Do đó việc nghiên cứu về tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt ở một mức nào đó sẽ giúp người học sử dụng đúng, sử dụng linh hoạt phươn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUY ỄN THỊ VÂN ANH
PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG
HỎI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG
H ỎI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ng ữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
Hà N ội, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận án
Nguy ễn Thị Vân Anh
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Những đóng góp của luận án 5
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 5
7 Bố cục của luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN C ỦA LUẬN ÁN 8
1.1.T ổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương tiện bi ểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt 8
1.2 T ổng quan về tình hình nghiên cứu hành động hỏi trong tiếng Anh và ti ếng Việt 17
1.3 Cơ sở lí luận của luận án 19
1.3.1 Lí thuyết hành động ngôn từ 19
1.3.2 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp 30
1.3.3 Hành động hỏi 31
Chương 2: PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 46
2.1 Khái quát về hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và ti ếng Việt 46
2.1.1 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh 46
2.1.2 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt 51
2.2 Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp ti ếng Anh 56
Trang 52.2.1 Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi
trực tiếp tiếng Anh 56
2.2.2 Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh 69
2.3 Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp ti ếng Việt 77
2.3.1 Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt 77
2.3.2 Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt 85
2.4 Sự tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt 92
2.4.1 Tương đồng 92
2.4.2 Khác biệt 93
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 97
3.1 Khái quát về hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và ti ếng Việt 97
3.1.1 Nhận diện hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh 97
3.1.2 Nhận diện hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Việt 108
3.2 Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp ti ếng Anh và tiếng Việt 115
3.2.1 Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh 115
3.2.2 Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh 124
3.3 Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp ti ếng Việt 130
Trang 63.3.1 Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động ngôn từ ở hành động
hỏi gián tiếp tiếng Việt 130 3.3.2 Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa trong
hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt 132
3.4 Sự tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện nghĩa tình
thái ở hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt 142
3.4.1 Tương đồng 142 3.4.2 Khác biệt 143
K ẾT LUẬN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7cứu về tình thái và các phương tiện truyền tải tình thái đặc biệt là dưới góc nhìn
của ngữ dụng học Tình thái là một phạm trù liên hệ với việc diễn đạt sự bắt
buộc sự cho phép, sự cấm đoán, sự cần thiết, tính khả hữu, khả năng Không thể
tạo ra ý nghĩa lời nói nếu trong lời nói ấy ta không tìm thấy một biểu hiện nào đó
của tính tình thái Tình thái không những là linh hồn của câu, của văn bản mà còn là của cả hoạt động giao tiếp Giao tiếp sẽ đạt được hiệu quả tối ưu khi chúng ta biết vận dụng những phương tiện biểu hiện tình thái Viêc vận dụng
những phương tiện biểu hiện tình thái giúp người nói người nói tạo dựng phát ngôn cũng như để người nghe tiếp nhận và nắm bắt đúng ý định giao tiếp của người nói Bởi vậy nghiên cứu về tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái là một đề tài thú vị, ngày càng được mở rộng chú trọng và phát triển giúp chúng ta hướng tới thành công trong giao tiếp, ứng xử
Trong quá trình giảng dạy, thụ đắc ngôn ngữ thực tế, theo quan sát của chúng tôi, người học thường hay mắc lỗi sử dụng ngôn ngữ nhất là khi muốn truyền tải sắc thái tình cảm, thái độ được bộc lộ qua cách đặt câu hỏi, cách trả lời
nhằm thỏa mãn ý định của họ khi giao tiếp Do đó việc nghiên cứu về tình thái
và phương tiện biểu hiện tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt ở
một mức nào đó sẽ giúp người học sử dụng đúng, sử dụng linh hoạt phương tiện
biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả thực hành ngôn ngữ
Trang 82
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng đã có những đề tài trong và ngoài nước
tập trung nghiên cứu về lĩnh vực tình thái và xoay quanh việc xác định nghĩa tình thái và phân loại nghĩa tình thái, các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái, phạm
vi nghiên cứu quan hệ của nghĩa tình thái trong câu hỏi hay câu cầu khiến, ý nghĩa tình thái và phương tiện tình thái cú pháp học ở các ngôn ngữ, tuy nhiên trong phạm vi tư liệu chúng tôi có được cũng chưa có công trình nào trực tiếp quan tâm chuyên sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về cách biểu đạt ý nghĩa tình thái của hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt biểu hiện không chỉ
bằng câu hỏi mà còn bằng các kiểu câu khác như câu mệnh lệnh, câu trần thuật ở
bậc luận án tiến sĩ
Vì những lí do đã nêu ở trên, việc nghiên cứu các phương tiện biểu hiện
nghĩa tình thái trong hành động ngôn từ hỏi của luận án này là cần thiết, giúp mang đến một cái nhìn bao quát hơn về vấn đề tình thái trong ngôn ngữ đáp ứng nhu cầu học thuật mà còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn Luận án ở chừng mực nào
đó có thể đóng góp thêm cho việc biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ cho học
tập giảng dạy chuyên sâu, nâng cao hiểu biết cho những ai quan tâm đến lĩnh
vực nghiên cứu của luận án
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được thực hiện với mục đích là nghiên cứu các phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt mà
thực chất ở đây là nghiên cứu về các đặc trưng tình thái và phương tiện
biểu hiện tình thái trong hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp
tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm hiểu những tương đồng và dị biệt của phương tiện biểu hiện loại nghĩa này về phương diện ngữ nghĩa- ngữ dụng ở
cả hai ngôn ngữ Đồng thời những kết quả sau khi nghiên cứu của luận án có
thể được vận dụng trong thực tế giảng dạy và dịch thuật ngoại ngữ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án tập trung vào việc tìm hiểu những
vấn đề sau:
Trang 93
1 Lí thuyết hành động ngôn từ (speech act theory), hành động hỏi, tình
thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa và các phương tiện biểu hiện trong các ngôn ngữ
2 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong
tiếng Anh và tiếng Việt
3 Miêu tả những phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi
trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt
4 Nhận xét về sự tương đồng và khác biệt về nghĩa tình thái và phương
tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, nghĩa là trong khuôn
khổ của luận án này, chúng tôi tập trung khảo sát các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong
tiếng Anh và tiếng Việt
Nguồn ngữ liệu của luận án được tổng hợp từ trên tập hợp nguồn các câu hỏi song ngữ Anh -Việt, nguồn các câu trần thuật, các câu mệnh lệnh song ngữ Anh -Việt dùng để hỏi do một nhóm tác giả xử lí ngôn ngữ tự nhiên thuộc trường đại học Stanford (The Stanford Natural Language Processing Group) tiến hành ghi âm lại lời thoại trong các video TED talks (corpus song
ng ữ Anh-Việt: http://nlp.stanford.edu/project/nmt/), các tác phẩm văn học như
“ Gone with the Wind” (Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell, “The
Hào Hải, truyện ngắn Chu Lai, truyện ngắn Ngô Tự Lập “ Tháng có 15 ngày ”, tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tuyển tập truyện ngắn Nam Cao,
Nhân dân từ các năm 2000 đến 2016
Trang 104
Hiện nay có nhiều loại tình thái được xác lập theo các tiêu chí khác nhau Với phạm vi nghiên cứu của luận án này, chúng tôi tập trung vào tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic
modality) ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt
Các phương tiện biểu hiện tình thái ở hỏi tu từ tiếng Anh và tiếng
Việt nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án này
Hành động hỏi là một hành động mà người nói thực hiện thông qua ngôn ngữ nhằm thu thập thông tin mà mình muốn biết trong câu trả lời Hành động hỏi có thể có nhiều phương tiện biểu đạt Người nói có thể sử dụng câu
hỏi (hay kiểu câu khác như câu trần thuật hoặc là câu mệnh lệnh) để thực hiện
một hành động ngôn từ hỏi Từ sự phân tích đã đề cập ở trên chúng tôi nêu ra hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt như sau:
(1) Hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành động hỏi
thể hiện bằng câu nghi vấn;
(2) Hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành động hỏi
thể hiện bằng câu trần thuật và câu mệnh lệnh
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh đối chiếu Phương pháp miêu tả nhằm làm sáng tỏ các kiểu nghĩa tình thái
và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trong tiếng Anh và
tiếng Việt.Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi đã vận dụng các thủ pháp như
thủ pháp thống kê, phân loại và thủ pháp phân tích ngữ cảnh trên các ngữ liệu
cụ thể mà chúng tôi thu thập được Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa các bộ
phận nghĩa tình thái, những phương tiện biểu thị chúng, hiệu quả của việc sử
Trang 11chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức, phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
V ề lí luận: Thông qua việc đối chiếu tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa
tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, luận án chỉ ra biểu hiện
của tình thái hành động ngôn từ , tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi hỏi trực tiếp, hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm ra sự tương đồng và khác biệt của phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt
luôn là đề tài thú vị thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Trên tinh thần kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đi trước về vấn đề nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái, ở khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung tìm hiểu nhằm nêu bật nội dung tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa cũng
Trang 126
như cách thức truyền tải nghĩa tình thái này trong hành động hỏi trực tiếp
và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt Không có nhiều công trình nghiên cứu
về phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở các kiểu ngôn trung trong hành động ngôn từ hỏi ở cả hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả sau nghiên cứu của luận án giúp phục vụ cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, hay một tài liệu tham khảo phục vụ cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
tảng nghiên cứu cho các vấn đề thuộc các chương tiếp theo gồm: Lí thuyết
hành động ngôn từ, nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong ngôn ng ữ
Chương 2: Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu đề cập về phương tiện biểu
hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh và tiếng Việt Qua phân tích và tổng
hợp nghiên cứu, chúng tôi rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa và
phương tiện biểu hiện những loại tình thái này ở hành động hỏi trực tiếp
ti ếng Anh và tiếng Việt
Trang 137
Ch ương 3: Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián ti ếp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu đề cập về phương tiện biểu hiện
tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành
động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt Qua phân tích và tìm hiểu, chúng
tôi rút ra nhận xét về những điểm tương đồng và khác biệt về nghĩa tình thái
và phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và
tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi gián tiếp Anh và tiếng Việt
Trang 148
Chương 1
T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương
ti ện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trong ngành ngôn ngữ học thế giới hiện nay tồn tại nhiều cách hiểu về tình thái Nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài như Ch.Bally (1905), O Jespersen (1949),V.Wright (1951), N Rescher (1968), J Lyons (1977-1995), J.R Searle (1969), T Givón (1993), F.Palmer (2001) đã có những đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng khung lí luận chung về tình thái, phân loại tình thái Ch.Bally là người đầu tiên phân biệt Modus (bộ phận tình thái) là một
trong hai thành phần thiết yếu, quan trọng của cấu trúc nghĩa của phát ngôn
gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp Hầu hết các nhà nghiên cứu về tình thái ở nước ngoài như O Jepersen (1949), V.Wright (1951), N.Reacher (1968), Quirk et al.(1972), T Givón (1993), M.A K Halliday (1994), J.Lyons (1995), F.Palmer ( 2001) đều bàn về hai
loại tình thái chính đó là tình thái trong ngôn ngữ học và tình thái trong logic
học Nếu trong logic học chúng ta quan tâm đến tình thái khách quan với các thuộc tính của tình thái khách quan là chân trị của mệnh đề, là tính hiện thực,
là tính tất yếu hay không tất yếu, là tính khả hữu thì trong ngôn ngữ học đối tượng quan tâm đặc biệt là tình thái chủ quan với thái độ của người nói Theo quan niệm của T.Givón (1993) “Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối
với phát ngôn” Thái độ mà ông đề cập đến ở đây là hai loại đánh giá của người nói về thông tin phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề Một
Trang 159
là những đánh giá nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin và sự chắc
chắn hay bằng chứng Hai là những đánh giá giá trị về ước muốn, sự ưa thích,
ý định, sự ràng buộc hay sự điều khiển T.Givón chia tình thái nhận thức làm
bốn tiểu loại gồm:
(1) Tiền giả định ( presupposition),
(2) Xác nhận hiện thực (realis assertion),
(3) Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion),
(4) Xác nhận phủ định (negative assertion)
Tác giả J.L Austin (1962) trong công trình nghiên cứu “How to do
nói là những hành động nhằm tác động vào người nghe Từ đây đã khởi
xướng cho việc nghiên cứu tình thái của “hành động phát ngôn” Tình thái
của “hành động phát ngôn” phân biệt các phát ngôn theo mục đích, mục tiêu
cụ thể trong giao tiếp, phân biệt các câu có giá trị ngôn trung khác nhau được đánh dấu
N.Rescher (1968) trong Topics in philosophical logic, ngoài việc đề
cập đến loại tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa, ông còn bàn về tình thái
hiện thực (realis), tình thái biểu thời( temporal), tình thái vọng cảm
(boulomaic ), tình thái đánh giá(evaluative), tình thái nguyên nhân (causal), tình thái điều kiện ( conditional)
J.Lyons (1977) (Semantics, Cambridge University Press) đã phân chia tình thái chủ quan thành hai loại:
(1) tình thái nhận thức (epistemic modality)
(2) tình thái đạo nghĩa (deontic modality) .
J.Lyons cho rằng: Tình thái nhận thức liên quan đến tính khá năng, tính cần thiết và mức độ cam kết của người nói đối với điều mà anh ta nói ra, tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động đo một
Trang 16+ Tình thái thực hữu (factive modality) là loại tình thái mà người nói
cho rằng sự việc được nói đến là hiện thực hay tất yếu hiện thực
+ Tình thái phản thực hữu (contra-factive modality) là loại tình thái người
nói cho rằng sự việc được nói đến là phi hiện thực hoặc tất yếu phi hiện thực
+ Tình thái không thực hữu (non-factive modality) là loại tình thái
người nói cho rằng sự việc được nói đến có thể xảy ra ở một thế giới khả năng nào đó.( J.Lyons 1977, tr 823 )
Tình thái đạo nghĩa là loại tình thái có liên quan với chức năng xã hội
của phép tắc hay là nghĩa vụ nghĩa là loại tình thái đạo nghĩa này thể hiện
mức độ áp đặt của chủ thể giao tiếp về mặt đạo đức,về phong tục,về tập quán với các tiểu loại sau:
+ Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự bắt buộc/không bắt buộc,
+ Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự được phép/không được phép
+ Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự cấm đoán/không cấm đoán
+ Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự miễn trừ/ không miễn trừ (J.Lyons
1977, tr 823)
Đáng chú ý là J.R Searle (1979) trong cuốn Expression and Meaning(
Cambridge (Mass) lại phân tích tình thái theo hướng tiếp cận vấn đề về hành động ngôn từ Lí thuyết hành động ngôn từ cho thấy mối quan hệ giữa người nói, người nghe và nội dung phát ngôn bao chứa rất nhiều nội dung tình thái.Theo cách tiếp cận này, vai trò của người nói và người nghe được nhấn
mạnh Dường như có sự tương hợp giữa khung tình thái với 5 nhóm hành động ngôn từ mà tác giả đã phân loại
Trang 1711
Tương tự với nhận xét của T.Givón về tình thái, W.Frawley (1992), M.A K Halliday (1994) cũng cho rằng các thuộc tính cơ bản của tình thái là tính “hiện thực” và “phi hiện thực” Tình thái ảnh hưởng tới toàn bộ nội dung
của một sự diễn đạt nào đó.Tình thái gợi lên không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực mà còn cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối
với nội dung của sự biểu đạt
F.Palmer (2001) (Mood and modality, 2 nd edition Cambridge
Textbooks in Linguistics New York: Cambridge University Press) cũng phân
loại tình thái giống như cách phân loại của J.Lyons gồm hai loại trọng tâm là tình thái nhận thức (epistemic modality)và tình thái đạo nghĩa (deontic
modality), ngoài ra, ông còn đề cập đến loại tình thái trạng huống (dynamic
modality) Tình thái trạng huống là loại tình thái có tính tình huống Tình thái
trạng huống mang tính khách quan khi yếu tố tình huống là yếu tố bên ngoài, không liên quan đến ý chí hay mong muốn của người nói đối với việc thực
hiện hành động (Palmer 2001, tr 76 – tr 96)
Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê (1989), Cao Xuân
Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Lê Đông (1996), Nguyễn Đức Dân(1998), Diệp Quang Ban(2000), Hoàng Tuệ (2001), Phạm Hùng Việt(2003), Bùi Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Văn Hiệp (2001, 2004, 2007, 2015) trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái với những nghiên cứu rất chi tiết và có nhiều kiến giải sâu sắc vấn đề tình thái trên nhiều phương diện khác nhau Trong đó Cao Xuân Hạo (1999) đã phân biệt hai loại tình thái: Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Theo ông việc “phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế” thuộc tình thái của hành động phát ngôn, còn tình thái của lời phát ngôn là tình thái “có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra hoặc quan hệ sở đề và sở thuyết của mệnh đề” Sự phân biệt giữa các kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu
Trang 1812
mệnh lệnh theo tiêu chí ngữ pháp và sự phân biệt các hành động ngôn từ theo tiêu chí ngữ dụng thuộc lĩnh vực tình thái của hành động phát ngôn Như vậy
nội dung tình thái của lời phát ngôn bao gồm:
Những hiểu biết của chủ thể giao tiếp về chân trị của điều được nói ra trong các loại câu khẳng định, phủ nhận, ngờ vực, giới hạn của điều kiện chân trị
Tính khả năng hay tính tất yếu của điều được nói ra ( có thể/ không
thể; tất nhiên /không tất nhiên; tính khả năng/tất yếu)
Sự đánh giá của chủ thể giao tiếp với thông tin truyền đạt ( buồn, vui, nên có hay không nên có, đáng mừng hay đáng tiếc)
Sự chính xác, đơn giản, mức độ thành thật của thông tin mà người nói nói ra
Sự liên hệ giữa câu, phát ngôn với cảnh huống và các vấn đề khác thuộc
những vấn đề logic hay siêu ngôn ngữ (Cao Xuân Hạo 1991, tr 42- tr 50)
Cao Xuân Hạo còn đề cập đến loại tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân Nghiên cứu về thái độ của người nói về điều mà mình nói ra, cách đánh giá nhận định của người nói về tính hiện thực, tính không
hiện thực, giới hạn của nó và tính xác thực, tính tất yếu , điều mong muốn của thông tin truyền tải chính là nghiên cứu về tình thái của câu
Nguyễn Văn Hiệp với bài viết “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”-Tạp chí Ngôn ngữ số 8-2007 đã cho thấy nghiên cứu sâu về tình thái Ông đã nêu ra những phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ dựa trên
sự đối lập của các cặp nghĩa tình thái như sự đối lập giữa tình thái nhận thức
(epistemic modality ) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), sự đối lập giữa
tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái căn bản (root modality), đối lập giữa tình thái hướng tác thể (agent- oriented modality) và tình thái hướng người nói ( speaker- oriented modality), đối lập giữa tình thái của mục
đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Những đối lập về tình thái mà ông nêu ra cho thấy phạm vi rất rộng trong việc nghiên cứu về tình thái
Trang 1913
Bàn về các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh Trong tiếng Anh, O Jespersen (1949) , M.A.K Halliday (1994), Eggins (1994), Martin và các cộng sự (1997), đều cho rằng có nhiều cách thể hiện nghĩa tình thái khác nhau như thể hiện bằng:
+ Phương tiện như thức trần thuật- xác định sự chân thực của điều được nói ra ( indicative mood ); thức mệnh lệnh- xác định mong muốn của người nói về việc người nghe thực hiện hành động trong tương lai(imperative
mood ); th ức giả định- giả định và mong muốn điều gì đó được đề cập đến
trong nội dung mệnh đề sẽ xảy ra ở tương lai trong một điều kiện cụ thể nào
đó ( subjunctive mood); như thì (tenses)- hiện tại ( present), quá khứ (past), tương lai ( future); thể (aspects)- hoàn thành (ferfect) hay tiếp diễn (continuous) của động từ làm vị ngữ
+ Phương tiện như động từ tình thái (modal verbs) như must để diễn đạt sự bắt/ ép buộc mạnh và sự suy luận chắc chắn/ tự tin; should diễn đạt điều răn đe, khuyên bảo, giả thuyết; ought to: nên, tốt hơn thì, đáng lẽ;
can: có thể, có lẽ, có khả năng, có năng lực, cho phép; may: có thể, có lẽ,
cho phép, giả thuyết; could: có thể, có năng lực, giả thuyết; would: phỏng đoán, đoán, giả thuyết; will: sẽ, ý chí, quyết tâm, lời hứa, dự đoán; need:
cần, cần thiết, nhu cầu; shall: sẽ, sắp sửa, chuẩn bị, dự đoán ; tính từ tình thái (modal adjectives) như possible (có lẽ/ có thể), probable (có lẽ),
necessary (cần thiết/ thiết yếu), likely (chắc/ có thể/ có lẽ đúng), certain
(chắc), obvious (rõ ràng), true (đúng), evident (hiển nhiên/ rõ rệt); trạng
từ tình thái ( modal adverds) như perhaps (có thể/ có lẽ); maybe (có thể/
có lẽ); probably (có lẽ); possibly (có thể); certainly (chắc chắn), obviously
(rõ ràng)là những loại diễn đạt chính Ngoài ra còn có các danh từ tình
thái (modal nouns) như possibility (có thể/ có lẽ), probability (có thể/ có
lẽ), chance (cơ hội), rumour (lời đồn)
Trang 2014
+ Phương tiện như ngữ điệu (tone) - ngữ điệu lên (glide up) ngữ điệu
xuống (glide down), ngữ điệu lên xuống (the dive); trọng âm (stress syllable)
Bàn về các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Việt, Phan Mạnh Hùng (1985) trong bài viết “Các kiểu tổ hợp tiểu từ tình thái tiếng Việt và
Việt trong nghiên cứu từ loại, vị trí các tiểu từ trong hệ thống từ loại, khả năng các tiểu từ kết hợp với nhau
Hoàng Tuệ (1988) với hai bài viết: “Nhận xét về thời, thể và tình thái
trong tương quan đối chiếu với khái niệm thời, thể và tình thái trong ngôn ngữ Châu Âu và sự thể hiện ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt Bên cạnh phương
tiện ngữ pháp, phương tiện từ vựng cũng được nghiên cứu một cách chuyên sâu Ông cho rằng các phương tiện biểu thị tình thái gồm những loại chính là:
(1) Những phương tiện ngữ pháp được gắn với vị ngữ,
(2) Những phương tiện từ vựng được dùng không gắn với vị ngữ mà ở ngoài cấu trúc của vị ngữ,
(3) Kiểu câu thường được coi là câu ghép nhưng thành phần chính ở
kiểu câu này biểu thị tình thái còn thành phần phụ biểu thị nội dung cốt lõi
của câu
Hồ Lê (1992), trong “Cú pháp tiếng Việt” đã bàn về phương tiện ngữ pháp diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt Việc đảo trật tự từ, thay đổi
cấu trúc của câu có thể thể hiện ý định của người nói nhằm tập trung vào điểm
nhấn nào đó trong phát ngôn
Nguyễn Thị Lương (1996) nghiên cứu về “Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt” gồm
mười tiểu từ tình thái: à, ư, hả, sao, phỏng, chắc, chăng, chứ, nhỉ nhé nhằm
Trang 2115
tìm ra các hành vi ngôn ngữ mà tiểu từ tình thái dứt câu có khả năng biểu thị ý nghĩa tình thái chủ quan trong những ngữ cảnh cụ thể mà chúng xuất hiện, miêu tả đánh giá hiệu lực của các hành vi đó
Cao Xuân Hạo (1998), trong công trình “Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ
về tiền giả định và hàm ý trong một số vị từ tình thái tiếng Việt Theo tác giả
ba loại tình thái chính gồm : tình thái của hành động phát ngôn, tình thái vị
ngữ và tình thái của câu Phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái của câu sẽ bao gồm:
(1) Những yếu tố tình thái làm thành đề của câu
(2) Những yếu tố tình thái được xử lí như một phần thuyết
(3) Những yếu tố tình thái khác
Nguyễn Văn Hiệp (2001) nghiên cứu trọng tâm vào các tiểu từ tình thái
cuối câu tiếng Việt Những vấn đề như: điều kiện tình thái cuối câu xuất hiện,
khả năng kết hợp của các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt như việc nghiên
cứu sự kết hợp giữa các tiểu từ tình thái cùng với các động từ ngôn hành, các
tiểu từ kết hợp với vị từ có ý nghĩa cầu khiến, khuyên bảo đã được ông miêu
tả và phân loại rõ ràng trong bài “Về một khía cạnh phân tích tầm tác động
tình thái” (“Ngôn ngữ”, số 11)
Phạm Hùng Việt (2003) trong “Vấn đề tình thái với việc xem xét chức năng ngữ nghĩa của trợ từ tiếng Việt” và “Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại” xác định rằng để biểu thị ý nghĩa tình thái của câu cần có các phương tiện như: phương tiện ngữ âm(ngữ điệu, trọng âm), ngữ pháp đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu ), từ vựng (động từ tình thái, phụ từ, trợ từ, thán từ, quán
ngữ tình thái) … Ông cho rằng “Cùng với sự phong phú của các ý nghĩa tình thái, các phương tiện dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái cũng rất đa dạng” Qua phân tích cách sử dụng của trợ từ tiếng Việt, đã cho thấy “trợ từ tiếng
Trang 2216
Việt có khả năng tham gia biểu thị một số loại hành động ngôn từ khác nhau
gồm cả các hành động ngôn từ trực tiếp và các hành động ngôn từ gián tiếp”
Nghiên cứu theo hướng đối chiếu có Phạm Thị Ly (2003) với “Đối
chi ếu một số phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt và trong
trình nghiên cứu này tác giả tập trung vào so sánh đối chiếu phương tiện vị từ tình thái, tiểu từ tình thái cuối câu, đề tình thái và thuyết tình thái là biểu hiện nghĩa tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt, Nguyễn Thị Ngọc Hân (2005)
như “Tiểu từ tình thái cuối câu trong hội thoại tiếng Việt (so sánh với tiếng
đường chuyển nghĩa của các tiểu từ tình thái cuối câu, sự gắn kết chặt chẽ của chúng với phát ngôn, tình trạng niềm tin của người nói được thể hiện qua sự
có mặt của chúng trong phát ngôn
Nhìn chung, vấn đề tình thái và phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong ngôn ngữ chưa được xem xét thỏa đáng và thống nhất Các nghiên cứu
chỉ tập trung vào một bình diện cụ thể nào đó hoặc chỉ đề cập sơ bộ và phân tích chưa sâu sắc Tuy nhiên các tác giả vẫn công nhận rằng: ý nghĩa tình thái
và phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái là vấn đề thú vị và có vai trò quan
trọng làm nên sự phong phú, giàu đẹp của mọi ngôn ngữ
Như đã trình bày ở trên đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái theo hướng tiếp cận ngữ nghĩa,
ngữ dụng, hay ngữ nghĩa- ngữ dụng, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về phương tiện truyền tải nghĩa tình thái trong hành động hỏi
tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi nhận thấy rằng, trên cơ sở thành tựu về lí thuyết hành động ngôn từ, chúng tôi tập trung khai thác khảo sát ý nghĩa, các phương tiện biểu đạt tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Trang 2317
và tiếng Việt, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng khi sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế, qua đó rút ra được những tương đồng và khác biệt ở cả hai ngôn ngữ Anh-Việt trên thực tế giao tiếp về phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt
Nghiên cứu hành động hỏi là một vấn đề tuy không mới và được các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm song quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng có
những khác nhau Đối với tiếng Anh, đặc biệt chú ý có công trình của J Austin (1969) và J Searle (2001) khi các nhà nghiên cứu đề cập đến thuyết hành động ngôn từ Các nhà nghiên cứu như A.Wierzbicka, J Sadock, G.Gazdar, R.M Harnis, G.Yule cùng có chung quan điểm với J.Searle về tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, đó là các đặc tính chủ yếu, quan trọng của hành động ngôn từ Tuy nhiên điểm khác nhau trong nghiên cứu của các tác giả về hành động ngôn
từ nằm ở những tiêu chí bổ sung cho các đặc tính quyết định hành động ngôn trung như là các điều kiện sử dụng, hay điều kiện thỏa mãn, định hướng sắp xếp các tiêu chí nhỏ thuộc các tiêu chí lớn trong phân loại Các công trình của J Austin [59], J.Searle [90], O Ducrot [69], A Wierzbicka [60] .hướng nghiên
cứu về vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng học của câu hỏi J Searle là người khởi xướng trong việc nghiên cứu về hành động ngôn từ gián tiếp O Ducrot với quan điểm nghiên cứu câu hỏi trong mối quan hệ giữa câu- phát ngôn Ông cho rằng
“câu- sentence” là bản thể của ngôn ngữ trìu tượng luôn đồng nhất trong mọi
trường hợp, “phát ngôn-utterance” là một trường hợp cụ thể, là sự hiện thực hóa trong một hoàn cảnh cụ thể của câu [dẫn lại, 50]
Đối với tiếng Việt, nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1979) cho thấy
việc nhận diện câu nghi vấn qua mục đích nói Hồ Lê (1992), Cao Xuân
Hạo(1995), Diệp Quang Ban (2000) nhận diện câu nghi vấn thông qua các
Trang 2418
tiêu chí hỏi có dấu hiệu hỏi và dấu hiệu tình thái hỏi Việc đảo trật tự, thay đổi
cấu trúc của câu hỏi có thể thể hiện ý định của người nói nhằm tập trung vào điểm nhấn nào đó trong phát ngôn hỏi.Ở bình diện ngữ dụng học, đáng chú ý
là công trình nghiên cứu của Lê Đông (1996) về câu nghi vấn Ông xem xét
vấn đề câu nghi vấn trong các mối quan hệ giao tiếp liên nhân như người tham giao tiếp, vai giao tiếp, ngữ cảnh, mục đích nói, thái độ của người nói
Lê Đông nghiên cứu sâu về ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh, các
tiểu loại câu hỏi, thông tin ngữ dụng bổ trợ, tình thái trong câu hỏi chính danh Nguyễn Thị Thìn (1996) tập trung bàn về 11 kiểu câu hỏi không dùng
để hỏi, câu hỏi gián tiếp, câu hỏi không chính danh trong mối quan hệ giữa
cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng, quan hệ của cấu trúc với chức năng cho nên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc miêu tả mục đích và đặc điểm cú pháp, đặc điểm cách dùng của 3 loại câu hỏi trong số các kiểu câu hỏi điển hình không dùng để hỏi Võ Đại Quang (2000) nghiên cứu về đặc điểm câu
hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng học với các quan điểm phân loại chúng thành câu hỏi lựa chọn hiển ngôn, câu hỏi lựa
chọn ngầm ẩn và câu hỏi không lựa chọn qua đó rút ra những tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt Nguyễn Việt Tiến (2006) nghiên cứu về hành động hỏi và câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng học trên cứ liệu tiếng Pháp với những phân tích cụ thể hành động hỏi và câu hỏi tiếng Việt và tiếng Pháp trong hành chức
cụ thể của chúng Nguyễn Phúc Trung (2011) nghiên cứu về hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh
với kênh TV5 của Pháp) theo quan điểm dụng học Nghiên cứu tập trung tìm
hiểu về hành động hỏi và các hành động ngôn ngữ khác nữa với mục đích khai thác được thông tin cần thiết mà người nói mong muốn trong các hình
thức hồi đáp trên khía cạnh cặp thoại, tham thoại liên quan đến tính lịch sự và
thể diện của các hành động ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình
Trang 2519
Như đã trình bày ở trên đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái theo hướng tiếp cận ngữ nghĩa, ngữ dụng, hay ngữ nghĩa- ngữ dụng, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về phương tiện truyền tải nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng
Việt Chúng tôi nhận thấy rằng, trên cơ sở thành tựu về lí thuyết hành động ngôn
từ, chúng tôi tập trung khai thác khảo sát ý nghĩa, các phương tiện biểu đạt tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động
hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra các nhân
tố ảnh hưởng khi sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế, qua đó rút ra được những tương đồng và khác biệt ở cả hai ngôn ngữ Anh-Việt trên thực
tế giao tiếp về phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận
thức và tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt
1.3 Cơ sở lí luận của luận án
1.3.1 Lí thuy ết hành động ngôn từ
1.3.1.1 Khái quát về hành động ngôn từ
Khái niệm “speech acts” (hành động ngôn từ ) do J Austin - một nhà triết
học người Anh thuộc về trường phái triết học ngôn ngữ đời thường khởi xướng ra
và ông là người đầu tiên xây dựng nền móng và trình bày lý thuyết hành động ngôn từ một cách có hệ thống Lý thuyết “hành động ngôn từ”, sau này, được một nhà triết học khác là J.Searle phát triển J.Austin với luận điểm “To say is to do
something” trong công trình “How to do thing with words” mang lại hướng tiếp
cận nghiên cứu về ngôn ngữ mới Nhiều chức năng được thực hiện bằng các phát ngôn với tư cách là một phần của giao tiếp liên nhân được J.Austin chú ý Đặc
biệt, J.Austin chỉ ra rằng nhiều phát ngôn không truyền đạt thông tin mà là cái tương đương với hành động Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành động nào đó như thông báo, khuyên, chúc mừng, hỏi, tuyên bố, xin lỗi, hứa, thề v.v Hành động này sử dụng công cụ là ngôn từ, và nó có tầm tác động đến người
Trang 2620
nghe Những hành động được thực hiện bằng ngôn từ trong ngữ cảnh cụ thể được
gọi là hành động ngôn từ.Thuật ngữ “ speech act” còn có thể được dịch là hành vi
động ngôn từ (Nguyễn Văn Hiệp, 2010 Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội); hành động ngôn ngữ (Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng, 2012
Nxb Đại học sư phạm), Trong khuôn khổ của luận án, ngoài phần trích nguyên
văn ý kiến của các tác giả, chúng tôi lựa chọn sử dụng thuật ngữ “ hành động
ngôn t ừ” bởi tính thống nhất , tính khoa học và tính phổ biến của nó Theo J.L
Austin trong một phát ngôn có ba loại hành hành động cùng thực hiện một lúc đó
là: hành động ngôn tạo hay hành động tạo lời (locutionary act), hành động ngôn trung hay hành động tại lời (illocutionary act) và hành động ngôn tác hay hành
động mượn lời (perlocutionary act) [22, tr 190-191]
Nói đến lí thuyết “hành động ngôn từ” người ta thường nói đến hành động tại lời (illocutionary act) hay hành động ngôn trung bởi nó gắn với
nhiều yếu tố sử dụng lời nói trong giao tiếp như là yếu tố người nói, người nghe, ngữ cảnh Ba hành động được thực hiện cùng lúc khi ta phát ngôn đó là:
Hành động ngôn tạo hay hành động tạo lời (locutionary act):
Hành động ngôn tạo là “Hành động cơ sở của phát ngôn, là hành động phát ra một câu với ý nghĩa và sở chỉ xác định Nếu người nói gặp khó khăn trong việc phát âm các từ để tạo ra một phát ngôn có ý nghĩa trong một ngôn
ngữ thì anh ta không thành công trong việc tạo ra một hành động ngôn tạo Hay nói một cách khác thì đây là loại hành động sử dụng các quy tắc ngữ pháp và các yếu tố ngôn ngữ để tạo ra một phát ngôn có nghĩa
Ví dụ:
Một người nước ngoài nói tiếng Việt kiểu như phát ngôn sau “Xin loi dong chi” Bình thường phát ngôn trên sẽ không được coi là hành động ngôn tạo, mà hành động ngôn tạo phải là phát ngôn thành: “Xin lỗi đồng chí.” (dẫn lại [22], tr 190)
Trang 2721
Hành động ngôn trung hay hành động tại lời (illocutionary act ):
Hành động ngôn trung là “Hành động tạo ra một lời tuyên bố, một lời hứa, một lời chào, một lời đề nghị, một lời yêu cầu, v.v khi phát ra một câu nhờ hiệu lực của những qui ước liên quan với nó Hầu như chúng ta không chỉ tạo ra một phát ngôn hợp thức mà không có mục đích gì Chúng ta tạo ra một phát ngôn nhằm một chức năng nào đó trong ý nghĩ Đó chính là hành động ngôn trung Trong hành động ngôn trung,“chúng ta làm một điều gì đấy”- như trả lời câu hỏi, tuyên bố một phán quyết, đưa ra một cảnh báo hay một hứa hẹn Đây là cơ sở cho lí thuyết hành động ngôn từ
Hành động ngôn trung được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn
Ví dụ:
Tôi vừa mới pha một ấm trà ngon (Phát ngôn này hoặc là để tạo ra
một phán đoán hoặc là để mời chào hoặc là để giải thích hay vì một mục đích giao tiếp khác.)
Những mục đích phát ngôn hay ý đồ giao tiếp mà người nói nhắm đến được coi là lực ngôn trung của của phát ngôn Lí thuyết hành động ngôn từ
chủ yếu liên quan đến các hành động ngôn trung Người ta cố gắng tìm cách truyền đạt được nhiều hơn cái mà người ta nói Vì thế hành động ngôn trung được thảo luận nhiều nhất Nói chung, thuật ngữ hành động ngôn từ thường được giải thích theo nghĩa hẹp là hành động ngôn trung Có thể có hàng trăm hành động ngôn trung và người ta đã cố gắng phân loại chúng thành một số
kiểu nhỏ” ([21] tr 190)
Ví dụ:
A: Em có d ự hội nghị không?
B: Dạ, em có đi dự
A muốn được biết B có đi dự hội nghị hay không Và câu trả lời của B
đã giải đáp mong muốn của A
Trang 2822
Chính đích ngôn trung là dấu hiệu phân biệt các hành động ngôn trung
khác nhau Hành động ngôn trung “hỏi” khác với hành động ngôn trung
“hứa” hay hành động ngôn trung “biểu cảm” v.v…Với hành động ngôn trung
được thực hiện trong tương lai thì trong hành động ngôn trung biểu cảm mục
đích lại là sự thể hiện trạng thái tâm lí của người nói đối với nội dung sự việc
Ví dụ 1:
A nói v ới B: “Trời lạnh quá!” có hành động ngôn trung là nhận xét của
A v ới B về thời tiết tại thời điểm nói ra của người nói A
Ví dụ 2:
“Ngày mai anh ấy đi Hải Phòng” có hành động ngôn trung là thông báo
“Anh nên gặp cô ấy một chút” có hành động ngôn trung là khuyên
Như vậy hành động ngôn trung hay hành động tại lời là loại hành động
thực hiện ngay khi ta phát ra câu nóivà ý nghĩa thực sự của phát ngôn ấy dựa vào lực ngôn trung ( illocutionary force) ở dưới cảnh giao tiếp cụ thể nào đó
Hành động ngôn trung đồng nhất với mục đích phát ngôn của hành động ấy Nghĩa là người nói muốn người nghe trả lời nội dung thông tin trong mệnh đề
mà người nói nói ra có kèm theo định hướng lựa chọn Hành động ngôn trung hay còn được gọi là hành động tại lời là cốt lõi quan trọng của hành động ngôn từ dưới góc nhìn của ngữ dụng học
Hành động ngôn tác hay hành động mượn lời (perlocutionary act)
Hành động ngôn tác hay hành động muợn lời là loại hành động mà trong tình huống cụ thể, khi nói ra một điều gì đó người nói có thể tạo ra một tác động tâm lý tình cảm nào đó được cho là có thể phù hợp hay không phù
hợp với ý muốn của người nghe khiến họ (người nghe) thay đổi trạng thái vui,
buồn, sợ, hoang mang, tin tưởng, ngờ vực Hay nói cách khác, hành động ngôn tác “là hành động gây được hiệu quả ở người nghe nhờ phát ra một câu,
Trang 29Anh nên đi thăm cô ấy một lát
Ví dụ trên có hành động ngôn trung là khuyên nhủ; hành động ngôn tác
có thể là một sự gợi ý, một sự thuyết phục hoặc cũng có thể nhằm tạo sự xúc động cho người nghe qua thái độ quan tâm, ân cần của người nói
Hướng phân loại các hành động ngôn từ của J.L.Austin dựa trên các động từ ngữ vi (hay còn gọi là động từ ngôn hành) Theo ông có 5 loại: (1) Phán xử ( verdictive) là những hành động đưa ra lời phán xét về một sự kiện
hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hiển nhiên hay lí lẽ vững chắc
chẳng hạn như xem là, đánh giá, phân tích , miêu tả, hủy bỏ, nêu đặc điểm,xử
tr ắng án…
(2) Hành xử (exercitive) là những hành động đưa ra quyết định thuận
lợi hay không đồng tình, phủ định lại quyết định chẳng hạn như ra lệnh, chỉ
huy, bi ện hộ, khẩn cầu, van xin, tuyên bố, khuyến cáo, bổ nhiệm, đặt tên, cảnh cáo, tuyên ngôn…
(3) Cam kết (commissive) vào những hành động ràng buộc người nói
vào chuỗi hành động nhất định như là bày tỏ mong muốn, giao ước, đảm bảo,
(4) Ứng xử ( behabitive) là những hành động phản ứng lại với ý kiến,
cách ứng xử người nói, thể hiện thái độ với hành động của người nói như xin
l ỗi, cảm ơn, khen ngợi, phê phán, nguyền rủa, thách thức…
(5) Bày tỏ (expositive) là những hành động để trình bày quan niệm, giải thích như khẳng định, phủ định, trả lời, nhượng bộ, dẫn ví dụ, báo cáo ý kiến…
Trang 3024
Với cách phân loại này của Austin, J Searle cho rằng vẫn còn sự hạn
chế bởi nó chồng chéo và không rõ ràng Có những yếu tố không hợp lại xếp cùng trong một lớp hoặc những hành động về bản chất giống nhau xong lại được xếp vào các lớp khác nhau
J.Searle tiến hành phân tích các hành động ngôn từ và dựa trên các biểu
thức ngôn hành bởi vì khi xác lập được những tiêu chí thích hợp cho các hành động ngôn từ thì sự chồng chéo, trùng hợp giữa các phạm trù được giải tỏa J Searle đã liệt kê ra được 12 điểm khác biệt giữa các hành động ngôn từ mà có
thể được dùng để làm tiêu chí phân loại các hành động ngôn từ Ông đã chia các hành động ngôn từ thành năm loại lớn như sau:
(1) Nhóm bi ểu kiến (representatives – như các hành động ngôn từ : trình bày, k ể, miêu tả, trần thuật, nhận định, xác nhận, quả quyết, phỏng đoán, gợi ý,
ph ủ nhận, tán thành, giả định, tranh cãi, báo cáo…) Đây là hành động miêu tả
các trạng thái hoặc các sự kiện trong thế giới như một sự xác nhận, một sự tường trình Hành động nhóm biểu kiến cho thấy cái mà người nói tin tưởng, thể hiện ở
những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá trị chân lí mà mệnh đề được biểu đạt ở các mức độ khác nhau Đặc trưng của hành động tái hiện này là
từ ngữ khớp với thực tại, người phát ngôn tin vào tình huống
Ví dụ: This is my friend, Bin ( Đây là Bin bạn tôi)
(2) Nhóm c ầu khiến (directives – như ra lệnh, thỉnh cầu, yêu cầu, đề
phát ngôn ra mong muốn người nghe thực hiện hành động gì đó hay thực hiện điều gì đó tức là họ đang thực hiện hành động cầu khiến Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm thực tại khớp với từ ngữ, người nói mong muốn tình
huống xảy ra
Ví dụ: Stop talking, please (Thôi, dừng nói chuyện nào)
Trang 3125
việc người nói cam kết một hành động tương lai nào đó Đặc trưng của hành động này là làm từ ngữ khớp với thực tại, người phát ngôn dự định tình huống xảy ra
Ví dụ: I promise to come back soon.( Anh hứa là anh sẽ quay lại sớm thôi) (4) Nhóm bi ểu cảm (expressives – như than, khen, ca ngợi, chúc mừng,
nói thể hiện trạng thái tâm lí, thái độ của mình đối với sự việc/hay sự tình trong nội dung mệnh đề Đặc trưng của hành động biểu cảm là làm từ ngữ
khớp với thực tại, người phát ngôn cảm thấy tình huống
Ví dụ: Your song is wonder ful! ( Bài hát của cậu hay quá!)
(5) Nhóm tuyên b ố (declaratives – như tuyên bố, khai mạc, tuyên ngôn, cáo bu ộc, tuyên phạt, buộc tội, từ bỏ, đặt tên, sa thải, …) Đây là hành động
mà người nói thực hiện nhằm làm thay đổi địa vị hoặc điều kiện bên ngoài
của một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn Đặc trưng
của hành động tuyên bố là từ ngữ làm thay đổi thực tại, người phát ngôn tạo
Nhóm những hành động ngôn trung này là sự đúc kết và khái quát hóa
từ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ hằng ngày Ngược lại từ thực tiễn ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày lại có thể kiểm nghiệm, làm sáng tỏ và bổ sung cho
lí thuyết ngôn ngữ học
Sở dĩ J.Searle phân loại năm nhóm hành động ngôn từ trên đây là dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản đó là:
Trang 3226
(1) Đích ngôn trung (illocutionary goal) là mục đích của hành động ngôn
từ Đích ngôn trung không trùng với lực ngôn trung (hay còn gọi là nghĩa ngôn trung) Lực ngôn trung là tác động của phát ngôn với người nghe hoặc văn bản
viết với người đọc Hai hành động khác nhau tuy có thể có cùng một mục đích
nhưng hiệu lực của hai hành động lại khác nhau“ Ra lệnh” và “Thỉnh cầu” có
cùng một mục đích là điều khiển người nghe nhưng với hiệu lực của hành động
“ Ra lệnh” là bắt buộc người nghe phải thực hiện còn với với hiệu lực của hành động “Thỉnh cầu” lại là kêu gọi thiện chí của người nghe
(2) Hướng khớp ghép giữa từ ngữ và thực tại: Đây là mối quan hệ
giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề ra Hướng khớp ghép được xây
dựng theo cả hai chiều là từ từ ngữ đến thực tại và từ thực tại đến từ ngữ Trong hành động ngôn từ thuộc nhóm “cầu khiến” hướng khớp ghép là từ
từ ngữ đến thực tại, nghĩa là lời có trước, hành động sau đó thực hiện sao cho phù hợp với lời nói
(3) Trạng thái tâm lí được thể hiện: Trạng thái tâm lí ở hành động
“cầu khiến” là mong muốn người nghe thực hiện hành động, ở hành động“
biểu kiến” là lòng tin vào mệnh đề được nói ra của người nói, ở hành động “
kết ước”là ý định thực hiện hành động của người nói và trạng thái tâm lí được
thể hiện ở hành động “biểu cảm” lại phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ đó
J.Searle tóm tắt năm chức năng của các hành động ngôn từ với những đặc trưng như sau:
Đối với nhóm hành động ngôn từ (1) Biểu kiến: Người nói tin vào tình
huống, làm từ ngữ khớp với thực tại
Đối với nhóm hành động ngôn từ (2) Cầu khiến: Người nói mong muốn
thực hiện tình huống, làm thực tại khớp với từ ngữ
Đối với nhóm hành động ngôn từ (3) Ước kết: Người nói định tình
huống, làm thực tại khớp với từ ngữ
Trang 3327
Đối với nhóm hành động ngôn từ (4) Biểu cảm: không có hướng khớp
ghép, trạng thái tâm lí phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ
Đối với nhóm hành động ngôn từ (5) Tuyên bố: Người nói gây ra tình
huống, có hai hướng khớp ghép: làm từ ngữ thay đổi thực tại và làm từ ngữ
khớp với thực tại
1.3.1.2 Lực ngôn trung (Illocutionary force)
Nói là là một loại hành động Nhưng có nhiều nghĩa khác biệt nhau của động từ ‘nói’, theo thuật ngữ chuyên môn “nói” là “thực hiện một hành động ngôn tạo” và liên quan đến 3 loại hành vi khác nhau đó là hành động tạo ra một phát ngôn thành phẩm; hành động cấu tạo nên một câu; hành động ngữ
cảnh hoá câu được tạo ra Hành động ngôn từ là hành động mà đích của hành động nằm trong việc tạo ra phát ngôn, như viết hoặc nói ra phát ngôn đó Đích
của hành động ngôn từ thì được gọi là đích ngôn trung Nếu đích này được
thỏa mãn thì ta có lực ngôn trung Như vậy lực ngôn trung hay còn gọi là
hiệu lực tại lời chính là đích của hành động ngôn trung được thỏa mãn Câu
trả lời của người nghe là dấu hiệu nhận diện lực ngôn trung
Chẳng hạn:
Vì sao anh mở toang hết cửa sổ nhà ra thế?
- Vì nóng
Đích của hành động ngôn từ trong ví dụ trên là hỏi (vì sao…) bởi người
nói muốn biết thông tin Vì sao lại mở toang hết cửa sổ ra Lực ngôn trung của hành động ngôn từ hỏi này nằm ở câu trả lời (vì nóng) của người nghe
Một phát ngôn không chỉ có một đích ngôn trung mà phát ngôn ấy thường có một số đích Các hành động ngôn từ được thực hiện với đúng với đích ngôn trung, đúng điều kiện sử dụng của hành động đó tức là phát ngôn
ấy hướng tới đích ngôn trung trực tiếp Trong hành động hỏi thì đích của hành động ngôn trung là tìm kiếm thông tin chưa biết cần biết trong câu trả lời,
Trang 3428
đích ngôn trung chính là thông tin phát ngôn trả lời Trong giao tiếp thực tế, người nói có thể dùng hành động ngôn từ này với đích ngôn trung của hành động ngôn từ khác.Chẳng hạn hành động hỏi sử dụng câu nghi vấn là hành động hỏi trực tiếp, hành động hỏi sử dụng câu trần thuật hay câu mệnh lệnh là hành động hỏi gián tiếp
1.3.1.3 Phương tiện chỉ ra lực ngôn trung
Khi người nói phát ngôn cho người nghe ở một ngữ cảnh nhất định chúng ta có một hành động ngôn từ Mỗi hành động ngôn từ có một lực ngôn trung nhất định do người nói tạo ra và tác động tới người nghe Theo J Austin (1969) có hai loại động từ đó là động từ xác thực và động từ ngôn hành Tương ứng với hai loại động từ này là hai loại phát ngôn: Phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành Phát ngôn ngôn hành là một hành động ngôn từ nào đó được thực hiện một cách trực tiếp Đây là những phát ngôn có hiệu lực
tại lời nhất định
Mỗi phát ngôn ngôn hành tương ứng với một kiểu cấu trúc chúng ta
gọi đó là một biểu thức ngôn hành (performative expression ) Trong một biểu
thức ngôn hành có thể có đặc điểm cấu trúc của phát ngôn, có từ ngữ đặc thù,
có ngữ điệu làm dấu hiệu ngôn hành
Theo J.Austin (1969), phát ngôn ngôn hành được chia ra làm hai loại là
phát ngôn ngôn hành tường minh (explicit perfomative utterance) và phát
từ ngôn hành là các dấu hiệu biểu thị như hứa, mời, phê bình, v.v với đúng
hiệu lực tại lời của hành động ngôn từ ấy, còn nếu trong các phát ngôn không
chứa các động từ ngôn hành, chúng ta gọi các phát ngôn ấy là các phát ngôn ngôn hành ngầm ẩn.[22, tr 244]
Vậy động từ ngôn hành (perfomative verb) là gì? Động từ ngôn hành là
những động từ nói năng, chúng là những phương tiện chỉ dẫn lực tại lời Đây là
Trang 35biểu thức ngữ vi đi kèm) là người thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu
thị” [3, tr 97] Ví dụ khi ta nói ra lời cảm ơn tức là hành động cảm ơn đã được
thực hiện Chúng ta chỉ có thể thực hiện hành động cảm ơn khi mà phát âm ra vị
từ cảm ơn mà không thực hiện bằng bất kì cách nào khác Có thể kể ra một số
các vị từ ngôn hành như: cảm ơn, xin lỗi, mời, gọi tên, ra lệnh, khuyên, tuyên bố,
xin, th ề, đánh cuộc, cá ( cược),v.v Có rất nhiều các động từ ngôn hành cũng
như những kiểu hành động ngôn trung mà chúng ta không thể kể hết ra đây bởi
nếu dùng động từ ngôn hành cũng như những kiểu hành động ngôn trung như sự khái quát ngôn ngữ học sẽ rất nhiều, không liệt kê hết được và một số động từ ngôn hành có thể miêu tả hành động ngôn trung nhưng lại không sử dụng làm
động từ ngôn hành Chúng ta thường không hay sử dụng những câu“ tôi nịnh
em” hay “tôi mắng em” là câu ngôn hành mặc dù trong các câu này có chứa
động từ nói năng là “ nịnh”, “ hứa” Chúng ta có thể miêu tả những hành động như “đe dọa”, “dọa nạt”, “dọa dẫm” nhưng lại không dùng những động từ “đe
d ọa, dọa nạt, dọa dẫm” này để làm các động từ ngôn hành Mỗi câu phát ra đều
có lực ngôn trung nhưng không phải câu nào cũng sử dụng động từ ngôn hành Trong ngữ cảnh nhất định nào đó câu có chứa động từ ngôn hành nhưng lại không phải là câu ngôn hành
Xét câu “ Em thề sẽ đánh cho nó một trận.”
Câu này có chứa động từ ngôn hành“thề” nhưng không phải là câu ngôn hành Đây là một câu khẳng định: Em sẽ đánh cho nó một trận
Như vậy câu chứa động từ nói năng được coi là một câu ngôn hành khi
thỏa mãn những điều sau: chủ ngữ của câu là ngôi thứ nhất, bổ ngữ của động
Trang 3630
từ ngôn hành ở ngôi thứ hai, động từ ngôn hành luôn ở thì hiện tại, không có các từ tình thái “đã, sẽ, đang, vẫn ” chỉ thời, thể
1.3.2 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
Mỗi hành động ngôn từ có cùng một hiệu lực tại lời có thể được phát
ngôn dưới các hình thức khác nhau Căn cứ vào mức độ chân thực thể hiện hành động ngôn trung và mức suy luận của người nhận trong ngữ cảnh thực tế
mà chúng ta có thể phân loại các hành động ngôn từ thành hai loại: Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
1.3.2.1 Hành động ngôn từ trực tiếp
Hành động ngôn từ trực tiếp là những hành động ngôn từ được sử dụng đúng với điều kiện sử dụng, đúng với đích ngôn trung của chúng như hành động hỏi dùng đúng với chức năng hỏi, hành động khen dùng đúng với chức năng khen, hành động yêu cầu dùng đúng với chức năng yêu cầu mệnh
lệnh….( theo Austin 1962).Chẳng hạn:
Các hành động ngôn từ (a) và (b) là những hành động ngôn từ trực tiếp Đây là những hành động ngôn từ được sử dụng đúng với mục đích và trực
tiếp đạt được hiệu lực ngôn trung Như vậy, hình thức phát ngôn thống nhất
với chức năng của chúng
1.3.2.2 Hành động ngôn từ gián tiếp
Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động không được sử dụng đúng
với đích ngôn trung của chúng, nghĩa là hình thức của phát ngôn không thống
nhất với chức năng của chúng Chẳng hạn hình thức là câu hỏi nhưng được dùng để thực hiện hành động khác (như hành động chào (c) hay hành động chê trách (d) ở ví dụ dưới đây một cách gián tiếp) hoặc hình thức là một câu
trần thuật nhưng lại dùng để thực hiện hành động hỏi như ở ví dụ (e):
Trang 3731
Bác ăn cơm chưa ạ? (c) (dùng câu hỏi để chào khi gặp mặt)
Em đi một mình như thế chẳng rủ anh thì có vui không? (d) ( dùng câu
Hành động hỏi là hành động ngôn từ mà người nói thực hiện nhằm
mục đích thu được thông tin chưa biết cần biết Hành động hỏi nằm trong
nhóm hành động ngôn trung cầu khiến “Directive” mà J Searle (1979) đã tiến
hành phân loại
1.3.3.2 Định nghĩa hành động hỏi trực tiếp
Những hành động ngôn từ thực hiện các chức năng của chúng một cách
trực tiếp và theo nghĩa đen được gọi là những hành động ngôn từ trực tiếp
Tức là cái chức năng mà câu thực hiện trong diễn ngôn là từ nghĩa đen của nó Các hành động ngôn từ trực tiếp có thể được thực hiện theo hai cách:
1) Bằng cách tạo ra một phát ngôn theo nghĩa đen, trực tiếp;
2) Bằng cách sử dụng một động từ ngôn hành gọi tên hành động ngôn
từ đó
(Theo Nguyễn Thiện Giáp [22, tr 250] )
Ví dụ:
Will you come back home after work? (Bạn sẽ về nhà sau giờ làm chứ?)
Em h ỏi anh làm xong việc chưa?
Như vậy hành động hỏi trực tiếp là hành động được thực hiện bằng câu nghi vấn mang biểu thức hỏi nhằm tìm kiếm thông tin chưa biết cần biết
(Theo Nguyễn Thiện Giáp [22, tr 250] )
Trang 3832
1.3.3.3 Định nghĩa hành động hỏi gián tiếp
Hành động hỏi gián tiếp là hành động hỏi sử dụng kiểu câu không có hình thức của câu nghi vấn và được nhận diện bằng mục đích của người nói Như vậy
hành động hỏi gián tiếp là hành động được thực hiện bằng câu trần thuật và câu mệnh lệnh với mục đích hỏi nhằm tìm kiếm thông tin trả lời mà người nóimuốn biết
Ví dụ:
con về nhà muộn đến vậy.)
Tell me which hat you want to get! (Hãy nói cho mẹ biết em muốn
lấy chiếc mũ nào!)
1.3.4 Nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong ngôn ng ữ
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, tình thái là một phạm trù nghĩa đa dạng, là mối quan hệ của giá trị phát ngôn với cái mà con người hình dung và diễn đạt về thế giới nên tình thái có liên hệ với việc diễn đạt sự bắt buộc
sự cho phép, sự cấm đoán, sự cần thiết, tính khả hữu, khả năng Đặc trưng chung
nhất của khái niệm này là xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, người nghe
và nội dung miêu tả trong câu, trong thực tế Nếu trong logic học, tình thái thể
hiện thông qua những khái niệm chỉ khả năng và về tính tất yếu và hiện thực, thì trong ngôn ngữ học, tình thái được thể hiện qua hai phạm trù cơ bản là tình thái
nhận thức( epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa ( deontic modality)
1.3.4.1 Tình thái trong ngôn ngữ
Ch.Bally đã phân biệt trong mệnh đề một phần là ngôn liệu (dictum) là
tập hợp gồm vị ngữ logic và các tham tố của nó và một phần gọi là tình thái (
modus) biểu thị thái độ của người nói Tình thái không những là linh hồn của câu, của văn bản mà còn là của cả hoạt động giao tiếp Hai loại tình thái cơ
bản trong ngôn ngữ là tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
Trang 3933
Khái niệm "tình thái" (modality) trong câu không phải là mới trong
ngôn ngữ học Nó được hiểu không giống nhau ở các khuynh hướng ngôn
ngữ học khác nhau Trước hết, cần phân biệt tình thái trong ngôn ngữ học và tình thái trong logic học
Đối với loại tình thái trong logic học, đối tượng quan tâm lại là tình thái khách quan, là chân trị của mệnh đề, là tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng Chính vì vậy tình thái khách quan (hay tình thái trong logic học) hạn
chế ở việc có thật hay không có thật, tất yếu hay không tất yếu, có thể có được hay không thể có được
Tình thái trong ngôn ngữ học là tình thái chủ quan Đây là loại tình thái quan tâm đến thái độ chủ quan của người nói với nội dung mệnh đề và sự hiểu
biết của người nghe đối với những điều được nói ra và tất nhiên tình thái không thể xa rời ngữ cảnh (context of situation) vì tình thái chỉ nổi bật khi
tương tác qua lại của người nói và người nghe trong một diễn ngôn Nghĩa vụ
của sự cho phép và được phép, của việc trao đổi thông tin thông qua lời tuyên
bố phát ngôn biểu đạt thích hợp về tính ràng buộc đối với sự chân thực của thông tin
Nghiên cứu của J.R Searle (1969) dưới góc độ của lý thuyết hành động ngôn từ đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rất hữu ích cho việc bàn
luận về tình thái Lí thuyết hành động ngôn từ đề cập đến mối quan hệ giữa người nói và nội dung phát ngôn, mà mối quan hệ này chứa đựng nội dung tình thái Vấn đề tình thái ở đây là tình thái hành động ngôn từ Bằng cách
tiếp cận này, vai trò của người nói (với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ
thể tác động trong quan hệ liên nhân) được đặc biệt nhấn mạnh J.R Searle
đã nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động ngôn trung như sau: tuyên
b ố (declarative),biểu kiến (representative), biểu cảm ( expressive), cầu
Trang 4034
khiến (directive) và ước kết (commissive) Hành vi biểu kiến (representative ) liên quan đến tình thái nhận thức; hành vi cầu khiến (
directive) lại tương ứng với tình thái đạo nghĩa Loại ước kết (commissive)
không có sự phân biệt rõ ràng với loại cầu khiến (directive) bởi chúng đều
mang khuynh hướng “sẽ thực hiện một cái gì đó” do đó chúng đều nằm trong phạm vi tình thái đạo lí Loại ước kết (commissive) thì người nói
“cam kết làm” còn với loại cầu khiến (directive) thì người nghe “phải làm”
Loại biểu cảm (expressive) lại giống với phạm trù tình thái đánh giá (evaluative) c ủa N.Rescher (1968) khi nhận xét về tình thái như sau: “Một
nhận xét hay phán đoán được trình bày bằng một câu tường thuật Cái mà được nhận thức như một tổng thể, sẽ là đúng hoặc sai” Nhận xét này của
N.Rescher về tình thái nằm trong khung tình thái nhận thức Loại tuyên
trung Như vậy có thể thấy rằng các phạm trù tình thái tương hợp với các hành động ngôn từ Với cách tiếp cận này, vai trò của người nói (với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân) được đặc biệt nhấn mạnh Đây chính là tiền đề lý thuyết cho nghiên cứu về khung tình thái trong mối tương quan với nội dung mệnh đề
T.Givón (1993) cho thấy quan niệm của ông về tình thái như sau: “Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với phát ngôn” Thái độ mà ông đề cập đến ở đây là hai loại đánh giá của người nói về thông tin phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề Một là những đánh giá nhận thức về tính
hiện thực, khả năng, lòng tin và sự chắc chắn hay bằng chứng Hai là những đánh giá giá trị về ước muốn, sự ưa thích, ý định, sự ràng buộc hay sự điều khiển Như vậy tình thái là một yếu tố cần thiết cho một phát ngôn Bốn tiểu
loại chính của tình thái nhận thứclà: Tiền giả định ( presupposition), Xác nhận