Ông chỉ ra: Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐINH THỊ TUYẾT LAN
TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN MINH KHÔNG VÀ
LỄ HỘI ĐỀN THÁNH NGUYỄN Ở NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN THỊ HUẾ
Thái Nguyên - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐINH THỊ TUYẾT LAN
TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN MINH KHÔNG VÀ
LỄ HỘI ĐỀN THÁNH NGUYỄN Ở NINH BÌNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN THỊ HUẾ
Thái Nguyên – 2018
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Thị Tuyết Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn - Xã hội Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong
suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng
dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Huế đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt
thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Thị Tuyết Lan
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 5Nguyễn Minh Không là nhân vật lịch sử để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc và được nhân dân yêu quý, được người đời dệt nên những truyền thuyết đẹp Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không là hệ thống truyện kể dân gian được lưu truyền và gắn bó mật thiết với tín ngưỡng, lễ hội ở Ninh Bình đặc biệt ở huyện Gia Viễn - quê hương ông
Trước nay, việc sưu tầm, nghiên cứu về truyền thuyết Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa xứng với vị thế của ông đối với quê hương và trong lịch sử dân tộc
Vì vậy, việc nghiên cứu truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình là việc làm cần thiết, góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Minh Không cùng lễ hội về ông trong tâm thức người dân Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung Đồng thời, đây sẽ là một đóng góp cụ thể cho hướng giữ gìn và giảng dạy văn học dân gian địa phương theo hướng tích hợp
Là một người con của quê hương Ninh Bình - nơi có nhiều lễ hội truyền
thống, nơi được coi là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, tôi mong muốn đóng góp
một phần công sức vào việc giữ gìn và phát triển di sản văn hoá dân gian trên quê hương mình Việc nghiên cứu và giới thiệu về truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình sẽ giúp tôi có thêm những hiểu biết về văn hoá dân gian địa phương, có ý nghĩa thiết thực cho công tác giảng dạy của tôi hiện nay
Với những lý do mang tính lý luận và thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài: Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh
Nguyễn ở Ninh Bình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội
Theo quan điểm của Mác thì thần thoại gắn liền với thời kỳ ấu thơ của
nhân loại “trong những điều kiện xã hội vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa”,
nó là thứ “nghệ thuật vô ý thức” Thần thoại đã có một vai trò tích cực trong đời
sống tinh thần của con người đồng thời phản ánh nhận thức của người nguyên thuỷ về vũ trụ, về cuộc đấu tranh với thiên nhiên, sinh hoạt xã hội Truyền
Trang 6thuyết là một thể loại văn học dân gian, ra đời sau truyện thần thoại - khi con người bứt ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên Thời kỳ được đánh dấu bằng những chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu
sắc, nên còn được gọi là thời kỳ của “thanh kiếm sắt, cái cày và cái rìu bằng
sắt” Trong văn học dân gian Việt Nam, truyền thuyết là một thể loại được xác
định khá muộn so với các thể loại khác Nó được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kì tiền sử, sự khởi đầu của thời kì sơ sử, với sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kì văn hoá kim khí mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn Truyền thuyết thường sử dụng yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều liên quan đến lịch sử, là những truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân Đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyền thuyết, có nhiều hướng tiếp cận, nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thuyết
Khái niệm truyền thuyết được dùng với nội hàm như ngày nay đã trải qua nhiều tranh luận, bàn cãi của các nhà nghiên cứu, học giả để định hình khái niệm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyền thuyết Việt Nam và sự đa dạng, phong phú của thể loại này còn đặt ra nhiều vấn đế cần được giải quyết: Một số tác giả phủ nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách là thể loại văn học dân gian độc lập như Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh Ngược lại, Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian
Bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà
Nội, (Đỗ Bình Trị chủ biên, năm 1961) bước đầu khẳng định truyền thuyết là
một thể loại “Truyền thuyết là những truyện cổ có dính líu đến lịch sử mà lại có
sự kì diệu - là lịch sử hoang đường, là những truyện tưởng tượng ít nhiều có gắn với sự thực lịch sử”
Trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam (NXB KHXH, 1970), Kiều Thu Hoạch, có tới ba bài viết khẳng định
truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Ông chỉ ra: Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại…
Vào đầu những năm 80, trong cuốn Từ điển văn học (NXB Thế giới,
1984), mục từ “Truyền thuyết” do Chu Xuân Diên viết, cũng đã khẳng định truyền thuyết là một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích
Các cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tập II (Hoàng Tiến Tựu NXB Giáo dục, 1990), Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế chủ biên, NXB
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 7ĐHQG, 1990), Văn học dân gian (Phạm Thu Yến chủ biên, NXB ĐHSP,
2002… đều dành một chương cho việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại độc lập
Cuốn Từ điển tiếng Việt, định nghĩa “Truyền thuyết là truyện dân gian
truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang nhiều yếu tố thần kì” [50, tr.1053]
Còn các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học, định nghĩa: “Truyền
thuyết là một thể loại dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng tới một thời kì, một bộ tộc,
một địa phương hay một quốc gia” [26, tr.367]
Sách giáo khoa Ngữ văn 10 nâng cao, tập 1, lại định nghĩa: “Truyền
thuyết là thể loại tự sự bằng văn xuôi thường kể lại các sự kiện và các nhân vật
có liên quan đến lịch sử địa phương, dân tộc, thường dùng yếu tố tưởng tượng
để lý tưởng hóa các sự kiện và nhân vật được kể, thể hiện ý thức lịch sử của
nhân dân” [53, tr.73]
Trên cơ sở tìm hiểu các định nghĩa về truyền thuyết nói trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đều chung một quan điểm coi truyền thuyết tồn tại với tư cách là một thể loại văn học dân gian độc lập Các tác giả cũng công nhận về đặc điểm của truyền thuyết là gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá văn hoá cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới Lễ hội là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử, phản chiếu khá trung thực đời sống văn hoá của mỗi dân tộc Lễ hội là nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian, nơi phản ánh tâm thức người Việt Nam một cách trung thực nhất Lễ hội ra đời, tồn tại gắn với quá trình phát triển của nhiều tộc người nói chung và làng xã người Việt nói riêng, nó phản ánh nhiều giá trị trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng Một trong những giá trị tiêu biểu của lễ hội các làng xã người Việt là giá trị văn hoá và liên kết cộng đồng qua tôn giáo, tín ngưỡng
Nói về tầm quan trọng của lễ hội, tác giả Nguyễn Duy Quý trong bài phát
biểu tại Hội thảo Khoa học “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện
đại” đã khẳng định: “Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường Đó còn là một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc, có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội” Bên cạnh đó,
khi đề cập đến lý thuyết lễ hội, tác giả Trần Ngọc Thêm và các cộng sự lại cho
rằng: “Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế, nhằm thể hiện lòng
biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; có khuynh hướng thiên
về tinh thần; mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến); mục đích nhằm
Trang 8duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã”
Các tác giả trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (Hội đồng Quốc gia chỉ
đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, NXB Hà Nội 2002, tr 674)
đưa quan niệm: “Lễ hội là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng
tôn kinh của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện”
Trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex (Nxb Đà Nẵng
- Trung tâm Từ điển, 2008, tr.694 các tác giả Hoàng Phê, Vũ Xuân Lương, Hoàng Thị Tuyền Linh, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hòa) quan niệm
lễ hội là: “Cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa
truyền thống”
Từ các khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả khi bàn về khái niệm lễ hội đều có những quan niệm tương đồng về lễ và hội Trong một lễ hội
có hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: phần lễ và phần hội.“Lễ là
phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo” [66, tr.32].“Hội là phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa
thường nhật, phần đời của mỗi con người, của cộng đồng”.[66, tr.32] Các trò diễn, trò chơi, cuộc thi tài trong phần hội làm cho nội dung lễ hội thêm phong phú, làm sáng tỏ thêm chủ đề của lễ hội
Khái niệm trên đã phản ánh bản chất và những nội dung của lễ hội truyền thống Việt Nam Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hoá của tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức Dù ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn
từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu Họ là chủ nhân, đồng thời là người đánh giá, thẩm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hoá ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội Không có đông
người tham dự, không thành hội, dân gian từng nói “đông như hội” chính là
vậy
Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất cứ
lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hoá của một địa phương đó Người ta tổ chức hoạt động lễ hội nhằm các mục đích khác nhau Trước hết, những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ Đây chính là biểu hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hoá với thiên nhiên, thần thánh, con người, thông qua các hoạt động trong lễ hội Đó
là những ứng xử của tập thể, của cộng đồng cư dân với cả hai đối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 92.2 Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết Nguyễn Minh Không
Vào khoảng thế kỷ XIV, XV, truyền thuyết về Nguyễn Minh Không, đã được Lý Tế Xuyên và Vũ Quỳnh, Kiều Phú ghi lại trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam trích quái Trong cuốn Hành thiện xã chí của Hành Thiện tương tế hội, năm 1947, ở Gia Định, tác giả Đặng Xuân Bảng đã lý giải, phân biệt sự khác nhau giữa Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không Trong Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, ở truyện Sự thần dị của Minh Không cũng nói đến thánh Minh Không và sự nghiệp tu hành của ông
Hiện nay, truyền thuyết về Nguyễn Minh Không, tín ngưỡng và các lễ hội
về ông được các nhà nghiên cứu ở nhiều địa phương khác nhau như Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Ninh Bình… quan tâm sưu tầm, nghiên cứu và công bố Thí dụ:
Phạm Đức Duật, trong bài “Sự Tích Không Lộ, Minh Không” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Hán - Nôm (số 1 - 2/1984) đã nói rất rõ về cuộc đời và hành
trạng của đức Thánh Nguyễn
Lê Xuân Quang với cuốn Truyện Đức Không Lộ - Minh Không (2000) đã
sưu tầm khá đầy đủ những truyền thuyết về Dương Không Lộ và Minh Không, trong đó có bài diễn ca xâu chuỗi toàn bộ truyền thuyết về Đức Thánh Tổ Khổng Minh Không Tác giả cho rằng hai vị thiền sư là một và được đồng nhất với danh xưng Khổng Minh Không
Trương Đình Tưởng với Truyện cổ dân gian Ninh Bình (1995), đã sưu
tầm, biên soạn giới thiệu 6 truyện về ông Khổng Lồ Nguyễn Minh Không
Cuốn Địa chí Ninh Bình, (UBND, Tỉnh ủy Ninh Bình, 2010), phần Văn
hóa, tôn giáo - Tín ngưỡng đã giới thiệu về phật giáo thời Lý và vai trò của Quốc sư Nguyễn Minh Không
Trương Đình Tưởng với cuốn Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình,
(2004), trong phần IV: “Truyện kể dân gian” đã giới thiệu một số thể loại văn học dân gian chính ở Ninh Bình trong đó có thần thoại về ông Khổng Lồ Nguyễn Minh Không và một bài ca về Thánh Nguyễn với phép thần thông quảng đại
Trương Đình Tưởng trong cuốn Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền
thoại, NXB Thế giới (2010) đã giới thiệu khá chi tiết về Nguyễn Minh Không,
Quốc sư triều Lý - ông tổ khai sinh “sinh dược” và “chùa Bái Đính cổ tự” trên
Trang 10thành văn trong quá trình sưu tầm, điền dã Song chưa có một công trình nào
nghiên cứu về Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh
Nguyễn ở Ninh Bình dưới góc độ của khoa nghiên cứu văn học dân gian
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về Nguyễn Minh Không trước đây, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu truyền thuyết Nguyễn Minh Không, đặc biệt là những truyền thuyết về ông lưu truyền ở địa phương Ninh Bình và lễ hội đền Thánh Nguyễn để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa truyện kể dân gian với tín ngưỡng và lễ hội
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu trên cơ sở tập hợp các truyền thuyết liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp và thân thế của Nguyễn Minh Không lưu truyền ở Ninh Bình
Khảo sát, nghiên cứu đồng thời các truyền thuyết về Nguyễn Minh Không lưu truyền ở Ninh Bình với các truyền thuyết về ông ở Thái Bình, Nam Định Tham khảo, đối chiếu với những truyền thuyết về Nguyễn Minh Không lưu truyền ở một số địa phương khác mà không có ở Ninh Bình
Khảo sát, giới thiệu lễ hội đền Thánh Nguyễn Xem xét mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình
3.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn để thấy được mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử với truyền thuyết và tín ngưỡng và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa, tâm linh của cộng đồng dân cư ở Ninh Bình
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4.1 Nhiệm vụ
Hệ thống các truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình và lễ hội về Nguyễn Minh Không tại đền Thánh Nguyễn
Xem xét mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình
Chỉ ra sự ảnh hưởng sâu rộng của nhân vật Nguyễn Minh Không trong tín ngưỡng dân gian và trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân Ninh Bình nói riêng và người dân Việt Nam nói chung
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và
lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình, luận văn chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: Khảo sát, tập hợp và thống kê các tư liệu liên
quan đến truyền thuyết về Nguyễn Minh Không
Phương pháp điền dã: Tiến hành điền dã trên địa bàn huyện Gia Viễn,
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 11Yên Mô, Thị xã Tam Điệp, thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình tham quan các
di tích lịch sử có liên quan đến Nguyễn Minh Không Gặp gỡ, trao đổi với những cán bộ văn hoá, cán bộ quản lí di tích lịch sử, những nhà nghiên cứu, những người dân địa phương đã nhiều năm tìm hiểu thu thập tư liệu về Nguyễn Minh Không
Phương pháp liên ngành: Do văn học dân gian nói chung, truyền thuyết
nói riêng có đặc trưng là tính nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi tiến hành đề tài này chúng tôi đã vận dụng những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng… để lí giải một số vấn đề có liên quan đến đề tài
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm
tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết, đồng thời để có được sự đánh giá một cách toàn vẹn, khái quát
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa lý: Các địa phương của Ninh Bình có lưu truyền truyền
thuyết về Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình
Phạm vi tư liệu:
Những truyền thuyết về Nguyễn Minh Không và lễ hội Thánh Nguyễn
đã được sưu tập, giới thiệu trong các cuốn Truyện cổ dân gian Ninh Bình (1995)
Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền thoại (2009) do tác giả Trương Đình
Tưởng sưu tầm, biên soạn Cuốn Dư địa chí Ninh Bình Địa chí Ninh Bình
(UBND, Tỉnh ủy Ninh Bình, 2010),
Một số truyền thuyết liên quan do tác giả luận văn thu thập, bổ sung được trong quá trình điền dã tại Ninh Bình
6 Đóng góp của luận văn
Giới thiệu một cách tương đối đầy đủ, hệ thống truyền thuyết về Nguyễn Minh Không được lưu truyền ở Ninh Bình vốn lâu nay chưa được nhiều người quan tâm Nghiên cứu nội dung và nghệ thuật hệ thống truyền thuyết về Nguyễn Minh Không và chỉ ra giá trị, ý nghĩa của hệ thống truyền thuyết này
Giới thiệu lễ hội đền Thánh Nguyễn trong mối quan hệ, với hệ thống truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình, từ đó cho thấy được sức sống, tầm ảnh hưởng to lớn của ông trong truyền thuyết cũng như trong đời sống hóa tâm linh của người dân Ninh Bình xưa và nay
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, cấu trúc của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung, cơ sở nghiên cứu đề tài
Chương 2: Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình
Chương 3: Mối quan hệ giữa truyền thuyết Nguyễn Minh Không với lễ hội
đền Thánh Nguyễn
Trang 12B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG, CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa ở Ninh Bình
1.1 1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của con người Cũng chính nhờ vào hoàn cảnh tự nhiên mà các giá trị văn hóa, văn học mới nảy sinh, tồn tại và phát triển Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, 19º50’ đến 20º27’ độ Vĩ Bắc, 105º32’ đến 106º27’ độ Kinh Đông Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá Phía Đông
và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam Có nhiều lợi thế phát triển kinh tế chính trị xã hội
vì có đủ cả giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy
Ninh Bình ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng nên địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét Vùng đồng bằng, vùng đồi núi bán sơn địa và vùng ven biển Mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng, song ba vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp Ninh Bình còn có thế mạnh phát triển đa dạng các loại hình du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch
sử văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, nước nóng Kênh Gà, Quần thể di sản thiên nhiên thế giới Tràng An …
Với vị trí địa lý đặc biệt, thiên nhiên đa dạng phong phú, Ninh Bình trở thành nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía bắc, từ lưu vực sông Hồng vào phía nam, từ vùng núi xuống vùng biển
1.1.2 Đặc điểm lịch sử
Theo kết quả của các công trình khảo cổ học, sử sách ghi lại Ninh Bình là vùng đất cổ, là địa bàn cư trú của của người Việt cổ Trải qua hàng nghìn năm xây dựng, phát triển và trưởng thành với nhiều thăng trầm, Ninh Bình được đổi tên gọi nhiều lần, mỗi thời đại có cải cách và tên gọi khác nhau
“Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên
Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đóng đô tại Hoa Lư và đổi
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 13tên gọi Trường Châu thành Trường An…
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Ninh Bình trực thuộc quân khu 3 gồm một thị xã, 6 huyện và hai thị trấn Địa giới và các tổ chức đơn vị hành chính được giữ mãi cho tới ngày miền nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tại kỳ họp thứ hai quốc hội khóa V nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ra Nghị quyết Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1991”(Trích Bách khoa toàn thư mở)
1.1.3 Văn hóa truyền thống ở Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh có diện tích nhỏ nhưng lại có bề dày lịch sử và văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân gian Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hoá lớn sông Hồng - sông Mã - Hoà Bình Vì vậy, văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang sắc thái vùng miền do yếu tố hội
tụ, giao thoa của nhiều nền văn minh, văn hoá tích hợp
Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Việt thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê - Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông Đây còn là vùng đất chiến lược bảo vệ kinh thành Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần hai lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông với hành cung Vũ Lâm, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô
Cùng với sự phát triển của lịch sử, nhân dân Ninh Bình đã xây dựng, gìn giữ và phát triển một nền văn hóa đậm đà tính dân tộc và in đậm dấu ấn địa phương Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của Ninh Bình vô cùng phong phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều phương diện trong cuộc sống của cả người Kinh
và người Mường (Ninh Bình có ngót 92 vạn dân, trong đó có tới hơn 200 ngàn người Mường)
Đối với người dân Ninh Bình, tín ngưỡng dân gian ngàn xưa đã ăn sâu bắt
rễ trong tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, trong đời sống sinh hoạt… Người dân Ninh Bình quan niệm:
“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn Nước có nguồn bể rộng sông sâu”
Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người dân Ninh Bình thờ thần tự nhiên như thờ thần Núi, thần Biển, thần Sông, thần Cây… mà còn thờ
Trang 14Phật Mọi địa phương trong tỉnh đều có những ngôi chùa thờ Phật
Thờ vua đã là một đặc trưng trong tín ngưỡng dân gian Ninh Bình, càng ngày càng thấm sâu vào ý thức hệ tư tưởng của người dân, làm thức dậy những
tình cảm sâu lắng nhất trong mỗi người dân, khắc ghi đạo lí “uống nước nhớ
nguồn” Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, mặt khác thể hiện
trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối ơn đức của của tổ tiên đã có công dựng nước Để tưởng nhớ công ơn của vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành người dân Ninh Bình đã lập đền thờ ngay trên nền đất kinh đô Hoa Lư xưa
và còn được thờ nhiều nơi trong tỉnh Ở Ninh Bình không chỉ thờ vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành mà còn thờ các vua khác như Phùng Hưng, Lý Thái Tông, Trần Thái Tông… Tín ngưỡng thờ vua của người Ninh Bình được cụ thể
hóa trong trong quan niệm “cây có gốc”, “nước có nguồn”, “chim tìm tổ”,
“người tìm tông” và qua các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền
thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ thể
Trong tín ngưỡng của người Ninh Bình rất coi trọng thờ Mẫu, thờ Thánh… Hiện nay có các đền như đền thờ mẫu Liễu Hạnh ở Tam Điệp, đền thờ Mẫu thượng Ngàn ở Nho Quan, đền thờ đức Thánh Nguyễn ở Gia Viễn… Bên cạnh đó, hầu như ở các làng, xã đều có đền, đình - trung tâm văn hóa thờ Thành Hoàng làng và diễn các nghi lễ văn hóa hàng năm
Ninh Bình là một địa phương còn lưu giữ được nhiều lễ hội dân gian Ngoài ý nghĩa tâm linh, lễ hội còn là nơi giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Hiện nay ở Ninh Bình có 74 lễ hội truyền thống và 145 hội làng đậm đà văn hoá của vùng đất châu thổ sông Hồng Các lễ hội văn hóa ở Ninh Bình chủ yếu diễn ra ở mùa xuân Lễ hội làng Yên Vệ: ngày 4/1 âm lịch ở làng Yên Vệ xã Khánh Phú, Yên Khánh tại đền Thượng thờ Nguyễn Minh Không và chùa Phúc Long Lễ hội chùa Bái Đính (Gia Viễn) bắt đầu ngày 6/1 âm lịch… Lễ hội quan trọng nhất trong tín ngưỡng của người dân Ninh Bình là lễ hội Hoa Lư (trước đây là Lễ hội Trường Yên) Nhắc đến lễ hội Trường Yên xưa dân gian có câu:
“Dù ai buôn bán đâu đâu Tháng hai mở hội rủ nhau mà về
Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng hai mở hội thì về Trường Yên”
Để gìn giữ phát huy những lễ hội như hiện nay ở Ninh Bình là cả một quá trình, mà trong đó có sự hòa quyện cả những yếu tố lịch sử và cả những truyền thuyết dân gian, tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Ninh Bình và người dân trong cả nước
Trong quá trình sinh sống lâu đời, người Ninh Bình đã tạo nên những phong tục sống tập quán của riêng quê hương mình Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 15định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất Phong tục của người Ninh Bình rất đa dạng được thể hiện ở hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão Khi người phụ nữ mang thai không được bước qua thừng trâu Người dân quan niệm như vậy người mẹ sẽ bị chửa lên tháng Khi đứa trẻ mới được sinh ra không để người lạ vào vì sợ phải vía, không cho đứa trẻ đến đám
ma vì sợ bị sài quấy khóc, lười ăn Trong trường hợp đứa trẻ bị sài người dân tin vào việc tắm sài, khêu sài ăn ngon, ngủ ngon Ngoài ra còn rất nhiều phong tục khác như tục ăn trầu, xông đất, mừng tuổi đầu năm, xem tuổi làm nhà Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người
Ninh Bình còn là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền phong phú mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ Ninh Bình từng là kinh đô của nước Đại Cồ Việt
- nơi phát tích của nghệ thuật Chèo, Xẩm Đây là những loại hình nghệ thuật cổ truyền tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại trong nghệ thuật Chèo bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ X Người sáng lập nghệ thuật Chèo - bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh Bà được suy tôn là bà tổ của nghệ thuật hát chèo Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo ra đời cách đây hơn 700 năm Bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm còn là loại hình âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn Xẩm được coi là một nghề để kiếm sống của người lao động nên tính chất âm nhạc, lời ca hết sức mộc mạc chân thành, song
nó cũng chứa đựng những nội dung tư tưởng sâu sắc, hàm chứa những triết lý, những lời răn dạy đạo lý ở đời Ninh Bình hiện nay còn lưu giữ nhiều làn điệu Xẩm cổ Một trong những người có công lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn hát Xẩm là nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928 – 2013) ở huyện Yên Mô Bà được xem là
nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX và từng được mệnh danh là "báu
vật nhân văn sống"
Văn hoá ẩm thực Ninh Bình có những nét đặc thù riêng của nền văn minh lúa nước, của văn hoá sông Hồng Từ những sản vật do thiên nhiên ban tặng dưới bàn tay khéo léo của con người, mỗi vùng miền trên dải đất này lại có những món đặc sản độc đáo Vùng đất Kim Sơn nổi tiếng với bún mọc, gỏi Nhệch, rượu nếp Lai Thành Đến với Yên Mô, ta sẽ được thưởng thức đặc sản nem Yên Mạc, rượu Yên Lâm, bánh đa chợ Lồng
Trên vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhân dân Ninh Bình đã tiếp thu
những truyền thống của cộng đồng người Việt xây dựng nên phong tục tập quán, tín ngưỡng Từ đó hình thành bản sắc văn hóa địa phương, góp phần làm phong
Trang 16phú hơn bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.4 Văn học
Ninh Bình “là một vùng đất nằm giữa hai vùng văn hóa - vùng văn hóa
sông Hồng và vùng văn hóa sông Mã, lại là vùng nằm trên huyết mạch giao thông Bắc - Nam, văn học dân gian Ninh Bình mang trong mình tính trung
chuyển, giao lưu rõ nét” [62, tr.833] Là một vùng quê có nhiều cảnh đẹp nên thơ, người Ninh Bình đã dùng văn học dân gian để ghi lại những cảm xúc của mình về cảnh vật và con người quê hương, gửi gắm vào đó niềm xúc động và lòng tự hào, được diễn tả bằng sự tài hoa trong cách biểu hiện hình ảnh và ngôn
từ Điều đó góp phần hình thành một nền văn học dân gian mang tính riêng biệt
và mang tính tương đồng với văn học dân gian các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam
Truyện thần thoại ở Ninh Bình là những truyện kể dân gian thể hiện khát vọng khám phá, chinh phục, giải thích thế giới tự nhiên, sự hình thành vũ trụ và nhận thức của con người thời cổ Thần thoại ở Ninh Bình là tác phẩm tự sự có kết cấu và cốt truyện đơn giản, được xây dựng bằng những hình ảnh, chi tiết kỳ
ảo không có thực Có thể kể đến các truyện tiêu biểu như Ông lão bán muối giết
thuồng luồng, Ngư ông và thần rắn, Chuyện con giải thần ở làng Khê Hạ, Sự tích núi vàng, Sự tích Cánh Diều…
Thể loại phong phú và có số lượng tác phẩm nhiều ở Ninh Bình là truyền thuyết Hầu như mỗi con sông, ngọn núi, ngôi làng đều gắn liền với những truyền thuyết đẹp.Truyền thuyết ở Ninh Bình rất phong phú: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử, truyền thuyết dân gian của người Mường, truyền thuyết về nữ thần, truyền thuyết chống giặc ngoại xâm…
Truyền thuyết dân gian luôn gắn với một vùng đất, vì thế trong các truyền thuyết được sưu tầm, ta bắt gặp hầu hết các địa danh trong tỉnh Ninh Bình Có
truyền thuyết kể về lai lịch tên đất, tên làng như truyền thuyết Hai anh em họ
Quách, Bắn phải voi quý của nhà vua…Địa danh Hang Múa ở xã Ninh Xuân -
Hoa Lư được nhân dân kể lại những truyền thuyết cổ xưa “khi vua Trần chọn
vùng đất Hoa Lư này làm Am Thái Vi, người thường tới đây xem các mỹ nữ múa hát, do đó nhân dân gọi vùng này là hang Múa” Truyền thuyết địa danh ở Ninh
Bình còn gắn với các di tích, khu danh thắng nổi tiếng, đền chùa trong tỉnh như Đền Vực Vông, đền Dâu… Mỗi mỗi truyền thuyết đều thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn, tình cảm tôn vinh của nhân dân dành cho những con người có nhiều đóng góp và hy sinh cho cộng đồng…
Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đã dựng lên một thời đại vẻ vang trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Công lao “khai sơn phá thạch” của
hai vị vua được lưu danh sử sách và được nhân dân đời đời biết ơn, tôn kính Đinh Bộ Lĩnh và Lê Đại Hành đi vào truyền thuyết dân gian với lòng sùng kính thiêng liêng Tác giả dân gian sử dụng các yếu tố hoang đường kỳ ảo, mô típ sinh
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 17nở thần kỳ làm cho truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng thêm lung linh.“Trời đang
nắng to bỗng một trận mưa rào ập đến Bà Đàm thị bèn lánh vào trong một hang núi trước mặt Bà hứng những giọt nước long lanh ngũ sắc từ một cây nhũ đá rỏ xuống Uống xong bà thấy buồn ngủ nhíu mắt lại Thấy giữa hang có một tảng đá
to, nhẵn như một chiếc sập gụ, bà ngả lưng xuống ngủ thiếp lúc nào không biết Cơn mưa vừa tạnh, bà Đàm Thị vừa tỉnh giấc, bất thần thấy có một con rái cá hình nhân to tướng nằm bên cạnh, một chân vắt qua bụng bà (….) Hôm ấy, trời đang nắng chang chang bỗng sấm chớp nổi lên ầm ầm, mây chuyển vần vũ Bà Đàm Thị trở dạ sinh một đứa bé khôi ngô tuấn tú Đứa bé mới sinh đã ngồi nhổm dậy được như trẻ lên ba, ánh mắt sáng như sao, dung mạo oai vệ khác thường”
Còn trong truyền thuyết Cha lỗ đó, mẹ lá chùa tác giả dân gian cũng hư cấu kể
về sự ra đời thần kỳ của vua Lê Đại Hành “Đêm hôm ấy, bà nằm mộng thấy đức
Phật Quan Âm Bồ Tát hiện lên nói: Vợ chồng con hiền lành nhân đức nên đã cảm hóa được cõi phật Ta ban cho đóa sen thiên tử, vợ chồng con sẽ được toại nguyện ( ) Ngày qua ngày bà Đặng Thị thấy trong người khang khác Rồi bà có thai, hai vợi chồng mừng lắm ” Qua mô típ sự sinh nở thần kì nhân vật nhân vật
Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, nhân dân thể hiện quan niệm về sự ra đời của người anh hùng là sự lựa chọn tất yếu lịch sử
Một mảng quan trọng trong truyền thuyết Ninh Bình là đề tài chống giặc ngoại xâm Trong lịch sử dựng xây đất nước, người dân Ninh Bình ở mỗi thời
kỳ đều có những người con ưu tú, chiến đấu dũng cảm được sử sách tôn vinh,
được nhân dân dệt nên những truyền thuyết đẹp, như các truyền thuyết Núi ông
Trạng và cánh đồng Ngô Ngã, Cứu vua được phong làm tướng…
Chiếm số lượng đáng kể trong thể loại truyền thuyết ở Ninh Bình là truyền thuyết về Nguyễn Minh Không Hiện nay, người dân Ninh Bình vẫn lưu
truyền những truyền thuyết đẹp về ông như truyện Ông Khổng Lồ gánh núi,
Ông Khổng Lồ bắt lươn, Đan sọt gánh nước… Những truyền thuyết ấy đã trở
thành một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng giá trị của Ninh Bình
Bên cạnh truyền thuyết, còn phải kể đến một thể loại phong phú đó là những câu tục ngữ, phương ngôn Đó là những câu nói ngắn gọn thể hiện những nhận định, tổng kết và đúc kết của con người, mang dấu ấn địa danh rõ ràng Trước hết, phải kể đến những câu phương ngôn về các vị thánh, bậc đế vương, những con người ưu tú của quê hương Người dân ở đây có câu:
“Đại hữu sinh vương, Điềm Dương sinh thánh”
Đại hữu là quê hương của vua Đinh Tiên Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn), còn Điềm Dương (Điềm Giang) là quê hương của Nguyễn Minh Không vị quốc sư đời Lý Câu phương ngôn này thể hiện niềm tự hào của người dân Ninh Bình về vùng đất địa linh nhân kiệt quê hương mình
Phương ngôn còn ghi lại việc thờ tự Vua Đinh, người dân ở đây đã thể
hiện thái độ của mình qua câu: "Đền Đinh thượng miếu, đền Lê hạ từ" Câu
Trang 18phương ngôn này có nhiều tầng nghĩa Thứ nhất, chữ "thượng" và chữ "hạ" ở đây có liên quan đến địa danh làng Yên Thượng (nơi có đền thờ vua Đinh) và làng Yên Hạ (nơi có đền vua Lê) Cả hai đều thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa
Lư Thứ hai, chữ "thượng" và chữ "hạ" ngụ ý đền vua Đinh được xây cất cao
hơn đền vua Lê Thứ ba, trong dân gian người ta vẫn coi vua Lê là bầy tôi của vua Đinh, do đó so sánh về vị thế, vua Đinh vẫn được đánh giá ở ngôi cao hơn vua Lê
Trong lao động sản xuất, trong quá trình đấu tranh thiên nhiên người dân Ninh Bình đã đúc rút kinh nghiệm Những kinh nghiệm ấy được phản ánh vào những câu tục ngữ ngắn gọn, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian
“Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to”
Quan sát loài côn trùng nhỏ bé này, dân gian rút ra kinh nghiệm hết sức quí báu: khi nhìn thấy kiến đen tha trứng lên cao là lúc sắp có mưa rào Nhờ kinh nghiệm này, chúng ta sẽ tránh được những thiệt hại trong sản xuất và sinh hoạt
Tục ngữ Ninh Bình đã đúc rút kinh nghiệm chọn trâu - nguồn sức kéo chính của nhà nông Một con trâu tốt phải hội đủ các tiêu chuẩn
“Tam tinh, khoáy sọ thì chừa Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi”
Văn học dân gian Ninh Bình còn có thể loại văn học vô cùng đặc sắc đó là
ca dao Ninh Bình phong cảnh hữu tình, con người tài hoa trở thành nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ dân gian Những câu ca dao vừa mộc mạc vừa chan chứa tình người ca ngợi cảnh đẹp quê hương, tình yêu lứa đôi, tình cảm gia đình
“Ai về qua đất Ninh Bình
Mà xem phong cảnh hữu tình nên thơ Nước non, non nước như mơ Càng nhìn Dục Thúy càng ngơ ngẩn lòng”
Tình yêu đôi lứa là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất trong ca dao Ninh Bình Ca dao tình yêu của người Ninh Bình được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển trong mọi cung bậc cảm xúc của tình yêu lứa đôi Có nhiều cách tỏ tình, lúc xa xôi, đưa đẩy,lúc nồng nàn, gần gũi… nhưng tất cả đều thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn của các chàng trai cô gái thôn quê Các chàng trai Ninh Bình đã khéo léo lấy cảnh nói tình và ngỏ lời qua một câu nhắn nhủ hết sức tình tứ
“Mình về đường ấy thì xa
Để anh bắc cầu Sông Cái đi qua Ninh Bình
Đêm qua giăng tỏ, giăng mờ,
Em đi đổi bún tình cờ gặp anh;
Rảo chân em bước nhanh nhanh,
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 19Anh đỡ lấy gánh: - Để anh gánh cùng;
Gánh về đến xóm Tam Dương, Anh xin cha mẹ được thương em cùng”
Không chỉ có các chàng trai mà các cô gái Ninh Bình cũng có cách ngỏ lời duyên dáng không kém
“Em là con gái Ngòi Ngang, Chợ Xanh, chợ Cát biết rằng về đâu?
Chợ Xanh mua vải ruộm nâu, Chợ Cát mua một cơi giầu đợi anh!”
“Trời mưa thì mặc trời mưa, Đường làng lát đá sớm khuya đi về;
Quê em là đất Nuốn Khê, Hỏi anh có muốn đi về hay không?
Em thưa bác mẹ bằng lòng,
Em thì dệt vải, anh trồng ngô khoai;
Tứ thời bát tiết anh ơi,
Ổ rơm cũng ấm, ngô khoai cũng bùi”
Cuộc sống nhiều khó khăn, bất trắc đã được người dân gửi gắm qua những câu ca dao than thân
“Đắng cay tột đỉnh trời ơi Cái nghèo cái khổ chẳng rời tôi ra”
Lời than cất lên từ những bất hạnh, gian nan trở thành một bài ca tổng kết nỗi khổ đau của người lao động
Ca dao không chỉ là nơi người dân Ninh Bình gửi gắm tình yêu quê hương đất nước, tình yêu lứa đôi mà còn thể hiện tinh thần phản kháng mạnh
mẽ Ca dao là tiếng nói tố cáo bản chất thối nát của một bộ phận quan lại: ra sức
vơ vét của cải, đục khoét, bóc lột nhân dân
“Chém cha cái lũ áo dài
Ăn no đến tận mang tai vẫn lần
Nó lần đến bẹn khố dân Trong ngoài bòn sạch không phân thứ gì
Ăn no rồi lại nằm khì Mặc dân rên xiết khốn nguy nhọc nhằn”
Ca dao Ninh Bình còn thể hiện được bản sắc văn hóa làng xã ở sự công kích, chê bai giữa làng này với làng kia
“Con gái dù đẹp như tiên, Lấy chồng Đông Hội như thuyền chở phân”
Ca dao không chỉ “công kích” những làng, xã, thôn, bản có nhiều bất lợi
về địa lý, mà còn đả phá những thói hư tật xấu của một số người, một số địa
Trang 20Những tác phẩm văn học dân gian ở nhiều thể loại đã phản ánh đầy đủ đời sống xã hội, tinh thần của người dân Ninh Bình Đồng thời cũng tạo nên một vùng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và góp phần làm phong phú văn học dân gian Việt Nam
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Minh Không
1.2.1 Bối cảnh thời đại Nguyễn Minh Không sinh sống
1.2.1.1 Sơ lược về thời Lý
Thế kỷ X, Ðinh Tiên Hoàng sau khi dẹp yên mười hai sứ quân đã xây dựng đô thành mới ở Hoa Lư Trong bối cảnh lịch sử ấy, đó là một quyết định đúng đắn và cần thiết Trong 42 năm (968 - 1009), kinh đô Hoa Lư đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, tạo điều kiện cho triều Ðinh (968 - 980) và Tiền Lê (980 - 1009) củng cố chính quyền trung ương, bảo vệ nền độc lập dân tộc, đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Tống (980 - 981) và giữ vững nền thống nhất quốc gia Đến năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế (Thái Tổ), đặt niên hiệu là Thuận Thiên.Trước yêu cầu xây dựng đất nước trên qui mô lớn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang văn hoá, thì kinh đô Hoa
Lư không còn phù hợp với yêu cầu của lịch sử Bởi vậy, năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định đời đô từ Hoa Lư về thành Đại La Sau đó Thăng Long (rồng bay), chính thức trở thành kinh đô của nước Đại Việt
Nhà nước Đại Việt thời Lý rất chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng Quân đội bao gồm quân bộ và quân thuỷ, được huấn luyện quy củ, chặt chẽ Tất
cả trai tráng đến tuổi 18 (gọi là hoàng nam) đều phải đăng lính Nhà Lý thực
hiện chính sách "ngụ binh ư nông" có ý nghĩa tích cực trong công cuộc dựng
nước và giữ nước Quân đội đã góp phần tích cực và có hiệu quả trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống, xây dựng đất nước thái bình
Nhà Lý trị vì đất nước bằng luật pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của dòng tộc, hạn chế sự bành trướng thế lực ngoại tộc Đồng thời triều đình quan tâm đến đời sống của muôn dân, thể hiện tinh thần nhân ái trong pháp trị
Trong hoạt động đối ngoại, triều đình luôn có chính sách mềm dẻo, linh hoạt, chủ trương giao hảo với các nước lân bang, nhưng thực hiện một nguyên tắc không thể nhân nhượng đó là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Nếu nguyên tắc đó bị vi phạm, nhà Lý kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
Cùng với sự lớn mạnh về chính trị và kinh tế, văn hóa Đại Việt thời Lý
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 21trở nên phong phú và phát triển ở một tầm cao mới qua một quá trình tiếp biến
và tích hợp văn hóa Trên cơ sở cốt lõi của nền văn hóa Việt cổ, nhà Lý chủ động tiếp thu và cải biến những yếu tố của văn hóa Đông Á Trung Hoa, văn hóa Chămpa và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Tuy nhiên, những ảnh hưởng văn hóa ngoại sinh du nhập còn ở mức độ hạn chế, được gạn lọc, luyện hợp thành những yếu tố nội sinh
Nhà Lý đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp giữa các tín ngưỡng, tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho Đó chính là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với Đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích
Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý, và được coi là Quốc giáo Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông…) đều sùng đạo Phật Nhà vua cho dựng chùa tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật… Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật Nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền Dân chúng quá nửa nước là sư
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế Đến thời Lý, nó đã trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền Nho giáo trở thành nguyên lý cơ bản của phép trị nước, trong đó một biện pháp chiến lược là chế độ khoa cử Tuy nhiên, ở các làng xã, quá trình Nho giáo hóa lại mờ nhạt Dân chúng vẫn sống theo những phong tục cổ truyền, chưa bị ràng buộc bởi những quy phạm Nho giáo
Đầu thời Lý, nền giáo dục Đại Việt chủ yếu là Phật học Vua Lý Công Uẩn đã học ở chùa Lục Tổ Các sư tăng đồng thời cũng là những trí thức Dần dần, giáo dục khoa cử Nho học ngày càng phát triển Nhà Lý là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam xác lập hệ thống giáo dục khoa cử có hệ thống.Năm
1070, Văn Miếu được thành lập, cũng là nơi dành riêng để dạy học cho Hoàng Thái Tử Lúc đầu, khi mới mở trường Quốc Tử Giám (1076), chỉ có các quý tộc quan liêu và con em được theo học
Văn học thời Lý phản ánh những tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, mang nhiều yếu tố tích cực, lạc quan Nổi bật là văn học Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền tông Nó bao gồm các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo Thơ văn yêu nước phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc ngoại xâm, lòng trung quân ái quốc, lòng tự hào dân tộc
Một thành tựu quan trọng của văn học thời Lý là việc phổ biến chữ Nôm Thời kỳ này, người ta có thể tìm thấy một số dấu vết chữ Nôm trên một số chuông đồng (chùa Vân Bản, Đồ Sơn) và văn bia (bia chùa Báo Ân, Vĩnh Phúc)
1.2.1.2 Sơ lược tình hình Ninh Bình thời Lý
Trang 22Kinh đô Hoa Lư sau 42 năm hoàn thành sứ mệnh lịch sử là kinh đô nhà nước Đại Cồ Việt, nay trở thành cố đô Hoa Lư không còn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia Ninh Bình thời Lý không phồn thịnh như thời nhà Đinh - Tiền Lê nhưng vẫn được nhà Lý coi là vùng đất quan trọng Lý Công Uẩn đã sai con trai Khai Quốc Vương tên là Bồ về trấn giữ vùng này Về hành chính, năm 1010 nhà Lý chia lại khu vực hành chính trong cả nước đổi 10 đạo thành 24 lộ và phủ Ninh Bình là phủ Trường Yên
Về kinh tế, sau khi thắng quân Tống xâm lược, nhà Lý chủ trương thực
hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Ở Ninh Bình, kinh tế nông nghiệp phát
triển.Triều đình quan tâm việc mở mang đất hoang, xây dựng đê điều Nhiều điền trang, thái ấp của các quan lại được thành lập như điền trang bên núi Kiếm Lĩnh của Tô Hiến Thành, bến thuyền Trường Yên, Phúc Thành hải cảng sầm uất Nhà lý quan tâm đến giao thông đường thủy qua hệ thống sông ngòi tự nhiên như sông Vân Sàng, sông Trinh Nữ, sông Đáy Bên cạnh đó, triều đình còn cho mở rộng, nạo vét dòng chảy các dòng tự nhiên và đào thêm những con sông mới như sông Lẫm ở Yên Mô Từ đó, nhiều làng mạc dân cư trù phú được hình thành như Bến Ngự, Bến Chợ, chợ Mo, cánh đồng Bể tạo thế thuận lợi cho giao thông, phát triển kinh tế, quân sự và chống úng lụt Ninh Bình - vùng đất kinh đô Hoa Lư xưa đã trở thành trung tâm kinh tế chính trị của một vùng
Phật giáo ở Ninh Bình vào thời Lý phát triển mạnh mẽ, vai trò của các nhà sư được đề cao Nhà sư được tham gia việc triều chính, trở thành các nhà hoạt động chính trị tham gia giúp vua trị vì đất nước Trong đó phải kể đến vai trò của thiền sư Vạn Hạnh - một trong những người đã giúp cho Lý Công Uẩn lên ngôi vua Vào cuối thời Tiền Lê, vua Lê Long Đĩnh hoang dâm tàn bạo, triều chính rối ren, đời sống nhân dân cực khổ, lòng dân oán hận Đây là điều kiện thuận lợi cho việc vận động nhân dân chấp nhận việc thay ngôi đổi chúa Sau một thời gian trị vì tàn bạo, Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) chết vào năm 1009
Trong sách Văn học đời Lý (bản in năm 1957, Sài Gòn, nhà xuất bản Hướng Dương), tác giả Lê Văn Siêu viết: “Cuộc đảo chánh năm 1010 của Vạn Hạnh,
sau cuộc đảo chánh năm 980 của Lê Hoàn, không mất một giọt máu, không gây một oan cừu, dầu muốn dầu không cũng đã là một tác phẩm nghệ thuật” (trang
107)… “Sư Vạn Hạnh khi thành công đã không chịu nhận một chức tước gì
trong triều của ông vua vốn là học trò của mình, mà ngai vàng lại đã do chính tay mình đem đến, tư cách ấy nào khác gì với tư cách của Phù Đổng Thiên Vương” (trang 111) Lý Công Uẩn lên ngôi ngày 2/11 năm Kỷ Dậu, tức ngày
21/11/1009 tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) Ông là người sáng lập vương triều Nhà Lý, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, đặt niên hiệu là Thuận Thiên
Ở thời Lý, Ninh Bình còn có thiền sư Nguyễn Minh Không Ngài được mệnh danh là ông tổ của nhiều nghề, nhà tu hành mộ đạo, một dược sư nổi tiếng Một trong những kỳ tích của ông được sử sách ghi lại là chữa thành công
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 23bệnh cho vua Lý Thần Tông, được phong làm Lý triều Quốc sư
Ở Ninh Bình thời kỳ này chùa tháp được xây dựng nhiều: tháp Linh Tế, chùa động Phong Phú… Nguyễn Minh Không đã lập ra chùa Viên Quang, chùa Bái Đính cổ tự ở xã Gia Sinh, chùa động Am Tiên ở xã Trường Yên… Phật giáo trở thành sức mạnh tinh thần và tư tưởng góp phần xây dựng ý thức dân tộc, trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Phật giáo góp phần quan trọng trong việc hình thành phong tục truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng trên quê hương Ninh Bình
1.2.2 Đôi nét về quê hương Gia Viễn - nơi sinh Nguyễn Minh Không
Ninh Bình là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã sinh ra những người con ưu
tú, xuất chúng lưu danh sử sách như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Nguyễn Minh
Không… Dân gian Ninh Bình có câu “Đại Hữu sinh Vương, Điềm Dương sinh
Thánh”, làng Đại Hữu sinh vua Đinh Tiên Hoàng - làng Điềm Dương sinh
thánh Nguyễn Minh Không (Hai làng liền kề nhau thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình) Tại núi Dương Sơn, có chùa Lạc Khoái xã Gia Lạc (Gia Viễn, Ninh Bình) còn câu đối:
“Điềm Xá chung linh sinh Nguyễn thánh Hoa Lư dục tú xuất Đinh Hoàng”
Gia Viễn - quê hương của đức Thánh Nguyễn là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh Ninh Bình giáp với tỉnh Hòa Bình và huyện Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam Nơi đây phần lớn là vùng chiêm trũng, ngập nước quanh năm Vì thế, dân
gian có câu “Sống ngâm da, chết ngâm xương” Ngoài vùng đất ngập nước, khu
vực phía Tây Bắc của huyện là đồi, núi đá vôi Chính vì thế đã tạo ra nhiều hang động như động Địch Lộng, động Đại Hữu, một số hang động dưới chân núi Vân Long… và nhiều đồi trọc như đồi Độc Lập, dải đồi ở xã Gia Hòa, Liên Sơn, Gia Vân
Gia Viễn là vùng đất cổ giàu truyền thống lịch sử Đây là vùng đất "sinh
vương, sinh thánh"; nơi đã sinh ra vua Đinh Tiên Hoàng và Thánh Nguyễn
Minh Không (Lý Quốc Sư) và còn nhiều danh nhân tiêu biểu khác như: Tể tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thượng Thư Trịnh Tú…
Đền Đinh Bộ Lĩnh ở xã Gia Phương huyện Gia Viễn còn có tên là đền Văn Bòng Tương truyền, đây chính là quê gốc của Đinh Bộ Lĩnh Ngôi đền không có ghi chép cụ thể được xây dựng năm nào Trong dân gian truyền lại, khi Đinh Tiên Hoàng còn ở ngôi cho lập sinh từ ở quê hương Năm Kỷ Mão
799, sau khi nhà vua băng hà, nhân dân làng Đại Hữu đã rước bài vị của vua Đinh Tiên Hoàng về thờ Tuy cùng thờ vua Đinh Tiên Hoàng nhưng cách thức suy tôn và tín ngưỡng ở ngôi đền này và đền vua Đinh Tiên Hoàng ở khu di tích cố đô Hoa Lư là không giống nhau Về đối tượng phối thờ, ở đây không thờ các con của ông là Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang, Đinh Toàn mà thờ bà ngoại là Phạm Thị Tuyên, thân mẫu Đàm thị và các trung thần khác là bạn vua từ thuở
Trang 24nhỏ như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ
Đền Thánh Nguyễn là một ngôi đền cổ thuộc làng Điềm, Phủ Tràng An nay là hai xã Gia Tiếng, Gia Thắng thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Đền thờ Nguyễn Minh Không, là danh nhân được sinh ra trên đất này Sử sách ghi lại, sau khi tu hành đắc đạo Nguyễn Minh Không về quê hương Đàm Xá xây dựng chùa Viên Quang để thờ Phật vào năm 1121 Khi ông mất, nhân dân Đàm
Xá biến chùa Viên Quang thành đền thờ Thánh Nguyễn Nhân dân đã xây dựng năm gian ở phía Tây thờ Phật Từ đó về sau nơi thờ đức Thánh Nguyễn và thờ Phật được gọi tên là đền Thánh Nguyễn
Chùa Bái Đính cổ đã được xây dựng dưới thời nhà Lý Nơi đây đã kể lại nhiều sự tích, giai thoại về đức Thánh Nguyễn Khi lên núi tìm thuốc chữa bệnh cho dân, ông đã lập ngôi chùa này Ngôi chùa được bắt đầu được xây dựng trong những hang đá Bái là cúng bái, lễ bái trời đất, còn đính nghĩa là đỉnh, ở trên cao Chùa Bái Đính cổ tọa lạc trên một ngọn núi cao gần trên đỉnh của một vùng rừng núi khá yên tĩnh Chùa được tạo dựng theo lối kiến trúc chùa động khá phổ biến ở Ninh Bình
Động Hoa Lư (còn có tên là Thung Lau, thung Ông) nằm ở xã Uy Tế, nay
là xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Động Hoa Lư là căn cứ đầu tiên của sứ quân Đinh Bộ Lĩnh đối với sự nghiệp thống nhất giang sơn thế kỷ X Tuy được gọi là động nhưng di tích này là một thung lũng rộng khoảng 16 mẫu nằm lộ thiên được bao bọc bởi các ngọn núi vòng cung, là nơi Đinh Bộ Lĩnh
cùng trẻ mục đồng “Cờ lau tập trận” thuở thiếu thời
Địch Lộng có nghĩa là tiếng sáo thổi là một danh lam thắng cảnh bậc nhất của tỉnh Ninh Bình Động - chùa Địch Lộng đẹp tới mức được giới vua chúa
quyền quý xưa xếp vào nhóm "Nam thiên đệ nhất động" Nếu như vua Tự Đức
ban tặng Hương Tích là Nam thiên đệ nhất động, chúa Trịnh Sâm ban tặng Bích
Động là "Nam thiên đệ nhị động" thì Địch Lộng cũng được vua Minh Mạng ban
tặng là "Nam thiên đệ tam động", có nghĩa động đẹp thứ ba ở trời Nam
1.2.3 Thân thế nhân vật
Nguyễn Minh Không là nhân vật lịch sử được sử sách ghi lại khá chi tiết
về tiểu sử Theo "Thiền Uyển Tập Anh", Nguyễn Minh Không tên húy là Nguyễn
Chí Thành, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1065 và mất năm 1141 Cha là Nguyễn Sùng, quê ở làng Điềm Xá, mẹ là bà Dương Thị Mỹ, quê ở Phả Lại, phủ Từ Sơn nay làng Phả Lại, xã Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh Theo tác giả Nguyễn Kim
Chi “Cha ngài là ông Nguyễn Tất Đạt, quê ở thôn Điềm Xá, xã Đàm Xá Gia
Viễn, Phủ Tràng An, tỉnh Ninh Bình Thánh Mẫu của Ngài là bà Từ Thị Hiền”
[16, tr.25] Còn theo Ngọc phả lưu giữ tại đền Thánh Nguyễn lại ghi, Nguyễn Minh Không sinh vào ngày 15 tháng 10 năm Quý Sửu Cha là Nguyễn Sùng,
quê làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, Phủ Trường An, Ái Châu “Sùng công là
người có tư chất siêng năng, thông minh nhưng học hành không thành đạt bèn
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 25tạm biệt gia hương dòng tộc đi chu du thiên hạ Một ngày Sùng công đến Phả Lại thấy có một phú gia tên Vương Công Tiệp, pháp môn diệu thủ, y số chân truyền bèn xin vào nhà ở Thánh Mẫu là Dương Mĩ Nương, là người có nhan sắc và rất hiếu thuận Quê Xã Phả Lại, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc” [48, tr.1] Sùng công ở nhà Dương Công Tiệp được vài năm, Dương
công thấy Sùng công ngôn ngữ nhu hòa, cử chỉ cẩn thận tinh thông văn tự nên
đã gả con gái cho Vừa qua một năm, vợ chồng Dương Công Tiệp bị bệnh qua đời Sùng công là con rể nhưng mai táng cúng tế như cha mẹ mình Công việc tang ma đã xong, vợ chồng trở về cố hương Đàm Xá
Nhà tuy nghèo túng nhưng ông bà đều lấy sự bố thí rộng rãi thể hiện tấm lòng và lấy sự từ bi làm tâm niệm, thấy người đói rét thì cứu giúp, gia tâm làm việc phúc Ông bà sinh được sáu người con: bốn con trai là Nguyễn Chí Cần, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Chí Thiện và hai con gái là Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Quỳ Ông bà làm nghề đánh cá, đơm đó kiếm sống nuôi các con Cha mẹ mất sớm, Chí Thành làm ngư dân đánh bắt cá, sinh sống trên sông Hoàng Long Chí Thành nuôi chí lớn, đi chu du thiên hạ
Nguyễn Minh Không được sử sách ghi lại là nhân vật lịch sử để lại dấu ấn quan trọng ở thời nhà Lý Khi nhắc đến thiền sư, hậu thế không chỉ biết đến ông với tư cách là nhà tu hành mộ đạo - một thày thuốc tài ba - vị tổ sư của nhiều nghề
Thứ nhất, Nguyễn Minh Không là nhà tu hành, thiền sư nổi tiếng thời Lý Sau khi tu hành đắc đạo, thiền sư đã đem tài đức của mình phò vua, hết lòng vì dân vì nước Quốc sư Minh Không là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất - 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt Nhiều ngôi chùa lớn còn tồn tại đến ngày nay như chùa Bái Đính, chùa Cổ Lễ, chùa Non Nước, chùa Địch Lộng, chùa Quỳnh Lâm, chùa Am Tiên, chùa Trông, chùa Kim Liên, chùa Hàm Long Nguyễn Minh Không được vua phong Lý Quốc sư - tên gọi theo quốc tính họ vua
do nhà Lý ban cho ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư từng
là dược sư, pháp sư Thiền sư còn được nhân dân tôn là đức Thánh Nguyễn Một
số ghi chép xưa xếp ông là vị thánh trong tứ bất tử
Thứ hai, Nguyễn Minh Không là một thày thuốc tài ba: Hậu thế biết đến
và ghi nhận công lao của thiền sư không chỉ là nhà tu hành mộ đạo mà còn là một thày thuốc tài ba, tận tâm chữa bệnh cho dân, cứu nhân độ thế Ông đi nhiều nơi chữa bệnh và để dấu ấn nhiều nhất trên chính quê hương Không chỉ hái cây thuốc có sẵn trên núi chữa bệnh cho dân mà ông còn tìm kiếm nhiều cây thuốc quý về trồng thành vườn như: Bình vôi, Ngành ngạnh, Hoài sơn, Khúc Khắc,
Mặt quỷ…Thiền sư đặt tên vườn thuốc là“Vườn sinh dược”, hiện nay là làng
Gia Sinh (làng thuốc sống) Từ các loại thảo dược này thiền sư đã bào chế ra nhiều loại thuốc thuốc nam, châm cứu chữa bệnh cho nhân dân Hiện nay vùng Gia Viễn vẫn còn lưu truyền nhiều bài thuốc dân gian mà người dân ở đây cho
Trang 26rằng những bài thuốc ấy được thiền sư Minh Không truyền lại Như chữa bệnh
mề đay, người dân Ninh Bình có kinh nghiệm :
“Thuốc này bôi đắp ngoài da
Tương truyền, người dân khắp mọi nơi tìm đến thiền sư Nguyễn Minh
Không để được chữa bệnh, nhiều người dựng nhà sinh sống gần Vườn sinh dược
Từ đó làng mạc đông đúc được lập nên với tên gọi là làng Gia Sinh
Một trong những kỳ tích của thiền sư Nguyễn Minh Không về chữa bệnh được sử sách ghi lại là chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông Lên ngôi không được bao lâu, vua Lý Thần Tông lâm bệnh nặng, lông lá mọc khắp cơ thể, gầm thét như hổ suốt ngày Các danh y tài giỏi được triệu đến chữa bệnh nhưng nhà vua vẫn không thuyên giảm, nhà sư Nguyễn Minh Không với tài đoán bệnh của mình đã chữa được khỏi cho vua Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng, vua Lý
Thần Tông đã phong ông là Quốc sư Sách Đại Việt sử ký toàn thư có viết “Năm
1136, vua bệnh nặng, thuốc chữa không khỏi Nhà sư Nguyễn Minh Không chữa khỏi, được phong là Quốc sư, tha thuế dịch cho vài trăm hộ” [45, tr.362]
Thứ ba, Nguyễn Minh Không còn là một tổ sư của nhiều ngành nghề: Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là người sáng lập vì
đã có công tạo ra nghề, gọi là tổ nghề Tổ nghề thường là những người có thật, nhưng lại được người đời sau tôn thờ vì đã có công sáng tạo ra nghề, truyền lại
cho các thế hệ sau Sự nghiệp tu hành của thiền sư gắn liền với “độ thế”, “xuất
thế” chứ không “yếm thế” quay lưng lại với đời Thiền sư không chỉ chữa bệnh
cho dân mà quan tâm chăm lo đời sống cho muôn dân Đi đến đâu thiền sư xây chùa, chữa bệnh, dạy dân làm nghề để mưu sinh Đến núi Bái Đính - Ninh Bình, thiền sư dạy dân trồng thuốc chữa bệnh, đến làng Tống Xá - Nam Định, thiền sư dạy dân nghề đúc đồng… Vì vậy, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc, thái bình Nhân dân biết ơn thiền sư đã lập đền thờ và suy tôn là tổ nghề: Làng nghề Yên Xá, Tống Xá ở Ý Yên; Chùa Tổ Ong phố Lò Đúc, phố Ngũ Xã - Hà Nội; đình làng Chè, làng Rỵ ở Thiệu Hóa, Thanh Hóa…
Nguyễn Minh Không là một nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại Hiện nay trong cả nước có rất nhiều nơi còn đền thờ ông như ở Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định…Riêng ở Ninh Bình, quê hương ông có đền thờ đức Thánh
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 27Nguyễn trên mảnh đất sinh ra ông thuộc địa phận hai xã Gia Tiến, Gia Thắng huyện Gia Viễn Xưa kia đây là chùa Viên Quang, sau khi ông mất nhân dân biến Viên Quang Tự thành đền thờ đức Thánh Nguyễn và thiền sư còn được thờ
ở đình, chùa và đền nhiều nơi trong tỉnh như đền thờ Nguyễn Minh Không ở khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính - nơi ông đã phát hiện ra các động và xây dựng chùa Bái Đính cổ tự Tại chùa Địch Lộng ở huyện Gia Viễn, nơi được
mệnh danh là "Nam thiện đệ tam động” Lý Quốc Sư còn được thờ ở đình Ngô
Đồng, xã Gia Phú, Gia Viễn, động Am Tiên ở cố đô Hoa Lư…Tại đền Thượng
xã Khánh Phú và đền Tam Thánh ở xã Khánh An huyện Yên Khánh, ông được suy tôn là đức Thánh Cả
Trang 28Tiểu kết chương 1
Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội, đời sống văn hóa và truyền thống lịch sử ở Ninh Bình nói chung và thời nhà Lý nói riêng là những điều kiện rất thuận lợi để làm nảy sinh, tồn tại và phát triển một vùng đất giàu bản sắc văn hóa với những giá trị phi vật thể độc đáo và hấp dẫn Những giá trị ấy được gửi vào những hình sông, dáng núi, trong những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, trong các tác phẩm văn học, trong những buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Đặc biệt qua những truyền thuyết, những lễ hội truyền thống và trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Ninh Bình là nền tảng giúp chúng ta khám phá ra những nét độc đáo, hấp dẫn của vùng văn hóa Ninh Bình
Đồng thời, chúng ta thấy mảnh đất Ninh Bình đã lưu giữ khá nhiều dấu tích
về những con người lịch sử, những nhân vật anh hùng văn hóa đã xây dựng nên mảnh đất này như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành…Tìm hiểu về Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn, chúng ta thấy ông được người dân Ninh Bình lưu truyền với nhiều sự tích và dân gian đã tôn ông lên hàng bậc Thánh với vầng hào quang bất diệt Điều đó chứng tỏ vị trí hết sức quan trọng và ảnh hưởng hết sức to lớn của Thiền sư trong tâm thức và tín ngưỡng dân gian Ninh Bình trong nhiều thế kỷ qua
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 29CHƯƠNG 2 TRUYỀN THUYẾT VỀ NGUYỄN MINH KHÔNG Ở NINH BÌNH
Văn học và cuộc sống luôn có một mối quan hệ gắn kết khó có thể tách rời Văn học bắt nguồn từ cuộc sống Tuy vậy, văn học không phải là sự sao chép hoàn toàn tất cả những gì thuộc về đời sống Là một bộ phận của văn học, truyền thuyết phản ánh lịch sử nhưng không phải những sự kiện lịch sử đích thực mà chỉ
là “những ánh hào quang, những tia khúc xạ” của lịch sử
Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không cũng như các truyền thuyết khác của người Việt nhằm phản ánh, lý giải các nhân vật, các sự kiện lịch sử có liên quan tới đời sống con người Ở chương 2, thông qua hệ thống truyền thuyết dân gian về Nguyễn Minh Không lưu truyền ở Ninh Bình, sẽ giúp chúng ta hiểu hơn
về cuộc đời và sự nghiệp của vị thiền sư - thày thuốc - tổ nghề Đồng thời thấy được vị trí của truyền thuyết Nguyễn Minh Không trong hệ thống truyền thuyết dân gian Ninh Bình
2.1 Khảo sát truyền thuyết về Nguyễn Minh Không
2.1.1 Thống kê số lượng các truyền thuyết
Nguyễn Minh Không là nhân vật được sử sách ghi lại khá chi tiết nhưng không nhiều Vì vậy, khi tìm hiểu về đức thánh Nguyễn, bên cạnh thư tịch cổ
“cái lõi lịch sử” phải dựa vào truyền thuyết và huyền thoại Hệ thống truyền
thuyết về Nguyễn Minh Không còn lưu lại khá nhiều trong dân gian, đặc biệt ở Ninh Bình
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi thu thập từ hai nguồn dữ liệu chính
từ những văn bản đã thành văn và ghi lại được trong quá trình điền dã Cho đến nay, tổng số truyền thuyết về Nguyễn Minh Không mà chúng tôi thu thập được là
38 truyện Riêng truyền thuyết lưu truyền ở Ninh Bình là 35 truyện (số lượng này
có thể phong phú hơn khi mở rộng địa bàn khảo sát) Các truyền thuyết còn lại lưu truyền trong dân gian và một số địa phương chỉ mang tính chất tham khảo
Thứ nhất, trên cơ sở các dữ liệu thành văn chúng tôi thu thập các bản kể về Nguyễn Minh Không đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi biên soạn trong
các cuốn Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập II và tập III) được lưu hành
trong toàn quốc Các bản kể này được chúng tôi dùng mang tính chất tham khảo, góp phần khắc họa hình tượng Nguyễn Minh Không được toàn vẹn hơn
1 Khổng lồ đúc chuông hay sự tích trâu vàng Hồ Tây Nguyễn Đổng Chi
2 Người thợ đúc và anh học nghề Nguyễn Đổng Chi
3 Từ Đạo Hạnh hay là sự tích Thánh Láng Nguyễn Đổng Chi
Bảng 1: Tên truyền thuyết tham khảo - nhà nghiên cứu
Nguyễn Đổng Chi biên soạn
Trang 30Thứ hai, trên cơ sở dữ liệu đã thành văn chúng tôi tiến hành thu thập các tài
liệu liên quan đến Nguyễn Minh Không qua các cuốn sách như Dư địa chí văn
hóa dân gian Ninh Bình, Truyện cổ dân gian Ninh Bình, Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền thoại của nhà nghiên cứu Trương Đình Tưởng, với 14 bản kể được
lưu hành chủ yếu ở Ninh Bình
1 Ông Khổng Lồ gánh núi
Truyện cổ dân gian Ninh Bình
2 Ông Khổng Lồ bắt lươn
3 Đan sọt gánh nước
4 Nút đó và lò nước của ông Khổng Lồ
5 Sự tích núi Kẽm Đó
6 Sự tích núi Con Mèo
7 Sự tích đồi Ba Rau, Đống Củi và Bó Xôi
Bái Đính ngàn năm tâm linh huyền thoại
8 Sự tích Bàn Cờ, Ô Thuốc
9 Một lời nguyền của ông Khổng Lồ
10 Sự tích Hòn đá Diều Công và hai con voi hóa thạch
11 Động Long Ẩn và hang Áng Nồi
12 Lỗ Lùng - Ổ Gà
13 Sinh dược - Vườn thuốc của ông Khổng Lồ
14 Truyện Thần y chữa bệnh hoá hổ cho vua Lý
Bảng 2: Tên truyền thuyết đã thành văn - nhà nghiên cứu
Trương Đình Tưởng biên soạn
Thứ ba, chúng tôi thu thập, hệ thống, ghi lại những truyền thuyết về Nguyễn Minh Không trong quá trình điền dã nhiều nơi trong tỉnh Ninh Bình: huyện Gia Viễn, Nho Quan, Yên Khánh, Kim Sơn Trong quá trình đi sưu tầm truyền thuyết, chúng tôi tiếp cận với những người làm công tác văn hoá, người dân địa phương, những người thủ nhang, ông từ trông coi đền Thánh Nguyễn Qua những lời kể của họ, chúng tôi đã ghi lại được 21 truyền thuyết Những truyền thuyết này lưu hành ở Ninh Bình và không có ở các tỉnh khác
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 318 Lời nguyền của ông Khổng Lồ Gia Viễn Sưu tầm
10 Ông Khổng Lồ giúp người họ Thái tai
qua nạn khỏi
15 Ông Khổng Lồ chữa bệnh cho Dương
Hoán
Thành phố Ninh Bình
Sưu tầm
16 Chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông Gia Viễn Sưu tầm
17 Truyền thuyết về sự ra đời của Nguyễn
Minh Không
18 Truyền thuyết Nguyễn Minh Không hóa Gia Viễn Sưu tầm
19 Người con đỡ đầu của đức Thánh
Nguyễn
21 Truyện thiền sư Nguyễn Minh Không Kim Sơn Sưu tầm
Bảng 3: Truyền thuyết tác giả luận văn ghi lại trong quá trình điền dã
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình
Khảo sát truyền thuyết về Nguyễn Minh Không, chúng tôi nhận thấy những
có đặc điểm như sau:
2.1.2.1 Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không mang đậm dấu ấn địa phương
Hầu hết các truyền thuyết về Nguyễn Minh Không được sưu tầm đều gắn liền với các địa danh của tỉnh Ninh Bình, đặc biệt là huyện Gia Viễn - quê hương của đức Thánh Nguyễn
Truyền thuyết Nguyễn Minh Không mang tính địa phương sâu sắc Bởi vì, nhân vật trong truyền thuyết bao giờ cũng phải gắn với không gian - thời gian cố định, không - thời gian lịch sử cụ thể Qua các truyền thuyết, hành trạng, sự nghiệp của Nguyễn Minh Không đều gắn bó mật thiết với quê hương và thể hiện phong tục tập quán của Ninh Bình rõ nét: cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá…Nội dung mỗi truyện đều thể hiện góc nhìn dân gian về đức Thánh Nguyễn ở nhiều lĩnh vực: Đó là một thiền sư - một thần y
- ông tổ của nhiều nghề
2.1.2.2 Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không đa dạng về tiểu loại, sinh động
trong lời kể
Tìm hiểu hệ thống truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình, chúng tôi nhận thấy có sự đa dạng về tiểu loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết về người anh hùng sáng tạo văn hóa Tất cả tạo nên
Trang 32giá trị đặc sắc của chuỗi truyền thuyết về Nguyễn Minh Không trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật
Nguyên nhân tạo nên sự đa dạng trong hệ thống truyền thuyết Nguyễn Minh
Không, đó chính là sự tồn tại nhiều bản kể, nhiều cách kể về cùng một cốt truyện Thực tế, chuỗi truyền thuyết Nguyễn Minh Không vừa được văn bản hóa vừa được lưu truyền trong dân gian với nhiều dị bản Cụ thể, có những dị bản khác nhau
trong các truyện như Lời nguyền ông Khổng Lồ (ba bản), Chữa bệnh hóa hổ cho
vua Lý (ba bản), Sự tích Bến Bia (hai bản), truyện Ông Khổng Lồ đan sọt gánh nước và truyện Ông Khổng Lồ gánh nước cùng kể về việc ông Nguyễn Minh
Không gánh nước giúp người dân ở hai Huyện Yên Khánh và Yên Mô khỏi hạn hán, nhưng cách kể lại khác nhau
Về mối quan hệ giữa Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh, từ sử sách đến
truyền thuyết cũng có nhiều bản kể khác nhau Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư cho biết, thì:“Tục truyền khi nhà sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi trao cho học trò là Nguyễn Chí Thành tức Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thấy quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay,
có lẽ là việc này” Sách Lĩnh Nam chích quái cũng viết:“Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng, đất Trường An, có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo pháp, trải hơn mười năm” Như vậy, theo sử sách ghi chép, thì
Nguyễn Minh Không là đệ tử của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, được Thiền sư Từ Đạo Hạnh truyền cho đạo pháp
So với những gì lịch sử ghi chép, các truyền thuyết Nguyễn Minh Không trong dân gian và ở Ninh Bình có nhiều chi tiết sáng tạo, đem tới nét khác biệt
Theo truyện Sự tích Thánh Láng cho biết, thì “Một hôm, họ đến một vùng núi cao,
hai người chui vào một ngôi miếu cổ bên đường để ẩn mưa, bỗng gặp một người trẻ tuổi đang ngồi đốt lửa sưởi ở trong đó Họ bắt đầu làm quen và biết rằng đấy là
Từ Đạo Hạnh, cũng lặn lội đi tìm thầy học phép để trả thù cho cha Sau một đêm chuyện trò, ba người kết bạn với nhau Từ Đạo Hạnh nhiều tuổi hơn được tôn là anh cả Dương Không Lộ thứ hai và Nguyễn Minh Không là em út”
Còn theo truyền thuyết được ghi chép và lưu tại đền Thánh Nguyễn tại
Ninh Bình thì “Mùa xuân năm Canh Tý 1120 thánh cùng với ông Giác Hải lên
Sơn Tây rồi kết giao với với Từ Đạo Hạnh ở chùa Thày thuộc xã Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai Ba ông đồng chí hướng mải miết ngày đêm tìm đường sang Tây Trúc học đạo” Qua đó cho thấy, Nguyễn Minh Không là bạn
của Từ Đạo Hạnh chứ không phải học trò Song, dẫu Nguyễn Minh Không là bạn hay là học trò của Từ Đạo Hạnh, thì có một điều chắc chắn rằng, người chữa căn bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông chỉ có một là Nguyễn Minh Không - người
Ninh Bình
Truyền thuyết Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình được lưu truyền bằng hai
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 33hình thức truyền miệng và văn bản hóa, tồn tại dưới dạng những mẫu kể ngắn Đặc
điểm đó nhận thấy rõ nét trong các truyện Sự tích Ao Soi, Luống cày ông Nguyễn,
Sự tích núi Con Mèo… Lời kể trong các truyền thuyết về Nguyễn Minh Không ở
Ninh Bình tương đối sinh động, giàu tính nghệ thuật Tác giả dân gian chú ý miêu
tả không gian của truyện, lời nói, thái độ, suy nghĩ của nhân vật một cách hết sức chi tiết Trong quá trình điền dã để sưu tầm những truyền thuyết về Nguyễn Minh Không từ hai nguồn dữ liệu thành văn và lưu truyền bằng lời kể, chúng tôi nhận thấy những truyền thuyết đã được người dân hư cấu, sáng tạo lại, thể hiện ở ngôn
ngữ kể mang nhiều nét hiện đại, với xu hướng “hiện đại hoá tác phẩm”
Như vậy, từ những ghi chép của sử gia đến những những lời kể dân gian, nhân vật lịch sử Nguyễn Minh Không được xây dựng thành một nhân vật phi thường, bất tử Từ lịch sử, Nguyễn Minh Không đã đi vào truyền thuyết, với mỗi một dị bản ông lại được dân gian thêm một lần khẳng định vị thế của một vị Thiền sư mang tầm vóc quốc gia Khẳng định sức sống của ông trong tâm thức
của người dân Ninh Bình nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung
2.2 Hình tượng Nguyễn Minh Không trong truyền thuyết
Truyền thuyết lịch sử có hai chức năng cơ bản là ghi chép lịch sử (chức năng xã hội thực hành) và phản ánh thái độ, tư tưởng, tình cảm và quan điểm của nhân dân về lịch sử bằng hình thức nghệ thuật (chức năng thẩm mỹ) Sự chuyển tải hai chức năng được thể hiện ở cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân Nghệ thuật xây dựng nhân vật Nguyễn Minh Không cũng mang những đặc điểm chung của thể loại truyền thuyết ở sự lựa chọn và cách thể hiện nhân vật
Nguyễn Minh Không là một trong số những nhân vật lịch sử được nhân dân lựa chọn và trở thành nhân vật chính của một hệ thống truyền thuyết Trong tư tưởng tình cảm của người dân Ninh Bình (theo hầu hết những truyền thuyết, chúng tôi thu thập được) Nguyễn Minh Không là người có công lớn trong việc khai sơn phá thạch,
mở mang rộng địa bàn sinh sống, trồng cấy Ông là một thần y chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý, bốc thuốc trồng thuốc chữa bệnh cho dân Ông là thiền sư đắc đạo Cả cuộc đời ông luôn hết lòng vì dân vì nước, gắn bó sâu sắc với quê hương Ninh Bình Qua đó thể hiện lòng thành kính của nhân dân đối với Nguyễn Minh Không
Nguyễn Minh Không là nhân vật lịch sử, khi di vào truyền thuyết được tác
giả dân gian tưởng tượng, “nhào nặn”, hư cấu theo cảm quan của nhân dân
Những hư cấu đó mang mục đích đề cao nhân vật, dựng tượng đài nhân vật bằng lòng kính yêu, ngưỡng mộ và bất tử hóa nhân vật cùng với thời gian
Đặc điểm nổi bật nhất của truyền thuyết Nguyễn Minh Không là sự kết hợp
kỳ lạ giữa những nét đời thường thế tục với những nét kỳ ảo Về hoàn cảnh xuất thân, Nguyễn Minh Không được tác giả dân gian xây dựng không phải là thần thánh mà gần gũi với đời thường trong gia đình nông dân nghèo, làm nghề đánh
cá Cả cuộc đời ông vất vả mưu sinh Xong không phải vì thế mà hình tượng Nguyễn Minh Không trong truyền thuyết mất đi vẻ đẹp, mất đi sự thiêng liêng
Trang 34Chính trong hoàn cảnh khó khăn, Nguyễn Minh Không đã vươn lên, tu hành đắc đạo, đem hết tài năng, tâm đức phò vua, giúp đời Lựa chọn kiểu nhân vật có xuất thân từ tầng lớp nhân dân, tác giả dân gian gửi gắm niềm tin, niềm mơ ước, niềm
tự hào, ca ngợi những con người bình thường vươn lên thành tài
Nguyễn Minh Không được tác giả dân gian xây dựng không có phép thuật
vô biên như thần thánh Thiền sư họ Nguyễn có phép lạ do dược phật tổ truyền thụ Ông là con người phi thường giữa đời thường
Nhân vật trong truyền thuyết không chỉ sống trong lời kể mà họ sống trong tâm thức nhân dân, sống trong nghi lễ thờ cúng Nhân vật Nguyễn Minh Không cũng vậy Cùng các truyền thuyết lưu truyền trong dân gian về ông, lễ hội truyền thống diễn ra hằng năm ở đền Thánh Nguyễn, nhiều địa phương trong tỉnh Ninh Bình và ở các tỉnh khác Tạo nên sức sống mãnh liệt của truyền thuyết, sự bất tử của nhân vật Qua đó, nhân dân bày tỏ lòng biết ơn thành kính, tưởng nhớ về đức Thánh Nguyễn
Nhân vật là hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ chứ không phải sự sao chụp nguyên mẫu của cuộc sống Truyền thuyết phản ánh hiện thực một cách độc đáo - thông qua việc xây dựng nhân vật Đó là những nhân vật lịch sử có thực,
được nhân dân yêu mến kính phục, sáng tạo trong chất "thơ", chất "mộng", "chất
kì ảo" để tôn vinh những người có công với đất nước Chính vì vậy, khi tìm hiểu
về nhân vật trong truyền thuyết là tìm hiểu quan niệm của nhân dân về nhân vật
đó Dưới đây, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu hình tượng nhân vật Nguyễn Minh Không trong truyền thuyết dân gian Ninh Bình
2.2.1 Nguyễn Minh Không là con người đời thường
Truyền thuyết dân gian Việt Nam vô cùng phong phú và luôn mang vẻ đẹp tinh thần nhân văn cao quý Các sự kiện, cảnh vật, con người được phản ánh trong truyền thuyết rất gần gũi, thân thiết với cuộc sống và tâm hồn của mỗi con người Việt Nam Nguyễn Minh Không là nhân vật lịch sử thời Lý đã được nhân dân dệt thành những huyền thoại đẹp Quốc sư Minh Không tu hành đắc đạo có thể đi mây về gió, dời non lấp biển, niệm thần chú cho chim sẻ rơi xuống đất, ngả nón làm thuyền vượt sông… Khi tìm hiểu vể truyền thuyết Nguyễn Minh Không, chúng tôi còn nhận thấy Nguyễn Minh Không hiện lên gần gũi như những con người đời thường Đặc điểm này của nhân vật được thể hiện tập trung ở một số
truyền thuyết như: Sự tích Nguyễn Minh Không, Sự tích đồi Ba Rau, Đống Củi
và Bó Xôi, Ông Khổng Lồ bắt lươn, Sự tích núi Con Mèo, Một lời nguyền của ông Khổng Lồ, Nút Đó và lò nước của ông Khổng Lồ…
Lai lịch, hoàn cảnh xuất thân là phương diện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách, cuộc đời nhân vật Bằng tình cảm yêu quý, lòng tự hào về người con ưu tú của quê hương, dân gian xây dựng hình tượng Nguyễn Minh
Không là con người đời thường với xuất thân cụ thể Truyền thuyết về sự ra đời
của Nguyễn Minh Không khẳng định quê cha ở Gia Viễn - Ninh Bình “Thời ấy,
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 35nước Đại Việt ta có hương Đàm Xá, huyện Gia Viễn, Phủ Trường An, Ái Châu có một nhà họ Nguyễn tên Sùng Sùng công là người có tư chất siêng năng, thông minh” Còn quê mẹ, được giới thiệu ở Phả Lại “Sùng công đến Phả Lại thấy có một phú gia tên Vương Công Tiệp, pháp môn diệu thủ, y số chân truyền bèn xin vào nhà ở”.[PL1, tr.106] Nhà Dương Công Tiệp có cô con gái tên là Mỹ Nương
Nàng là người có nhan sắc, lại hiếu thuận đã đến tuổi lập gia đình “Gặp khi Sùng
công đến ở nhờ đã vài năm Dương Công thấy Sùng công ngôn ngữ nhu hòa, cử chỉ cẩn thận tinh thông văn tự nên đã gả con gái cho”.[PL1, tr.106] Quê cha
Đàm Xá, quê mẹ ở Phả Lại, hai địa danh này được kể rất nhiều lần trong truyền thuyết Nguyễn Minh Không
Nguyễn Minh Không được sinh ra trong một gia đình nông dân, nghèo khó Cha làm nghề chài lưới mưu sinh Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Minh Không đã gắn
bó với sông nước, làm quen với công việc chài lưới Khi trưởng thành Nguyễn Minh Không mưu sinh bằng nghề này Ông thường hay đơm đó bắt cá, bắt tôm, bắt tép trên sông Hoàng Long, một số dòng sông trong tỉnh và ở Thái Bình, Nam Định Qua quá trình khảo sát chuỗi truyền thuyết lưu hành ở Ninh Bình chúng tôi nhận thấy có tới 12 truyện khắc họa hình ảnh Nguyễn Minh Không bắt cá
Truyền thuyết nhân dân khắc họa hình tượng Nguyễn Minh Không rất chân
thực về hoàn cảnh sống “Thuở sinh thời, ông Khổng Lồ nghèo lắm Ông chỉ có
cái khố che thân Ngày ngày ông thường bắt lươn, bắt cua ở các cánh đồng Gia Viễn để kiếm sống”.[PL2, tr.113] Nguyễn Minh Không hiện lên như một người
nông dân, quanh năm chân lấm tay bùn, cần mẫn với công việc, gần gũi với cuộc
sống dân dã chốn thôn quê.“Khổng Lồ vẫn bị mất trộm cá Ông phải ăn ngủ ngay
tại chỗ để coi đó Thế là ông đun nấu, ăn ngủ ngay trên bờ sông Cả một cái suối lớn ông đun sôi sùng sục để thịt gà và nấu nướng” [PL2, tr.118] Ngày xưa,
trong các gia đình nông dân ở nông thôn, bếp đun thường bằng rơm, rạ, củi Người ta lấy đất sét dẻo, nhào nhuyễn rồi đắp thành ba hòn đất bắc nồi, người ta
gọi là Ông Ba Rau Ông Khổng Lồ cũng làm bếp củi để đun nấu “Ông Khổng Lồ
gánh đất các nơi về đắp thành Ba Rau ngay dưới chân núi Bái Đính để bắc bếp đun nấu Ba ông Đồ Rau ông bắc bếp nấu cơm, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân” [PL2, tr 115]
Cuộc đời gắn liền với cảnh sông nước, nên ông có nhiều kinh nghiệm về
nghề chài lưới Truyện Sự tích núi Kẽm Đó, kể lại kinh nghiệm bắt cá “Mỗi lần
thuỷ triều lên, tôm cá lại theo nước lên đất liền nhiều vô kể Ông Khổng Lồ bèn nghĩ cách để bắt cá Ông đi khắp nơi vác đất đá, đắp một cái bờ lớn để ngăn cá,
ở giữa đặt một cái dó lớn Thế là bao nhiêu cá dưới biển theo thuỷ triều lên đất liền hoặc khi nước rút, đều vào đó của ông Khổng Lồ cả Vì vậy ông ăn uống rất sung túc, lại còn cá để bán hoặc đổi lấy thóc gạo” [PL2, tr.114] Truyện Nút đó
và lò nước của ông Khổng lồ, kể lại “Hồi ấy, sông Hoàng Long rất nhiều cá tôm Ông Khổng Lồ thường đặt một cái đó rất lớn để đơm cá ở ngã ba sông” [PL2,
Trang 36tr.114] Vật dụng ông Khổng Lồ dùng để bắt cá là cái đó, cần câu, cái giỏ - hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống lao động của người dân Ninh Bình
Truyền thuyết xây dựng nhân vật Nguyễn Minh Không là con người đời
thường được thể hiện qua ngoại hình, trang phục Truyện Chữa bệnh hóa hổ cho
vua Lý Thần Tông dân gian miêu tả “Dương Hoán con vua Lý Nhân Tông đi săn trong rừng, gặp ông lão đầu trọc, chân đất, quần nâu áo vá Dương Hoán ngồi trên ngựa lấy áo lông trùm đầu giả là hổ lao ra trêu ông lão đầu trọc” [PL1,
tr.105] “Các danh y và triều thấy ông lão đầu trọc, to lớn, ăn mặc quê mùa có vẻ
khinh thường”, “Không Lộ cất quần áo nâu sồng, tràng hạt, xuống núi để giúp dân làng” [PL2, tr.119] Qua một số nét khắc hoạ, tác giả dân gian đã giúp người
đọc hình dung ra diện mạo, tư thế cũng như bản chất của nhân vật Hình ảnh nhân vật Nguyễn Minh Không trong truyền thuyết như một lão nông, một tiều phu Ông ăn mặc giản dị, có phần tềnh toàng
Nguyễn Minh Không là con người đời thường được thể hiện ngay trong lối
sống bình dị Hàng ngày, ông bắt cá, bắt tôm để đổi gạo Truyện Sự tích Vũng
Ông Khổng lại kể về việc ông đi bán cá “Ông Khổng Lồ bắt được nhiều hay ít cá, tôm đều mang về chợ chùa Viên Quang, chợ Lẫm để bán, lấy tiền đổi gạo Ở chợ Lẫm có một bệ đá cao hai thước vuông, mỗi bề tám thước tương truyền đó là nơi ông Khổng Lồ ngồi bán cá” [PL1, tr.109] Ông tự mình nấu ăn, đi chợ bán cá,
đổi gạo Ông kiếm sống bằng chính đôi bàn tay, chính sức lực của mình Cuộc sống của ông dung dị, lối sống thuận theo lẽ tự nhiên, hòa mình với thiên nhiên Ông không dùng phép thuật để có cuộc sống giàu sang phú quý, nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ mà chọn lối sống nhàn: sống trong sạch, cao đẹp, coi thường danh lợi, vinh hoa phú quí
Truyền thuyết khắc họa Nguyễn Minh Không là con người đời thường, gắn
bó với nhân dân Ông luôn quan tâm đến những hoàn cảnh sống khó khăn, giúp
cho họ có cuộc sống thuận lợi, đỡ vất vả Trong truyện Sự tích Luống Cày ông
Nguyễn có kể lại “Sinh thời Ông Khổng Lồ hay băng rừng vượt núi tìm cây thuốc
về chữa bệnh cho dân Ông đi đến đâu đều chữa bệnh cho dân và còn dạy cho dân trồng lúa, trồng khoai, chăn trâu, cắt cỏ Khi đến núi Bái Đính nhiều rừng núi hoang sơ, ông đã phát tích một quả đồi mở mang đất hoang, giúp dân trồng cấy” [PL1, tr.98] Ông thạo việc nhà nông, tay quen cầm cày, cầm cái cuốc Ông
dành nhiều tâm huyết, sức lực cho việc trồng thuốc, chữa bệnh cho dân Hàng
ngày, ông băng rừng, vượt núi tìm cây thuốc về trồng thành thung thuốc “rừng
già mênh mông vô vàn cây thuốc quý Ông đã dừng chân ở đây tu hành và hái thuốc để cứu độ chúng sinh Không chỉ hái thuốc có sẵn trên núi, mà ông còn kiếm nhiều loại cây thuốc quý ở các núi rừng quanh vùng về đây để trồng, biến thành một vườn thuốc lớn, ông đặt tên là Vườn Sinh Dược” [PL2, tr.118]
Truyền thuyết xây dựng nhân vật Nguyễn Minh Không là con người đời thường được thể hiện qua tính không đồng nhất thiện - ác Nguyễn Minh Không
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 37có phẩm chất đa dạng: có yêu thương, có đồng cảm, có giận dỗi Điều đó, khiến cho nhân vật hiện lên chân thực và sinh động Khi gặp người trong hoàn cảnh
hoạn nạn, khó khăn, ông giúp đỡ tận tâm Trong truyện Ông Khổng Lồ gánh núi,
khi người dân đến nhờ, ông không quản ngại khó khăn, gánh núi giúp người dân
có đường để đi, có ruộng để trồng cấy.“Dân các nơi bàn nhau đến kêu với ông về
nỗi khổ do núi non mọc hết các cánh đồng, chặn ngang đường đi lối lại, chặn mất các dòng sông đánh cá( ) Ông gánh các quả núi xếp gọn về phía tây, phía bắc, dọn sạch đồng nương cho dân trồng cấy Bởi vậy, bây giờ núi mới xếp hàng thành dãy ở cả phía tây, phía bắc như ngày nay”.[PL2, tr.112] Đó là hành động
phi thường của người anh hùng văn hóa: dắt núi, đào sông tạo nên những vùng đất bằng phẳng để người dân dễ cày cấy Hành động của ông Khổng Lồ gắn với những hoạt động của con người Ninh Bình xưa kia Người dân đã bền bỉ cải tạo
và đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt Thế nhưng cũng có lúc ông Khổng Lồ nổi giận Sự nổi giận của ông được thể hiện qua lời nguyền với người dân làng
Trì Động ở Nho Quan Ninh Bình
“Làm cho Trì Động biết tay Trăm năm chảy thuế đi may về nồm
Từ đấy trở đi, người làng Trì Động đi trẩy thuế qua quãng sông này cả đi
và về đều ngược gió, đi lại vất vả vô cùng Lúc ấy người dân Làng Trì Động mới
vỡ lẽ câu hát nghêu ngao trước đó của ông Khổng Lồ là lời nguyền trừng phạt đã phá đó của ông” [PL1, tr.100] Sự nổi giận của ông Khổng Lồ thật đáng sợ, để
lại hậu quả lâu dài Một lần ông đi xin mẻ, nấu cá nhưng người dân không cho
Ông rất tức giận Trong truyện Sự tích cánh đồng chua, kể lại “Một hôm đi đánh
cá, cá đã đánh được nhưng ông quên không mang lọ mẻ Ông vào làng gần đó xin mẻ Ông gặp một bà lão mắt kém đang nấu cơm trong bếp Bà lão không cho
mẻ Ông tức giận nói: làng các bà không có tôi cho một ít Ông đang cầm chiếc
lá khoai, ném xuống cánh đồng gần đó Từ đó về sau cả cánh đồng rộng lớn thuộc xã Gia Phong huyện Gia Viễn bị nhiễm chua, không trồng cấy được Dân gian còn gọi là cánh đồng chua” [PL1, tr.99] Ông đã biến cánh đồng rộng lớn
thành cánh đồng hoang, không thể trồng cấy được gì
Trong những lần đi đơm đó, ông Khổng Lồ thường mang theo con mèo Con mèo gắn bó với ông cho dù nó có tật hay ăn vụng Ông đã đánh nhiều lần nhưng vẫn chứng nào tật ấy Một lần con mèo ăn hết lọ mẻ ông mang theo, ông
tức giận tát nó “Khi ông đến bên lọ mẻ thì chẳng thấy cá đâu, chỉ thấy chú mèo
đang vuốt râu tém lưỡi liên hồi Hiểu rõ sự tình, giận quá, ông dang tay tát cho chú ta một cái như trời đánh Chú mèo chết ngay tức khắc, hoá thành núi đá, hình giống hệt con mèo đang ngồi nhìn về phía sông Hoàng Long Dân gian gọi là Núi Con Mèo” [PL2, tr.115] Sự tức giận của ông Khổng Lồ vẫn còn dấu tích đến
ngày nay qua các địa danh, tạo thành hình sông thế núi Ở Ninh Bình có núi Con Mèo, ở Nam Định có Vũng Ông Khổng mà người đời nay vẫn kể qua truyền
Trang 38thuyết “Một lần nọ khi ông Khổng Lồ xách giỏ mang cá đi bán đi qua địa phận xã
Dao Cù, ba con cá nhẩy ra Ông Khổng Lồ tức giận, lấy chân di di ngực vào cá Một con cá chết, không hóa được Người dân gọi là con cá Ngã Hai con cá còn lại lập tức thì biến thành hai con long mã Sẹo trên ngực chúng thành hai vũng sâu Đến này vẫn còn hai vũng sâu đó rộng chừng tám thước, sâu hai thước tục gọi là Vũng ông Khổng” [PL1, tr.109]
Việc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, truyền thuyết trong dân gian có kể việc vua Lý Thần Tông hóa hổ là nghiệp chướng từ kiếp trước Còn trong truyền thuyết lưu truyền ở Ninh Bình lại cho rằng Dương Hoán có ý xem thường ông lão quê mùa đầu trọc, nên đã giả hổ trêu ông Ông đã dạy cho Dương Hoán một bài
học về thói ngạo mạn, coi thường người khác.“Dương Hoán con vua Lý Nhân
Tông đi săn trong rừng, gặp ông lão đầu trọc, chân đất, quần nâu áo vá Dương Hoán ngồi trên ngựa lấy áo lông trùm đầu giả là hổ lao ra trêu ông lão đầu trọc Ông Khổng Lồ bảo: Ta tưởng ngươi là người, ngươi không thích là người ta cho ngươi hóa ra hùm Ông lão nói xong biến mất Dương Hoán lên ngựa hét như hổ gầm Cởi bỏ bộ áo lông, toàn thân mọc lông lá, gầm thét ngày càng lớn, chạy bạt mạng trong rừng, không chịu về Dương Hoán hóa hổ”.[PL1, tr.105] Dương
Hoán bị ông biến thành hổ Một căn bệnh lạ, các thày thuốc đều không thể chữa khỏi
Nguyễn Minh Không sinh ra và trưởng thành, gắn bó với quê hương Ninh Bình và được nhân dân yêu quý, kính trọng Ông luôn hoà điệu với cuộc sống của nhân dân từ trong tính cách đến lối sống: đi cày, gánh nước, bắt cá Khắp vùng Gia Viễn, Ninh Bình rộng lớn không đâu là ông không tới, không in dấu chân ông
Như vậy, từ nhân vật lịch sử, Nguyễn Minh Không đi vào truyền thuyết để rồi, từ truyền thuyết ông trở về với cuộc đời Thật gần gũi mà rất đỗi thiêng liêng, vừa đời thường vừa kỳ vĩ lớn lao.Theo xu hướng địa phương hóa, truyền thuyết
đã phản ánh cuộc đời Nguyễn Minh Không gắn với cốt cách, phong tục của người Ninh Bình Điều đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt, lâu bền của chuỗi truyền thuyết Nguyễn Minh Không
2.2.2 Nguyễn Minh Không in dấu địa danh với quê hương Ninh Bình
Trong quá trình tìm hiểu,chúng tôi nhận thấy chuỗi truyền thuyết về Nguyễn Minh Không có những mẫu kể mang thuộc tính của truyền thuyết địa danh Cả 35 truyện mà chúng tôi sưu tầm, tham khảo đều gắn với địa danh và di tích lịch sử Những truyền thuyết này có truyện phản ánh sự kiện lịch sử quan trọng Nhưng cũng có những truyện phản ánh hoạt động của Nguyễn Minh Không trong quá trình tu hành, chữa bệnh, truyền nghề cho dân Cũng có những truyền thuyết địa danh ít có căn cứ về mặt lịch sử mà chú trọng giải thích nguồn gốc địa danh
Cuộc đời Nguyễn Minh Không gắn bó với quê hương nên khi đi vào truyền
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 39thuyết tên tuổi của ông gắn liền tên làng, tên xã ở Ninh Bình Truyện Nút đó và lò
nước ông Khổng Lồ, kể lại:“Ông phải ăn ngủ ngay tại chỗ để coi đó Thế là ông đun nấu, ăn ngủ ngay trên bờ sông Cả một cái suối lớn ông đun sôi sùng sục để thịt gà và nấu nướng Cá ở khúc sông này đơm mãi cũng hết Ông chuyển đó đi đơm nơi khác Nút đó ông vứt lại thành quả núi một gọi là Nút Đó ở ngã ba sông Suối ông Khổng lồ đun sôi để thịt gà, đến nay nay vẫn còn nóng, dân gian gọi là suối Canh Gà, lâu dần gọi là Kênh Gà” [PL2, tr.114] Truyền thuyết đã giải
thích vì sao ngọn núi ở xã Gia Minh, Gia Viễn, Ninh Bình lại có tên là Nút Đó Đồng thời, dân gian lý giải tên gọi, nguồn gốc suối nước nóng chảy ra từ một quả núi và đổ vào nhánh sông Hoàng Long là Kênh Gà Tất cả được bắt nguồn việc ông Khổng Lồ, đun nước để thịt gà, nấu nướng Vì thế, tên gọi suối nước nóng Kênh Gà, làng nổi Kênh Gà được ra đời, tồn tại đến ngày nay
Núi Bái Đính là vùng đất thiêng, được thiên nhiên ban tặng phong cảnh đẹp lại có nhiều cây thuốc quý Hàng ngày, ông đi hái thuốc, tìm cây thuốc về trồng
thành vườn, để chữa bệnh cho dân “Không chỉ hái thuốc có sẵn trên núi, mà ông
còn kiếm nhiều loại cây thuốc quý ở các núi rừng quanh vùng về đây để trồng, biến thành một vườn thuốc lớn, ông đặt tên là Vườn Sinh Dược, ở ngay dưới chân núi Bái Đính Cũng chính từ ý nghĩa này mà cái tên Sinh Dược (thuốc sống) ra đời Sinh Dược được đặt tên cho cả một thung lũng rộng lớn xung quanh núi Bái Đính” [PL2, tr.118] Truyền thuyết đã giải thích tên Vườn Sinh Dược ở xã Gia
Sinh huyện Gia Viễn Tên địa danh gắn liền với việc Nguyễn Minh Không đi hái thuốc, trồng thuốc, chữa bệnh cho người dân Vườn Sinh Dược còn có tên gọi khác Thung thuốc hay Thung Lang
Ngoài ra, nhiều nơi trong tỉnh Ninh Bình có các địa danh gắn với hành trạng cuộc đời Nguyễn Minh Không như Động Vân Trình, Hòn Nẹ (Trái núi
ngoài biển huyện Kim Sơn), núi Kẽm Đó ở Tam Điệp “Dấu tích cái bờ ông đắp
để đơm đó là dải núi Tam Điệp, còn chỗ ông đặt đó tại đoạn núi Tam Điệp đứt quãng nay thuộc phường Nam Sơn gọi là Kẽm Đó” [PL2, tr.114]
Cuộc đời Nguyễn Minh Không gắn liền với tên gọi của những ngọn núi, cánh đồng, làng mạc, luống cày: núi Bái Đính, làng Gia Sinh, Lỗ Lùng, động Long Ẩn… Đây là minh chứng cho sự gắn bó của ông với quê hương Cách gọi tên địa danh như vậy được lý giải: một phần có nguyên do từ nếp nghĩ của dân gian lấy tên địa danh gắn liền với sự kiện xảy ra tại đó để dễ nhớ, dễ lưu truyền Mặt khác, khi một địa danh có tên gọi liên quan đến một nhân vật thì địa danh ấy trở lên linh thiêng có hồn Ngược lại, nhân vật lịch sử sẽ trở thành bất tử khi con người họ, tên tuổi họ đã được khắc tạc vào sự vĩnh hằng của đất mẹ
Nguyễn Minh Không đã để lại dấu ấn đậm nét với quê hương Ninh Bình ở nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Những di tích lịch sử thường gắn liền với cuộc đời tu hành của thiền sư họ Nguyễn Trên cương vị Quốc sư, thống lĩnh lực lượng phật giáo quốc gia, Nguyễn Minh Không đã dựng tới 500 ngôi chùa trên
Trang 40đất Đại Việt Nhiều ngôi chùa còn tồn tại đến ngày nay như: chùa Cổ Lễ, chùa Quỳnh Lâm, chùa Trông, chùa Kim Liên, chùa Hàm Long Riêng ở Ninh Bình, ông đã dựng nhiều ngôi chùa để thờ phật như chùa Bái Đính, chùa Non Nước, chùa
Địch Lộng Truyền thuyết có kể về nguồn gốc chùa động Am Tiên như sau: “Một
hôm ông đi đến nơi thâm sơn cùng cốc, ít người qua lại, âm khí rất nặng Ma quỷ gầm rú, oan hồn than khóc thảm thiết, hãm hại dân thường Hỏi ra mới hay, nơi đây xưa kia là pháp trường vua Đinh thả hổ, nuôi cá sấu để trừng trị những kẻ có tội Ông dừng lại, đặt bàn đá trong hang thuyết pháp, tụng kinh niệm phật, cầu đảo cho linh hồn siêu thoát Sau đó ông chọn nơi dựng chùa trong hang đá Chùa ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng vài trăm mét, hướng chính tây - hướng chầu
về đất phật Hai bên hai cửa hang là hai ngọn núi chạy dài tựa như hai con rồng chầu về cửa hang Ông Khổng Lồ gọi là chùa động Am Tiên Từ đấy, ma quỷ không gầm rú, oan hồn không kêu khóc nữa Cuộc sống người dân yên ổn” [PL1,
tr.99] Ngày nay chùa động Am Tiên nằm trong khu quần thể di sản thế giới Tràng
An Nơi đây không còn là chốn thâm sơn cùng cốc nữa mà là nơi thanh tịnh, phong cảnh hùng vĩ mà hữu tình
Truyền thuyết Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình có giá trị nhiều mặt: giải thích các địa danh, tên làng, tên núi, tên sông, tên chùa từ quá khứ tồn tại đến ngày nay Đồng thời, gửi gắm niềm tự hào, sự ngưỡng vọng của nhân dân đối với người con ưu tú của quê hương, đã có công phát tích, khai làng, lập chùa Ý thức tôn vinh Lý triều Quốc sư - Nguyễn Minh Không của dân gian, đã khoác thêm
ánh hào quang cho sông núi, quê hương Ninh Bình, một vùng đất “địa linh nhân
kiệt”
2.2.3 Nguyễn Minh Không trên cương vị một người thần y
Truyền thuyết là một thể loại quan trọng của văn học dân gian với chức
năng "tái tạo lịch sử" để lưu giữ ký ức cộng đồng Truyền thuyết là sản phẩm
hoạt động tinh thần của nhân dân, do dân sáng tạo, bồi đắp, lưu giữ và thể hiện Nội dung truyền thuyết tập trung ca ngợi những người có công với dân, với nước Qua đó, tác giả dân gian hướng tới mục đích khơi dậy lòng tự hào dân tộc và nhắc nhở con cháu về công ơn của các bậc tiền bối Truyền thuyết Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình cũng mang những đặc điểm ấy, hội tụ, kết tinh vẻ đẹp của dân tộc và thời đại
Trong hệ thống truyền thuyết dân gian về nhân vật Nguyễn Minh Không ở Ninh Bình, mỗi truyện phản ánh những phương diện khác nhau trong hành trạng cuộc đời đức Thánh Nguyễn Nhưng để lại ấn tượng sâu sắc nhất về Nguyễn Minh Không là một thần y chữa bệnh trong dân gian Nếu như những anh hùng chống giặc ngoại xâm lập nên những chiến công giúp đời, giúp đất nước thái bình thì người anh hùng sáng tạo văn hóa lại tạo ra những giá trị văn hóa, giá trị thẩm mĩ, phong tục tốt đẹp có ý nghĩa vượt thời gian, lưu truyền hậu thế, được người đời tôn vinh, ngợi ca Nguyễn Minh Không là người hùng như vậy.Từ nhân vật
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi