1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy trình thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Hà Tây

55 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 392,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, thẩm định dự án đầu tưluôn luôn được Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam coi như một công cụhữu hiệu và đặc biệt quan trọng trong hệ thống các biện pháp đảm bảo cho ho

Trang 1

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU

Ông Takeshi Hachimura - Vụ phó Quốc tế Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ),

Cố vấn trưởng của dự án hợp tác kỹ thuật tăng cường năng lực Ngân hàng Nhà nước

do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ đã từng nói: “Nếu ví nền kinh tếcủa một quốc gia như cơ thể con người thì tiền tệ được xem như các mạch máu và hệthống ngân hàng là trái tim - nơi kiểm soát và “bơm” máu đến các bộ phận của cơthể” Thật vậy, sau hơn 20 năm đất nước thực hiện đổi mới, hệ thống ngân hàng ViệtNam ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mình, là kênh cơ bản cung ứngvốn cho nền kinh tế đất nước Hoạt động ngân hàng ở nước ta đang phát triển hết sứcnhanh chóng, đem lại nhiều tiện ích cho người dân, thúc đẩy chu chuyển vốn trong xãhội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng,nhất là hoạt động cho vay, tài trợ các dự án là hoạt động trọng tâm mà các ngân hànghướng tới Trong thực tế hiện nay, số các dự án được thực hiện bởi vốn vay từ ngânhàng chiếm tới 70 – 80 % tổng vốn đầu tư của nền kinh tế

Trên thực tế, đầu tư dự án là lĩnh vực tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Do đó, vừa đảm bảo hiệuquả, đồng thời đảm bảo an toàn vốn đầu tư là bài toán hết sức phức tạp đối với cácngân hàng hiện nay Hướng tới mục tiêu này, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Trang 2

Việt Nam đã sử dụng nhiều phương thức khác nhau để đánh giá tính khả thi và quản trikhoản tài trợ sao cho đạt được yêu cầu mong muốn Trong đó, thẩm định dự án đầu tưluôn luôn được Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam coi như một công cụhữu hiệu và đặc biệt quan trọng trong hệ thống các biện pháp đảm bảo cho hoạt độngtài trợ vốn của Ngân hàng đối với dự án.

Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả cao khi cho vay và giảm thiểu rủi ro, các ngân hàngcần phải thẩm định dự án một cách kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Thẩm định dự án

là một khâu quan trọng trong quy trình nghiệp vụ cho vay của NHTM Làm tốt côngtác thẩm định sẽ góp phần nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng, đảm bảo việc

sử dụng vốn vay hiệu quả và khả năng thu hồi vốn đầu tư

Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chinhánh Hà Tây, em đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác thẩm định dự ánđầu tư Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị cán bộ trong ngân hàng cùng với sựhướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS TS Bùi Huy Nhượng, em đã hoàn thành đề tài

chuyên đề tốt nghiệp “Hoàn thiện quy trình thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây”.

Nội dung chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về nội dung thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động

cho vay của NHTM

Chương II: Thực trạng quy trình thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây

Chương III: Giải pháp hoàn thiện quy trình thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động

cho vay của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh

Hà Tây

Trang 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư

1.1.1 – Đầu tư

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính,lao động , tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặcgián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật củanền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quanquản lý và xã hội nói riêng.Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp.Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó người đầu tư không trựctiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra

Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham giađiều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra Nó chia ra thành 2 loại đầu tư chuyển dịch

và đầu tư phát triển Trong đó:

- Nâng cấp các hoạt động đó vì mục tiêu phát triển thực chất Nó tạo ra của cảivật chất cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm Đầu tư chuyển dịch làhoạt động đầu tư mà chủ đầu tư bỏ tiền để mua lại một số lượng đủ lớn cổ phiếucủa một doanh nghiệp nhằm tham gia nắm quyền điều hành hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp đó

Trang 4

- Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản, tạo ra nhữngnăng lực sản xuất , phục vụ mới bao gồm: xây dựng các công trình mới, cáchoạt động dịch vụ mới, cải tạo mở rộng cải thiện đời sống người lao động.

Có thể nói đầu tư phát triển đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiềunăm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khá lớn

và vốn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư(viết tắt là DAĐT).Các thành quả của loại đầu tư này cần được sử dụng trong nhiều năm, đủ để cáclợi ích thu được tương ứng và lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra Chỉ có như vậythì công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả

1.1.2 – Dự án đầu tư

a) Khái niệm dự án đầu tư

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập hợp cáchoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở cácnguồn lực nhất định”

ở Việt Nam, khái niệm DAĐT được trình bày trong nghị định 52/1999 NĐ-CP vềquy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: “ DAĐT là tập hợp các đề xuất cóliên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chấtnhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nângcao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian nhất định”, baogồm những thành phần chính sau:

- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lạinhững lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng

- Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt độngkhác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự

án

- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án

để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộphận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án

- Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu cácnguồn lực về vật chất, tài chính và con người Giá trị hoặc chi phí của các nguồnlực này chính là vốn đầu tư cho các dự án

Trang 5

- Thời gian: Độ dài thực hiện DAĐT cần được cố định.

DAĐT được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn Các giaiđoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tương đối với nhau tạo thànhchu trình của dự án Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạnchuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả Giaiđoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giaiđoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư

Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chutrình dự án là rất quan trọng Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi người cómối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau Chủ đầu tưphải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự Đó là điều kiện để đảm bảođầu tư đúng cơ hội và có hiệu quả

b) Vai trò của dự án đầu tư

Vai trò của DAĐT được thể hiện cụ thể ở những điểm chính sau:

- Đối với chủ đầu tư: dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu tư.DAĐT được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu đầy

đủ về các mặt tài chính, thị trường, kỹ thuật, tổ chức quản lý Do đó, chủ đầu

tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có khả năngmang lại lợi nhuận và ít rủi ro Mặt khác, vốn đầu tư của một dự án thường rấtlớn, chính vì vậy ngoài phần vốn tự có các nhà đầu tư còn cần đến phần vốnvay ngân hàng Dự án là một phương tiện rất quan trọng giúp chủ đầu tưthuyết phục ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn.DAĐT cũng là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đônđốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư Quá trình này là những kế hoạchmua sắm máy móc thiết bị, kế hoạch thi công, xây lắp, kế hoạch sản xuất kinhdoanh Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá và điều chỉnh kịp thời nhữngtồn đọng vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư, khai thác công trình

- Đối với Nhà nước: DAĐT là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phêduyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư Vốn ngân sách Nhà nước sử dụng đểđầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án các công trình, kết cấu hạtầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, cac DAĐTquan trọng của quốc gia trong từng thời kỳ Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấyphép đầu tư khi mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước, khi hoạt động của dự án không gây ảnh

Trang 6

hưỏng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội Dự án được phêduyệt thì các bên liên quan đến dự án phải tuân theo nội dung, yêu cầu của dự

án Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án làmột trong những cơ sở pháp lý để giải quyết

- Đối với nhà tài trợ: Khi tiếp nhận dự án xin tài trợ vốn của chủ đầu tư thì họ sẽxem xét các nội dung cụ thể của dự án đặc biệt về mặt kinh tế tài chính, để điđến quyết định có đầu tư hay không Dự án chỉ được đầu tư vốn nếu có tínhkhả thi theo quan điểm của nhà tài trợ Ngược lại khi chấp nhận đầu tư thì dự

án là cơ sở để các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độhoàn thành kế hoạch đầu tư đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn

1.2. Thẩm định dự án đầu tư

1.2.1 – Khái niệm thẩm định dự án đầu tư

Đối với mỗi DAĐT, từ khi lập xong đến khi thực hiện phải được thẩm định quanhiều cấp: Nhà nước, nhà đầu tư, nhà đồng tài trợ… Đứng dưới mỗi giác độ, cónhững định nghĩa khác nhau về thẩm định Nhưng hiểu một cách chung nhất thì: “Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan và toàn diệncác nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành, khai thác và tínhsinh lợi của công cuộc đầu tư”

Cụ thể theo cách phân chia các giai đoạn của chu trình DAĐT, ta thấy ở cuốiBước 1 có khâu “Thẩm định và ra quyết định đầu tư” Đây là bước mà chủ đầu tưphải trình hồ sơ nghiên cứu khả thi lên các cơ quan có thẩm quyền để xem xétquyết định và cấp giấy phép đầu tư và cấp vốn cho hoạt động đầu tư

Dưới góc độ là người cho vay vốn, các Ngân hàng thương mại (viết tắt làNHTM) khi nhận được bản luận chứng kinh tế kỹ thuật sẽ tiến hành thẩm địnhtheo các chỉ tiêu và ra quyết định là có cho vay hay không cho vay Sau đó là điđến “đàm phán và ký kết hợp đồng” Như vậy có thể hiểu thẩm định DAĐTtrong Ngân hàng là thẩm định trước đầu tư hay thẩm định tín dụng Nó đượcđánh giá là công tác quan trọng nhất

1.2.2 – Ý nghĩa của công tác thẩm định DAĐT

a) Đối với nền kinh tế

Xét trên phương diện vĩ mô để đảm bảo được tính thống nhất trong hoạt độngđầu tư của toàn bộ nền kinh tế, tạo ra một tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thờitránh được những thiệt hại và rủi ro không đáng có thì cần phải có sự quản lý

Trang 7

chặt chẽ của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư cơ bản Thẩm định DAĐT chính làmột công cụ hay nói cách khác đó là một phương thức hữu hiệu giúp nhà nước

có thể thực hiện được chức năng quản lý vĩ mô của mình Công tác thẩm định sẽđược tiến hành thông qua một số cơ quan chức năng thay mặt nhà nước để thựchiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư như: Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ Xâydựng, Bộ Tài Chính, Bộ khoa học công nghệ và môi trường…cũng như cácUBND tỉnh, thành phố, các bộ quản lý ngành khác Qua việc phân tích DAĐTmột cách hết sức toàn diện, khoa học và sâu sắc, các cơ quan chức năng này sẽ cóđược những kết luận chính xác và rất cần thiết để tham mưu cho nhà nước trongviệc hoạch định chủ trương đầu tư, định hướng đầu tư và ra quyết định đầu tư đốivới dự án Trong thực tế, để tạo điều kiện cho các cơ quan thẩm định dự án, cácDAĐT được chia ra làm một số loại cụ thể Trên cơ sở phân loại này, các sự phâncấp trách nhiệm trong khâu thẩm định và xét duyệt Các DAĐT phải đảm bảotính chính xác và được nhanh chóng phê duyệt Hiện nay, các công tác quản lýđầu tư trên lãnh thổ Việt nam được thực hiện theo quy chế quản lý đầu tư và xâydựng, ban hành và kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ban hành 08/07/1999của Thủ tướng Chính phủ – Nghị định số 12/2000/NĐ - CP ban hành 05/05/2000.Theo những Nghị định này, các ngân hàng đã cụ thể hoá chức năng của mìnhnhằm nâng cao hiệu quả về quản lý phân cấp đầu tư

b) Đối với NHTM

Cũng như các doanh nghiệp khác, trong cơ chế thị trường hoạt động của NHTMphải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan trong đó có quy luậtcạnh tranh Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến kết quả mộtngười thắng và nhiều kẻ thất bại và cạnh tranh là một quá trình diễn ra liên tục.Các doanh nghiệp luôn phải cố gắng để là người chiến thắng NHTM trong nềnkinh tế luôn phải đương đầu với áp lực của cạnh tranh, khả năng xảy ra rủi ro.Rủi ro có thể xảy ra bất cứ loại hình hoạt động này của ngân hàng như rủi ro tíndụng, thanh toán, chuyển hoán vốn, lãi suất, hối đoái…Trong đó rủi ro về tíndụng, đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn là rủi ro mà hậu quả của nó có thể tácđộng nặng nề đến các hoạt động kinh doanh khác thậm chí đe doạ sự tồn tại củangân hàng

Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng xảy ra khi xuất hiện các biến cốlàm cho bên đối tác (khách hàng) không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mìnhđối với ngân hàng vào thời điểm báo hạn Các khoản nợ đến hạn nhưng khách

Trang 8

hàng không có khả năng trả nợ ngân hàng sẽ thuộc về một trong hai trường hợp:khách hàng sẽ trả nợ ngân hàng nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm báo hạn,như vậy ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro đọng vốn, hoặc khách hàng hoàn toànkhông thể trả nợ cho ngân hàng được, trường hợp này ngân hàng gặp rủi ro mấtvốn.

Như vậy rõ ràng trong nền kinh tế thị trường, thẩm định dự án là vô cùng quantrọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Thực tiễn hoạt động của cácNHTM Việt Nam một số năm vừa qua cho thấy bên cạnh một số DAĐT có hiệuquả đem lại lợi ích to lớn cho chủ đầu tư và nền kinh tế, còn rất nhiều dự án dochưa được quan tâm đúng mức đến công tác thẩm định trước khi tài trợ đã gây ratình trạng không thu hồi được vốn nợ quá hạn kéo dài thậm chí có những dự án

bị phá sản hoàn toàn Điều này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động ngân hàng,đồng thời làm cho uy tín của một số NHTM bị giảm sút nghiêm trọng Như vậy,khi đi vào nền kinh tế thị trường với đặc điểm cố hữu của nó là đầy biến động vàrủi ro thì yêu cầu nhất thiết đối với các NHTM là phải tiến hành thẩm định cácDAĐT một cách đầy đủ và toàn diện trước khi tài trợ vốn Qua phân tích trên, đốivới các NHTM, thẩm định dự án có ý nghĩa sau đây:

- Ra các quyết định bỏ vốn đầu tư đúng đắn, có cơ sở đảm bảo hiệu quả của vốnđầu tư

- Phát hiện và bổ sung thêm các giải pháp nâng cao tính khả thi cho việc triểnkhai thực hiện dự án, hạn chế giảm bớt yếu tố rủi ro

- Tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đối tượng và tiếtkiệm vốn trong quá trình thực hiện

- Có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư của dự áncũng như khả năng hoàn vốn, trả nợ của dự án và chủ đầu tư

- Rút kinh nghiệm và đưa ra bài học để thực hiện các dự án được tốt hơn

- Tư vấn cho chủ đầu tư để hoàn thiện nội dung của dự án

1.3 Nội dung công tác thẩm định DAĐT tại các NHTM

1.3.1 – Thẩm định khách hàng vay vốn

a) Đánh giá về tư cách và năng lực pháp lý của khách hàng

Ở nội dung này, cán bộ tín dụng cần kiểm tra và đánh giá các nội dung sau:

- Khách hàng vay vốn có trụ sở tại địa bàn nơi chi nhánh ngân hàng thực hiệncho vay hay không?

Trang 9

- Khách hàng vay vốn là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự hay không?Nếu là doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp phải có đủ năng lực hành

vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự và phải hoạt động theo luật doanhnghiệp

- Điều lệ, quy chế tổ chức của khách hàng vay vốn thể hiện rõ về phương thức

tổ chức, quản trị điều hành hay chưa?

- Giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, giấy phép hành nghềđối với những nghành nghề cần giấy phép còn hiệu lực trong thời hạn vay

- Biên bản bầu thành viên hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần), thànhviên hội đồng thành viên (đối với công ty TNHH), Chủ tịch, văn bản bổnhiệm tổng giám đốc, giám đốc, kế toán trưởng hợp lệ

- Quyết định của hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị về việc ủy quyềncho người đại diện doanh nghiệp vay vốn ngân hàng

b) Đánh giá tình hình hoạt động của khách hàng

Cán bộ thẩm định cần thu thập những thông tin về:

- Ngành nghề kinh doanh của khách hàng có được phép hay không, có phùhợp với ngành nghề đăng ký trong giấy phép hay không?

- Xem xét xem tình hình sản xuất kinh doanh có ổn định không, xu hướng đilên hay đi xuống Kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra hợp lý chưa?

- Môi trường kinh doanh có thuận lợi không, doanh nghiệp đang hoạt động ởphân đoạn thị trường nào?…

c) Đánh giá khả năng tài chính của khách hàng

Mục đích của việc phân tích tài chính khách hàng là xem xét khả năng thực tếcủa doanh nghiệp về tiềm lực tài chính, trên cơ sở đó đánh giá được khả năng củakhách hàng về nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn chiếm dụng và vốn vay, hànghoá tồn kho, cơ cấu tài sản lưu động và cố định đến thời điểm hiện tại là phântích định lượng, từ đó có kết luận về thực trạng khách hàng có khả năng hoàn trả

nợ vay cho Ngân hàng hay không

Tình hình tài chính phải được xem xét một cách tỷ mỉ và có hệ thống ít nhấttrong hai năm liên tục (trừ trường hợp khách hàng mới thành lập) để rút ra kếtluận tình hình tài chính có lành mạnh hay không Khi phân tích tình hình tàichính của khách hàng thường xét đến các chỉ tiêu sau:

(1)Tỷ số thanh toán hiện hành =

Trang 10

Cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiềnmặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạncủa mình Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàntrả được hết các khoản nợ Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công

ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được cáckhoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sảnbởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỷ số này quá caocũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sửdụng tài sản chưa được hiệu quả

(2)Tỷ số thanh toán nhanh =

Tỷ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trảcho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Tỷ

số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành Một công ty có tỷ sốthanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn

và phải được xem xét cẩn thận Ngoài ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ sốthanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệpphụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho Các cửa hàng bán lẻ là những ví dụ điểnhình của trường hợp này

(3) Tỷ số khả năng trả lãi =

- Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãicủa nó đến mức nào Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năngthanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn Tỷ lệ trả lãithấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế cóthể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tớimất khả năng thanh toán và vỡ nợ

- Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay Nếunhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng củamình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủtrả lãi vay

Trang 11

cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu

hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp

(5) Kỳ thu tiền bình quân =

Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để mộtcông ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng Xem xét xu hướng của kỳ thu tiềnbình quân qua các thời kỳ của một công ty là có hiệu quả nhất Nếu vòng quaycác khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho thấy khả năng yếu kémtrong việc quản lý công nợ ở một công ty

(6) Vòng quay các khoản phải trả =

Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn củadoanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quáthấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp Chỉ

số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanhnghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngược lại, nếu Chỉ

số Vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanhnghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước

(7) Vòng quay tài sản =

Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sảncủa công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tàisản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Hệ số vòng quay tổng tài sản càngcao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuấtkinh doanh càng hiệu quả

Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tàisản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đóvới hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành

(8) Tỷ suất tự tài trợ =

Hệ số này phản ánh tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của doanhnghiệp Để xác định mức độ phù hợp về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong trong nguồnvốn của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và chính sách của từngdoanh nghiệp cũng như từng ngành

Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp, nhưng cũngcho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng đòn bẩy tài chính nhiều

(9) Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ =

Trang 12

Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ phản ánh tỷ lệ tài sản cố định được đầu tư Tỷ suất này

sẽ cung cấp dòng thông tin cho biết số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dùng

để trang bị TSCĐ và đầu tư dài hạn là bao nhiêu Tỷ suất này nếu >1 thì chứng

tỏ khả năng tài chính vững vàng, lành mạnh Khi tỷ suất < 1 thì một bộ phận củaTSCĐ được tài trợ bằng vốn vay, và đặc biệt mạo hiểm khi đó là vốn vay ngắnhạn

(10)Tỷ suất lợi nhuận thuần ROS =

Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấpdịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất này càng cao thì hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp càng cao

(11) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE =

Cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ sốnày phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô

và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này củamột công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công

ty tương đương trong cùng ngành

(12) Tỷ suất sinh lời trên tài sản =

Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan tâm đếncấu trúc tài chính Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từmột đồng tài sản

(13) Lợi nhuận biên từ hoạt động kinh doanh =

Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Biên sẽđóng vai trò một vùng đệm giữa doanh thu và chi phí Về lý thuyết, nhữngdoanh nghiệp có biên lợinhuận cao có thể tồn tại vững vàng trong bối cảnh chiphí leo thang Ngược lại, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp chỉ có thểtăng lợi nhuận bằng cách đẩy mạnh doanh thu Khi gặp đợt gia tăng chi phí,những doanh nghiệp này sẽ rất khó khăn Như vậy, việc theo dõi biên lợi nhuậntheo thời gian không chỉ giúp nhà quản lý chủ động ứng phó với cơ hội và nguy

cơ từ thị trường, mà còn giúp nhà đầu tư tránh những nhận định cảm tính đểnhận diện được những doanh nghiệp có tiềm lực trong cơn bão giá

d) Thẩm định về tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng

Uy tín trong quan hệ tín dụng là một tiêu chí rất quan trọng và được đánh giáthông qua một số chỉ tiêu như:

Trang 13

- Lịch sử trả nợ của khách hàng.

- Số lần cơ cấu lại nợ

- Tỷ trọng nợ cơ cấu lại trên tổng dư nợ

- Tình hình nợ quá hạn của dư nợ hiện tại

- Lịch sử quan hệ các cam kết ngoại bảng ( thư tín dụng, bảo lãnh, các cam kếtthanh toán khác…)

- Tình hình cung cấp thông tin của khách hàng theo yêu cầu của ngân hàng

- Tỷ trọng số dư tiền gửi bình quân trên tổng dư nợ bình quân của doanhnghiệp tại ngân hàng

- Tỷ trọng doanh số chuyển qua ngân hàng trong tổng doanh thu so với tỷtrọng tài trợ vốn của ngân hàng trong tổng số vốn được tài trợ của doanhnghiệp

- Mức độ sử dụng các dịch vụ của ngân hàng

- Thời gian quan hệ tín dụng với ngân hàng

- Tình trạng nợ quá hạn tại các ngân hàng khác…

Một doanh nghiệp luôn trả nợ đúng hạn, không xin gia hạn nợ, không có nợ quáhạn, nợ có khả năng mất vốn…tức là doanh nghiệp có lịch sử vay nợ với ngânhàng rất tốt, doanh nghiệp giữ được chữ “tín” với ngân hàng thì ngân hàng sẽchấm điểm về quan hệ với ngân hàng cao và doanh nghiệp tiếp cận vốn vay dễdàng hơn Ngược lại, nếu doanh nghiệp có lịch sử tín dụng với ngân hàng khôngtốt có thể do đạo đức tín dụng của khách hàng đó không tốt, cố tình chây ỳ trìhoãn trả nợ hoặc có thể do bản thân doanh nghiệp có tình hình sản xuất phương

án kinh doanh không hợp lý, không đem lại lợi nhuận đảm bảo trả nợ vay thìngân hàng sẽ chấm điểm uy tín giao dịch kém và sẽ rất thận trọng trong việc xemxét cho vay

Ngân hàng không chỉ đánh giá quan hệ tín dụng với khách hàng mà còn xem xét

cả những quan hệ phi tín dụng như quan hệ về thời gian duy trì tài khoản củakhách hàng tại ngân hàng hay tần suất sử dụng các dịch vụ tại ngân hàng…vàngân hàng còn tìm hiểu về quan hệ của khách hàng với các ngân hàng khác đểtham khảo

1.3.2 – Thẩm định dự án đầu tư xin cấp vốn

a) Thẩm định tính cấp thiết và mục tiêu của dự án

Cán bộ thẩm định cần phải xem xét đến các nội dung sau trong hồ sơ xin vay:

Trang 14

Cần đánh giá xem dự án có nhất thiết phải thực hiện không? Tại sao phải thựchiện? ( Xuất phát từ đòi hỏi cấp bách và thực tế của việc nâng cao số lượng, chấtlượng sản phẩm, đảm bảo tính cạnh tranh, xuất khẩu, bảo vệ môi trường…)Nếu được thực hiện thì dự án sẽ đem lại lợi ích gì cho chủ đầu tư, cho địaphương và nền kinh tế.

Mục tiêu cần đạt được của dự án là gì? (Hay chủ đầu tư mong đợi điều gì sau khi

dự án hoàn thành và đi vào sản xuất?)

Các mục tiêu của dự án có phù hợp với mục tiêu chung của ngành của địaphương hay không? Dự án có thuộc diện nhà nước ưu tiên và khuyến khích đầu

tư hay không?

b) Thẩm định về phương diện thị trường của dự án

Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của các dự án đóng vai trò rất quantrọng quyết định việc thành bại của một dự án Vì vậy việc thẩm định dự án cầnđược xem xét đánh giá kỹ về phương diện này khi thẩm định dự án Các nội dungchính cần xem xét đánh giá bao gồm

Một là, đánh giá tổng quan về nhu cầu sản phẩm của dự án

hệ với mức gia tăng trong quá khứ, khả năng sản phẩm của dự án có thể bịthay thế bởi sản phẩm khác có cùng công dụng

Hai là, đánh giá về cung sản phẩm:

- Xác định năng lực sản xuất, cung cấp đáp ứng nhu cầu trong nước hiện tại củasản phẩm dự án như thế nào, các nhà sản xuất trong nước đã đáp ứng được baonhiêu phần trăm, phải nhập khẩu bao nhiêu, việc nhập khẩu là do sản xuấttrong nước chưa đáp ứng được nhu cầu hay sản phẩm nhập khẩu có ưu thếcạnh tranh hơn

- Dự đoán biến động của thị trường trong tương lai khi có các dự án khác, đốitượng khác cũng tham gia vào thị trường sản phẩm và dịch vụ đầu ra của dựán

Trang 15

- Sản lượng nhập khẩu trong những năm qua, dự kiến khả năng nhập khẩu trongnhững năm tới.

- Dự đoán ảnh hưởng của chính sách thuế xuất – nhập khẩu đến thị trường sảnphẩm của dự án

- Đưa ra một số liệu dự kiến về tổng cung hoặc tốc độ tăng trưởng về tổng cungsản phẩm, dịch vụ

Ba là, thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án, để

đánh giá về khả năng đạt được các mục tiêu của thị trường, cán bộ thẩm định cầnthẩm định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án như sau:

- Thị trường nội địa: cần xem xét đánh giá về hình thức, mẫu mã , giá cả, chấtlượng sản phẩm xem có phù hợp với thị hiếu của người tiêu thụ

- Thị trường nước ngoài: cần xem xét đánh giá về tiêu chuẩn để xuất khẩu, quycách chất lượng, mẫu mã, thị trường xuất khẩu dự kiến, sản phẩm cùng loạicủa Việt Nam đã thâm nhập vào thị trường xuất khẩu dự kiến chưa, kết quả…

Bốn là, phương pháp tiêu thụ và mạng lưới phân phối

Cần xem xét đánh giá trên các mặt: sản phẩm của dự án dự kiến được tiêu thụtheo phương thức nào, cần có hệ thống phân phối không Mạng lưới phân phốisản phẩm của dự án đã được thiết lập hay chưa, có phù hợp với đặc điểm của thịtrường hay không, phương thức bán hàng trả chậm hay trả ngay để dự kiến cáckhoản phải thu khi tính toán nhu cầu vốn lưu động ở phân tích tính toán hiệu quảcủa các dự án

Năm là, đánh giá về dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án

Trên cơ sở đánh giá thị trường tiêu thụ, công suất thiết kế và khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm dự án, cán bộ thẩm định phải đưa ra được các dự kiến về khả năngtiêu thụ được sản phẩm của dự án sau khi đi vào hoạt động theo các chỉ tiêuchính thức như sản lượng sản xuất tiêu thụ hàng năm, sự thay đổi của cơ cấu, sảnphẩm nếu dự án có nhiều loại sản phẩm, diễn biến giá bán sản phẩm dịch vụ đầu

Trang 16

kỹ thuật của dây chuyền công nghệ, đánh giá đáp ứng đến khả năng cung cấpnguyên vật liệu đầu vào cho dự án:

- Nhu cầu về nguyên vật liệu đầu vào để phục vụ sản xuất hàng năm

- Các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào: do một hay nhiều nhà cung cấp,quan hệ từ trước hay mới thiết lập, khả năng cung ứng và mức độ tín nhiệm

- Chính sách nhập khẩu đối với các nguyên vật liệu đầu vào nếu có

- Biến động về giá mua, nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tỉ giá trongtrường hợp phải nhập khẩu

c) Thẩm định phương diện kĩ thuật của dự án

Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra phân tích các yếu tố

kỹ thuật và công nghệ chủ yếu của dự án để đảm bảo tính khả thi về mặt thi công

và xây dựng dự án cũng như việc vận hành dự án theo đúng các mục tiêu đã dựkiến Đối với ngân hàng, việc phân tích kỹ thuật lại là một vấn đề khó nhất vì nó

đề cập đến rất nhiều chỉ tiêu và quan trọng hơn cả là nó quyết định đến chấtlượng sản phẩm Chính vì vậy mà cán bộ tín dụng cần đặc biệt quan tâm đến việcthẩm định dự án trên phương diện kỹ thuật, về việc thẩm định dự án này dựa trêncác nội dung chính sau đây

Một là, địa điểm xây dựng:

- Xem xét, đánh giá địa điểm có thuận lợi về giao thông hay không, có gầnnguồn cung cấp nguyên vật liệu, điện nước và thị trường tiêu thụ hay không,

có nằm trong quy hoạch hay không

- Cơ sở vật chất, hạ tầng liên quan đến địa điểm đầu tư thế nào, đánh giá so sánh

về chi phí đầu tư so với các dự án tương tự ở địa điểm khác

- Địa điểm đầu tư có ảnh hưởng lớn đến vốn đầu tư của dự án cũng như ảnhhưởng đến giá thành, sức cạnh tranh, khả năng tiêu thụ sản phẩm

Hai là, quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án:

- Sản phẩm của dự án là sản phẩm mới hay đã có sẵn trên thị trường

- Quy cách phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm như thế nào

- Yêu cầu kỹ thuật tay nghề để sản xuất sản phẩm có cao hay không

- Công suất dự kiến của dự án là bao nhiêu, có phù hợp với khả năng tài chính

và trình độ quản lý, địa điểm, thị trường tiêu thụ hay không

Ba là, công nghệ thiết bị:

- Quy trình công nghệ có tiên tiến hiện đại, ở mức độ nào của thế giới

Trang 17

- Công nghệ này có phù hợp với trình độ hiện nay của Việt Nam hay không, lý

do lựa chọn công nghệ này

- Phương thức chuyển giao công nghệ có hợp lý hay không, có đảm bảo cho chủđầu tư nắm bắt và vận hành được công nghệ hay không

- Xem xét đánh giá về số lượng công suất quy hoạch chủng loại, danh mục, máymóc thiết bị và tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất

- Trình độ tiên tiến của thiết bị, khi cần thiết phải thay đổi sản phẩm thì thiết bịnày có đáp ứng được hay không

- Giá cả thiết bị và phương thức thanh toán có hợp lý, đáng ngờ không

- Thời gian giao hàng và lắp đặt thiết bị, các nhà cung cấp thiết bị có chuyên sảnxuất các thiết bị của dự án hay không

Bốn là, quy mô và giải pháp xây dựng:

- Xem xét quy mô xây dựng, giải pháp kiến trúc có phù hợp với dự án haykhông, có tận dụng được các cơ sở vật chất hiện có hay không

- Tổng dự toán, dự toán của từng hạng mục công trình, có hạng mục nào cầnđầu tư mà chưa được tích luỹ hay không, có hạng mục nào cần thiết hoặc chưacần thiết phải đầu tư hay không

- Tiến độ thi công có phù hợp với việc cung cấp máy móc thiết bị, có phù hợpvới thực tế hay không

- Vấn đề hạ tầng cơ sở: Giao thông, điện, cấp thoát nước…

Năm là, tác động tới môi trường:

Xem xét đánh giá các giải pháp về môi trường của dự án có đầy đủ, phù hợpchưa, đã được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trong từng trường hợp yêu cầuphải có hay chưa

Trong phần này, cán bộ thẩm định cần phải đối chiếu với các quy định hiện hành

về việc lập dự án và duyệt trình báo cáo đánh giá tác động môi trường

d) Thẩm định về tổng vốn đầu tư và thời gian trả nợ cho ngân hàng

Thứ nhất, tổng mức vốn đầu tư của dự án

Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập vàđưa dự án vào hoạt động Nó là cơ sở để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xácđịnh hiệu quả đầu tư của dự án Dưới giác độ của một dự án, vốn đầu tư cho một

dự án được chia thành 3 phần là vốn đầu tư vào TSCĐ, vốn lưu động ban đầu vàvốn đầu tư dự phòng

Trang 18

Vốn cố định nhằm tạo ra năng lực mới tăng thêm để đạt mục tiêu DA Bao gồm:

- Vốn chuẩn bị đầu tư: gồm các chi phí điều tra, khảo sát, lập, thẩm định DAĐT

- Vốn chuẩn bị xây dựng: chi phí ban đầu về đất đai(tiền đền bù, giải phóng mặtbằng, chuyển quyền sử dụng đất…) Chi phí khảo sát, lập và thẩm định thiết

kế, tổng dự toán Chi phí đấu thầu hoàn tất các thủ tục đầu tư Chi phí xâydựng đường điện, nước, lán trại thi công

- Vốn thực hiện đầu tư: Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo các hạng mục côngtrình xây dựng, lắp đặt thiết bị Chi phí mua sắm thiết bị, vận chuyển, bảoquản Chi phí quản lý giám sát thực hiện đầu tư Chi phí sản xuất thử vànghiệm thu bàn giao Chi phí huy động vốn, các khoản lãi vay vốn đầu tư vàcác chi phí khác trong thời gian thực hiện đầu tư

Vốn lưu động là khoản vốn đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên sau khi kết thúcgiai đoạn thực hiện đầu tư Bao gồm:

- Vốn sản xuất: Chi phí nguyên , nhiên vật liệu, điện, nước, phụ tùng thay thế

- Vốn lưu động: Thành phần tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hoá bán chịu,vốn bằng tiền

Vốn đầu tư dự phòng: Trong nền kinh tế thị trường, nhân tố giá cả nguyên vậtliệu xây dựng, giá thuê nhân công, máy thi công thường xuyên có sự biến động.Bên cạnh đó, trong quá trình thi công công trình có thể gặp phải những rủi ro về

kỹ thuật hoặc nảy sinh các chi phí bất thường Chính vì vậy, cần phải dự trù mộtkhoản dự phòng vốn đầu tư để sẵn sàng ứng phó với những bất trắc có thể xảy ra.Khoản dự phòng này thường được tính theo một tỷ lệ phần trăm trên tổng vốnđầu tư vào TSCĐ và vốn lưu động ban đầu, phần lớn trường hợp được quy địnhkhoảng 5 – 10 % trên tổng hai thành phần vốn trên

Thứ hai, về cơ cấu nguồn vốn

Nguồn vốn tài trợ cho một dự án có thể được hình thành từ nguồn vốn chủ sởhữu, sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vaythông qua phát hành trái phiếu, hoặc có thể hình thành thông qua cách kết hợp cảhai nguồn trên

Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn, nên cácnguồn tài trợ cần được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà về cả thời điểmnhận được tài trợ Các nguồn vốn dự kiến này phải được đảm bảo chắc chắn.Tiếp đó, phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ cácnguồn về số lượng và tiến độ thông qua lập bảng cân đối vốn đầu tư Nếu khả

Trang 19

năng huy động vốn lớn hơn hoặc bằng nhu cầu vốn sử dụng thì dự án được chấpnhận Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu vốn sử dụng thì phải giảm quy mô của dự

án, xem xét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm quy

mô của dự án Việc xác định tiến độ thực hiện, nhu cầu vốn làm cơ sở cho việc

dự kiến tiến độ giải ngân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác địnhthời gian vay trả

Thứ ba, về thời gian trả nợ cho ngân hàng

Xuất phát từ quan điểm của tín dụng là bên vay vốn (chủ đầu tư) phải hoàn trảngân hàng đầy đủ và đúng năm số vốn gốc và lãi vay để NHTM có thể trả lại chobên được huy động vốn hoặc cho vay đối với các dự án khác Trong quá trìnhthẩm định DAĐT, NHTM đặt biệt quan tâm đến khả năng hoàn trả của chủ đầu

tư khi đến kỳ hạn trả nợ Khả năng trả nợ của một doanh nghiệp chủ đầu tư phụthuộc vào nhiều yếu tố như: Dự án xin vay là DAĐT mới hay DAĐT chiều sâu,nguồn trả nợ chủ yếu trông đợi vào khả năng sản xuất kinh doanh của dự án hay

có những nguồn bổ sung nào khác

Hiện nay, các NHTM đang xác định mức trả nợ từng lần theo công thức:

Số kì trả nợ dự kiến =

Từ công thức trên, nếu sau khi đã dự kiến số kỳ trả nợ và biết tổng số nợ gốc phảitrả mỗi kỳ, NHTM có thể so sánh cân đối các nguồn thu từ dự án như lợi nhuậnvòng, khấu hao cơ bản cho TSCĐ và các nguồn khác xem khả năng trả nợ cóđảm bảo không

e) Thẩm định chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án

Đây là vấn đề quan trọng mà chủ đầu tư và cả ngân hàng đều quan tâm vì nó lànhân tố phản ánh được dự án lỗ hay lãi Việc xác định chi phí sản xuất, doanhthu, lợi nhuận phải tính riêng cho từng năm hoạt động của cả đời dự án

- Việc xác định chi phí sản xuất hàng năm gồm: Chi phí về nguyên vật liệu,nhiên liệu, năng lượng các bán thành phẩm và dịch vụ mua ngoài, chi tiềnnước cho sản xuất, lương và bảo hiểm xã hội…và các khoản khác

- Doanh thu hàng năm của dự án gồm: Doanh thu từ sản phẩm chính, sản phẩmphụ, tiền thu từ việc cung cấp dịch vụ cho bên ngoài; các khoản tiền thu khác.f) Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án

Bước 1: Dự báo dòng tiền của dự án

Trang 20

Sau khi xác định được chi phí và doanh thu trong kỳ, ngân hàng phải xác địnhdòng tiền ròng hàng năm của dự án (Net Cash Flows) theo công thức:

NCF = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ˟ (1 – Tỷ lệ thuế TNDN) + KHCB của

TSCĐ – Đầu tư vốn lưu động – Đầu tư TSCĐ

Bước 2: Thẩm định lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đối vớimột dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trị hiện tạiròng của dự án

Lái suất chiết khấu được hiểu là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án đượcquy về hiện tại để xác định NPV Về bản chất, lãi suất chiết khấu của một dự ánchính là chi phí vốn của dự án đó Bởi, nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qualợi tức kỳ vọng của các dự án khác hay các tài sản tài chính khác có cùng mức rủi

ro Chính vì bỏ qua các hình thức đầu tư khác để tập trung theo đuổi một dự án,nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức lãi suất chiết khấu – tỷ lệ sinh lời cần thiết đối với

dự án đó.Vì lãi suất chiết khấu và NPV có quan hệ tỷ lệ nghịch nên chủ đầu tưthường xác định lãi suất chiết khấu nhỏ dẫn đến NPV lớn để làm tăng hiệu quảtài chính của dự án

Lãi suất chiết khấu của dự án là chi phí trung bình của vốn – WACC được tínhtheo công thức sau:

Trong đó wd: Tỷ trọng giá trị của nơ

rd: Chi phí nợ (lãi suất ngân hàng)

Trong đó rf: Lợi tức phi rủi ro

Β: Hệ số beta của cổ phiếu

rM: Lợi tức của cả thị trường

Bước 3: Tính toán và phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính

Giá trị hiện tại ròng (Net present value – NPV)

Trang 21

NPV là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trongtừng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc 0 NPV

có thể mang giá trị dương, âm hoặc bằng không Đây là chỉ tiêu được sử dụngphổ biến nhất trong thẩm định tài chính dự án

Công thức tính NPV được xác định như sau:

0

N

t t t

Trong đó CF0: vốn đầu tư ban đầu, do là khoản đầu tư nên mang dấu âm

CFt: dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án

N: Số năm thực hiện dự án

WACC: chi phí vốn dung cho dự án

NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư NPV > 0, dự án không những bùđắp đủ vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo ra lợi nhuận; không những thế, lợi nhuận nàycòn được xem xét trên cơ sở giá trị thời gian của tiền Ngược lại, nếu NPV < 0 cónghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư.Trường hợp NPV = 0 nghĩa là dự án chỉ đủ mức trang trải chi phí vốn

Khi sử dụng chỉ tiêu NPV thì kết quả mang lại khá chính xác vì NPV có tính đếngiá trị thời gian của tiền NPV cho biết lợi nhuận của dự án đầu tư và giúp chủđầu tư tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng có những hạn chế nhưNPV không cho biết tỷ lệ sinh lợi tính bằng tỷ lệ % nên không thuận tiện choviệc so sánh cơ hội đầu tư, không quan tâm đến sự khác biệt và thời gian hoạtđộng của các dự án nên việc lựa chọn dự án có NPV lớn nhất không được chínhxác, NPV dùng chung một lãi suất chiết khấu cho tất cả các năm hoạt động của

dự án nhưng tỷ lệ chiết khấu luôn thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố kinh tế

- xã hội

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal rate of return – MIRR)

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của lãi suất chiết khấu ở đó NPVbằng không Phương pháp hay dùng để tính IRR là thử và điều chỉnh Lần lượtthử các giá trị của lãi suất chiết khấu làm cho NPV bằng không, chọn lãi suấtchiết khấu nào cho giá trị NPV gần không nhất thì đó chính là IRR Việc làm này

sẽ mất nhiều thời gian và công sức, do vậy người ta hay sử dụng phần mềm máy

Trang 22

tính chuyên biệt để tiết kiệm thời gian và chi phí Phương pháp này sẽ cho kếtquả chính xác nhất.

N N

N

t t t

CF NPV

MIRR giả thiết rằng các dòng tiền của dự án được tái đầu tư với lãi suất bằng chiphí vốn MIRR được tính bằng cách giải phương trình sau:

0 0

N

N t t

Trong đó COFt: dòng tiền ra năm thứ t

CIFt: dòng tiền vào năm thứ t

WACC: chi phí vốn

MIRR là chỉ số đáng tin cậy hơn về khả năng sinh lời thực của dự án so với IRR

Chỉ số doanh lợi (Profitability Index – PI)

Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, tính bằng tổnggiá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra banđầu Công thức xác định như sau:

CF ACC PI

CF

= ∑

Trong đó CFt: dòng tiền năm thứ t

CF0: vốn đầu tư ban đầu

Trang 23

WACC: chi phí vốn

PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập Thunhập này chưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra PI càng cao thì dự án càng dễđược chấp nhận, nhưng tối thiểu phải bằng lãi suất chiết khấu Nếu không, chiphí cơ hội đã bỏ qua khi thực hiện dự án không được bù đắp bởi tỷ suất sinh lợicủa dự án

Thời gian hoàn vốn (Payback period – PP)

1.3.3 – Thẩm định rủi ro của dự án

Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng mà một sự kiệnkhông có lợi nào đó xuất hiện Các nhà đầu tư quan niệm rằng rủi ro của mộtkhoản đầu tư xáy ra khi lợi tức thực tế thấp hơn so với lợi tức dự kiến

Các kết quả của dự án đầu tư phụ thuộc vào các sự kiện bất định trong tương lai.Tính bất định và rủi ro của dự án xảy ra khi mà tại một thời điểm bất kỳ của dự

án, dự án có thể tạo ra nhiều hơn một giá trị duy nhất Vì vậy, khi phân tích dự

án, cần xem xét tất cả những khả năng mà dự án có thể gặp phải Thông qua thẩmđịnh rủi ro của dự án, giúp chủ đầu tư có cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn vềkhả năng thu lợi nhuận từ dự án, cũng như các tình huống bất trắc có thể xảy rađối với dự án để có biện pháp phòng ngừa, đảm bảo khả năng sinh lợi của dự án

Có nhiều phương pháp phân tích rủi ro của dự án, song phổ biến nhất là phươngpháp phân tích độ nhạy và phân tích tình huống

a) Phân tích độ nhạy

Trang 24

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và tác động tới dòng tiền của dự án Các yếu tố tácđộng tới dòng tiền được thiết lập trên cơ sở của sự phân bố xác suất và tính kỳvọng toán chứ không phải biết chúng một cách chắc chắn Khi một biến quantrọng như số lượng bán hàng thay đổi sẽ dẫn đến dòng tiền thay đổi rất lớn và khi

đó giá trị hiện tại ròng (NPV) và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) sẽ thay đổi Thựchiện phương pháp phân tích độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tài chính thayđổi như thế nào (thường là NPV hoặc IRR) khi các biến đầu vào thay đổi Ví dụ:Xem xét độ nhạy cảm về giá, người ta giả định nhiều mức giá khác nhau trongtương lai và xem xét mức độ ảnh hưởng tới NPV, IRR

Người ta thường giả định chi phí của dự án tăng lên, điều này đặc biệt có ý nghĩađối với những dự án dài hạn Cần phải giả định tới một mức độ nào đó về mặt chiphí khi nó tăng lên thì dự án không còn mang tình khả thi nữa Hoặc có thể giả sửthực hiện chậm trễ có nghĩa là trong điều kiện đã có đầu tư nhưng dự án hoạtđộng chậm vì lý do khách quan nào đó

Tuy nhiên, phân tích tình huống vẫn tồn tại những nhược điểm như không thểxác định được tất cả các trường hợp kết hợp lẫn nhau của các yếu tố và chỉ phântích được một vài khả năng (biến cố) rời rạc, trong khi thực tế có thể có vô số khảnăng kết hợp có thể xảy ra giữa các biến của dự án

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI

BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY 2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh

Hà Tây

2.1.1 – Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây (trước khisáp nhập vào Hà Nội chi nhánh có tên là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh HàTây) là một trong những chi nhánh của BIDV, tiền thân là Phòng Đầu tư và pháttriển Hà Sơn Bình được thành lập ngày 01/06/1990 Kể từ ngày 01/01/1995 Ngânhàng có nhiệm vụ huy động các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn từ các thànhphần kinh tế, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, dân

cư, tổ chức nước ngoài…bằng VND và USD để tiến hành các hoạt động cho vayngắn, trung và dài hạn đối với mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư.Hiện nay, Ngân hàng hoạt động như một NHTMCP nhưng lĩnh vực kinh doanhchính và có bề dày kinh nghiệm của Ngân hàng là lĩnh vực đầu tư xây dựng cơbản và khách hàng truyền thống là các đơn vị trực thuộc khối xây lắp

2.1.2 - Mô hình hoạt động và cơ cấu tổ chức

Cũng giống như các chi nhánh khác trong cùng hệ thống của BIDV, mô hình tổchức của BIDV Hà Tây được thiết lập một cách tương đối chặt chẽ và khoa học,đảm bảo phát huy một cách hợp lý và tối đa năng suất lao động cũng như tậndụng được sự năng động và tính sáng tạo của mỗi cán bộ công nhân viên trongtừng phòng, ban của chi nhánh Từ năm 2008 toàn bộ hệ thống Ngân hàng Đầu

tư và phát triển Việt Nam đã hoàn thành đổi mới cơ cấu tổ chức theo mô hìnhTA2 Chi nhánh Hà Tây cũng đã hoàn thành chuyển đổi cơ cấu vào tháng 3 năm

2008 Mô hình tổ chức mới của ngân hàng đã phân tách hợp lý giữa được cáckhối Quan hệ khách hàng, quản lý rủi ro và quản lý nội bộ Bộ máy mới được tổchức theo hướng tinh giảm gọn nhẹ nhưng linh hoạt khắc phục được việc chồngchéo không phân tách rõ 3 chức năng kinh doanh, quản lý rủi ro và tác nghiệp

Trang 26

Biểu đồ 2.1 - Cơ cấu tổ chức của BIDV Chi nhánh Hà Tây

2.1.3 – Tình hình hoạt động kinh doanh giao đoạn 2009 -2013

Thứ nhất, về tổng dư nợ và nguồn vốn huy động, Chi nhánh Hà Tây đã đạt đượcnhững kết quả rất khả quan trong giai đoạn 5 năm vừa qua

Biểu đồ 2.2 - Tổng dư nợ và huy động vốn của Chi nhánh Hà Tây giai đoạn 2009-2013

(Nguồn: Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp)Như được minh họa trên biểu đồ, quy mô về vốn huy động và tổng dư nợ đều đạtđược mức tăng trưởng liên tục trong 5 năm trở lại đây Số lượng vốn huy động từnăm 2009-2012 đã tăng trung bình 10% mỗi năm và tăng mạnh 31.20% trongnăm 2013 để đạt mức 4,331 tỷ đồng Cũng đạt được kết quả khả quan như vậy,tổng dư nợ đã lần lượt tăng trưởng 15.15% và 18.02% trong năm 2011 và 2012,

và cuối cùng, tăng mạnh 28.86% để đạt mức 3,063 tỷ đồng trong năm 2013.Đáng chú ý, quy mô vốn huy động và tổng dư nợ đều đồng loạt tăng trưởng vớitốc độ nhanh trong năm 2013, điều này cho thấy nền kinh tế đang dần dần hồiphục và có xu hướng sôi động trở lại

Trang 27

Trong khi đó, về phía tăng trưởng lợi nhuận và doanh thu ròng từ mảng dịch vụphi tín dụng, Chi nhánh Hà Tây không đạt đước những kết quả như mong đợi Cụthể như sau:

Biểu đồ 2.3 - Kết quả kinh doanh hoạt động của Chi nhánh

(Nguồn: Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp)Như được minh họa trên biểu đồ, lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh trải quamột sự biến động mạnh trong giai đoạn 2009-2012 và chạm mức thấp nhất 66.1

tỷ đồng vào năm 2010 khi mà toàn nền kinh tế đang bị ảnh hưởng năng nề từcuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Mặc dù lợi nhuận này đã tăng mạnh trở lạivới mức 44.62% vào năm 2013, Chi nhánh Hà Tây cần thiết phải đạt được mứctăng trưởng ổn định trong chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế để có thể đảm bảo triểnvọng trong tương lai cho các nhà đầu tư Trong khi đó, doanh thu ròng từ mảngdịch vụ phi tín dụng đã tăng liên tục hàng năm tính đến năm 2012, trong đó tăngmạnh 33.95% trong năm 2010 và tiếp tục tăng ổn định khoảng 16% trong 2 nămtiếp theo Tuy nhiên, nguồn doanh thu này đã giảm nhẹ 8.42% trong năm 2013 vàđạt mức 35.9 tỷ đồng Trong đường hướng phát triển của Chi nhánh trong nhữngnăm tiếp theo, thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng sẽ tăng dần qua các năm vì Chinhánh sẽ tập trung mở rộng và phát triển mảng dịch vụ bán lẻ

Thứ ba, về công tác quản lý rủi ro tín dụng, Chi nhánh Hà Tây cũng vẫn cònnhiều vấn đề cần giải quyết, điều này đước thể hiện rõ qua tỷ lệ nợ xấu của Chinhánh

Biểu đồ 2.4 - Tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh(Nguồn: Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp)Một điều rõ ràng đó là tỷ lệ nợ xấu đã được Chi nhánh kiểm soát rất tốt đến năm

2012 khi tỷ lệ này liên tục giảm hàng năm và đạt mức thấp nhất 0.36% Tuynhiên, tỷ lệ nợ xấu tăng đáng kể trong năm 2013 đạt 2.29% và vượt xa những con

số trong các năm trước đó Mặc dù vậy, tỉ lệ nợ xấu này vẫn còn thấp hơn khánhiều so với những ngân hàng thương mại khác như SHB 4.06% và Ngân hàngTMCP Quân Đội 2.4% (nguồn: http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Ngan-hang-nao-dang-no-xau-nhieu-nhat-post140491.gd)

Ngày đăng: 01/05/2020, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w