Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong năm loại cây lương thực chính của
thế giới và là mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của nước ta Trong những năm gầnđây, nước ta đã có những bước tiến vượt bậc về sản xuất lúa gạo và đã mang lạinhiều lợi ích cho người sản xuất và cho nghành lương thực phục vụ xuất khẩunhờ vào việc sử dụng các giống lúa có năng suất cao cùng với việc thâm canhtăng vụ Nhưng chính điều này cũng là một cơ hội cho sự bùng phát dịch hạitrên cây lúa Bên cạnh đó, sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đã dẫn đếnnhiều hệ lụy trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng.Điều kiện tự nhiên thay đổi đã làm xuất hiện các loài sâu bệnh hại mới và sựbùng phát của các loài dịch hại ngày càng gây hại hết sức nghiêm trọng
Trong các loài dịch hại trên cây lúa hiện nay, rầy là loài sâu hại chủ yếu và
rất nguy hiểm Rầy hại lúa có 4 loài chính là rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal), rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath), rầy nâu nhỏ (Laodelphax striatellus Fall) và rầy xanh đuôi đen (Nephotettix nigropictus Fabr) Trong đó,
rầy nâu, rầy nâu nhỏ và rầy lưng trắng là ba loài gây hại chủ yếu Rầy gây hạitrực tiếp chích hút dịch lúa làm cho lúa sinh trưởng, phát triển kém, gây hiệntượng cháy rầy, rầy còn là môi giới truyền bệnh virus cho lúa
Tại , rầy là đối tượng sâu hại nghiêm trọng nhất Năm , toàntỉnh có 2.582ha nhiễm rầy trong đó có 148ha nhiễm nặng ( Chi cục Thống kêtỉnh , ) Trong các loài rầy hại lúa trên đồng ruộng thì rầy lưng trắng
(Sogatella furcifera Horvath) là đối tượng gây hại ngày càng chiếm ưu thế với tỷ
lệ trên đồng ruộng là 46% (Cái Văn Thám, ) Trong khi đó, các giống lúa đangđược trồng phổ biến ở (HT1, Xi23) lại là giống nhiễm rầy ( và
cs, ) [7]
Những năm gần đây, để phòng trừ rầy hại lúa, người nông dân chủ yếu dựavào thuốc trừ sâu Sự lạm dụng thuốc trừ sâu cả về liều lượng và số lần sử dụngthuốc đã làm cho tính mẫn cảm của rầy bị suy giảm, rầy hình thành kháng thuốc
và dẫn đến việc phòng trừ càng trở nên khó khăn hơn Sử dụng luân phiên thuốchóa học là một trong những biện pháp hạn chế tính kháng thuốc của dịch hại nóichung và của rầy hại lúa nói riêng Nhiều kết quả nghiên cứu về hiệu lực trừ rầycủa các loại thuốc hóa học và tính kháng thuốc của rầy cũng đã được công bố.Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chủ yếu tập trung vào rầy nâu hại lúa, những
Trang 2kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc hóa học cho rầy lưng trắng còn rất hạn chế.Vấn đề đặt ra ở đây là sử dụng thuốc hóa học như thế nào để phòng trừ rầy lưngtrắng tại có hiệu quả.
Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi thực hiện đề tài: Điều tra thành phần, diễn biến của rầy hại lúa và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng trong vụ Hè Thu tại tỉnh
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được thành phần và mật độ gây hại của rầy trên các giống lúaphổ biến tại ;
- Xác định được loại thuốc Bảo vệ thực vật có hiệu quả trong phòng trừ rầyhại lúa để có cơ sở khuyến cáo cho bà con nông dân
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được đặc điểm hình thái và phân biệt được rầy hại lúa trên đồng ruộng;
- Nắm được phương pháp điều tra dịch hại lúa trên đồng ruộng;
- Nắm được phương pháp bố trí và theo dõi thí nghiệm thuốc BVTV;
- Nắm được phương pháp điều tra, đánh giá hiệu lực thuốc BVTV trên đồng
ruộng;
- Thực hiện đề tài theo đúng nội dung và tiến độ trong đề cương nghiên cứu;
- Biết cách ghi chép số liệu, xử lý số liệu và viết báo cáo khoa học theo nội
dung của đề tài
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 31.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đóng góp cho thực tiễn sản xuất các thông tin về khả năng phòng trừ rầylưng trắng của các loại thuốc hóa học, chọn lọc được loại thuốc phù hợp trừ rầylưng trắng;
- Kết quả của đề tài về hiệu lực của thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng, gópphần tích cực trong công tác chỉ đạo phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa đạt hiệuquả cao và thân thiện với môi trường, đồng thời, đưa ra khuyến cáo phun thuốcBVTV phòng trừ rầy lưng trắng ở giai đoạn nào, loại thuốc gì và nồng độ baonhiêu là đem lại hiệu quả cao Điều này giúp nông dân có những định hướngđúng đắng về sử dụng thuốc trừ rầy lưng trắng một cách hợp lý, đồng thời gópphần tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa gạo ở và đảm bảo anninh lương thực quốc gia
Trang 4PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về rầy hại lúa trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Những nghiên cứu về rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
2.1.1.1 Phân loại khoa học của rầy nâu
Nilaparvatalugens được Stal đặt tên đầu tiên vào năm 1854, theo Suennaga (1963), có các tên gọi khác như: 1854 - Delphax lugens Stal, 1863 - Delphax sordescens Motschulsky, 1903 - Liburnia sordescens Melichar, 1906 - Delphax oryzae Marsumura, 1906 - Kalpa acleat Distant, 1906 - Nilaparvatagreeni Disstant, 1907 - Delpax parysatis Kirkaldy, 1907 – Dicranotropis anderida Kisrldy, 1907 – Delphacodesanderida Muir, 1924 – Nilapavarta lugens Muir và
Loài: Nilaparvata lugens Stal
2.1.1.2 Phân bố, ký chủ của rầy nâu
* Phân bố
Về phạm vi phân bố của rầy nâu rộng khắp ở phía Nam và Đông Nam
châu Á, Australia, Oceanic và một số đảo ở Thái Bình Dương Trên thế giới,phạm vi phân bố của rầy nâu rất rộng Theo Mochida, rầy nâu phân bố ở hầu hếtcác nước trồng lúa nước vùng Nam và Đông Nam châu Á như Ấn Độ,Banladesh, Srilanca, Campuchia, Thái Lan, Lào, Indonesia, Philipine, Malaysia,Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Úc, Việt Nam, …
Trang 5* Ký chủ
Phạm vi ký chủ của rầy nâu tương đối hẹp, chủ yếu là cây trồng và câydại thuộc họ hòa thảo Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu Thực tế trong điềukiện thí nghiệm đã nuôi được rầy nâu từ tuổi một đến trưởng thành trên nhiều
loài thực vật khác nhau như: Stellaria alsinevar Undulata, Carex thunbergii, Cyperus rotundus, Agropyron tsukushiense var transiens, Digitaria adscendes, Echinochloa crus glli var crusgalli, E Crusgall var frumentacea, Eleusine indica, Eragrostis ferruginea, Glyceria acutiflora, Hordeum vulgare, … Trên đồng ruộng,
đã thấy trứng rầy nâu trên nhiều loài thực vật khác nhau như Aneilema keisak, Cyperus difformis, Eleochris var longiseta, Echinochloa crus – galli var plan – tagenea và cũng bắt được rầy trưởng thành trên những loài thực vật tương tự: Aneilema keisak, Ozyza alta, O eichingeri, O glaverrima, O latifolia, O minuta,
O officinalis, …Lúa là cây ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không
trồng lúa hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy.Lúa chét có thể là nơi ẩn náu hoặc thậm chí có thể là nơi thích hợp để rầy nâusinh sản Thí nghiệm ở Viện Quốc Tế nghiên cứu lúa cho thấy, cỏ dại ở ruộnglúa có thể góp phần làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, có thể do đã tạođược môi trường có thảm cây rậm rạp Tuy nhiên, một số tác giả khác lại chorằng, các ký chủ không phải là lúa chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của rầy nâu [5]
* Phương thức gây hại
Về phương thức gây hại của rầy nâu, nhiều tác giả trong và ngoài nướccho rằng: rầy nâu có thể gây hại ở tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây lúa,đặc biệt là giai đoạn mạ, giai đoạn làm đòng, trổ và chín Nếu bị hại nặng ởgiai đoạn mạ thì cây không sinh trưởng được, héo và chết Giai đoạn làmđòng nếu nhiễm rầy nặng có thể gây ra cháy rầy làm giảm năng suất hoặckhông cho thu hoạch Ở Việt Nam điều này đã được khẳng định, NguyễnCông Thuật (1991) [13]
Theo Dale (1994), rầy nâu có thể gây hại ở tất cả giai đoạn sinh trưởngcủa cây lúa, đặc biệt là giai đoạn mạ, làm đòng, trổ và chín Giai đoạn làm đòngnếu bị nhiễm rầy nặng sẽ bị giảm năng suất hoặc không cho thu hoạch
Rầy nâu trưởng thành hút dịch nhựa từ mạch liber của cây, trong quátrình chích hút chúng có thể tiết ra một chất kết rắn đưa vào mô cây tạo thànhống hút Những ống hút này làm tắc nhẽn nhựa lưu thông cây làm cho chồi bịhéo và ngã màu nâu tạo ra hiện tượng cháy rầy Hiện tượng này xảy ra mộtcách cục bộ, khi mật độ quần thể cao và trong những ngày nhiều mây Những
Trang 6ngày trời nắng, quang hợp giúp cây dễ dàng hồi phục phần nhựa bị hút,Reissig, Heinrichs et al (1993) [5].
2.1.1.3 Đặc điểm sinh vật học của rầy nâu
Nhiều kết quả trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vậthọc của rầy nâu đều cho thấy, rầy nâu đẻ trứng thành từng ổ trong mô ở phần dướicây lúa, chủ yếu ở bẹ lá và một phần ở bản lá Theo tác giả Mochida and Dyck(1976) và Staley (1976) rầy nâu trưởng thành cánh dài xuất hiện và gây hại trênruộng lúa từ 20 – 30 ngày sau cấy Sau đó, lứa rầy non bắt đầu xuất hiện phát triểnthành 2 dạng rầy cánh ngắn và rầy cánh dài [5]
Sogawa và cộng sự (1986), cho thấy ở giai đoạn nhập cư quần thể rầy nâubắt đầu xuất hiện với số lượng ít của rầy trưởng thành cánh dài vào lúc 3 tuầnsau cấy Những lứa phát sinh nhiều điều có tỷ lệ rầy cánh ngắn cao hơn, mặtkhác rầy cái cũng chiếm số lượng rất đông Số lượng trứng trong một ổ và vị trí
đẻ trứng phụ thuộc vào thời kỳ phát triển của cây lúa Khi có nhiều rầy trưởngthành, có nhiều trứng ở phần trên cây lúa Giai đoạn trứng ở nhiệt đới dàikhoảng 7 – 11 ngày, giai đoạn rầy non 10 – 15 ngày Thời kỳ trước đẻ trứngtrung bình 3 – 4 ngày đối với rầy cánh ngắn và 3 – 8 ngày đối với rầy cánh dài.Trên đồng ruộng, mỗi rầy cái đẻ khoảng 100 – 150 trứng Khi mật độ rầy rất cao(trên 500 con/khóm), chúng tụ thành đám, cả ở lá đòng, cổ bông và trục bông.Vòng đời của rầy phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường [5]
Theo tác giả Trần Huy Thọ và Nguyễn Công Thuật (2009), tùy theo mức
độ sinh trưởng của cây lúa rầy trưởng thành có thể đẻ vào bẹ hoặc gân chính của
lá lúa Rầy trưởng thành đẻ trứng vụ đông xuân nhiều hơn vụ mùa Tuy nhiên, sốtrứng trong mỗi ổ phụ thuộc vào giống lúa làm nguồn thức ăn Tỷ lệ rầy cánhngắn, cánh dài phụ thuộc vào nguồn thức ăn và mật độ rầy trong ruộng lúa Ởgiai đoạn lúa đẻ nhánh, chủ yếu rầy cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa thấp sau
đó giai đoạn đòng đến trổ đỏ đuôi rầy tăng nhanh về số lượng, tỷ lệ rầy cánhngắn chiếm chủ yếu Rầy trưởng thành có xu thế bay vào đèn mạnh Đây là đặctính dùng trong việc dự tính dự báo rầy nâu [14]
2.1.1.4 Đặc điểm sinh thái học của rầy nâu
* Sự di chuyển
Hoạt động di chuyển của rầy nâu trưởng thành mạnh nhất vào lúc lúa chín,ngày trước khi thu hoạch Tuy nhiên, cũng có thể có tình trạng di chuyển khi lúachưa chín nếu lúc đó lúa đã không thích hợp với rầy (khi lúa bị cháy rầy) Thườngrầy cái di chuyển nhiều hơn rầy đực và cũng thường bay trước khi đẻ trứng Rầy
Trang 7thường bay tương đối gần mặt đất, nhiều nhất ở độ cao 1m, ít hơn ở độ cao 4m vàcàng ít hơn ở độ cao 8m Nhiều ý kiến cho rằng rầy chỉ có thể bay vài km và dichuyển với số lượng ít do ở nhiệt đới bao giờ cũng có rầy bản địa [5].
Ở Phi-líp-pin, rầy có thể di chuyển theo luồng khí từ tỉnh này sang tỉnhkhác Lần đầu thấy rầy trưởng thành cánh dài di chuyển xa ở Thái Bình Dươngvào năm 1967 và biển Đông vào năm 1969 Từ tháng 5 đến tháng 8 trong cácnăm 1969 – 1972, khi đột nhiên thấy rầy trưởng thành cánh dài xuất hiện ởruộng lúa trên những đảo chính của Nhật Bản thì đã thu thập được 3,702 mẫurầy nâu trong 13 chuyến ra khơi trên biển Đông, ở vùng biển xa đất liền trên200km Những rầy trưởng thành này chủ yếu từ miền nam lục địa Trung Quốcđến, sự di chuyển của chúng phụ thuộc vào hoạt động của các luồng khí [5]
* Biến động quần thể
Quần thể rầy nâu ở vụ mưa cao gấp nhiều lần so với vụ khô Nhiệt độ vừaphải trong suốt mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho rầy nâu sinh trưởng và pháttriển, vòng đời sẽ ngắn lại và tăng số thế hệ trong vụ (Shamsul, 1970) Trongmột năm thường có hai kỳ cao điểm của rầy nâu vào hai vụ lúa chính Tốc độquần thể của rầy nâu cao mặc dù số lượng rầy nâu nhập cư rất thấp những sốlượng quần thể rầy nâu tăng nhanh, mỗi thế hệ tăng lên 8 lần Vì vậy, có thể gây
ra sự bùng phát số lượng dẫn tới hiện tượng cháy rầy Tuy nhiên, hiện tượngcháy rầy còn phụ thuộc vào mật độ của rầy non tại đỉnh cao đó theo tác giảHsieh (1975) và Lin (1976) [5]
Theo tác giả Hokyo, Lee (1975), các vùng khí hậu cận nhiệt đới như NhậtBản, Triều Tiên, mùa đông nhiệt độ xuống thấp và thiếu ký chủ nên rầy nâu bịgián đoạn theo mùa, quần thể rầy nâu đầu tiên trên ruộng lúa Nhật Bản là rầy dunhập từ lục địa qua biển đông Ở Nhật Bản, có 3 lứa rầy nâu, cuối vụ đa phầnrầy nâu trưởng thành chết trong mùa đông hoặc một phần nhỏ di chuyển đếnnhững nơi khác có thức ăn và điều kiện ít khắc nhiệt hơn [5]
Theo Staley (1976) Mochida and dych (1976), rầy nâu trưởng thành cánhdài xuất hiện và gây hại trên đồng ruộng từ 20 – 30 ngày sau cấy Sau đó lứa rầynon bắt đầu xuất hiện phát triển thành 2 dạng rầy cánh dài và rầy cánh ngắn Do
đó, sắp xếp lại các vụ lúa trên đồng ruộng có lúc không có lúa hoặc luân canhlúa với những cây không phải là cây ký chủ của rầy cũng là một biện phápphòng chống Ở Việt Nam, trong thời kỳ du nhập của rầy trưởng thành có mật
độ rất thấp, trong thời kỳ này rầy tích lũy số lượng quần thể mật độ rầy tăng lênnhanh qua các lứa, hệ số tích lũy lứa 1 - 2 khoảng 11 lần, lứa 1 – 3 khoảng 130
Trang 8lần 600 – 700 con/khóm ở giai đoạn làm đòng và 350 – 400 con/khóm ở giaiđoạn lúa trổ chín thì gây ra cháy rầy Tuy nhiên ở đồng bằng sông Cửu Longnăm 1998 trong vụ hè thu mật độ rầy lên tới 30.000 – 50.000 con/m2 nhưng
mức độ cháy rầy rất thấp [5]
* Các nhân tố ảnh hưởng đến mật độ quần thể rầy nâu
Sự phát sinh phát triển và gây hại của rầy nâu phụ thuộc nhiều vào yếu tốsinh vật, phi sinh vật cũng như chế độ canh tác và trình độ thâm canh Quan niệmphổ biến cho rằng, tăng vụ sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề sâu hại Riêng đối vớirầy nâu, tình hình gần đây của những vụ dịch ở Đông Nam Á có vẻ khẳng định ýkiến trên Nhờ nước tưới và cấy các giống ngắn ngày, không mẫn cảm với chu kỳsáng nên có thể trồng nhiều vụ trong năm trên đồng ruộng luôn có lúa và nhiềulúc lại có lúa ở nhiều thời kỳ phát triển khác nhau nên tất nhiên quần thể rầy cóthể sinh sản trong thời gian dài hơn và do đó tạo được mật độ rầy cao hơn [5]
Theo Alam (1917) và Hsieh (1975), rầy di chuyển dễ dàng từ ruộng nàysang ruộng khác và từ lúa già sang lúa non Ở Sarawwak, mật độ rầy nâu thấp cóthể mỗi năm chỉ trồng một vụ lúa và hơn thế nữa lại cấy những giống cây cao,thưa lá Những giống địa phương của Indonesia ít bị rầy phá tuy cấy đồng thờicác giống mới Ở Ma-lay-si-a, dù trồng thâm canh những giống năng suất caonhưng rầy vẫn chưa phá hại nhiều có lẽ do các vụ trồng cấy gián đoạn nhau Tuynhiên ở Ấn Độ, Thái Lan, …vẫn còn nhiều trường hợp bị cháy rầy dù nhữngnước này mỗi năm một vụ lúa trên phạm vi rộng
Theo Mochida (1976), ở In-do-ne-si-a, một số vùng trồng hai vụ lúa mộtnăm nhưng rầy vẫn chỉ gây thiệt hại ít Như vậy cho đến nay chỉ có thể kết luận,nếu trồng liên tục và xen kẽ nhiều vụ lúa trong năm thì có nhiều khả năng chứkhông nhất thiết là bị rầy phá hại nặng Gieo cấy những giống năng suất caothường nảy sinh nhiều vấn đề về sâu hại nhiều hơn Rất nhiều ý kiến cho rằngnhững vụ dịch rầy nâu gần đây có liên quan đến việc đưa vào sản xuất nhữnggiống lúa thấp cây, năng suất cao Đã thấy rõ rệt một tương quan chung giữa sựtăng diện dích trồng giống mới ở In-do-ne-si-a với sự tăng mức độ phá hại củarầy [5]
* Ảnh hưởng của khí hậu thời tiết
Theo nghiên cứu của tác giả Suennaga (1963) và Mochida (1964), nhiệt
độ thích hợp cho sự phát triển của rầy nâu là 25 – 30oC Nhiệt độ 33 – 35oChoặc 15 – 18oC là không thích hợp Nhiệt độ cao làm tăng số lượng rầy, thườngnhững trận dịch lớn xảy ra vào thời điểm nhiệt độ 25 – 30oC Tuy nhiên mối liên
Trang 9hệ giữa diễn biến mật độ còn chưa rõ rệt còn bị chi phối bởi ẩm độ, lượng mưa
và ánh sáng Nhiều tác giả nước ngoài cho thấy rầy nâu thích môi trường ẩm độ
70 – 80% nhưng ẩm độ ổn định là 50 – 60% là thích hợp với rầy nâu nhất [5]
Ở Việt Nam, rầy nâu tồn tại quanh năm, rầy phát sinh phát triển nhiềusau mưa kéo dài, ẩm ướt, nhiệt độ tăng lên hoặc những năm đầu khô hạn nhữngnăm mưa lớn tới 160mm, nhiệt độ 23 – 26oC, ẩm độ 81 – 87%, Nguyễn CôngThuật (1991) [13]
Những trận mưa kéo dài xen kẽ với những ngày nắng gắt là điều kiện chorầy nâu phát sinh phát triển Tuy nhiên, có mưa to gió lớn hoặc nhiệt độ đột ngột
hạ có thể làm hạn chế rầy nâu phát triển hoặc gây tử vong cho rầy, Nguyễn ĐứcKhiêm (1995) [8]
* Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật trồng trọt
Biện pháp kỹ thuật trồng trọt không chỉ do lịch sử lâu đời của chúng màchủ yếu do tác dụng cơ bản của chúng
Trồng liên tục nhiều vụ lúa trong năm có thể làm tăng các lứa rầy và mật
độ rầy nâu, thời gian sinh trưởng của cây lúa càng dài càng có điều kiện để rầynâu phát triển mạnh, Mochida and Okada (1979) [5]
Cấy dày, gieo vãi với số lượng giống cao, nước đầy đủ làm tăng tác hạicủa rầy Ngoài ra, việc sử dụng nhiều phân hóa học đặc biệt là phân đạm cũnglàm tăng mật độ rầy nâu Việc tạo một môi trường không thích hợp với sự pháttriển và sinh sản của rầy nâu nhưng vẫn thích hợp với cây lúa Các biện phápnày thường không có hiệu quả đặc biệt tức thời nhưng lại có tác dụng chắc chắnđáng tin, kinh tế và không gây ô nhiễm nên phù hợp với sinh thái Các biện phápnày rất thích hợp để phòng trừ một loài sâu hại hay phát thành dịch điển hìnhnhư rầy nâu; rầy tăng số lượng với tốc độ nhanh, hay tập hợp thành đàn đông,hay trung bình từng đám và có nhiều khả năng phân tán di chuyển [5]
* Ảnh hưởng của thiên địch
Rầy nâu có tất cả 83 loài thiên địch, trong số này 43 loài ảnh hưởng đến
sự thay đổi số lượng rầy (25 loài ký sinh , 19 loài ký sinh trứng và 6 loài ký sinhrầy non và rầy trưởng thành; 10 loài sâu và nhện ăn thịt; 1 hoặc 2 loài giun tròn
ký sinh ở rầy non và rầy trưởng thành; 7 loài vi sinh vật gây bệnh) Ngoài ra,còn phải kể đến cả kiến, cóc, ếch, nhái, chim, vịt, …chúng ta vẫn chưa hiểu biếtđầy đủ và thành phần phân loại của hệ thiên địch này, chưa đánh giá chính xácđược tỷ lệ ký sinh hoặc sức ăn rầy của các loài bắt mồi trong từng hoàn cảnh cụ
Trang 10thể Do đó, cũng khó xác định được quan hệ giữa thiên địch và sự diễn biến rầynâu, tất nhiên quan hệ này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác của môi trường.Mặc dù vậy, rất nhiều người tin rằng thiên địch thực sự có ảnh hưởng lớn đến sốlượng rầy trên đồng lúa.
Trên ruộng lúa Việt Nam, trong số 38 loài sâu hại được theo dõi, đã pháthiện được 300 loài thiên địch, trong đó có 167 loài là côn trùng ăn thịt, khoảng
100 loài là côn trùng ký sinh, 29 loài nhện bắt mồi, 4 loài vi sinh vật và 1 loàituyến trùng ký sinh trên sâu Chỉ riêng đối với rầy nâu, đã xác định được 58 loàithiên địch Thiên địch rầy nâu ở nước ta tương đối phong phú, ít nhất đã pháthiện 56 loài côn trùng bắt mồi, nhện lớn bắt mồi, côn trùng ký sinh, nấm vàtuyến trùng ký sinh ở các tỉnh Hà Nội, Thái Bình, Tiền Giang, Đồng Tháp, …Trong đó, thiên địch nhiều nhất là bộ nhện lớn (17 loài, chiếm 30,3%), tiếp đó là
bộ cánh cứng (15 loài, chiếm 26,8%), bộ cánh màng (13 loài, chiếm 23,2%).Các bộ còn lại mỗi bộ chỉ thu được 1 – 4 loài, Phạm Văn Lầm (1992) [10]
2.1.2 Những nghiên cứu về rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath)
2.1.2.1 Phân loại khoa học của rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng lần đầu tiên được Horvath mô tả và đặt tên là Delphax furcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau đó được đổi là Sogatella furcifera [5]
Sơ đồ vị trí phân loại của rầy lưng trắng:
Loài: Sogatella furcifera Horvath
2.1.2.2 Phân bố, ký chủ của rầy lưng trắng
* Phân bố
Theo Hills (1983) rầy lưng trắng có mặt và gây hại ở hầu hết các nướctrồng lúa Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…trên thế giới chúng còn phân bố cả ở châu Úc và Thái Bình Dương Phân bố theo
Trang 11Asche và Wilson (1990) cho biết rằng rầy lưng trắng có phân bố rộng rãi ở vùngcận Đông, Đông và Tây Thái Bình Dương và Úc Nhưng sự phân bố của rầylưng trắng về phía Tây là không rõ vì tất cả các mẫu vật thu được ở Châu Phi,
Châu Âu và Tân Đảo đã được ghi nhận trước đây như là Sogatella furcifera thì
sau này đã được chứng minh là các loài khác Các nước được ghi nhận có rầylưng trắng phân bố là:
Các nước Châu Á: Rầy lưng trắng có mặt ở nhiều nước như Afganistan
(Dale, 1994), Bangladesh (Alam, 1995; Dale, 1994; EPPO, 1996), Trung Quốc(Matsumura, 1910; EPPO, 1996), Inđonesia (Muir, 1917; EPPO, 1996), NhậtBản (Nakayama, 1930; Lee & Kwon, 1980; EPPO, 1996), Lào (Grist & Lever,1969; Asche & Wilson, 1990; EPPO, 1996), Malaysia (Waterhouse, 1993;EPPO, 1996), Nepal (Rana & Sharma, 1967; Dale, 1994; Asche & Wilson,1990; EPPO,1996); Pakistan (Dlabola,1971; Ghauri,1979; Asche & Wilson,1990; EPPO, 1996), Philipines (Muir, 1917; Ghauri, 1979; Asche & Wilson,1990; EPPO, 1996), Iran (EPPO, 1994), Srilanca (Melichar, 1903; Fennan,1975; EPPO, 1996), Thái Lan (Nishida et al, 1976; Hongsaprug, 1987; EPPO,1996), Việt Nam (Tao & Ngo, 1970; Fennah, 1978; EPPO, 1996)
Các nước Châu Âu: bao gồm các nước Liên Bang Nga và các nước vựng
Liên Xô cũ Ngoài ra rầy lưng trắng còn có mặt ở Siberi và các vùng đất Ngacách xa về phía đông (EPPO,1994)
Tây bán cầu: có ở các nước Cuba, Guana và Suriname (EPPO,1996)
Thái Bình Dương gồm có: Autralia (Grist và Lever, 1969; Asche và Wilson,
1990; EPPO, 1996; CAB, 1996)
* Ký chủ
Trên đồng ruộng cây ký chủ chủ yếu của rầy lưng trắng là cây lúa Qua thínghiệm Catindig cho biết rầy lưng trắng đẻ trên 37 loại cây khác nhau và ngoàicây lúa rầy lưng trắng còn có thể hoàn thành pha phát dục của mạnh trên cây
ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa cololum), lồng vực nước (Echinochloa glabrescens), cỏ đuôi phượng (Leptochloa chinensis)…
Catindig(1993) Miral (1980) còn phát hiện ra rầy lưng trắng có trên lúa mỳ, mía
và lúa mạch, nhưng không có thông tin nào cho thấy rầy lưng trắng có khả nănghoàn thành chu kỳ phát dục trên các cây này (Misra D.S and Prasad J 1985)
Trang 122.1.2.3 Triệu chứng gây hại, tác hại của rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng có thể gây hại trong toàn bộ giai đoạn phát triển của câylúa Chúng phát triển và gây hại chủ yếu ở giai đoạn mạ và giai đoạn lúa đẻnhánh (Dale, 1994)
Cả rầy non và trưởng thành đều chích hút nhựa cây, giai đoạn mạ nếu bị hạithì cây sẽ kém phát triển, nếu bị hại nặng gây nên hiện tượng cây mạ bị vàngdẫn đến héo và chết, ở các giai đoạn sau khi bị hại gây ra hiện tượng lá vàng,cây còi coc giảm tỷ lệ trỗ, hạt lép và dẫn đến giảm năng suất (Khus, 1981) Trênđồng ruông, với mật độ rầy từ 400 đến 500 con/m2 gây ảnh hưởng đến năngsuất, khi mật độ cao hơn có thể gây cháy rầy và mất năng suất đến 100%
Reissig H et al., (1993), khi mật độ rầy lưng trắng cao sẽ gây hiện tượng
“cháy rầy” cây lúa bị vàng đỏ và héo khô Rầy lưng trắng có thể bùng phát thànhdịch như tại vùng Assam Ấn Độ, tháng 5 – 6 năm 1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8
đã bị cháy rầy lưng trắng
Theo Atwal et al (1967), Dale (1994) rầy non và rầy trưởng thành đều trựctiếp hút dịch tế bào làm cho cây lúa bị biến vàng, xuất hiện màu rỉ sắt lan từngọn lá đến các phần còn lại của cây
Rầy cái mang trứng còn gây thiệt hại bằng cách chọc thủng mô bẹ lá lúa để
đẻ trứng Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp cho sự phát triển của nấm (Dale,1994) đây chính là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội đen trên lúa Ngoài tác hại trực tiếp là chích hút nhựa cây làm ảnh hưởng đến sinhtrưởng và năng suất lúa, rầy lưng trắng còn là môi giới bệnh lùn sọc đen phươngnam (G.H Zhou và ctv, 2008), đây là một bệnh mới xuất hiện và gây hại rấtnặng ở một số tỉnh phía Nam Trung Quốc như đảo Hải Nam, Quảng Tây, QuảngĐông… từ năm 2001 đến nay, bệnh này ngoài gây hại trên lúa chúng còn gâyhại trên Ngô, lúa Mạch, Kê
2.1.2.4 Đặc điểm sinh thái học của rầy lưng trắng
* Sự di chuyển
Tương tự rầy nâu, rầy lưng trắng cũng di chuyển hàng loạt, được phản ánhnhư một “Hội chứng bay sinh trứng” của quá trình tiền sinh sản của rầy di cư Sự
di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt độ
Ở Trung Quốc, có 5 đợt rầy di cư từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 với sự dichuyển của gió nam và gió tây nam, 3 đợt di cư hướng tây nam vào giữa và cuối
Trang 13tháng 8, cuối tháng 10 Ở Bán đảo Triều Tiên, việc du nhập qua Biển đông củarầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 và các đảo Miền trungcủa nam Triều Tiên là cuối tháng 7.
Rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ 6 –30km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô ở các vùng nhiệt đới [5]
* Biến động quần thể
Rầy lưng trắng thường có số lượng lớn vào đầu vụ Quần thể rầy lưngtrắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh đến trước khi phân hóa đòng khoảng 7 – 8tuần sau khi cấy,sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa trổ.Quần thể rầylưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 thế hệ Mặc dù sốlượng nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu nhưng tốc độ quầnthể lại thấp, chỉ tăng được 4 lần trong 3 thế hệ trong khi quần thể rầy nâu tăng 8lần ở mỗi thế hệ Do tốc độ tăng trưởng thấp nên rầy lưng trắng hiếm khi đạt tới
số lượng có thể gây hại cho kinh tế đối với lúa [5]
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995), mô tả đặc điểm rầy lưng trắng có dảitrắng dễ nhận thấy ở mảnh lưng giữa Mình màu nâu vàng, cánh trước có màu đenhoặc màu xám Rầy đực dài 2,6mm, không có dạng cánh ngắn, rầy cái dài 2,9mm,mảnh lưng uốn cong không sâu phía dưới Rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn
so với rầy nâu Rầy lưng trắng có 5 tuổi, tuổi 1 có màu trắng sữa cho đến khi xuấthiện nền trắng, và xám ở tuổi, tuổi 5 mảnh lưng và bụng đồng vàng, có các vằntrắng, xám trên nền trắng mịn chiều dài thân thay đổi từ 0,8 – 2,1mm Trứng đẻthành từng ổ hình nải chuối, mỗi ổ từ 2 – 7 quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gânchính của lá tùy theo giai đoạn sinh trưởng của lá Khi mới đẻ trong suốt khôngmàu dài 0,96mm, rộng 0,2mm, 3 ngày sau khi đẻ trứng xuất hiện điểm màu đỏ,cuối trắng có một đốm màu vàng đục Thời gian phát dục của rầy lưng trắng thayđổi theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ từ 23,8 – 29,8oC, độ ẩm 93 – 94%, thời gianphát dục của trứng là 6,4 ngày, rầy non là 12,5 – 12,9 ngày [8]
* Ảnh hưởng của khí hậu thời tiết
Khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến quy luật phát sinh phát triển của mọi loàisinh vật trên trái đất và rầy lưng trắng cũng không ngoại lệ Theo tác giả nướcngoài cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến sự bùng phát số lượng rầy lưng trắng
là mưa kéo dài kéo theo thời tiết ẩm ướt, sử dụng một lượng phân đạm cao từ
175 – 250 kg N/ha và phòng trừ rầy lưng trắng bằng thuốc hóa học cho kết quảkhông cao
Trang 14Theo tác giả Shulkla, Shrivastva (1990) cho rằng: các điều kiện ở nhiệt độcao, nhiệt độ thấp và số giờ chiếu sáng có ảnh hưởng đến mật độ quần thể rầylưng trắng Lượng mưa và ẩm độ hầu như ít ảnh hưởng đến mật độ quần thể Ở
Ấn Độ, rầy lưng trắng đã trở thành dịch hại nguy hiểm khi gây ra hiện tượngcháy rầy trên 8.000 ha vào tháng 5 tháng 6 năm 1985 [5]
* Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật trồng trọt
Bón nhiều phân đạm, cấy dày, được tưới nước thường xuyên và mật độ kýsinh thấp làm bùng phát số lượng rầy lưng trắng (Gao et al., 1994) TheoKajimura (1995), khả năng sinh sản của rầy trên ruộng bón phân hóa học vàruộng bón phân hữu cơ thấy mật độ rầy nhập cư ở ruộng bón phân hữu cơ caohơn, trong khi đó tỷ lệ định cư của trưởng thành cái và tỷ lệ sống sót của các giaiđoạn rầy non các thế hệ sinh sau đó là thấp hơn, số lượng trứng đẻ ở thế hệ sau,
tỷ lệ nở và tỷ lệ rầy cánh ngắn cũng thấp hơn, do vậy mật độ rầy lưng trắng giảm
ở ruộng bón phân hữu cơ [5]
Những nghiên cứu ở Ne-pan cho thấy, mật độ rầy lưng trắng sẽ giảm 46 –61% ở những ruộng lúa có luân canh lúa – đậu
* Ảnh hưởng của thuốc hóa học
Theo Mani et al (1991), nếu xử lý Flufenixuron (chất ức chế tổng hợpkitin) vào giai đoạn trứng vừa đẻ làm cho trứng chết nhanh, nếu xử lý vào giaiđoạn đang lột xác thì rầy bị kìm hãm lột xác và chết, xử lý rầy đang hóa trưởngthành thì cánh bị biến dạng Flufenixuron ở nồng độ 600ppm có tác dụng làmgiảm khả năng sinh sản của rầy Thuốc hóa học dạng dung dịch hoặc bột mịn độhữu hiệu diệt rầy cao hơn dạng vãi Ở Ấn Độ, xử lý Carbofuran 3G và phorate10G với số lượng 10gam/ha hiệu lực thấp hơn nhiều so với xử lý bằngChlorpyrifos 20EC, Fenitrothion 50EC
Xét về độc tính của thuốc, độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với thuốcLindan không thay đổi theo thời gian, trong khi đó đối với những loại thuốckhác độ mẫn cảm của rầy đều bị giảm Việc sử dụng thuốc trừ sâu làm rầy lưngtrắng tái phát cũng như sự tái phát của rầy nâu Tuy nhiên, tốc độ phát triển củatính kháng thuốc còn phụ thuộc vào tuổi rầy, giới tính và dạng cánh, ngoài racòn chịu ảnh hưởng bởi mức độ kháng rầy đối với ký chủ [5]
Trang 152.1.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng ở Việt Nam
* Biện pháp sinh học
Trong tự nhiên, rầy lưng trắng có nhiều loại thiên địch, chúng là một trongnhững yếu tố quan trọng nhất giúp điều tiết mật độ quần thể rầy trong hệ sinhthái đồng ruộng, và là yếu tố ngày càng được quan tâm đến trong công tácphòng trừ rầy lưng trắng nói riêng và rầy hại lúa cũng như các loại sâu hại trênđồng ruộng nói chung
Trong 2 năm 1995 - 1996, Đinh Văn Thành (Viện BVTV) đã tiến hành điềutra đồng ruộng tại vùng ngoại thành Hà Nội, kết quả cho thấy: Có 18 loài thiênđịch của rầy lưng trắng, chúng được chia làm 2 nhóm: kí sinh và bắt mồi Nhómbắt mồi gồm có 5 loài nhện, 3 loại bọ rùa, 2 loại bọ xít, 1bọ ba khoang và 1 bọcánh ngắn, nhóm kí sinh thì chủ yếu là ong kí sinh (5 loài trong đó 4 loài là kísinh trứng và 1 loài kí sinh rầy non), một loài là bọ cánh cuốn
Trong các loài bắt mồi ăn thịt chính trên đồng ruộng thì có 4 loài có vai tròquan trọng trong việc điều chỉnh mật độ rầy lưng trắng ngoài tự nhiên đó là bọ xít
mù xanh, bọ rùa đỏ, bọ 3 khoang và nhện lớn Trong 4 loài bắt mồi ăn thịt chínhtrên đồng ruộng thì nhện có mật độ tổng số cao nhất, sau đó đến bọ xít mù xanh,
bọ rùa đỏ và thấp nhất là mật độ bọ 3 khoang Ở vụ đông xuân, 3 loài đó là nhện,
bọ rùa đỏ và bọ 3 khoang là xuất hiện ngay từ đầu vụ, riêng bọ xít mù xanh chỉxuất hiện trên đồng ruộng vào thời kỳ nắng ấm (cuối tháng 4) nhưng lại có mật độtăng đột biến trong tháng 5 Có thể bọ xít mù xanh không thích hợp với điều kiệnmùa đông lạnh, nhiệt độ thấp hoặc có thể chúng cư trú trên một cây trồng nàokhác sau đó di chuyển ra đồng lúa vào tháng 4 - 5 Mật độ 4 loài thiên địch chínhtrong vụ mùa thường cao hơn vụ đông xuân
Trang 16* Biện pháp hoá học
Tác giả Trương Thị Ngọc Chi (1990) [6] đã tiến hành thí nghiệm đánh giáhiệu lực của 13 loại thuốc thảo mộc đối với rầy lưng trắng trên giống lúa TN1trong nhà lưới của Viện lúa Ô môn, kết quả thu được như sau:
(1) Phun thuốc dung dịch chiết từ hạt bình bát nồng độ 10% và thuốc lá 10% thì sau
36 giờ hiệu quả diệt rầy lưng trắng đạt 100% tương tự như Bassa 50ND 0,2%
(2) Phun dung dịch chiết từ rễ cây ruốc cá và bạch đàn chanh ở nồng độ 15% cóthể làm giảm mật độ rầy lưng trắng và tăng dần hiệu quả sau 72 giờ phun thuốc.(3) Các dung dịch chiết từ thân cây xương rồng, thân cây nghệ nồng độ 10%,thân ngồng tỏi và lá xoan nồng độ 15% không thấy có hiệu lực sau khi phun 36
và 72 giờ
Từ năm 1992, Viện lúa Ô môn đã tiến hành đánh giá hiệu lực của 13 loạithảo mộc chưa qua chế biến đối với rầy lưng trắng ở trong điều kiện nhà lưới.Kết quả đã ghi nhận dung dịch 10% của hạt bình bát tươi và lá thuốc lá khô cóthể hạn chế được rầy lưng trắng (Trương Thị Ngọc Chi, 1992)
Đến nay, chưa có những kết quả nghiên cứu sử dụng thuốc hoá học để trừrầy lưng trắng được công bố chính thức Tuy nhiên, trong danh mục thuốcBVTV được phép sử dụng ở Việt Nam năm 2010 cũng có một vài loại thuốcđược đăng ký trừ rầy lưng trắng như Shertin, Penalty, Như vậy vấn đề sử dụngbiện pháp hoá học rầy lưng trắng cần phải có những nghiên cứu cụ thể hơn
2.1.4 Những nghiên cứu về rầy nâu nhỏ (Laodelphax striatellut Fallen)
2.1.4.1 Phân loại khoa học của rầy nâu nhỏ
Rầy nâu nhỏ còn gọi là rầy xám, có tên khoa học là Laodelphax striatellus Fallen Rầy nâu nhỏ có 11 tên đồng danh khác như: Delphax striatella Fallen (1826), Delphax notula Stal (1854), Liburnia devastans Matsumura (1900), Liburnia nipponica Matsumura (1900), Liburnia giffuensis Matsumura (1900), Delphacodes striatella Muir (1917), Delphacodes striatella Ishihara (1949), Laodelphax striatellut Falleu (1963), Delphacodes striatella Falleu (1963).
Những nghiên cứu về rầy xám ở trong và ngoài nước không nhiều vì nó ít phổbiến, khả năng gây cháy rầy không cao Một số tác giả cho rằng, sự chích hútcủa rầy xám non và trưởng thành là phương thức truyền bệnh lùn sọc đen, bệnhsọc do virus tồn tại môi giới truyền bệnh trong suốt đời sống của nó sau khichích hút một cây bị nhiễm virus, Mueller (1992) [5]
Sơ đồ vị trí phân loại của rầy nâu nhỏ:
Trang 17Loài: Laodelphax striatellut Fallen
2.1.4.2 Phân bố, kí chủ của rầy nâu nhỏ
Theo Hills S Dennish (1983), phạm vi phân bố các môi trường trồng lúa
từ những vùng khí hậu ôn đới, đặc biệt các vùng Đông Á như Trung Quốc, NhậtBản, Triều Tiên, Philipines, Đài loan, Siberia và một số nước châu Âu Ký chủ
bao gồm lúa, mía, lúa mì Alopccurus spp và Eragnostis spp và Eragnostis spp.
Ký chủ trung gian đặc biệt trong mùa đông của rầy xám là lúa đại mạch, lúa mỳ,
lúa, cỏ túc hình Alopecurus, Lodium.
Nguyễn Đức Khiêm (1995), rầy xám phân bố ở tất cả các nước trồng lúa ởchâu Á Ngoài tác hại trực tiếp rầy xám còn là môi giới truyền bệnh sọc đen lùnlúa làm cây còi cọc kém phát triển [9]
2.1.4.3 Đặc điểm sinh vật học của rầy nâu nhỏ
Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy cũng giống như rầy nâu, rầylưng trắng, rầy xám đẻ trứng thành từng ổ trên gân chính của lá hoặc bẹ gần gốclúa, mỗi trứng đều có mũ trứng chụp lên đỉnh
Reissiget Henrichs (1993), trứng mới đẻ có màu trắng trong, khi gần nở cómột chấm đỏ ở đầu trứng Mỗi con cái đẻ 50 - 200 trứng suốt thời gian sống của
nó khoảng 3 tuần lễ Rầy non có kích thước nhỏ hơn rầy nâu và rầy lưng trắngcùng tuổi, rầy non trải qua 5 tuổi có màu nâu nhạt đến màu nâu đậm Vào mùađông rầy non tuổi 4, tuổi 5 nằm tiền sinh trên cây ký chủ trung gian Cũng theoReissig và Henrichs (1993), Hill S Dennish (1983), trưởng thành đầu tiên bayđến những ruộng lúa vào mùa xuân từ cỏ dại, lúa mì hoặc lúa mạch đông.Thường 5% trưởng thành đầu tiên mang virus sọc đen Trưởng thành bị bẫy đèn
và bẫy màu vàng thu hút mạnh
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995), trưởng thành rầy xám có hai dạng, cánhngắn và cánh dài Khi đẻ trứng, con cái làm thành từng ổ trên chồi lúa bằng bộphận giống như gai đẻ, ở điều kiên nhiệt độ từ 23,8 - 29,8oC, ẩm độ 93 - 94%
Trang 18thời gian phát dục của trứng rầy xám là 6,7 - 7,5 ngày, tỷ lệ nở 42,4%, thời gianphát dục của rầy non 13,1 - 14,3 ngày, vòng đời 24 ngày Ở nhiệt độ 26,1-29,8oC và độ ẩm 93- 93,9% thời gian phát dục của rầy non là 13,1 - 14,3 ngày.Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 25- 26,6oC và độ ẩm 92 - 93,8% và vòng đời củarầy xám 24 ngày [9].
2.1.4.4 Đặc điểm sinh thái học của rầy nâu nhỏ
Rầy xám mức độ phổ biến không nhiều trên đồng ruộng và phạm vi gây hạikhông lớn so với hai loại rầy nâu và rầy lưng trắng, rầy xám là loại có mật độcao nhất ở khu vực á nhiệt đới rầy truyền bệnh lúa lùn, sọc đen Rầy trưởngthành có 2 dạng cánh dài và cánh ngắn
Theo Mueller (1987), ở các vùng cận nhiệt đới châu Á như Trung Quốc,Triều Tiên, Nhật Bản, rầy xám phát sinh phát triển mạnh làm xuất hiện nhữngtrận dịch bệnh lùn sọc đen và bệnh sọc do virus
Theo Heinrichs (1994), số lượng quần thể rầy xám thường phát triển chậmhơn rầy nâu và rầy lưng trắng đỉnh cao của rầy xám vào giai đoạn lúa chín sáp
và chúng chưa bao giờ đủ số lượng để gây ra cháy rầy
Theo Reissig, Henrichs et al (1993), những ruộng bỏ hoang suốt mùa đông
là nơi cư trú của rầy xám, các loại cỏ dại là nguồn thức ăn cho rầy xám và cỏ dạicũng là nguồn bệnh đầu tiên cho ruộng lúa nương mạ được trồng vào mùa xuânnăm sau khi trưởng thành rầy xám di cư đến, trong những trường hợp này cókhoảng 5% rầy xám mang nguồn bệnh
Hill S Dennish (1983), so với rầy nâu và rầy lưng trắng thì rầy xám ít di cưhơn Việc sử dụng thuốc hoá học của các nước cận nhiệt đới châu Á thì tốc độphát triển tính kháng thuốc của rầy xám cao hơn và xảy ra nhanh hơn
Nashu (1969), vòng đời của rầy xám thường dài hơn so với rầy nâu và rầylưng trắng, rầy xám thích nghi với điều kiện thời tiết mát mẻ, một năm cókhoảng 3 - 4 lứa, mỗi vụ chỉ có 1 - 2 lứa Vào mùa xuân, trưởng thành cánh dài
từ các ký chủ phụ bay đến nương mạ hoặc những ruộng lúa mới cấy
Rầy xám qua đông ở giai đoạn rầy non tuổi 4 - 5 trên các cây ký chủ trunggian Theo Reissig, Henrichs et al (1993), cũng như rầy nâu và rầy lưng trắng,rầy xám có thể bị các thiên địch tấn công ở các giai đoạn, trứng rầy xám bị ong
Trichogrammatidae ký sinh và là mồi của bọ xít mù xanh Cyrtorhinus livipennis, rầy non và trưởng thành bị các loài ong Dryinidae, bọ cánh cuốn Elenchidae ký sinh, rầy non và rầy trưởng thành thường bị bọ cánh cứng thuỷ
Trang 19sinh sống trong nước và ấu trùng chuồn chuồn ăn thịt, ngoài ra còn bị các loàinhện và bọ xít nước săn bắt [5].
Nagata and Masuda (1980), những loại thuốc diệt rầy nâu, rầy lưng trắngđều có tác dụng đến rầy xám Tuy nhiên, số lượng mật độ quần thể rầy xámkhông quyết định đến mức độ gây hại mà tỷ lệ rầy xám mang nguồn bệnh virus,
ở Nhật Bản trong 10 năm 1961- 1971, 3 nhóm thuốc Clo hữu cơ, lân hữu cơ vàCarbamat đã được thay đổi luân phiên để sử dụng phòng trừ rầy lưng trắng vàrầy xám Nagata, Kilin và công sự cho rằng sự di cư đã ảnh hưởng đến tínhkháng thuốc của nhóm rầy hại thân, rầy xám di cư ít hơn [5]
Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn (1994), các thuốc trừ sâu hoá học có phổ tácđộng rộng (như Thiodan, Azodrin, Monitor, Wofatox, Basudin) Không chỉ cóhiệu lực mà còn có khả năng gây ra những hậu quả không mong muốn Sauphun các thuốc này 2 - 3 lần, thì mật độ nhóm rầy hại thân đều tăng nên nhiều
so với trước phun Hệ số tích luỹ quần thể của rầy ở nơi dùng thuốc Wofatoxđều đạt rất cao [10]
2.2 Nghiên cứu sử dụng thuốc trừ rầy hại lúa trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu sử dụng thuốc trừ rầy hại lúa trên thế giới
Ở Ấn Độ (Shulkla, 1990), ở Pa-kis-tan (Haq et al., 1991), các loại thuốcQuinaphos, Carbaryl, Chlopyriphos và Carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dàitrong 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan cũng có tác dụng trừ rầylưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0,05% có khả năng diệt trứng, ngoài raPhosphamilon 0,05% và Fenvalirate 0,045% có tác dụng làm giảm khả năngsinh sản của rầy cái Nếu phun Buprofezin 0,075% sẽ làm rầy hại thân tuổi 3chết ngay sau khi lột xác [5]
Mani et al (1991), nếu xử lý Flufenoxuron (Chất ức chế tổng hợp kitin)vào giai đoạn trứng vừa đẻ làm cho trứng chết nhanh, nếu xử lý vào giai đoạntrước khi trứng nở thì rầy nở ra bị dị dạng, nếu xử lý vào giai đoạn rầy đang lộtxác thì rầy bị kìm hãm lột xác và chết, xử lý rầy đang hoá trưởng thành thì cánh
bị biến dạng Flufenoxuron ở nồng độ 600ppm có tác dụng làm giảm khả năngsinh sản của rầy Thuốc hoá học dạng dung dịch hoặc bột mịn độ hữu hiệu diệtrầy cao hơn dạng vãi Ở Ấn Độ xử lý Carbofuran 3G và phorate 10G với sốlượng 10gam/ha hiệu lực thấp hơn nhiều so với xử lý bằng Chlorpyrifos 20EC,Fenitrothion 50EC [5]
Trang 202.2.2 Nghiên cứu sử dụng thuốc trừ rầy hại lúa ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy nâu từnhững năm 1987 của Viện Bảo vệ Thực vật khi đó đã xác định được LD50 củacác hoạt chất như Fenobucarb, Carbary, Carbofuran, Isoprocarb, Fenitrothion Nhưng đến năm 2001, dưới sự nghiên cứu của Nguyễn Thị Me thì giá trị LD50
cũng tăng lên đáng kể như ở Thái Bình MIPC tăng 12 lần, Carbofuran tăng 7,3lần; Fenitrothion tăng 3,7 lần Ở Hải Phòng giá trị LD50 tăng 11,5 lần với MIPC;Fenobucarb tăng 2,3 lần; Fenitrothion tăng 3,1 lần
Theo nghiên cứu của Lương Minh Châu (2007), ở một số địa điểm vùngđồng bằng sông Cửu Long cho rằng để trừ rầy nâu tốt thì khi sử dụng một sốhoạt chất như Imidacloprid, Fipronil, Bufronfezin và Etofenprox cần phải tăngliều lượng lên so với khuyến cáo
Theo Lê Thị Kim Oanh và cộng sự (2009 - 2010), đã có kết quả điều tra tại 7tình đồng bắng sông Hồng (Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, HưngYên, Phú Thọ, Bắc Giang) cho thấy có 8 nhóm thuốc trừ sâu được người dân sửdụng trên lúa Trong đó, 3 nhóm sử dụng với tỷ lệ cao là: Phenylpyrazol,Carbamate, Neo-nicotionid Tuy nhiên, qua các năm ở các địa phương khác nhauthì số chủng loại thuốc sử dụng, mức độ sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau Một số kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầylưng trắng của tác giả Nguyễn Thị Me và cộng sự (2010) cho thấy thí nghiệmthuốc Enaldo 40FS xử lý hạt giống (với liều lượng 40 - 60ml/60kg hạt giống lúagieo để cấy 1ha) đạt hiệu quả rất cao Rầy trưởng thành thả vào khay mạ 10ngày tuổi có xử lý hạt giống bằng Enaldo 40FS bị chết trên 80% sau 1 ngày thả
và sau 3 ngày thả tỷ lệ này đạt 90% Thí nghiệm với mạ 15 ngày tuổi có xử lýhạt giống bằng Enaldo 40FS cho thấy rầy trưởng thành chết 80% sau 3 ngày thả.Các thuốc nên dùng là Elsin 10EC, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSP, Penalty gold50EC, Bassa 50EC Để bảo vệ cây lúa từ khi gieo đến khi cây 30 ngày tuổi nên
ưu tiên các thuốc nội hấp có tác dụng vừa diệt được rầy trưởng thành di trú vừadiệt được rầy non
Theo Nguyễn Thị Phương Lan (2012), các loại thuốc thương mại có hiệulực trừ rầy lưng trăng tại Hà Nội như Bassa 50EC, Regent 800WP, Actara 25WPvẫn đạt hiệu cao trên 70% vào ngày thứ 7 sau khi xử lý thuốc Nhóm thuốc tổnghợp Penalty golfd 50EC có hiệu lực trừ rầy lưng trắng cao nhất trên 80% ở cácngày thứ 7 và 10 sau thử thuốc Thuốc Butyl 10WP có hiệu quả tăng dần và đạttrên 60% sau 10 ngày phun thuốc
Trang 212.3 Những tồn tại của việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật
Sử dụng thuốc hóa học trừ dịch hại có thể gây ra các tác động xấu đối với sản
xuất nông nghiệp và với môi trường sống:
Các loại thuốc hóa học dù ít hay nhiều đều có hại đối với người, gia súc vàcác hoạt động có ích khác Đối với người, thuốc có thể gây độc cấp tính (mẫnngứa, khó thở, đau mắt có thể gây chết người) và độc mãn tính dẫn đến cácbệnh đau dạ dày, suy nhược thần kinh có thể gây ung thư Theo tổ chức y tế thếgiới (WHO), năm 1987 ở các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia vàThái Lan, tỉ lệ người có sử dụng thuốc trừ sâu bị ngộ độc do thuốc chiếm tới11,9 - 19,4%
Các gia súc, gia cầm và các động vật có ích khác như tôm, cá, ong mật,chim đều có thể bị độc hại bởi thuốc trừ sâu
Tiêu diệt các thiên địch của sâu hại Tác hại to lớn về mặt này do thuốc trừsâu gây ra sẽ được đề cập cụ thể vào phần sau
Làm hình thành các loài sâu chống thuốc Thực tế cho thấy ngày càng cónhiều loài sâu hại chống thuốc làm cho liều lượng thuốc sử dụng phải tăng lên,gây tốn kém và ô nhiễm môi trường Ở nước ta, trường hợp sâu tơ hại rau, sâuxanh da láng hại đậu chống thuốc là những dẫn chứng rất điển hình, đáng phảichú ý.Người ta cũng nhận thấy ở những nơi dùng thuốc trừ sâu nhiều thường làmcho nhện đỏ phát triển trở thành đối tượng gây hại chủ yếu Dùng nhiều thuốc trừ
cỏ 2,4D để diệt cỏ cói, lác và lá rộng sẽ làm cỏ hòa bản phát triển mạnh
Gây hiện tượng tái của dịch hại Có nhiều trường hợp năm đầu sử dụngthuốc hóa học, dịch hạ cói giảm đi Nhưng trong những năm tiếp theo mặc dùlượng thuốc sử dụng nhiều lên nhưng mật độ dịch hại không giảm mà lại tănghơn trước Nguyên nhân của hiện tượng này là do dùng nhiều thuốc hóa học đãgây nên mất cân bằng sinh thái, do thiên địch bị giảm xuống sút, hình thành cácloài dịch hại chống thuốc, kích thích các cá thể còn sống sót sinh sản nhiều hơn.Gây nhiễm độc môi trường sống Thống kê cho thấy không phải tất cảlượng thuốc BVTV được sử dụng đều đạt mục đích diệt sâu hại Theo Lê VănKhoa, có khoảng 50% thuốc trừ sâu phun cho cây bị rơi xuống đất Thuốc trừsâu rơi vào đất sẽ biến đổi theo nhiều hướng: rửa trôi, bay hơi, phân hủy sinhhọc, thực vật hấp thụ Do đó dư lượng thuốc lớn có trong đất canh tác có sửdụng thuốc, trong nước và trong động thực vật cũng vậy Đây là mối đe dọa lớncho sức khỏe con người, vì thuốc trừ sâu đã bị lôi cuốn vào chuỗi thức ăn tựnhiên (Hoàng Trọng Tỷ Nhân, 2006) [12]
Trang 22Để lại dư lượng trong nông sản phẩm Các loại thuốc đều có thể để lại mộtlượng nhất định trong cây trồng trong một thời gian sau khi phun Dư lượng nàytrong nông phẩm có thể làm hại đến sức khỏe của người sử dụng nông phẩm Dưlượng của thuốc, nhất là thuốc nhóm Clo hữu cơ, còn ảnh hưởng đến chất lượngnông sản, gây có mùi khó chịu Ở nước ta, qua kiểm tra gần đây trên các loạirau, đậu bán ở các chợ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều phát hiện dưlượng thuốc trừ sâu rất cao, vượt quá rất nhiều dư lượng tối đa cho phép Hiệntượng người rau mua từ các chợ về bị ngộ độc thuốc trừ sâu đã xảy ra ở nhiều nơi,
có trường hợp bị thiệt mạng Năm 2002, Chi cục Bảo vệ thực vật T.P Hồ ChíMinh kiểm tra 538 mẫu rau ở các chợ trong thành phố phát hiện 67 mẫu (12,45%)
có dư lượng thuốc BVTV cao quá mức cho phép có thể gây ngộ độc cho người ăn(Nguyễn Mạnh Chinh, 2011) [4] Kiểm tra các mẫu rau xanh trong vụ đông xuân,Chi cục BVTV Hà Nội cho biết có hơn 60% mẫu rau có dư lượng thuốc BVTVnhóm Carbamat và vượt ngưỡng cho phép (Trần Khắc Thi, 2009) [16]
Bộ Y tế cho biết, trong hai năm 2001 - 2002 tại các tỉnh phía Nam có hơn
600 trường hợp ngộ độc do ăn rau có hóa chất BVTV phải đi cấp cứu, ngoài ralượng tồn dư không gây ngộ độc cấp tính còn khá phổ biến Kết quả xét nghiệmsữa của 47 bà mẹ đang cho con bú tại một huyện ngoại thành Hà Nội thì có 4trường hợp có dư lượng hóa chất BVTV nhóm lân hữ cơ từ 0,2 - 0,5 mg/lít (TrầnKhắc Thi 2009) [16]
2.4 Đặc điểm các loại thuốc sử dụng trong nghiên cứu
2.4.1 Victory 585EC
Victory 585EC là thuốc trừ sâu hỗn hợp gồm hai hoạt chất Cypermethrin vàChlorpyrifos ethyl Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi và có tácdụng phòng trừ sâu ăn lá, đục thân, đục quả, rầy, rệp hại lúa, ngô, đậu, cây ănquả và cây công nghiệp
Cypermethrin là thuốc kỹ thuật ở dạng đặc, điểm nóng chảy 60 – 80°C,điểm cháy 115,6°C, không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ nhưmethanol, acetone, xylene, methylene dichloride Thuốc tương đối bền trongmôi trường trung tính và acid nhẹ, thủy phân trong môi trường kiềm, không ănmòn kim loại Cypermethrin thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 250 mg/kg,
LD50 qua da 1600 mg/kg Độc với cá, độc với ong Thời gian cách ly với rau ăn
lá 7 ngày, rau ăn quả 3 ngày, bắp cải 14 ngày và hành 21 ngày
Chlorpyrifos ethyl là thuốc kỹ thuật dạng tinh thể màu trắng, điểm nóngchảy 41°C, rất ít tan trong nước (2 ppm ở 25°C), tan trong acetone, benzene,
Trang 23chloroform, ethanol và nhiều dung môi hữu cơ khác Dễ phân hủy trong môitrường kiềm và nhiệt độ cao Chlorpyrifos ethyl thuộc nhóm độc II, LD50 quamiệng 96 – 270 mg/kg, LD50 qua da 2000 mg/kg Tương đối độc với ong và cá.Thời gian cách ly 14 ngày.
2.4.2 Vicondor 50EC
Vicondor 50EC là thuốc trừ sâu với hoạt chất Imidacloprid Thuốc có tácđộng tiếp xúc, vị độc và nội hấp mạnh Khi phun vào cây, thuốc được hấp thunhanh chóng và có tính hướng ngọn Thuốc đặc trị nhóm chích hút như bọ trĩ, bọphấn, rầy mềm, các loại rầy hại lúa; không trừ được nhện đỏ và tuyến trùng.Imidacloprid là thuốc kỹ thuật dạng tinh thể không màu, với một mùi đặctrưng yếu, điểm nóng chảy 144°C, hòa tan trong nước (610mg/l) ở 20°C.Imidaclorid thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 131 – 450 mg/kg, LD50 qua da
>5000 mg/kg Thuốc không độc với cá và ít độc với ong
2.4.3 Penalty 40WP
Penalty 40WP là thuốc trừ sâu hỗn hợp gồm hai hoạt chất Acetamiprid vàBuprofezin Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, xông hơi yếu không lưu dẫn.Thuốc đặc trị rầy nâu, rầy lưng trắng trên lúa
Acetamiprid là thuốc kỹ thuật ở dạng rắn, không màu, không mùi, tan trongnước (4200 mg/l) ở 25°C; dễ tan trong các dung môi acetone, methanol, ethanol,dichloromethane; bền với ánh sáng, thủy phân chậm ở pH=9 và nhiệt độ 45°C.Acetamiprid thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 650 mg/kg, LD50 qua da >
2000 mg/kg, LC50 qua đường thở (3 giờ) trên chuột > 4.90 mg/l khí Độc tínhthấp đối với cá, ít ảnh hưởng đến ong
Buprofezin là thuốc kỹ thuật ở dạng tinh thể màu trắng, nhiệt độ nóng chảy
là 104,5 – 105,51°C; tan trong nước (0,9 mg/l), cloroform (520 g/l), benzen (370g/l), toluen (320 g/l), acetone (240 g/l), ethanol (80 g/l) ở 25°C; bền với nhiệt độ
và ánh sáng Buprofezin thuộc nhóm độc III, LD50 qua miệng 1000 mg/kg,LD550 qua da >5000 mg/kg
2.4.4 Wofara 300WG
Wofara 300WG là thuốc trừ sâu hỗn hợp gồm hai hoạt chất Thiamethoxam
và Imidacloprid Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn Thuốc Trừ đượcnhiều loại sâu chích hút, đục thân, ăn lá, đặc biệt là rầy, rệp
Trang 24Thiamethoxam là thuốc kỹ thuật ở bột lkết tinh không màu, tan trong nước(4,1 g/l) ở 25°C; bền với nhiệt độ và ánh sáng Thiamethoxam thuộc nhóm độcIII, LD50 qua miệng 1563 mg/kg.
Imidacloprid là thuốc kỹ thuật dạng tinh thể không màu, với một mùi đặctrưng yếu, điểm nóng chảy 144°C, hòa tan trong nước (610 mg/l) ở 20°C.Imidaclorid thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 131 – 450 mg/kg, LD50 qua da
>5000 mg/kg Thuốc không độc với cá và ít độc với ong
Trang 25PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa TN1 dùng làm thức ăn để nhân nuôi rầy;
- Các loại rầy hại lúa;
- Các giống lúa gieo trồng phổ biến tại ;
- Các loại thuốc BVTV trừ rầy hại lúa (Bảng 3.1).
Bảng 3.1 Các loại thuốc sử dụng trong nghiên cứu
Cơ chế tác động
1 Victory 585EC Cypermethrin
Chlorpyrifos ethyl
Công ty CPBVTV 1Trung ương
Vị độc, tiếp xúc vàxông hơi cựcmạnh, kéo dài
2 Vicondor 50EC Imidacloprid
Công ty CPthuốc sát trùngViệt Nam
Tiếp xúc, vị độc vànội hấp mạnh
Buprofezin
Công tyTNHH ADC
Tiếp xúc, vị độc,xông hơi yếukhông lưu dẫn
Imidacloprid
Công ty CPvật tư BVTV
Hà Nội
Tiếp xúc, vị độc vàlưu dẫn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Thời gian:
- Thí nghiệm trong phòng: từ tháng 3 đến tháng 5 năm
- Thí nghiệm nhà lưới và điều tra rầy trên đồng ruộng: vụ Hè Thu
* Địa điểm:
- Phường …., tỉnh ;
- Nhà lưới … ;
Trang 26- Phòng thí nghiệm
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần, mức độ phổ biến và diễn biến rầy hại lúa trên cácgiống lúa phổ biến trong vụ Hè Thu tại ;
- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng trong phòng thínghiệm và nhà lưới
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Phương pháp điều tra rầy hại lúa
- Mỗi giống lúa tiến hành điều tra 3 ruộng, mỗi ruộng điều tra 5 điểm ngẫu
nhiên Điều tra thành phần và mật độ các loài rầy theo các giai đoạn sinh trưởng,phát triển của cây lúa [1]
- Điều tra rầy có trong khung 40cm x 50cm (0,2m2), đếm số rầy có trong khung.Nếu mật độ rầy lớn ta dùng khay đếm rầy Sau đó, tính toán mật độ rầy (con/m2) vàđiều tra mức độ phổ biến Để tính được mật độ rầy ta sử dụng công thức:
* Đối với mạ, lúa gieo thẳng đếm trực tiếp
Mật độ rầy(con/m2) = Tổng số rầy điều tra [ 2]
- Phân cấp mức độ nhiễm rầy
Bảng 3.2 Phân cấp mức độ nhiễm rầy [2]
Mức độ nhiễm Rầy (con/m 2 ) Ổ trứng rầy (ổ/m 2
Mất trắng Giảm trên 70% năng suất (dùng để thống kê cuối
các đợt dịch hoặc cuối mỗi vụ sản xuất)
Trang 273.4.2 Phương pháp thử nghiệm hiệu lực các loại thuốc trừ rầy trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp thu thập và nhân nuôi quần thể rầy lưng trắng: Rầy lưng
trắng được thu thập và nhân nuôi theo phương pháp của IRRI Sử dụng ống hútrầy chuyên dụng để thu rầy non về phòng thí nghiệm và nuôi trong lồng nuôi cóchứa khay mạ 10 - 15 ngày tuổi Tiến hành tách quần thể theo tuổi rầy ra cáclồng nuôi khác nhau Theo dõi hàng ngày rầy lưng trắng lột xác để tiếp tục ghépđôi phục vụ cho việc nhân nuôi Quan sát và thay thức ăn hằng tuần cho cáclồng nuôi khi thấy mạ héo Sau khi nuôi ít nhất qua 2 thế hệ, rầy được sử dụng
để tiến hànhthí nghiệm đánh giá
- Phương pháp gieo mạ nuôi rầy: Lúa giống TN1 được ngâm no nước (48
giờ), sau đó rửa sạch và được ủ đến khi mầm dài bằng 2/3 hạt lúa, rễ dài bằng 1/3hạt lúa (ngày ngâm, đêm ủ, trong 2 đêm) thì đem gieo Gieo mạ vào khay có kíchthước 32x24cm (để vừa lồng nhỏ nuôi rầy) khi đó có một lớp đất dày 1 cm trongkhay, sau khi gieo phủ 1 lớp đất mỏng 0,5cm Lúa được 10 - 15 ngày tuổi dùng đểnuôi rầy
Gieo 3 cây lúa vào ly nhựa đã có đất trộn phân hữu cơ, lúa được 20 ngàytuổi ta tiến hành làm thí nghiệm trong nhà lưới
Gieo 15 cây lúa vào xô nhựa (gieo theo 5 điểm, mỗi điểm 3 cây) đã có đấttrộn phân hữu cơ, lúa đến giai đoạn làm đòng ta tiến hành làm thí nghiệm trongnhà lưới
- Chuẩn bị nồng độ thuốc: Mỗi loại thuốc đề được thí nghiệm với 4 công
thức là các nồng độ khác nhau và 1 công thức đối chứng Trong đó:
+ Công thức I: Đối chứng (không phun)
+ Công thức II: 1% nồng độ khuyến cáo
+ Công thức III: 2% (gấp đôi nồng độ khuyến cáo)
+ Công thức IV: 3% (gấp ba nồng độ khuyến cáo)
Các loại thuốc thử nghiệm trên rầy tuổi 1, 2; sử dụng thức ăn là mạ 20 ngàytuổi (trong ly nhựa) và lúa giai đoạn làm đòng (trong xô nhựa)
- Xử lý thuốc: Nuôi quần thể rầy lưng trắng thu thập ngoài đồng ruộng ít
nhất qua 2 thế hệ, sau đó chọn các cá thể rầy từ quần thể đã thuần hóa để nuôisinh học cho ra rầy non tuổi 1, 2 (rầy cám) Rầy cám được thả vào cốc có 3 cây
mạ 20 ngày tuổi được bịt kín bởi các ống parafilm, đầu có bọc vải màng đảm
Trang 28bảo độ thoáng khí, thả rầy với mật độ 5 con/ly Sau khi thả rầy 1 ngày tiến hành
xử lý thuốc, mỗi nồng độ thuốc lặp lại 5 lần
- Thời gian đánh giá và chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi số lượng rầy lưng trắng
sống ở các công thức thí nghiệm ở các công thức thí nghiệm vào thời điểm 12,
24, 36, 48, 60, 72 giờ sau xử lý thuốc để đánh giá hiệu lực % của thuốc
- Đối với thí nghiệm trong phòng (lúa trồng trong ly nhựa, 20 ngày tuổi),hiệu lực của các loại thuốc được tính toán theo công thức Abbott:
Trong đó:
H (%): là hiệu lực của thuốc (tính theo phần trăm);
Ca: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức đối chứng sau xử lý;
Ta: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức sau xử lý
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc trong nhà lưới
Sau khi thử nghiệm hiệu lực của các loại thuốc ở các nồng độ xử lý khácnhau đã chọn nồng độ thích hợp của từng loại thuốc (Bảng 3.3) có hiệu quả trừrầy lưng trắng đạt > 80% để tiếp tục đánh giá hiệu lực trừ rầy hại lúa tại hai thờiđiểm là rầy cám và rầy trưởng thành ở giai đoạn lúa làm đòng
Bảng 3.3 Nồng độ xử lý các loại thuốc trừ rầy lung trắng
- Xử lý thuốc: Chuẩn bị các xô nhựa đã có sẵn 5 cây lúa giai đoạn làm đòng
để tiến hành lây nhiễm rầy cám và rầy trưởng thành, mỗi công thức lặp lại 3 lần.Sau đó 1 ngày tiến hành phun thuốc lên cây lúa Sử dụng bình bơm dung tích500ml, lượng nước pha thuốc lá 300ml
Trang 29- Thời gian và chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi số lượng rầy lưng trắng sống ở các
công thức thí nghiệm vào thời điểm 1, 3, 5, 7 ngày sau xử lý thuốc để đánh giá hiệulực (%) của các loại thuốc theo công thức Henderson - Tilton
- Đối với thí nghiệm ở nhà lưới (lúa trồng trồng trong xô nhựa, giai đoạn làmđòng), hiệu lực của các loại thuốc được tính toán theo công thức Henderson –Tilton:
Trong đó:
H (%): là hiệu lực của thuốc (tính theo phần trăm);
Ta: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức xử lý thuốc sau xử lý;
Tb: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức xử lý thuốc trước xử lý;
Ca: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức đối chứng sau xử lý;
Cb: là số lượng cá thể rầy sống ở công thức đối chứng trước xử lý
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều tra diễn biến rầy hại ở lúa trên đồng ruộng trong vụ Hè Thu tại
Khí hậu nóng, ẩm và nhiều mưa ở Thừa Thưa Huế là điều kiện thuận lợicho rầy phát sinh gây hại Thực tế sản xuất đã xảy ra các đợt bùng phát rầythường xuyên ở các , , Từ năm 2009 đến nay, sự gây hại của rầy lưngtrắng càng nguy hiểm hơn bởi sự xuất hiện đồng thời của dịch hại kép rầy lưngtrắng - lùn sọc đen trên lúa
Qua quá trình điều tra mức độ gây hại của rầy nâu và rầy lưng trắng trong
vụ Hè Thu chúng tôi thu được kết quả ở Bảng 4.1 về mức độ phổ biến củacác loại rầy gây hại như sau
Bảng 4.1 Thành phần, mức độ phổ biến và tỷ lệ các loài rầy trên đồng ruộng
Làm
Đẻnhánh
Ghi chú: RN: Rầy nâu; RLT: Rầy lưng trắng
Qua kết quả Bảng 4.1 cho thấy rằng tại các điểm điều tra rầy bắt đầu xuấthiện trong giai đoạn đẻ nhánh, xuất hiện nhiều nhất trong giai đoạn trổ vàgiai đoạn chín
Ở , mức độ phổ biến của rầy nâu, rầy lưng trắng như nhau, thấp nhất ởgiai đoạn đẻ nhánh, cao nhất ở giai đoạn trổ và đây cũng là giai đoạn gây ảnhhưởng nghiệm trọng nhất khi không phát hiện và phun thuốc kịp thời Qua quátrình điều tra, thu thập kết quả đếm số lượng rầy trên đồng ruộng cho thấy tỷ lệ(%) rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu ở các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Trang 31Trong giai đoạn đẻ nhánh rầy lưng trắng chiếm 62,5%, trong khi rầy nâu chỉchiếm 37,5%, tương tự trong giai đoạn làm đồng, trổ và chín, rầy lưng trắngcũng cao hơn rầy nâu lần lượt là 53,89%; 63,53% và 51,88% trong khi rầy nâuchỉ chiếm 46,11%; 36,47% và 48, 12%.
Ở , mức độ phổ biến của rầy nâu cao nhất ở giai đoạn chín và thấp nhất
ở giai đoạn đẻ nhánh Trong khi đó, mức độ phổ biến của rầy lưng trắng caonhất ở giai đoạn trổ và thấp nhất ở giai đoạn đẻ nhánh Tỷ lệ (%) rầy lưng trắngcao hơn rầy nâu ở giai đoạn làm đòng (68,09%) và trổ (76,24%) Trong khi đógiai đoạn đẻ nhánh và chín thì rầy lưng trắng có tỷ lệ thấp hơn so với rầy nâu là62% và 85%
Ở , mức độ phổ biến của rầy nâu cao nhất ở giai đoạn trổ và thấp nhất ởgiai đoạn đẻ nhánh Trong khi đó, mức độ phổ biến của rầy lưng trắng cao nhất
ở giai đoạn chín và thấp nhất ở giai đoạn đẻ nhánh Qua kết quả điều tra chothấy, Tỷ lệ (%) hai lại rầy khác hẳn hoàn toàn so với hai địa điểm điều tra ởtrên Mật độ rầy nâu cao gấp đôi so với rầy lưng trắng ở tất cả các giai đoạn sinhtrưởng, phát triển của cây lúa
Các kết quả này phù hợp với các nghiên cứu gần đây cũng như báo cáo củachi cục BVTV về sự xuất hiện và gây hại của rầy, đặc biệt là rầy lưng trắng ngàycàng chiếm ưu thế trên đồng ruộng
4.1.1 Diễn biến rầy nâu hại lúa trên đồng ruộng trong vụ Hè Thu tại
Trong những năm gần đây, tình hình biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt,kèm theo đó là các thiên tai hạn hán, lũ lụt, các loại dịch hại cũng xuất hiện vớitần suất dày hơn và nghiêm trọng hơn Mức độ và thành phần của các loài cũngdiễn biến phức tạp hơn Qua quá trình điều tra diễn biến gây hại của rầy nâu vàrầy lưng trắng trong vụ Hè Thu chúng tôi thu được kết quả ở Bảng 4.2 vàBảng 4.3 như sau:
Trang 32Bảng 4.2 Diễn biến mật độ rầy nâu trên các giống lúa
Đơn vị: con/m 2
Địa điểm
điều tra Giống lúa
Giai đoạn sinh trưởng
Qua Bảng 4.2 cho thấy:
Ở trong giai đoạn mạ chưa thấy có sự xuất hiện của rầy nâu trên đồngruộng, rầy bắt đầu xuất hiện ở đẻ nhánh, kết quả điều tra cho thấy trong giai đoạn
đẻ nhánh, làm đòng và chín giữa hai giống điều tra có số lượng rầy không có sự saikhác nhau về mặt thống kê, mật độ rầy trong các giai đoạn này ở mức thấp Riêngtrong giai đoạn trổ số lượng rầy nâu ở giống HT1 có mật độ rầy cao gần gấp đôi sốlượng rầy đếm được ở giống Khang dân, số lượng rầy giữa các giống có sự saikhác nhau có ý nghĩa ở mức P<0,05
Tương tự tại và cho thấy rầy bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đẻnhánh, và phát triển mạnh nhất trong giai đoạn trổ và chín Tại , giai đoạnchín số lượng rầy ở hai giống lúa điều tra cho thấy có sự sai khác nhau về mặtthống kê, còn các giai đoạn trước đó không có sự sai khác ý nghĩa thống kê.Giống HT1 có mật độ rầy cao hơn Tại , giống 4B là giống được bà con nôngdân trồng phổ biến cùng với giống Khang dân và HT1 Tuy nhiên kết quả điềutra cho thấy mật độ rầy nâu ở giống lúa Khang dân thấp hơn so với giống 4B vàHT1, đặc biệt là trong giai đoạn trổ và chín Trong đó giống 4B có mật độ rầycao nhất, tiếp đến là HT1 và cuối cùng giống lúa có mật độ rầy thấp nhất làKhang dân Từ đó có thể cho thấy giống Khang dân ít nhiễm rầy hơn so vớigiống lúa HT1 và B4
Trang 334.1.2 Diễn biến rầy lưng trắng hại lúa trên đồng ruộng trong vụ Hè Thu tại
Bảng 4.3 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các giống lúa
Đơn vị tính: con/m2
Địa điểm
điều tra Giống lúa
Giai đoạn sinh trưởng
Trong những năm trở lại đây, tình hình gây hại của rầy lưng trắng xuấthiện nhiều hơn, gây hại nặng cho các vùng trồng lúa trong cả nước nói chung
và nói riêng Kết quả thu thập ở Bảng 4.3 cho thấy, tình hình gây hạicủa rầy lưng trăng tương tự với rầy nâu, mật độ rầy ở mức thấp và bắt đầu xuấthiện từ giai đoạn đẻ nhánh, rãi rác trong các giai đoạn làm đồng, trổ và chín.Tại và trên giống lúa Khang dân rầy chỉ bắt đầu xuất hiện trong giai đoạnlàm đồng, còn trước đó giai đoạn đẻ nhánh chưa thấy xuất hiện, điều đó cũngcho thấy rầy nâu xuất hiện sớm hơn so với rầy lưng trắng Mật độ rầy cao hơntrong giai đoạn trổ và chín, giữa các giống điều tra số lượng rầy có sự sai khácnhau về mặt thống kê khi phân tích số liệu Và giống HT1 có mật độ rầy cao hơn
so với giống Khang dân và giống 4B (chỉ sản xuất tại ) Sự phát triển của rầy
ở mức thấp ít gây hại đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa của bà connông dân
Trang 344.2 Hiệu lực của các loại thuốc đối rầy lưng trắng trong phòng thí nghiệm
4.2.1 Hiệu lực của Victory 585EC đối với rầy lưng trắng
Bảng 4.4 Hiệu lực của thuốc Victory 585EC đối với rầy lưng trắng
IV 3,00 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 0,00
-Ghi chú: *Liều lượng khuyến cáo; Các chữ cái in hoa thể hiện sự sai khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một cột; các chữ cái in thường thể hiện
sự sai khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một dòng.
Qua Bảng 4.4 cho thấy, thuốc Victory 585EC phát huy tác dụng ngay saukhi phun 12 giờ, hiệu lực % lên đến 91 - 100% ở các nồng độ 1 - 3% Bởi vì cơchế tác động của thuốc có tác động vị độc, tiếp xúc và xông hơi cực mạnh, kéodài, nên hiệu lực rất cao trong trừ rầy lưng trắng Hiệu lực trừ rầy giữa các nồng
độ xử lý thuốc không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) Tiếp tụctheo dõi thí nghiệm tới 24 giờ hiệu lực vẫn tiếp tục tăng từ 95 -100% Sau 36giờ, 48 giờ và 72 giờ hiệu lực trừ rầy đều đạt 100% ở tất cả các nồng độ xử lý
Đồ thị 4.1 thể hiện rõ động thái gây chết của thuốc ở các nồng độ tại các thờiđiểm khác nhau sau khi xử lý
Trang 35Đồ thị 4.1 Hiệu lực của thuốc Victory 585EC đối với rầy lưng trắng
4.2.2 Hiệu lực của Vicondor 50EC đối với rầy lưng trắng
Bảng 4.5 Hiệu lực của thuốc Vicondor 50EC đối với rầy lưng trắng
Trang 36
Đồ thị 4.2 Hiệu lực của thuốc Vicondor 50EC đối với rầy lưng trắng
Qua Bảng 4.5 cho thấy, thuốc Vicondor 50EC phát huy tác dụng có hiệuquả cao với rầy lưng trắng ngay sau khi xử lý thuốc 12 giờ, hiệu lực đạt 84 - 96%.Hiệu lực trừ rầy giữa các nồng độ xử lý thuốc không có sự sai khác có ý nghĩa vềmặt thống kê (P<0,05) 24 giờ trở về sau, hiệu lực trừ rầy đều đạt 100% ở tất cả cácnồng độ xử lý, cho thấy hiệu lực của thuốc rất lớn Đồ thị 4.2 thể hiện rõ động tháigây chết của thuốc ở các nồng độ tại các thời điểm khác nhau sau khi xử lý
4.2.3 Hiệu lực của Penalty 40WP đối với rầy lưng trắng
Bảng 4.6 Hiệu lực của thuốc Penalty 40WP đối với rầy lưng trắng
IV 3,00 92,00Ab 100,00Aa 100,00Aa 100,00Aa 100,00Aa 100,00Aa 1,82
Trang 37Ghi chú: *Liều lượng khuyến cáo; Các chữ cái in hoa thể hiện sự sai
khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một cột; các chữ cái in thường thể hiện
sự sai khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một dòng.
Đồ thị 4.3 Hiệu lực của thuốc Penalty 40WP đối với rầy lưng trắng
Qua Bảng 4.6 cho thấy:
Ở thời điểm 12 giờ sau khi xử lý thuốc, giữa các nồng độ, 1, 2 và 3%không có sự khác khác về mặt thống kê (P<0,05), tỷ lệ chết của rầy lưng trắngdao động trong khoảng từ 60 - 92%
Sau 24 giờ, hiệu lực trừ rầy lưng trắng của thuốc Penalty 40WP đã tănglên Trong đó hiệu lực của nồng độ 3% đạt đến 100% và có sự sai khác ý nghĩa
về mặt thống kê (P<0,05) so với nồng độ từ 1% (72%) nhưng lại không có sự
sai khác với nồng độ 2% (92%)
Sau 36 giờ, hiệu lực trừ rầy ở nồng độ 1% là 84%, ở nồng độ 2% là 96%
và không có sự khác khác về mặt thống kê giữa các công thức xử lý thuốc(P<0,05)
Sau 48 giờ, hiệu lực trừ rầy ở nồng độ 2% và 3% đều đã đạt 100%, tuynhiên không có sự sai khác có ý nghĩa với nồng độ 1% (86%) về mặt thống kê(P<0,05)
Sau 60 giờ, hiệu lực trừ rầy đều đạt 100% ở tất cả các nồng độ xử lý Đồthị 4.3 thể hiện rõ động thái gây chết của thuốc ở các nồng độ tại các thời điểmkhác nhau sau khi xử lý
Trang 384.2.4 Hiệu lực của Wofara 300WP đối với rầy lưng trắng
Bảng 4.7 Hiệu lực của thuốc Wofara 300WP đối với rầy lưng trắng
IV 3,00 92,0Ab 96,0Aab 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 100,0Aa 3,02
Ghi chú: *Liều lượng khuyến cáo; Các chữ cái in hoa thể hiện sự sai
khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một cột; các chữ cái in thường thể hiện
sự sai khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một dòng.
Đồ thị 4.4 Hiệu lực của thuốc Wofara 300WP đối với rầy lưng trắng
Qua Bảng 4.7 cho thấy:
Thời gian 12 giờ sau khi phun, hiệu lực của Wofara 300WP ở nồng độ3% là cao nhất (92%) và có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê với nồng độ1% (54%), nhưng lại không có sự sai khác với nồng độ 2% (79%) (P>0,05)
Trang 39Sau 24 giờ, hiệu lực đã tăng lên và dao động từ 67 - 96% và không có sựsai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các công thức (P<0,05).
Sau 36 giờ, hiệu lực trừ rầy lưng trắng của thuốc Wofara 300WP ở nồng
độ 3% đã đạt đến 100%, tiếp đến là nồng độ 2% (91%) và nồng độ 1% (68%).Tuy nhiên không có sự sai khác ý nghĩa về mặt thống kê giữa các công thức
(P<0,05).
Sau 48 giờ, hiệu lực trừ rầy ở nồng độ 1% là 75%, ở nồng độ 2% là 90%
và không có sự khác khác về mặt thống kê giữa các công thức xử lý thuốc(P<0,05)
Sau 60 giờ, hiệu lực trừ rầy ở nồng độ 2% và 3% đều đã đạt 100%, tuynhiên không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê với nồng độ 1% ở cả haithời điểm là 60 giờ (80%) và 72 giờ (85%) (P<0,05) Đồ thị 4.4 thể hiện rõ độngthái gây chết của thuốc ở các nồng độ tại các thời điểm khác nhau sau khi xử lý
4.3 Đánh giá hiệu lực các loại thuốc trừ rầy lưng trắng trong nhà lưới
Sau khi thử nghiệm hiệu lực của các loại thuốc ở các nồng độ xử lý khácnhau thì tôi đã chọn nồng độ thích hợp của từng loại thuốc (Bảng 3.1) có hiệuquả trừ rầy lưng trắng đạt > 80% để tiếp tục đánh giá hiệu lực trừ rầy hại lúa tạihai thời điểm là rầy cám và rầy trưởng thành ở giai đoạn lúa làm đòng
Đối với thuốc Victory 585 EC và Vicondor 50EC tôi chọn nồng độ 1% vìsau 12 giờ thì hiệu lực trừ rầy đạt 100% Mặt khác sử dụng theo nồng độ khuyếncao nhằm không gây ảnh hưởng đến môi trường và con người
Đối với thuốc Penalty 40WP và Wofara 300WP tôi chọn nồng độ 2% vìsau 36 giờ thì hiệu lực trừ rầy đạt 100% Mặt khác đối với nồng độ 1% sau 48giờ hiệu lực trừ rầy đạt 100%, thời gian đạt hiệu lực chậm dẫn đến gây hại sựsinh trưởng và phát triển của cây lúa, làm giảm năng suất chất lượng Bên cạnh
đó, nếu kéo dài thời gian thì dễ bùng phát dịch hại trên diện rộng Đối với nồng
độ 3% sau 12 giờ thì hiệu lực trừ rầy đạt 100% Mặc dù thời giạn đạt hiệu lựcnhanh nhưng dễ gây tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng đến môi trường vàcon người, tốn kinh phí và dễ gây tình trạng kháng thuốc Kết quả nghiên cứu vềhiệu lực của các loại thuốc với rầy non và rầy trưởng thành chúng tôi thu đượckết quả ở Bảng 4.8 và Bảng 4.9, Đồ thị 4.5 và Đồ thị 4.6 Thể hiện hiệu lực xử
lý thuốc theo thời gian đối với từng loại thuốc và từng loại loại rầy khác nhau
Trang 40Bảng 4.8 Hiệu lực của các loại thuốc đối với rầy non
Đơn vị tính: %
Loại thuốc
Nồng độ
xử lý (%)
Thời gian sau khi xử lý thuốc (ngày)
Ghi chú: *Liều lượng khuyến cáo; Các chữ cái in hoa thể hiện sự sai
khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một cột; các chữ cái in thường thể hiện
sự sai khác ý nghĩa ở mức P<0,05 trong cùng một dòng.
Đồ thị 4.5 Hiệu lực của các loại thuốc trừ rầy lưng trắng tại thời điểm rầy non
Qua Bảng 4.8 cho thấy, nhìn chung 4 loại thuốc đã được lựa chọn để tiếnhành thí nghiệm thử hiệu lực thuốc trừ rầy lưng trắng hại lúa ở giai đoạn cây lúalàm đòng đều có hiệu quả khá cao Khi rầy non chiếm tỷ lệ lớn trên đồng ruộng
ở giai đoạn lúa làm đòng, các thuốc có hiệu quả cao vào khoảng và trên 85% làVictory 585EC, Vicondor 50EC, Penalty 40WP và Wofara 300WG Trong cùngngày điều tra cho thấy thuốc Victory 585EC có hiệu lực cao hơn so với các loại