân tích tình tài chính giúp họ định hướng việc làm và đầu tư tài chính cho tương lai

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước:

Dựa vào các BCTC của DN, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tình hình tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của DN có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ

và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng

Tóm lại, phân tích tình hình tài chính DN giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính DN, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp

1.2 Quy trình phân tích tình hình tài chính

1.2.1 Công tác chuẩn bị

Công tác chuẩn bị, là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, hiệu quả của phân tích tình hình tài chính Công tác chuẩn bị phải được tiến hành khoa học, chuẩn xác sẽ giúp cho các công tác tiếp theo được thực hiện tốt

Cần phải xây dựng một chương trình phân tích tình hình tài chính cụ thể như sau:

- Mục tiêu, phạm vi và thời gian tiến hành phân tích cần được xác định rõ: phân tích để làm gì; phạm vi phân tích là bộ phận hay toàn bộ hệ thống; loại phân

Trang 24

14

tích theo chuyên đề hay toàn diện; thời gian dự kiến tiến hành phân tích ngắn hay dài; trước, trong hay sau khi hoạt động tài chính xảy ra… để trên cơ sở đó thiết lập quy trình, khối lượng công việc… cần thực hiện tiếp theo

- Nội dung phân tích, chỉ tiêu và phương pháp phân tích sử dụng được xác định rõ: Căn cứ vào mục tiêu, phạm vi, thời gian phân tích để lựa chọn nội dung, chỉ tiêu và phương pháp phân tích phù hợp, tránh lãng phí thời gian, công sức của

bộ phận phân tích và tránh sai lệch mục tiêu phân tích

- Lựa chọn tài liệu, thông tin cần thu thập: Căn cứ vào nội dung, chỉ tiêu và phương pháp phân tích đã xác định, kế hoạch phân tích cần chỉ rõ những tài liệu, thông tin thu thập, tìm hiểu cũng như các nguồn cung cấp thông tin để đảm bảo có

đủ lượng tài liệu thích hợp cho việc phân tích

- Lựa chọn nhân sự và phương tiện phân tích: Nhân lực có trình độ và chuyên môn luôn là yếu tố quan trọng để thực hiện phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Để phân tích tình hình tài chính diễn ra đúng tiến độ, tuân thủ quy trình thì công tác chuẩn bị cần chi tiết công việc, xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân một cách cụ thể, mối liên hệ giữa các bộ phận cần chặt chẽ, sử dụng các công cụ, phương tiện một cách hiệu quả

1.2.2 Tiến hành phân tích

Tiến hành phân tích là thực hiện các công việc đã được chuẩn bị, đây là sự kết hợp giữa con người và phương pháp phân tích, tài liệu sử dụng để đạt được các thông tin theo mục tiêu đề ra Giai đoạn này bao gồm các công việc cụ thể sau:

Tính toán các chỉ tiêu phân tích: sau khi đã thu thập đầy đủ tài liệu cần thiết, căn cứ vào mục tiêu của DN, lựa chọn phương pháp phân tích

Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích phù hợp Người phân tích cần xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, cần xác định rõ các nguyên nhân cụ thể…

Trang 25

1.2.3 Kết thúc phân tích

Đây là giai đoạn cuối cùng của công việc phân tích, nó gồm những công việc

cụ thể sau:

- Viết báo cáo phân tích: báo cáo phân tích trình bày các đánh giá, kiến nghị

Từ đó đưa ra phương hướng và biện pháp phấn đấu trong kỳ kinh doanh tới Báo các cần đưa ra các kiến nghị, đề xuất cụ thể và kèm theo các điều kiện thực hiện

Tổ chức báo cáo kết quả phân tích: Kết quả phân tích phải được cung cấp cho người có chức năng và trách nhiệm giải quyết những vấn đề đã đưa ra đó là các chủ thể quản lý

Báo cáo phân tích cũng được gửi tới các bộ phận liên quan trong đơn vị để mỗi bộ phận liên quan thực hiện các giải pháp mà phân tích tình hình tài chính đưa

ra Từ đó họ sẽ có những hành động cụ thể, thiết thực hơn để thực hiện các giải pháp mà phân tích tình hình tài chính đã đề xuất

- Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích: Hồ sơ phân tích là tài liệu quan trọng cần phải lưu trữ cẩn thận để sử dụng lâu dài Hồ sơ phân tích bao gồm tất cả các tài liệu liên quan tới quá trình phân tích tài chính, từ kế hoạch phân tích cho tới sản phẩm cuối cùng của phân tích là báo cáo phân tích

Hồ sơ phân tích chính là bằng chứng thể hiện chất lượng công tác phân tích, bằng chứng để kiểm tra tính đúng đắn của kết quả tính toán các chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích, cơ sở dữ liệu trong ngân hàng dữ liệu phân tích của đơn vị,

là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp

1.3 Công cụ và kỹ thuật phân tích tình hình tài chính

Trang 26

16

1.3.1 So sánh

So sánh là công cụ được sử dụng phổ biến trong phân tích nói chung và phân tích tình hình tài chính nói riêng nhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của đối tượng phân tích

Để áp dụng công cụ so sánh vào phân tích tình hình tài chính của DN, cần phải chú trọng đến các nội dung cơ bản bả của công cụ như: điều kiện so sánh được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu; gốc so sánh, các dạng so sánh chủ yếu

và hình thức so sánh

Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung phản ánh, về công cụ tính toán và

về đơn vị đo lường

- Nội dung phản ánh của chỉ tiêu thường có tính ổn định và được quy định thống nhất Khi có sự thay đổi nội dung phản ánh của chỉ tiêu, trước khi so sánh cần tính lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nôi dung mới

- Cũng như nội dung phản ánh, công cụ tính toán có thể thay đổi theo thời gian Khi so sánh có sự khác biệt về công cụ tính toán, cần tính toán lại các trị số của chỉ tiêu theo một công cụ thống nhất rồi mới so sánh

- Đơn vị đo lường của chỉ tiêu thể hiện trị số cụ thể của chỉ tiêu bằng các thước đo tương ứng (giá trị, hiện vật, thời gian) Trước khi so sánh cần quy đổi trị

số của các chỉ tiêu về cùng một đơn vị đo lường như nhau

Gốc so sánh thường được xác định theo thời gian (thời kỳ, thời điểm) hoặc không gian hoặc cả không gian và thời gian tuỳ thuộc điều kiện và mục đích phân tích cụ thể

- Gốc so sánh về mặt thời gian: So sánh kết quả đạt được của chỉ tiêu phán

ánh đối tượng nghiên cứu ở kỳ thực tế với các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hoặc

kế hoạch, dự toán Ngoài ra, trong một số trường hợp, để xác định xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của đối tượng nghiên cứu, gốc so sánh còn có thể được cố đinh tại một kỳ cụ thể (so sánh định gốc) hay thay đổi liên tục (so sánh liên hoàn)

Trang 27

17

- Gốc so sánh về mặt không gian: So sánh từng bộ phận với tổng thể (mức

độ phổ biến) hay so sánh trị số của chỉ tiêu phán ánh đối tượng nghiên cứu với trị số tương ứng của các đơn vị khác có cùng điệu kiện tương đương hay so sánh với bình quân ngành, bình quân khu vực, … (vị trí hiện tại của doanh nghiệp), so sánh bộ phận này với bộ phận khác của cùng tổng thể (mức độ hơn kém), …

Để biểu thị kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu, trong công thức xác định chỉ tiêu, người ta thường dùng chữ số “0” viết bên phải, phía dưới ký hiệu chỉ tiêu Tương tự chữ số “1” sẽ được viết bên phải, phía dưới ký hiệu chỉ tiêu để chỉ kỳ phân tích (kỳ

so sánh)

Để phục vụ cho từng mục đích cụ thể của công tác phân tích tình hình tài chính các nhà phân tích thường sử dụng các cách cụ thể sau:

So sánh bằng số tuyệt đối: cho biết khối lượng, quy mô mà doanh nghiệp

đạt được vượt hay hụt của các chỉ tiêu tình hình tài chính giữa kỳ phân tích và kỳ gốc biểu hiện bằng thước đo thích hợp (giá trị, hiện vật hay thời gian)

So sánh bằng số tương đối: phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát

triển, mức độ thực hiện kế hoạch và mức độ phổ biến của các chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu trong điều kiện không gian và thời gian nhất định

So sánh bằng số bình quân: phản ánh đặc điểm chung nhất, phổ biến và

điển hình nhất trong các điều kiện không gian, thời gian; cho thấy mức độ đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể (ngành, khu vực…), qua đó thấy được

vị trí hiện tại của DN trên thị trường

Căn cứ vào tính chất và nội dung phân tích của các chỉ tiêu mà sử dụng kỹ thuật so sánh phù hợp để đạt được mục đích, yêu cầu của việc phân tích

Trang 28

18

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính của DN

- So sánh giữa số liệu của DN với số liệu trung bình tiên tiến của ngành của

DN khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN tối hay xấu, khả quan hay không khả quan

Quá trình thực hiện phân tích theo công cụ so sánh có thể thực hiện bằng hình thức:

- So sánh theo chiều ngang

- So sánh theo chiều dọc

- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu

Công cụ so sánh là một trong những công cụ rất quan trọng Nó được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phân tích nào của DN Trong phân tích tình hình hoạt động tài chính của DN, nó được sử dụng rất đa dạng

và linh hoạt

1.3.2 Loại trừ

Để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, nhà phân tích sử dụng công cụ loại trừ bằng cách: loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại khi xác định ảnh hưởng của một nhân tố cụ thể

Hai dạng công cụ loại trừ thường được sử dụng trong phân tích tài chính là:

kỹ thuật thay thế liên hoàn và kỹ thuật số chênh lệch

Kỹ thuật thay thế liên hoàn là kỹ thuật xác định ảnh hưởng của từng nhân

tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó Đặc điểm và điều kiện áp dụng

kỹ thuật thay thế liên hoàn như sau:

Trang 29

19

- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

- Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số

- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân tố số lượng được xác định trước rồi mới đến nhân tố chất lượng; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân tố chất lượng thì xác định nhân tố nguyên nhân trước, nhân tố kết quả sau

- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản án đối tượng nghiên cứu một cách lần lượt Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng, nhân tố nào chưa thay thế vẫn giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc

- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc để kiểm tra quá trình tính toán

Ưu điểm của kỹ thuật này là xác định được mức độ, chiều hướng ảnh hưởng của từng nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnh hưởng của chúng Trên cơ

sở đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, không ngừng nâng cao kết quả hoạt động đầu

tư tài chính và hoạt động khác của DN

Bên cạnh đó, kỹ thuật vẫn còn tồn tại nhược điểm, đó là các nhân tố chỉ được xem xét tách rời mà không tính đến mối quan hệ với các nhân tố khác Trong khi

đó, một nhân tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác

Kỹ thuật số chênh lệch là kỹ thuật rút gọn của kỹ thuật thay thế liên hoàn,

cũng được dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ

Trang 30

20

tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Theo kỹ thuật này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đối với chỉ tiêu tổng hợp được xác định bằng số chênh lệch của nhân

tố đó nhân với các nhân tố khác được cố định trong khi lập tích số

Trình tự tiến hành kỹ thuật số chênh lệch như sau:

- Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi một nhân tố

- Nhân số chênh lệch của mỗi nhân tố với số kế hoạch của các nhân tố khác chưa đo ảnh hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đã đo ảnh hưởng

“Sức sinh lợi của tài sản”,… thành tích số của chuỗi các biển số có mối quan hệ mật thiết với nhau” [8, tr 45]

Ví dụ: sử dụng kỹ thuật Dupont để biến đổi chỉ tiêu ROE (tỉ suất sinh lợi của VCSH) Xuất phát từ công thức gốc xác định:

ROE =Lợi nhuận sau thuế

VCSH bình quân [1.1]

Chỉ tiêu ROE có thể được viết dưới dạng:

ROE =Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần x

Doanh thu thuầnVCSH bình quân [1.2]

Trong đó:

- Sức sinh lợi của doanh thu thuần ROS được xác định theo công thức

Trang 31

21

ROS =Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần [1.3]

- Số lần luân chuyển vốn chủ sở hữu ET được xác định theo công thức

ET =Doanh thu thuầnVCSH bình quân [1.4]

Từ đó ta có:

ROE = ROS x ET [1.5]

Mối quan hệ này cho thấy, ROE chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố: ROS và ET Bởi vậy, để tăng ROE, DN phải vận dụng các biện pháp để tăng ROS và ET Cụ thể:

- Tăng ROS: Để tăng ROS, DN phải tìm cách tăng lợi nhuận Muốn vậy, phải

mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lượng hàng hoá tiêu thụ, tăng doanh thu giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời, DN phải xây dựng chiến lược kinh doanh, xây dựng thương hiệu, chiến lược marketing, chiến lược thị trường phù hợp

- Tăng ET: Để tăng ET, tức là tăng khả năng tạo doanh thu thuần trên một

đồng VCSH; một mặt, DN phải tìm cách tăng doanh thu tiêu thụ; mặt khác, phải xem cấu trúc tài chính hợp lý

Trong quan hệ với tài sản, ROE có thể được viết dưới dạng:

ROE = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân x

Tổng tài sản bình quânVCSH bình quân [1.6]

Trong đó:

- Sức sinh lợi của tài sản ROA được xác định theo công thức

ROA = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân [1.7]

- Đòn bẩy tài chính bình quân AFL được xác định theo công thức

AFL =Tổng tài sản bình quân

VCSH bình quân [1.8]

Trang 32

22

Từ đó ta có:

ROE = ROA x AFL [1.9]

Qua công thức trên ta thấy, để nâng cao khả năng sinh lợi của VCSH, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể, các nhà quản lý có thể áp dụng một số kỹ thuật tăng ROA và AFL

- Tăng ROA: tức là tăng khả năng sinh lợi của tài sản; DN phải tìm cách tăng

doanh thu tiêu thụ, mặt khác phải xem xét cơ cấu đầu tư và trang bị tài sản hợp lý,

sử dụng tối đa công suất tài sản, tiến hành thanh lý những tài sản đã hư hỏng không còn sử dụng, nhượng bán tài sản không cần dùng hay sử dụng không hiệu quả

- Tăng AFL: phải căn cứ vào tình hình kinh doanh của DN Nếu kinh doanh

thuận lợi, việc tái cơ cấu nguồn vốn bằng cách tăng đòn bẩy tài chính, tức là tăng cường sử dụng nợ phải trả là hoàn toàn phù hợp và ngược lại

Trong quan hệ với tài sản và doanh thu thuần, ROE có thể được viết dưới

dạng:

ROE =Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần x

Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân x

Tổng tài sản bình quânVCSH bình quân [1.10] Trong đó:

- Số lần luân chuyển tài sản TAT được xác định theo công thức

TAT = Doanh thu thuần

Tổng tài sản bình quân [1.11]

Từ đó ta có:

ROE = ROS x TAT x AFL [1.12]

Để nâng cao khả năng sinh lợi của VCSH, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN, tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể, các nhà quản lý có thể

áp dụng một số kỹ thuật tăng ROS, TAT, AFL

Trang 33

23

- Tăng TAT: tức là tăng khả năng tạo doanh thu thuần trên một đồng tài sản;

DN vừa phải tìm cách tăng doanh thu tiêu thụ vừa phải xem xét cơ cấu đầu tư, trang

bị và sử dụng tài sản

Phân tích tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị DN Điều đó không chỉ biểu hiện ở chỗ, có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện Đồng thời, đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng để hiệu quả kinh doanh của DN Từ đó, đề ra được các biện pháp

tỉ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý DN, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN ở các kỳ kinh doanh tiếp theo

1.3.4 Các công cụ và kỹ thuật phân tích khác

Trong phân tích tình hình tài chính, công cụ chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu thường được sử dụng khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu tổng hợp, trong đó bao gồm nhiều chỉ tiêu bộ phận cấu thành Chẳng hạn, phân tích tình hình biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình biến động tổng số vốn, VCSH, vốn vay; biến động tiền và tương đương tiền; biến động TSNH, TSDH; HTK; biến động doanh thu, lợi nhuận từ các hoạt động; …

“Trên cơ sở chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu theo bộ phận cấu thành (từng hoạt động tiếu hành, từng địa điểm phát sinh, từng khoảng thời gian, ), các nhà phân tích tiến hành xem xét, so sánh mức độ đạt được của từng bộ phận giữa kỳ phân tích

so với kỳ gốc và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận đến tổng thể cũng như xem xét mức độ đóng góp của từng bộ phận vào kết quả chung”[8, tr 39]

1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính

1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

“Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc sử dụng kỹ thuật phân tích thích hợp nhằm đưa ra những nhận xét sơ bộ ban đầu vê thực trạng và sức mạnh tài chinh của doanh nghiệp, về mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đương đầu, nhất là lĩnh vực thanh toán” [6, tr 237]

Trang 34

24

Tình hình biến động của tổng số vốn theo thời gian vừa phản ánh kết quả hoạt động tài chính vừa phản ánh tình hình tài chính của DN Qua việc xem xét tình hình biến động về quy mô, cơ cấu, tốc độ, xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng, người sử dung thông tin có thể đánh giá sơ bộ mức độ thành công của DN trong kinh doanh, nắm được chính sách huy động vốn, mức độ độc lập tài chính cũng như triển vọng tương lai của DN

“Tổng số vốn của DN bao gồm 2 bộ phận chính: Nợ phải trả và VCSH Sự thay đổi về tỉ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn và xu hướng biến động về cơ cấu vốn cho thấy chính sách huy động vốn của DN Do vậy, khi đánh giá, bên cạnh xem xét tình hình biến động của tổng số vốn, xem xét tình hình biến động và xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn” [8, tr 254]

Xem xét tình hình biến động vốn về quy mô, về tốc độ tăng trưởng, về cơ cấu và xu hướng biến động của cơ cấu vốn được thể hiện bằng công cụ so sánh Khi phân tích tình hình biến động vốn về quy mô và tốc độ tăng trưởng kỳ phân tích thường chọn là cuối năm, kỳ gốc thường chọn là đầu năm

“Mức độ độc lập tài chính của DN thể hiện qua mức độ tự chủ tài chính và mức độ an ninh tài chính Vì thế, khi đánh giá mức độ độc lập tài chính phải xem xét mức độ tự chủ đồng thời phải xem xét với mức độ bảo đảm an ninh tài chính cho hoạt động của DN” [7, tr 308]

Chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” cho biết mức độ tài trợ tài sản bởi các chủ sở hữu Thông qua chỉ tiêu này cho biết 1 đồng tài sản doanh nghiệp được tài trợ bởi mấy đồng vốn chủ sở hữu

Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:

Hệ số tài trợ =Vốn chủ sở hữu

Tổng tài sản [1.13]

Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng tự chủ về mặt tài chính càng cao và do vậy mức độ độc lập về tài chính càng cao và ngược lại

Trang 35

25

“Khả năng thanh toán phản ánh năng lực đáp ứng các khoản nợ phải trả của

DN Khả năng đó đo bằng lượng giá trị tài sản hiện có của DN so với tống Số nợ

mà DN đang gánh chịu Mặt khác, khả năng thanh toán của một DN còn thể hiện qua khả năng thanh khoản - khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản để ứng phó với các khoản nợ ngắn hạn” [8, tr 263]

Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán của DN, các nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”, được xác định theo công thức:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số tài sản

Tổng số nợ phải trả [1.14]

“Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của DN Chỉ tiêu này cho biết với tổng tài sản hiện có, DN có đảm bảo trạng trải được các khoản nợ phải trả không Trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” có các khả năng xảy ra sau:

- Trị số này bằng 1: Các chủ nợ vẫn bảo đảm thu hồi được nợ, với tài sản hiện có DN vẫn có khả năng thanh toán hết nợ;

- Trị số này lớn hơn 1: DN có thừa khả năng thanh toán tổng quát;

- Trị số này nhỏ hơn 1: DN không đảm bảo trang trải các khoản nợ, trị số này càng nhỏ hơn 1, DN sẽ mất dần khả năng thanh toán

“Khả năng sinh lợi của DN phản ánh mức lợi nhuận mà DN thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất” [7, tr.312]

- Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity):

Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quân [1.15]

Trang 36

26

Biểu hiện rõ nét nhất và cao độ nhất khả năng sinh lợi của DN là khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế

- Sức sinh lợi của doanh thu (ROS – Return on sales):

Sức sinh lợi của doanh thu = Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần kinh doanh [1.16]

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị thu thuần thu được từ kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu này càng cao, sức sinh lợi của doanh thu thuần càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại, trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ, khả năng sinh lợi của doanh thu thuần càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng thấp

- Sức sinh lợi của tài sản (ROA – Return on assets):

Sức sinh lợi của tài sản = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân [1.17]

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh mang lại mấy đơn

vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định của DN theo thời gian, phản ánh trình độ đầu tư, trang bị cũng như hiệu quả sử dụng

- Sức sinh lợi cơ bản của tài sản (BEP – Basic earning power):

Sức sinh lợi cơ bản của tài sản = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Tổng tài sản bình quân [1.18]

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh mang lại mấy đơn

vị lợi nhuận trước thuế và lãi vay Chỉ tiêu này được xác định trước thuế TNDN và lãi vay, khi sử dụng chỉ tiêu này các DN được ưu đãi hay không được ưu đãi thuế TNDN, các DN sử dụng vốn vay hay không sử dụng vốn vay tử số được xác định giống nhau nên có thể so sánh được hiệu quả với nhau một cách chính xác

1.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính

Trang 37

27

“Cấu trúc tài chính là thuật ngữ phản ánh cơ cấu nguồn vốn (cơ cấu vốn), cơ cấu tài sản và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Cấu trúc tài chính quyết định đáng kể sự ổn định tài chính cũng như khả năng trả nợ (bao gồm cả nợ ngắn hạn và

nợ dài hạn) của DN” [8, tr.275]

Cơ cấu vốn phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn của DN Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho biết trong tổng nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của DN thì thành phần của từng loại nguồn vốn chiếm tỷ trọng là bao nhiêu và thực trạng này có phù hợp với DN hay không

Cơ cấu tài sản phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng tài sản hiện có của DN Một cơ cấu tài sản được coi là tối ưu khi và chỉ khi toàn bộ tài sản của DN được sử dụng tối đa vào phục vụ các hoạt động Phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản sẽ cung cấp thông tin có cơ sở tin cậy để đánh giá tình hình sử dụng vốn và mức độ phù hợp của hoạt động đầu tư tài sản

Phân tích cấu trúc tài chính giúp cho nhà phân tích biết được việc huy động các nguồn vốn, tình hình sử dụng vốn cũng như chính sách sử dụng các nguồn này vào các loại tài sản có phù hợp với đặc điểm hoạt động, quy mô hoạt động của DN

Phân tích cấu trúc tài chính được hướng tới các nội dung: Phân tích cơ cấu nguồn vốn, phân tích cơ cấu tài sản và phân tích mỗi quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm mục đích xem xét, đánh giá tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn tại thời điểm hiện tại (hay kỳ phân tích) và xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn giữa kỳ phân tích với kỳ gốc Căn cứ vào tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn kỳ phân tích và tình hình cụ thể của DN để đánh giá tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn hiện hành cả về mức độ

tự chủ và an ninh tài chính lẫn chính sách huy động, chính sách đòn bẩy tài chính

Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định qua công thức sau:

Trang 38

Sau khi đã huy động được vốn cho hoạt động kinh doanh, việc phân bổ và sử dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả là công việc rất quan trọng Việc

sử dụng vốn huy động thể hiện DN đang đầu tư về chiều rộng hay chiều sâu cho hoạt động kinh doanh Phân tích cơ cấu tài sản là xem xét tính hợp lý của cơ cấu tài sản hiện tại (kỳ phân tích) và xu hướng biến động của cơ cấu tài sản giữa kỳ phân tích và kỳ gốc

Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định qua công thức:

Để tìm hiểu mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản nhà phân tích thường sử dụng một trong các chỉ tiêu sau đây:

- Hệ số nợ so với tài sản:

Hệ số nợ

so với tài sản =

Nợ phải trảTổng tài sản [1.21]

Hệ số này cho biết chính sách sử dụng nợ phải trả để trả nợ tài sản Khi chỉ tiêu này có trị số càng nhỏ hơn một chứng tỏ DN đã dùng nhiều VCSH để mua sắm tài sản hoạt động, DN tự chủ về mặt tài chính và chủ động trong HĐKD Khi chỉ tiêu này có trị số càng cao gần bằng một, DN huy động nhiều nợ để mua sắm tài sản, điều này khiến tình trạng rủi ro tài chính của DN càng lớn

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:

Hệ số khả năngthanh toán tổng quát =

Tổng số tài sảnTổng số nợ phải trả [1.22]

Trang 39

29

Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vào tài sản bằng nợ phải trả Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn một, tài sản DN được tài trợ chủ yếu bằng VCSH, DN tăng sự độc lập về mặt tài chính Ngược lại, trị số của chỉ tiêu này gần bằng một những tài sản của DN chủ yếu được tài trợ bằng nợ phải trả, mức độ tự chủ tài chính giảm xuống, rủi ro tài chính tăng lên

- Hệ số tài trợ:

Hệ sốtài trợ =

VCSHTổng tài sản [1.23]

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản sử dụng trong kinh doanh được tài trợ bao nhiêu từ VCSH Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn một, DN mua sắm ít bằng VCSH, DN giảm sự độc lập về mặt tài chính Khi trị số của chỉ tiêu này gần bằng một, DN mua sắm chủ yếu bằng VCSH, DN có mức độ tự chủ tài chính tăng dần lên

1.4.3 Phân tích cân bằng tài chính

Để tiến hành HĐKD, các DN cần phải có tài sản, bao gồm TSNH và TSDH Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài sản cho HĐKD, DN cần phải chuẩn bị các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình thành nguồn tài trợ tài sản Nguồn tài trợ tài sản của DN được hình thành trước hết từ nguồn vốn chủ sở hữu, sau nữa được hình thành từ các khoản vốn vay, cuối cùng nguồn vốn được hình thành do chiếm dụng trong quá trình thanh toán Một cách tổng quát, tài sản doanh nghiệp được hình thành từ VCSH và nợ phải trả Từ đó ta có đẳng thức kế toàn cơ bản sau:

Trang 40

30

“Phân tích cân bằng tài chính giúp cho người sử dụng thông tin biết được mức độ đáp ứng vốn cho nhu cầu hoạt động của DN Đồng thời, biết được sự ổn định, bền vững, cân đối và an toàn trong tài trợ và sử dụng vốn cũng như nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính” [8, tr.390]

Phân tích cân bằng tài chính theo mức độ an toàn của nguồn tài trợ tài sản là việc phân tích dựa vào mức độ an toàn của từng nguồn vốn huy động (VCSH, vốn vay hợp pháp, vốn huy động trong thanh toán) tương ứng với tính thanh khoản của từng loại tài sản để xem xét

VCSH là vốn của chủ đầu tư, là nguồn tài trợ an toàn nhất Toàn bộ VCSH của DN phải được sử dụng để mua sắm, trang trải số tài sản ban đầu của DN Mối quan hệ cân đối này được thể hiện qua đẳng thức:

VCSH = Tài sản ban đầu [1.26]

Các quan hệ chiếm dụng vốn lẫn nhau diễn ra đồng thời, tuy mức độ khác nhau tuỳ theo thời điểm nhưng luôn tồn tại và trở thành đặc trưng hoạt động của bất

kỳ DN nào Chính vì vậy, chúng ta có quan hệ cân đối sau:

VCSH +

Vốn vayhợppháp

+ phát sinh trongNguồn vốnthanh toán

= Tài sảnban đầu+

Tài sảnphát sinh trong thanh toán

ban đầu = Nợ phảithu − Nợ phảitrả [1.28]

Cân đối này cho thấy: Khi phần VCSH và vốn vay hợp pháp lớn hơn tài sản ban đầu, mức vốn bị chiếm dụng đúng bằng chênh lệch giữa số nợ phải thu và nợ phải trả, mức chênh lệch càng lớn thì mức độ an toàn của nguồn tài trợ càng cao và

số vốn mà DN bị chiếm dụng càng nhiều Ngược lại, khi phần chênh lệch giữa VCSH và vốn vay hợp pháp nhỏ hơn tài sản ban đầu, DN chiếm dụng từ thanh toán

Ngày đăng: 01/05/2020, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w