luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi là một trong những bộ phận cấu thành nền nông nghiệp nước ta Nó
có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu con người, gópphần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, khai thác nguồn lực ở nông thôn Trong đóphải kể đến chăn nuôi lợn, nó chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi, góp phầncung cấp thực phẩm cho con người, tạo công ăn việc làm, khai thác nguồn lực ở nôngthôn, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu cho các nông hộ, ngoài rachăn nuôi lợn còn cung cấp phân bón phục vụ cho ngành trồng trọt Chăn nuôi lợn làmột ngành có từ lâu đời, kéo theo thói quen sử dụng thịt lợn trong các bữa ăn chínhcủa người dân nước ta và các nước trên thế giới Do đó phát triển chăn nuôi lợn có tácđộng đến kinh tế - chính trị - xã hội trong nông thôn ở nước ta
Lam Sơn là một xã có vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm của vùng Bạch Ngọc.Người dân có trình độ học vấn khá cao nên trong nhiều năm qua đời sống của ngườidân đã được nâng cao đáng kể Tuy nhiên, chăn nuôi của xã nói chung và chăn nuôilợn nói riêng thì chưa thực sự phát triển, quy mô nhỏ lẻ, còn mang tính tự phát, lấycông làm lãi, chưa thực sự mạnh dạn đầu tư về vốn, khoa học kĩ thuật, nhân lực nên lợinhuận còn thấp Đầu ra sản phẩm lợn thịt còn nhiều vấn đề như: giá lợn hơi thì rẻ,trong khi giá thịt lại đắt, hầu hết sản phẩm chăn nuôi của người dân đều phụ thuộcphần lớn vào khả năng tiêu thụ của những người thu gom nhỏ ở địa phương nên hiệntượng ép giá xảy ra Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho giết mổ còn hạn chế, trên địabàn xã chỉ có một lò giết mổ tập trung nhưng các hộ không đưa đến đó mà tự giết mổ
ở nhà Do đó, công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm gặp không ít khó khăn Ý thứctrong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của những chủ thu gom - giết mổ cònhạn chế nên đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thịt Việc tiếp cận thông tin thịtrường của người nông dân còn rất hạn chế Quan hệ hợp tác giữa người dân và ngườithu gom - giết mổ không chặt chẽ, mặt khác sự thông đồng về giá của những người thugom gây bất lợi cho hộ nuôi trong việc bán sản phẩm mình làm ra
Những vấn đề trên đặt ra một nhu cầu khách quan là cần có nghiên cứu về vấn
đề chăn nuôi và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn xã Lam Sơn, làm cơ sở cho việc đề xuất
Trang 2các giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi cũng như thị trường tiêu thụ lợn thịt trên địabàn xã.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài “ Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn xã Lam sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” làm đề tài khóa
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụlợn thịt
- Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn
- Đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn xã dưới góc độphân tích, đánh giá chuỗi cung
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng tiêuthụ lợn thịt trên địa bàn xã
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế trong chăn nuôi và tiêu thụlợn thịt của các hộ gia đình nông dân Bao gồm các thành phần chủ yếu: nhà cung cấpdịch vụ đầu vào (giống, thức ăn, thú y ), hộ nông dân chăn nuôi lợn, người chuyênthu gom - giết mổ ở địa phương, người chuyên bán lẻ
Trang 3Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng để nghiên cứu các hiện tượng trong mốiquan hệ tác động qua lại lẫn nhau
- Phương pháp điều tra chọn mẫu
+ Số liệu sơ cấp: để có đủ thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đãtiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp theo bảng hỏi cho trước Cụ thể tôi
đã phỏng vấn: 50 hộ chăn nuôi lợn trong xã; 10 hộ chuyên thu gom - giết mổ - bán lẻ;
3 hộ chuyên thu gom - giết mổ - bán sỉ - bán lẻ và 3 hộ chuyên bán lẻ
+ Số liệu thứ cấp: số liệu thứ cấp được thu thập tại UBND xã Lam sơn (cụ thể ởphòng phụ trách kinh tế, phòng địa chính), ngoài ra số liệu trong đề tài còn được thuthập thông qua sách, báo, internet
- Phương pháp thống kê kinh tế: kết hợp với các phương pháp khác, phươngpháp thống kê được sử dụng để phục vụ cho việc thu thập, tổng hợp và phân tích cácthông tin, số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống
- Phương pháp sơ đồ: Sử dụng sơ đồ trong đề tài để mô tả các kênh tiêu thụ lợnthịt từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
- Phương pháp phân tích chuỗi cung để phân tích chuỗi quá trình tiêu thụ lợnthịt từ người cung ứng các yếu tố đầu vào đến người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế
Ngày nay, bất kì là sản xuất trên lĩnh vực nào thì hiệu quả kinh tế luôn được coitrọng và là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của các doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế phảnánh chất lượng hiệu quả sản xuất, đo lường trình độ quản lý, trình độ tổ chức đồng thời
là cơ sở tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Mọi nỗ lực trong sản xuất kinhdoanh đều nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh tế nhằm thu đượcnhiều lợi nhuận hơn GS.TS Ngô Đình Giao (Kinh tế học vi mô - Nhà xuất bản giáodục Hà Nội, 1997) cũng có viết: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sựlựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý củanhà nước” Vậy hiệu quả kinh tế là gì?
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Ở mỗi góc độ, mỗi quanđiểm có một cách nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế
là sự so sánh giữa kết quả đạt được và toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Theo T.S Nguyễn Tiến Mạnh thì: hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế kháchquan phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được những mục tiêu xác định.Còn Farell (1957) và một số nhà kinh tế khác như Schultz (1964), Rizzo (1979), Ellis(1993) thì cho rằng: hiệu quả kinh tế được xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạtđược và chi phí bỏ ra (gồm nhân tài, vật lực và tiền vốn ) để đạt được kết quả đó Cáchọc giả trên đều cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạtđược hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối Điều đó có nghĩa là khi tiến hành xemxét việc sử dụng các yếu tố nguồn lực phục vụ sản xuất chúng ta phải tính đến cả haiyếu tố hiện vật và giá trị
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phíđầu vào hay nguồn lực được sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về nguồn lựchay công nghệ áp dụng Hiệu quả kỹ thuật chủ yếu xem xét về mặt vật chất của quátrình sản xuất, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực được đưa vào sản xuất có khả năngcho thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Trang 5Hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả về giá) là chỉ tiêu hiệu quả trong
đó cả yếu tố giá sản phẩm và giá các yếu tố đầu vào được tính đến để phản ánh giá trịsản phẩm thu thêm được trên một đồng chi phí về đầu vào hay nguồn lực được sửdụng Thực chất của hệu quả phân phối là hiệu quả kỹ thuật có tính đến giá của cácyếu tố đầu vào, giá sản phẩm bán ra Hay nói cách khác, trên cơ sở giá cả các yếu tốđầu vào, giá cả sản phẩm bán ra để phân bổ các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ hợp lý để tối
đa hóa lợi nhuận thu được Tức là giá trị biên của sản phẩm sản xuất ra phải bằng giátrị biên của các nguồn lực sử dụng vào sản xuất
1.1.2 Lí luận về thị trường tiêu thụ nông sản
1.1.2.1 Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ là tất cả các hoạt động có liên quan đến sự lưu chuyển hàng hóa vàdịch vụ từ tay người cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn nhu cầu củangười tiêu dùng thông qua trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
Thực chất của tiêu thụ sản phẩm là quá trình người sản xuất thực hiện các trunggian hoặc trực tiếp giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuốicùng, đồng thời tạo doanh thu thông qua việc thu tiền hoặc nhận quyền thu tiền hànghóa, dịch vụ đã bán
1.1.2.2 Đặc điểm của thị trường nông sản
Thị trường nông sản có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Sản phẩm nông nghiệp phần lớn là những sản phẩm tự nhiên hoặc có nguồngốc tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, trong đó chủ yếu là lương thực
và thực phẩm
- Sản phẩm của nông nghiệp thường dễ bị hư hỏng và giá cả thường xuyên biếnđộng Do vậy để hạn chế những rủi ro này cần chính sách gắn sản xuất với chế biến vàxây dựng các kho bãi dự trữ để tránh biến động giá
- Trong nông nghiệp ngoài sản phẩm được đưa ra cung ứng trên thị trường, còn
có một số sản phẩm được giữ lại làm tư liệu sản xuất cho quá trình sản xuất tiếp theo
- Việc cung ứng sản phẩm nông nghiệp ra thị trường luôn mang tính thời vụ khácao Vào thời kì chính vụ thì lượng sản phẩm cung ứng ra thị trường là rất lớn, khi đó
Trang 6giá cả xuống thấp, nhưng đến thời kì trái vụ giá lên cao nhưng nguồn cung cấp gầnnhư đã không còn.
- Chi phí marketing cho sản phẩm nông nghiệp cao Điều này là do chịu ảnhhưởng của: cở sở hạ tầng, dịch vụ vận chuyển, công nghệ bảo quản, chế biến
- Việc quảng cáo, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp là rấtkhó vì chi phí lớn và cần một khoảng thời gian dài Chính vì vậy để làm được điều nàythì cần có sự phối hợp giữa nhà nước với hộ nông dân
1.1.3 Khái niệm về chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung là một chuỗi những quá trình mà nó cung cấp hàng hóa từngười này sang người khác Một chuỗi cung là một mạng lưới của những sự lựa chọn
từ việc sản xuất đến việc phân phối Chúng bao gồm những chức năng: mua sắm vật
tư, vận chuyển những vật tư này đến các sản phẩm trung gian và sản phẩm tiêu dùngcuối cùng và phân phối những sản phẩm cuối cùng này đến tay người tiêu dùng
Một chuỗi cung sản phẩm nông nghiệp mang tính tổng quát được thể hiện ở sơ
đồ 1 Tùy từng loại sản phẩm, thị trường tiêu thụ khác nhau mà chuỗi cung sản phẩmnông nghiệp có thể dài hơn hoặc ngắn hơn chuỗi cung tổng quát ở sơ đồ 1 Thôngthường chuỗi cung ở thị trường thành thị thường dài hơn so với thị trường nông thôn
Ví dụ như, sản phẩm rau tiêu thụ ở thị trường nông thôn thì chuỗi cung chỉ có các tácnhân: nhà cung cấp dịch vụ đầu vào, người sản xuất (hộ nông dân), người tiêu dùngcuối cùng, nhưng cũng là sản phẩm rau nhưng tiêu thụ ở thị trường thành phố thì nó cóthể có thêm một số tác nhân như: người mua gom, người bán lẻ; hay nếu sản phẩmnông nghiệp là tôm nuôi xuất khẩu thì có thêm tác nhân đó là nhà xuất khẩu, nhà nhậpkhẩu, người tiêu dùng nước ngoài
Trang 7Sơ đồ 1: Chuỗi cung sản phẩm nông nghiệp
Như vậy, thực chất của việc phân tích chuỗi cung là việc phân tích chuỗi quátrình tiêu thụ sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Một chuỗi cung về bản chất có 3 phần chính: cung cấp, sản xuất và phân phối
- Cung tập trung vào: bằng cách nào, từ đâu và khi nào vật tư được mua và cungcấp tới các nhà sản xuất
- Các nhà sản xuất biến đổi những vật tư này thành các sản phẩm cuối cùng
- Việc phân phối đảm bảo rằng những sản phẩm cuối cùng này sẽ được đưa tớinhững khách hàng cuối cùng thông qua một mạng lưới các nhà cung cấp, các cửa hàng
và những người bán lẻ
1.1.4 Các tác nhân trong chuỗi cung ứng
Để hiểu rõ hơn về chuỗi cung ứng ta tìm hiểu về các tác nhân trong chuỗi, nóđược thể hiện ở sơ đồ 1 Chuỗi cung ứng bao gồm các tác nhân sau: nhà cung cấp cácdịch vụ đầu vào, nhà sản xuất, nhà thu gom, nhà bán lẻ, người tiêu dùng
Trang 8Khái niệm các tác nhân:
- Nhà cung cấp các dịch vụ đầu vào: là những cơ sở cung cấp cho nhà sản xuất
những yếu tố đầu vào như giống, thức ăn công nghiệp (đã qua chế biến mang tínhcông nghiệp), thú y (dịch vụ thú y, thuốc phòng, trị bệnh dịch )
- Nhà sản xuất: là những gia đình hoặc cơ sở sản xuất, cung cấp sản phẩm cho
thị trường
- Nhà thu gom: là những trung gian đầu mối, tổ chức thu mua sản phẩm của các hộ
hoặc các cơ sở sản xuất, sau đó gom về một địa điểm để bán lại cho các nhà bán lẻ khác
- Nhà bán lẻ: nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc
dịch vụ nhất định cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân Bán lẻ nóichung là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, hoặcnhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhânhay gia đình
Trong chuỗi cung, nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng nối nhà sản xuất với ngườitiêu dùng Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán
lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng.Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán
lẻ cũng chính là người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêudùng của khách hàng
- Người tiêu dùng (cá nhân, gia đình, quán, nhà hàng ): là những người hoặc
cơ sở tiêu thụ sản phẩm của người bán lẻ hoặc nhà thu gom
Đối với người tiêu dùng là quán ăn, nhà hàng thì thường yêu cầu khá cao vềchất lượng sản phẩm từ nhà thu gom, người bán lẻ Do đây chưa phải là người tiêudùng cuối cùng, người tiêu dùng cuối cùng của họ là những khách hàng
1.1.5 Vai trò của ngành chăn nuôi lợn
1.1.5.1 Giá trị dinh dưỡng của thịt lợn
Thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao và không xa lạ trong khẩu phần ăn của nhiềungười dân chúng ta Trong số các sản phẩm từ động vật, thịt lợn được nhân dân ta sửdụng nhiều vì giá cả không cao lắm Thịt lợn ít biến đổi thành phần khi chế biến và cóthể kết hợp cùng nhiều loại thực phẩm khác để tạo ra các món ăn có hương vị thơm
Trang 9ngon hấp dẫn người thưởng thức Những hiểu biết về giá trị của thịt lợn, đặc điểm vệsinh trong chăn nuôi lợn sẽ giúp cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn cung cấp từ chănnuôi lợn của các hộ gia đình và các trang trại Trong thịt lợn bao gồm đầy đủ các thànhphần mà cơ thể con người cần được cung cấp hàng ngày như: Protein (đạm), Lypit(mỡ), và các thành phần vi lượng
Protein trong thịt lợn chiếm 15 - 20% trọng lượng thịt tươi, bao gồm đầy đủ cácacid amin cần thiết, ngoài các Protein có giá trị toàn diện còn có các Colagen vàElastin thuộc loại Selero - Protein, chúng ít bị tác dụng của men phân giải Protein, khiđun nóng nước Colagen chuyển thành Gelatin, gây đông keo, ngoài Protein còn cónhững chiết xuất tan trong nước luôn xuất hiện trong các nước luộc (khoảng 1,5 - 2%trọng lượng thịt) tạo nên mùi vị đặc biệt Lypit (mỡ) trong thịt lợn dao động nhiều, liênquan đến mức độ béo và vị trí miếng thịt trên con lợn Trong thịt mỡ thành phần Lypitchiếm trên 32%, trong đó tổng số Acid béo là: 12,44 mg/100g thịt và 74mg/100g thịt
mỡ, trong thịt mỡ còn có các loại khoáng chất, các loại vitamin như: Đồng, Kẽm,Selen, cung cấp các yếu tố tạo máu và kháng thể miễn dịch
1.1.5.2 Vai trò của ngành chăn nuôi lợn
Chăn nuôi lợn có vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nói riêng và ngànhnông nghiệp nói chung Cùng với trồng lúa nước, chăn nuôi đã khẳng định mối quan
hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau phát triển, nó đóng góp không nhỏ vào việc đảm bảo anninh lương thực, thực phẩm của nước ta trong thời gian qua và những kỳ tiếp theo trêncon đường bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam ngày một giàu mạnh Chăn nuôi lợn
có một số vai trò nổi bật như sau:
- Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người
Gs Harris cho biết cứ 100g thịt lợn nạc có 367 kcal, 22 gam Protein
- Chăn nuôi lợn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Hiệnnay thịt lợn là nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chế biến thịt xông khói(Bacon), thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như: giònạc, giò mỡ, thịt đông, thịt kho tàu
- Chăn nuôi lợn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt Phân lợn là một trongnhững nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất nông
Trang 10nghiệp Một con lợn trong một ngày đêm có thể thải 2,5 - 4 Kg phân, ngoài ra còn cólượng nước tiểu chứa hàm lượng Nitơ và Phốtpho cao.
- Chăn nuôi lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi
và con người Trong các nghiên cứu về môi trường, lợn là con vật quan trọng và làthành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nông nghiệp
- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu trong công nghiệp sinh học.Lợn đã được nhân bản (cloning) để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe cho conngười
- Chăn nuôi lợn làm tăng tính an ninh cho các hộ nông dân trong xã hội và chitiêu gia đình Đồng thời thông qua nuôi lợn người nông dân có được nguồn vốn chủđộng để phục vụ cho con cái học hành và tổ chức các hoạt động văn hóa khác như:cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay, đình đám
Nói tóm lại, con lợn rất quan trong trong đời sống vật chất và tinh thần củangười nông dân một nắng hai sương Vì vậy, rất cần có các chính sách và giải phápphát triển chăn nuôi lợn một cách hiệu quả nhằm nâng cao thu nhập cho người dân,đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng thịt lợn
1.1.6 Đặc điểm của ngành chăn nuôi lợn thịt
1.1.6.1 Đặc tính kinh tế kĩ thuật của chăn nuôi lợn thịt
* Đặc điểm kĩ thuật của chăn nuôi lợn
- Lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao Lợn có bộmáy tiêu hóa tốt, khả năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó thức ăn của lợn có thể dùngnhiều loại khác nhau (tinh bột, thô xanh, rau bèo, củ quả ) Nguồn thức ăn chăn nuôilợn rất phong phú, có thể tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, côngnghiệp chế biến thực phẩm Do vậy lợn rất phù hợp cho hình thức chăn nuôi tận dụng
ở các hộ gia đình
- Lợn có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hẳn các giasúc khác về mặt sản xuất, thời gian chu chuyển vốn nhanh Lợn là loại động vật đathai, bình quân lợn đẻ từ 1,6 - 2,6 lứa/năm, 8 - 12 con/lứa
Trang 11- Lợn dễ bị mắc một số bệnh như tai xanh, dịch tả, láp tô, tụ huyết trùng, độ rủi
ro cao do khí hậu, thời tiết thay đổ đột ngột, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh hưởng đếnkhả năng chống chịu của lợn
Nhìn chung, đối với chuồng trại cần thoáng mát, có mật độ nuôi thích hợp, phảitiêm phòng đầy đủ trước khi đưa lợn vào nuôi thịt, nhằm kiểm soát tình hình dịch bệnhxảy ra khó lường Lợn thịt có sự thay đổi khá nhanh về trọng lượng nên cần nhu cầuthức ăn dinh dưỡng, lượng thức ăn phù hợp, cân đối trong từng giai đoạn Cũng nhưcác sản phẩm nông nghiệp khác, lợn thịt còn gặp khó khăn trong việc tiêu thụ đầu ra.Muốn đẩy mạnh ngành chăn nuôi lợn thịt thì phải phát triển đồng bộ có tính chất liênngành, hỗ trợ giữa các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến bảo quản, phân phối, tiêudùng sản phẩm thịt lợn
1.1.6.2 Đặc điểm chính của ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Nuôi lợn là một nghề truyền thống ở nước ta, ở vùng nông thôn chúng ta bắtgặp hình thức nuôi tận dụng của bà con nhằm tận dụng thức ăn dư thừa và tăng thunhập cho gia đình Hiện nay ở các trang trại chăn nuôi có quy mô lớn dần được hìnhthành và được đầu tư lớn để thu lợi nhuận cao, tạo công ăn việc làm
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng cao, sản xuất cây lươngthực thuận lợi, có nhiều loại ngũ cốc là nguồn thức ăn đa dạng, đầy đủ cho chănnuôi lợn thịt
Công nghiệp thức ăn chăn nuôi phát triển nhanh chóng với các đại gia hàng đầutrên thế giới như: Cargil, Green feed, Xepil đã và đang đầu tư vào thị trường ViệtNam và đang trên đà phát triển mạnh Các công ty có những trại vừa nghiên cứu vừachăn nuôi một lượng lớn lợn phục vụ cung cấp những giống cao sản có chất lượngvượt trội, cung cấp khối lượng sản phẩm thịt lợn lớn đáp ứng nhu cầu nội địa và xuấtkhẩu
Tuy nhiên, do sản lượng thịt lợn tăng nhanh trong khi lượng xuất khẩu hạn chế
và mức tiêu dùng trong cả nước chưa thật cao, nên giá bán ở thị trường trong nước cònbấp bênh không ổn định Thông thường định kỳ khoảng 2 - 3 năm người nuôi lợn phảichịu rớt giá một lần và thời gian rớt giá ngắn hay dài cũng luôn dao động, giá thànhsản xuất thịt lợn còn cao nhất là các hộ chăn nuôi nhỏ Vì vậy, vấn đề đặt ra là muốn
Trang 12cho ngành chăn nuôi lợn phát triển bền vững và ổn định đòi hỏi các cấp, các ban ngànhquan tâm giúp đỡ tất cả các khâu của trong cả quá trình.
Mục đích là nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng chất lượng sản phẩm để tăng khảnăng cạnh tranh trong quá trình hội nhập thương mại, vì vậy cần kích thích hơn nữa thịtrường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
1.1.7 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ lợn thịt
- Thiếu thông tin:
Khả năng tiếp cận thông tin thị trường kém là một nguyên nhân quan trọng làmcho thị trường tiêu thụ lợn thịt không hiệu quả Nhìn chung, kiến thức và sự hiểu biếtcủa nông dân về phương thức hoạt động của thị trường là hạn chế và thiếu thông tin vềcầu và giá cả Thiếu kiến thức làm hạn chế khả năng tiếp cận tới các thị trường có cơhội mang lại lợi nhuận cao hơn, hạn chế khả năng đáp ứng yêu cầu của người mua vàthương thuyết để đạt được một mức giá hợp lý
- Cung kém co giãn theo giá:
Cung thị trường là tổng số sản phẩm mà người sản xuất (người bán) sẵn sàngcung ứng ra thị trường tương ứng với các mức giá khác nhau của hàng hóa đó trongkhoảng thời gian xác định, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Cung sản phẩm nông nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: giá cả cácyếu tố đầu vào, năng lực sản xuất, công nghệ, giá cả sản phẩm đầu ra, chính sáchnhà nước, kì vọng
Tuy nhiên giá bản thân sản phẩm nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp lượng cungsản phẩm, lượng sản phẩm người nông dân sẵn sàng cung ứng thêm khi giá cả tăng lênkhông chỉ phụ thuộc vào các yếu tố sản xuất mà còn phụ thuộc vào khoảng thời giancần thiết để sự điều chỉnh có thể diễn ra, thời gian càng dài thì phản ứng điều chỉnhcàng lớn khi giá cả thay đổi
Nói chung lượng cung lợn thịt không đáp ứng nhanh với giá cả, đặc biệt trongngắn hạn Nói cách khác, nông dân cần nhiều thời gian để điều chỉnh sản xuất sao chođáp ứng với sự thay đổi giá, chứ không thể thay đổi trong ngày một ngày hai được Ví
dụ khi đã nuôi lợn, nông dân không thể cắt giảm ngay số lượng lợn nuôi nếu như giácủa sản phẩm đó giảm xuống, mà cần một thời gian để điều chỉnh chăn nuôi Hoặc khi
Trang 13thấy giá sản phẩm tăng lên thì người nông dân vẫn phải đợi cho tới khi sản phẩm đócho thu hoạch.
- Độ co giãn của cầu theo giá lớn:
Cầu sản phẩm là tổng lượng hàng hóa mà người tiêu dùng ở một thị trường nhấtđịnh mong muốn mua và có thể mua khi giá thay đổi trong khi các yếu tố khác khôngthay đổi
Cầu sản phẩm nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: giá cả củabản thân sản phẩm nông nghiệp đó, giá cả của hàng hóa bổ sung, thay thế cho sảnphẩm nông nghiệp đó, thu nhập của người tiêu dùng, sở thích, thị hiếu, phong tục tậpquán của người tiêu dùng Phong tục tập quán của người tiêu dùng rất quan trọng, điểnhình nếu phát triển thị trường thịt lợn ở vùng có nhiều người dân theo đạo hồi sinhsống thì không thể tồn tại được, vì những người theo đạo hồi không ăn thịt lợn
Không giống như cung, cầu nông sản nói chung và thịt lợn nói riêng rất nhạycảm với sự thay đổi của giá Do có nhiều sản phẩm có thể thay thế được nên người tiêudùng thường chuyển hướng sang sử dụng một loại sản phẩm khác nếu như giá của sảnphẩm đang sử dụng tăng lên Ví dụ: người tiêu dùng có thể chuyển từ ăn thịt lợn sang
ăn các lọai thịt khác như: thịt bò, thịt gà; hay chuyển sang ăn các loại cá nếu giá củathịt lợn tăng lên và ngược lại
1.1.8 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng đánh giá hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lợn thịt
a Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch
vụ được sáng tạo ra trong nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là mộtnăm
GO = ∑Pi*QiTrong đó: Pi: Đơn giá/sản phẩm
Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
b Chi phí trung gian (IC): là một bộ phận cấu thành của sản xuất, nó bao
gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất sản phẩm nông nghiệp Chi phítrung gian trong sản xuất nông nghiệp bao gồm chi phí vật chất trực tiếp và chi phídịch vụ thuê
Chi phí trung gian (IC) = Chi phí vật chất + Chi phí dịch vụ (mua hoặc thuê ngoài)
Trang 14c Chi phí tự có: là những khoản mà hộ gia đình tự có và họ dùng nó để đầu tư
vào sản xuất Các chi phí này là chi phí cơ hội của hộ nông dân Ví dụ như công laođộng của gia đình, giống, thức ăn cho gia súc, gia cầm mà gia đình tự sản xuất được(ngô, lúa, thóc lép, rau )
d Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng (VA): là chỉ tiêu phản ánh những phần
giá trị do lao động sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định Đó chính là một bộ phậncòn lại của giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian
ΣVA = ΣGO - ΣICVA = ΣVA = ΣGO - ΣICGO - ΣVA = ΣGO - ΣICIC
e Thu nhập hỗn hợp (MI): đó là phần còn lại của giá trị gia tăng sau khi trừ đi
khấu hao và thuế
ΣVA = ΣGO - ΣICIM = ΣVA = ΣGO - ΣICVA - Khấu hao - Thuế
f VA/IC (Hiệu suất chi phí trung gian theo giá trị gia tăng): chỉ tiêu này mang
tính tổng hợp, nó cho biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêuđồng giá trị gia tăng Đây là chỉ tiêu quan trọng để lựa chọn phương án đầu tư tốt nhấttrong giới hạn nguồn lực chi phí
g GO/IC (Hiệu suất chi phí trung gian theo giá trị sản xuất): chỉ tiêu này cho
biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
h MI/IC (Hiệu suất chi phí trung gian theo thu nhập hỗn hợp): chỉ tiêu này cho
biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn thịt trên thế giới
Nghề chăn nuôi có từ rất sớm, cách đây một vạn năm nghề chăn nuôi lợn đãxuất hiện và phát triển ở châu Âu và châu Á Sau đó khoảng thế kỉ XVI bắt đầu pháttriển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển đến châu Úc Đến nay nuôi lợn trở thànhnghề truyền thống của nhiều nước trên thế giới Ở nhiều nước có công nghệ chăn nuôilợn cao và tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, ĐanMạch, Thủy Điển… Các nước tiên tiến chăn nuôi lợn phát triển theo hướng côngnghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao Tuy nhiên đàn lợn trên thế giới phân bốkhông đồng đều ở các châu lục, có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và châu
Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác
Trang 15Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi trên thếgiới (trừ các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo) Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn lànguồn thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đóng gópkhông nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới.
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiều biến động
cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản xuất Việc sản xuất vàtiêu thụ các loại thịt nói chung và thịt lợn nói riêng có những thay đổi đáng kể, cụ thể
nó được thể hiện ở bảng số liệu 1
Bảng 1 Sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới trong một số năm gần đây
(Nguồn:FAO World Food Outlook, 2008)
Qua bảng tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt trong những năm gần đây ta thấy,việc sản xuất các loại thịt nói chung đều có xu hướng tăng lên Riêng thịt lợn có giảmvào năm 2007, tuy nhiên năm 2008 bắt đầu phục hồi trở lại, tuy nhiên mức độ phụchồi chưa cao So với năm 2007, việc sản xuất thịt lợn năm 2008 đạt 100,6 triệu tấn,tăng 1,8 triêu tấn Trong giai đoạn này do điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, đặcbiệt là dịch bệnh xảy ra liên tiếp và bùng phát mạnh, nên tốc độ phát triển bình quâncủa sản xuất thịt lợn trong giai đoạn này chỉ đạt 99,46%
Nhìn chung, việc tiêu thụ các loại thịt trong giai đoạn 2006 – 2008 đều có xuhướng tăng và tốc độ phát triển bình quân đều đạt trên 100% Riêng tiêu thụ thịt lợntrong gia đoạn này, tốc độ phát triển bình quân đạt 102,97%, chứng tỏ hu cầu têu thụ
Trang 16thịt lợn trên thế giới ngày một tăng Đây là một tín hiệu tốt cho người chăn nuôi lợn,đặc biệt là hộ gia đình nông dân.
1.2.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn thịt ở Việt Nam
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời Theo tài liệu khảo cổ học nghề chănnuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá, cách đây khoảng một vạn năm Và từ đó đàn lợnkhông ngừng phát triển về cả số lượng mà cả chất lượng Các hình thức chăn nuôi lợnđược hình thành và phát triển trên toàn đất nước, ngày nay hình thức chăn nuôi côngnghiệp đang phát triển mạnh, bên cạnh đó hình thức chăn nuôi tận dụng và bán côngnghiệp của các nông hộ vẫn chiếm tỉ trọng lớn (75%) trong ngành chăn nuôi của nước
ta Để hiểu rõ hơn tình hình ngành chăn nuôi lợn thịt ở Việt Nam ta tìm hiểu bảng sốliệu sau:
Bảng 2: Sản lượng lợn hơi xuất chuồng và bình quân thịt lợn hơi theo đầu người qua
các năm
2007
Năm2008
Năm2009
Tốc độ pháttriển BQ (%)
1 Sản lượng thịt lợn hơi
xuất chuồng Nghìn tấn 2.662,70 2.782,80 2.908,50 104,51
2 BQ thịt lợn hơi trên đầu
(Nguồn: Niên giám thống kê - 2009)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng dầnqua các năm, cụ thể tăng từ 2.662,7 nghìn tấn năm 2007 lên 2.908,5 nghìn tấn năm
2009 Trong giai đoạn này mặc dù dịch bệnh hoành hành, khí hậu khắc nghiệt, tuynhiên do năm 2009 thiên tai, dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn, không có gia súcchết đói, chết rét và dịch lợn tai xanh được kiểm soát nên tốc độ phát triển bìnhquân trong giai đoạn này đạt 104,51 Sản lượng thịt lợn bình quân theo đầu ngườităng dần qua các năm từ 31,6 kg/người năm 2007 lên 33,8 kg/người năm 2009, vàtốc độ phát triển bình quân trong giai đoạn này đạt 103,42% Đây là một tín hiệuđáng mừng cho các hộ chăn nuôi lợn
1.2.3 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn thịt ở tỉnh Nghệ An
Trang 17Nghệ An là một tỉnh thuần nông, đa số người dân sống dựa vào nông nghiệp.Trước đây nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt thì trong những năm gần đây ngành chănnuôi lợn của tỉnh đã có những biến chuyển rõ nét, được thể hiện cụ thể ở bảng số liệu 3.
Qua bảng số liệu cho ta thấy ngành chăn nuôi của tỉnh trong những năm vừaqua đã có những bước tiến triển đáng kể Sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm đềutăng qua các năm, trong đó sản lượng thịt lợn đã tăng từ 104.018 tấn năm 2007 lên111.300 tấn năm 2008 và tốc độ phát triển bình quân trong giai đoạn 2006 - 2008 đạt
108,25% Trong thời gian vừa qua đã có nhiều loại dịch bệnh xuất hiện trên địa bàntỉnh như bệnh tai xanh, tiêu chảy, leptô , tuy nhiên với những biện pháp phòng dịchcũng như dập dịch có hiệu quả nên sản lượng của ngành chăn nuôi trong tỉnh vẫnkhông bị giảm đi mà còn tăng lên đáng kể Đây là một tín hiệu đáng mừng cho ngànhchăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng của tỉnh nhà
Bảng 3: Tình hình phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh Nghệ An
qua 3 năm (2006 -2008)
Sản lượng chăn nuôi
Năm2006
Năm2007
Năm2008
Tốc độ pháttriển BQ (%)
Trang 18CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ TIÊU THỤ LỢN THỊT CỦA CÁC
HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LAM SƠN - HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - TỈNH
NGHỆ AN
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý của xã Lam Sơn
Xã Lam Sơn là xã miền núi nằm phía tây huyện Đô Lương, cách thị trấn huyện
7 Km, có tổng diện tích trong địa giới hành chính là 1.986 ha
- Phía đông giáp xã Bắc Sơn
- Phía đông bắc giáp xã Bồi Sơn
- Phía tây nam giáp xã Ngọc Sơn
- Phía tây giáp Tào Sơn, huyện Anh Sơn
Xã Lam Sơn có vị trí nằm tiếp giáp với các xã khác trong vùng nên rất thuậntiện cho việc giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao, trao đổi hàng hóa trongquá trình sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp Bên cạnh đó xã Lam Sơn có một phầnranh giới tiếp giáp với sông Lam nên nhận được sự bồi đắp từ dòng sông cho dải đấtven sông Hơn nữa dòng sông cung cấp lượng nước chính phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp của bà con trong xã
Tuy nhiên, song song với điều kiện thuận lợi nói trên thì còn tồn tại những khókhăn mà xã Lam Sơn phải chịu:
- Những đợt lũ khi dòng sông có nước dâng cao, điều này đồng nghĩa với việcmất mùa và đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn
- Diện tích trồng cây hằng năm bị thu hẹp do sạt lở bờ sông
2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Xã Lam Sơn là xã nằm ở vùng bán sơn địa Tây Bắc, có hai địa hình đồi và
thung lũng dốc nghiêng Địa hình đồi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Gắn
liền với sự phân bố tự nhiên của địa hình, thổ nhưỡng của xã Lam Sơn có ba nhómđất chính:
Trang 19+ Nhóm đất phù sa được bồi đắp hằng năm tập trung ở khu vực bãi ven sôngLam Đặc điểm của loại đất này có hàm lượng chất dinh dưỡng khá, trung tính, ít chua,thành phần cơ giới nhẹ Thích hợp với trồng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
+ Nhóm đất dốc tụ tập trung ở dưới thung lũng các chân đồi, thành phần cơ giớitrung bình hoặc nhẹ, đất có phản ứng chua
+ Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên phiến sét, thành phần cơ giới thịt nặng cókhả năng dữ nước tốt Ngoài ra còn có đất Feralit màu trơ sỏi đá
2.1.1.3 Khí hậu
Theo báo cáo số liệu điều tra của xã cho thấy:
- Nhiệt độ bình quân hằng năm là 240C, tháng có nhiệt độ cao nhất là 350C,tháng có nhiệt độ thấp nhất là 120C
- Lượng mưa bình quân hằng năm là 1.879 ly, song chỉ tập trung từ tháng 8 đếntháng 10 chiếm 60% lượng mưa của cả năm
- Xã chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: Gió Tây Nam (gió lào) và giómùa Đông Bắc
- Về độ ẩm: + Độ ẩm trung bình trong năm là 83%
Qua số liệu bảng 4, thể hiện tình hình biến động đất đai của xã, ta thấy năm
2009 tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.986 ha, trong đó đất nông nghiệp là
Trang 201.575,05 ha, chiếm 76,19% Với hơn 90% dân số trên địa bàn xã sống bằng nghề sảnxuất nông nghiệp, nên đất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng diện tích đất tựnhiên Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 29,51% trong tổng diện tích đất tự nhiên, trongđất sản xuất nông nghiệp thì đất trồng cây hằng năm chiếm vị trí chủ đạo, chủ yếu làcác loại cây như lúa, ngô, đậu, lạc.
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, thì đất lâm nghiệp vẫn chiếm diện tíchnhiều nhất Năm 2009, tổng diện tích đất lâm nghiệp trên toàn xã là 987,90 ha, do xãLam Sơn là một xã miền núi nên đây cũng là điều dễ hiểu
Nhìn chung, qua ba năm cơ cấu các loại đất có thay đổi tuy nhiên lượng thayđổi không lớn lắm Năm 2008 quỹ đất nông nghiệp của xã giảm 1 ha (tương ứng0,06%) so với năm 2007 Đất phi nông nghiệp tăng 2,02 ha, tăng tương ứng 0,66%,trong đó đất ở tăng 1 ha và đất chuyên dùng tăng 1,02 ha Đất chưa sử dụng giảm 1,02
ha, giảm tương ứng 0,94% So với năm 2008, năm 2009 đất nông nghiệp tăng 4,03 ha,tăng tương ứng 0,26%, trong đó đất trồng cây hằng năm tăng và cây lâu năm đều tăng
2 ha, đất nuôi trồng thủy sản tăng 0,03 ha, nguyên nhân tăng là do trong năm 2009 xã
đã cải tạo và đưa được 5,13 ha đất chưa sử dụng vào để sử dụng Trên địa bãn xã năm
2009, đất nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm 0,06% đây là một điều bất lợi cho xã, điều nàylàm cho xã không thể đa dạng hóa sản phẩm của mình Đất phi nông nghiệp tăng 1,1
ha (trong đó đất ở tăng 0,5 ha; đất chuyên dùng tăng 0,5 ha; đất tôn giáo tín ngưỡngtăng 0,1 ha) Qua đó, cho thấy trong thời gian vừa qua xã đã có nỗ lực trong việc cảitạo đất chưa sử dụng để dưa vào sử dụng với những mục đích khác nhau, tuy nhiêndiện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn xã vẫn còn nhiều, cụ thể năm 2009 diện tíchđất này là 102,40 ha, chiếm 5,16% so với tổng diện tích đất tự nhiên, như vậy là lãngphí Chính vì vậy trong thời gian tới xã cần có kế hoạch, biện pháp cải tạo để đưa diệntích đất chưa sử dụng vào sử dụng một cách có hiệu quả
Trang 21Bảng 4: Tình hình biến động đất đai của xã Lam Sơn qua 3 năm (2007 - 2009)
NămChỉ tiêu
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 101,53 5,11 101,53 5,11 101,53 5,11 _ _ _ _III Đất chưa sử dụng 108,55 5,47 107,53 5,41 102,40 5,16 -1,02 -0,94 -5,13 -4,77
(Nguồn: UBND xã)
Trang 22Đất nông nghiệp trên địa bàn xã nhiều, tuy nhiên chất lượng đất không đồngđều nên khi phân chia cho các hộ gia đình còn nhỏ lẻ, manh mún Do chất lượng đấtkhác nhau nên phải chia thành nhiều thửa nhỏ để ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu Có hộchỉ 8 sào nhưng đến 20 thửa ruộng Chính điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho bàcon trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, đầu tư thâm canh, chuyển đổi cơ cấucây trồng Vì vậy trong những năm tới xã cần có những kế hoạch dồn điền, đổi thửanhằm tạo điều kiện cho người dân áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, giảm chi phítrong sản xuất
2.1.2.2 Dân số và lao động
Dân số và lao động là một bộ phận hết sức quan trọng trong các hoạt động sảnxuất kinh doanh và tiêu dùng Đây là yếu tố góp phần to lớn vào việc phát triển haykìm hãm sự phát triển của kinh tế của một địa phương, một quốc gia Chất lượng và sốlượng dân số, lao động cũng thể hiện được thực trạng cũng như tiềm năng, thế mạnhcủa vùng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Theo số liệu thống kê đến tháng 12/2009, dân số toàn xã là 6.765 nhân khẩusống trong 1.577 hộ, trong đó có 3.278 lao động Đây là lực lượng lao động dồi dàocủa xã Trong ba năm 2007 – 2009, nhân khẩu và lao động của xã có thay đổi đáng kể
Cụ thể năm 2008 tăng 150 nhân khẩu so với năm 2007, tăng tương ứng 2,31%; năm
2009 tăng 115 nhân khẩu so với năm 2008, tăng tương ứng 1,73% Do trên địa bàn xãphần lớn là người dân nông thôn, sống bằng nghề nông nghiệp Mặt khác trên địa bàn
xã còn mang nặng hủ tục ”trọng nam khinh nữ”, nhà nào cũng theo đuổi có được contrai nên người dân nơi đây thường sinh nhiều, chính điều đó đã làm cho tình hình nhânkhẩu của xã không ngừng gia tăng qua các năm Mặc dù trong thời gian qua xã đã cónhiều đợt tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, biện pháp xử phạt đối với những hộ sinhcon thứ ba trở lên, nhưng điều đó không được mấy người dân quan tâm
Năm 2009, lực lượng lao động trên địa bàn xã là 3.278 lao động, trong đó laođộng nông nghiệp là 2.034 lao động, công nghiệp là 831 lao động, dịch vụ là 413 laođộng So với năm 2008 thì trong năm 2009, lực lượng lao động trên toàn xã tăng 60lao động tăng tương ứng 1,86%, trong đó lao động nông nghiệp tăng 30 lao động, côngnghiệp tăng 20 lao động và dịch vụ tăng 10 lao động Qua đó, ta thấy trên địa bàn xãlao động nông nghiệp vẫn chiếm số lượng lớn
Trang 23Tỉ lệ lao động làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo trên địa bàn xã năm
2009 là 38,6% Tỉ lệ này tăng dần qua các năm, cụ thể tăng từ 36% năm 2007 lên38,6% năm 2009, điều đó chứng tỏ chứng tỏ chất lượng lao động trên địa bàn xã ngàycàng được nâng cao, công tác đào tạo lực lượng lao động ngày càng được quan tâm
Bình quân nhân khẩu và lao động/hộ năm 2009 lần lượt là: 4,29 khẩu và 2,08lao động Bình quân số khẩu ăn theo trên một lao động là 2,02 khẩu Số người ăn theotrên một lao động còn nhiều, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống củangười dân, bình quân một lao động phải nuôi thêm hơn hai người, chính vì thế họ làm
ra không những không có tích lũy mà nhiều lúc còn không đủ ăn
Bảng 5: Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Lam Sơn
qua 3 năm (2007 - 2009)Năm
Giao thông liên lạc là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến vấn đề sảnxuất và tiêu thụ nói chung và lợn thịt nói riêng Hiện nay trên địa bàn xã đã có trục
Trang 24đường liên xã, liên huyện được nhựa hóa, tạo điều kiện cho việc liên thông giữa cácvùng khác trong xã, huyện Các tuyến đường trong thôn, xóm đã được bê tông hóa tạođiều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đi lại cũng như phát triển sản xuất Vềđường sông có bến đò nối trung tâm xã với các xã Bắc Sơn, Nam Sơn, là xã có sự pháttriển mạnh về kinh tế của huyện Tuy nhiên chất lượng các tuyến đường được bê tông,nhựa hóa ngày càng sụt giảm nghiêm trọng, ngày càng xuất hiện nhiều ổ gà gây khókhăn trong việc đi lại Trên địa bàn xã hiện nay có một bưu điện huyện và một bưu điện
xã, tuy nhiên công suất hoạt động chưa cao, tài liệu còn nghèo nàn chưa đáp ứng đượcnhu cầu của người dân
Hiện nay trên địa bàn xã có 4 trường học trong đó có một trường đạt chuẩnquốc gia, chất lượng của đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao
Công trình điện sinh hoạt có 5 trạm biến áp với tổng 15 km đường điện đã tạođiều kiện tốt do nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế của người dân Hệ thống thủylợi đã được nâng cấp, làm mới 7,7 km kênh mương, 2 trạm bơm và một số khe đập đểcung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
Về chùa chiền miếu mạo: xã đã xây dựng một bia liệt sĩ và tu sửa đình, chùaphần nào đáp ứng đời sống tinh thần của người dân trên địa bàn
Trên toàn xã hiện nay nhà ở đã được ngói hóa 100%, số hộ dùng điện sinh hoạtđạt 100%, số hộ có giếng nước sạch đạt 98,7%
2.1.2.4 Kinh tế
Lam Sơn là một xã thuần nông, ngành nghề chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi.Dưới sự điều hành và quản lý của nhà nước cùng với sự phấn đấu nỗ lực của nhân dântrong xã đã đưa nền kinh tế của xã nhà phát triển đi lên và thu được những thành tựuhết sức quan trọng, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của xã nhà nói riêng và
cả nước nói chung
Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phát triển khá Đời sống vật chấtcủa người dân được nâng lên đáng kể, kinh tế nông thôn bước đầu đã chuyển sanghướng sản xuất theo thị trường Để hiểu rõ hơn tình hình phát triển kinh tế của xã tatìm hiểu qua bảng số liệu 6
Tổng giá trị sản xuất năm 2009 của xã là 30,94 tỷ đồng, tăng 4 tỷ đồng sovới năm 2008 và tăng tương ứng 14,85% Trong đó giá trị sản xuất của ngành nông,lâm, thủy sản tăng 0,97 tỷ đồng, tăng tương ứng 7,61%; ngành công nghiệp xây
Trang 25dựng tăng 1,04 tỷ đồng, tăng tương ứng 18,12%, ngành dịch vụ tăng 1,99 tỷ đồng,tăng tương ứng 23,55%.
Bảng 6: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của xã qua 3 năm (2007 -2009)
Giátrị
Cơ cấu(%)
Giátrị
xã đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp, dịch vụgiảm tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp và nó được thể hiện rõ ở bảng Năm
2007 tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng trong tổng giá trị sản xuất
là 20,46% và tăng lên 21,91% năm 2009, con số này đối với ngành dịch vụ lần lượt là:28,84% năm 2007 và 33,74% năm 2009
2.1.2.5 Thị trường
Xã Lam Sơn được xem là xã trung tâm của vùng Bạch Ngọc (gồm ba xã: NgọcSơn, Lam Sơn, Bồi Sơn), nằm giữa hai xã Ngọc Sơn và Bồi Sơn Đây là vị trí địa lýthuận lợi tạo điều kiện cho phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường, mở rộnggiao lưu kinh tế xã hội
Trên địa bàn xã hiện nay có hai chợ, chợ Trung và chợ Con De Chợ Trungthuộc địa bàn xóm 3, họp một tháng 12 buổi, vào buổi sáng các ngày mồng 1, 4, 7, 9(âm lịch) và lặp lại, thông thường chợ họp từ 6 giờ sáng đến 10 giờ 30 phút sáng, đây
là chợ có lượng người tham gia vào chợ đông hơn so với chợ Con De, chợ Lấng (của
xã Ngọc Sơn), và chợ Mưỡu (của xã Bồi Sơn) Nhìn chung ở xã có đầy đủ các mặthàng phục vụ nhu cầu của bà con trong xã và các xã lân cận Trong tương lai xã đang
có dự án xây dựng chợ Trung thành chợ trung tâm để hoạt động vào tất cảc các ngàytrong tháng Chợ Con De thuộc địa bàn xóm 13, chủ yếu đáp ứng nhu cầu mua bán
Trang 26của nhân dân các xóm 10, 12, 13, 14 (còn 12 xóm còn lại chủ yếu hoạt động mua bán
ở chợ Trung), nên chợ này thường ít người và họp khoảng hai tiếng buổi sáng cácngày thứ 3, 5, 7 trong tuần
Với những điều kiện thuận lợi như vậy đã làm cho thị trường trong xã hoạtđộng sôi nổi, tạo điều kiện lưu thông cho các mặt hàng nói chung và thịt lợn nói riêng
2.1.3 Đánh giá chung về các nguồn lực
Thuận lợi:
- Xã nằm dọc theo bờ sông Lam nên hàng năm nó đã cung cấp một lượng nướclớn phục vụ cho hoat động sản xuất nông nghiệp của xã, nó đảm bảo cho các ruộng lúaluôn được tưới nước đầy đủ và kịp thời Bên cạnh đó hàng năm dải đất ven sông của
xã còn được bồi đắp một lượng phù sa lớn, đây là loại đất giàu chất dinh dưỡng, phùhợp cho trồng cây ngắn ngày và cây công nghiệp, đặc biệt là cây ngô Đây là nguồncung cấp thức ăn chính cho hoạt động chăn nuôi lợn của bà con trong xã
- Vị trí của xã nằm ở trung tâm của vùng Bạch Ngọc, tạo điều kiện cho việc lưuthông phát triển kinh tế của vùng Nhiều xóm trong xã đã được bê tông hóa 100% tạođiều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa
- Xã là một vùng dân cư tập trung đông đúc, thuận lợi cho việc phát triển sảnxuất và bố trí các công trình phúc lợi xã hội Cơ sở điện, đường, trường, trạm cũngđược đầu tư đúng mức Người dân trong xã có đời sống tinh thần phong phú, luôn lạcquan, tìm tòi sáng tạo trong hoạt động sản xuất, không ngừng học hỏi kinh nghiệmnâng cao tầm hiểu biết và là những nhân tố góp phần xây dựng bộ mặt Lam Sơn ngàycàng khởi sắc
Trang 27- Thời tiết khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió lào) đã ảnhhưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt những ruộng ngôđến thời kỳ trổ cờ gặp khô hạn thì xem như mất trắng.
- Nguồn lực đất đai của xã dồi dào tuy nhiên còn manh mún, nhỏ lẻ có thửakhông đến 100 m2, điều này ảnh hưởng rất lớn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học vàthâm canh cây trồng
- Những người làm nông nghiệp trong xã phần lớn là những người đứng tuổi,con em họ lớn lên thường đi vào thành phố lớn để làm ăn Vì thế nên việc tiếp thu vàứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
- Người dân thiếu vốn sản xuất, đồng thời nền kinh tế của xã có tăng trưởngnhưng còn rất thấp, thiếu vững chắc, sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vàođiều kiện tự nhiên, trình độ thâm canh chưa cao chưa phát huy được thế mạnh củavùng
Vì vậy, trong những năm tới để phát huy những điều kiện thuận lợi và hạnchế khó khăn thì xã cần đầu tư và hoàn thiện hơn nữa cơ sở hạ tầng phục vụ chonông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng Tổ chức tập huấn cho người dân vềcác phương pháp kĩ thuật sản xuất mới, giúp họ có thể bắt nhịp với xu thế phát triểnngày nay
2.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN THỊT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LAM SƠN
2.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn thịt lợn thịt trên địa bàn xã Lam Sơn
Chăn nuôi là ngành nghề có từ lâu đời của nhân dân trong xã Hiện nay trên địabàn xã người dân tiến hành nuôi một số loại gia súc như: trâu, bò, lợn, dê và một sốloại gia cầm như: gà, ngan, vịt, ngỗng Bảng số liệu 7 cho ta thấy rõ tình hình biếnđộng của một số loại gia súc, gia cầm cơ bản được nuôi nhiều trên địa bàn xã
Trang 28Nhìn vào bảng số liệu ta thấy năm 2009 đàn trâu, bò, gia cầm đã biến động tăng
so với năm 2007 và 2008 cả về số lượng con và trọng lượng xuất chuồng Tốc độ pháttriển bình quân trong gia đoạn 2007 - 2009 đều đạt trên 100%, tuy nhiên lượng biếnđộng là không nhiều Cụ thể số lượng đàn trâu năm 2009 là 770 con, tăng 50 con sovới năm 2007, đàn bò là 1.850 con, tăng 70 con so với năm 2007, đàn gia cầm 80.000con, tăng 18.500 con so với năm 2007
Bảng 7: Biến động ngành chăn nuôi của xã qua 3 năm (2007 - 2009)
Năm
Tốc độ pháttriển BQ(%)
Mặt khác, vào cuối năm 2008 đầu năm 2009 trên địa bàn xã xuất hiện dịch bệnhlepto, loại bệnh này nó phát triển mạnh ở lợn nái và nguy cơ lây lan sang lợn thịt là rấtcao Khi bị bệnh này lợn nái thường bị chết con trong bụng sau đó bỏ ăn một vài ngàyrồi chết Theo các bác sĩ thú y nếu bị mắc bệnh này thì lợn có nguy cơ chết lên đến99% Khi mổ lợn bị bệnh leptô thì thấy thịt vàng và có mùi hôi, chính vì vậy khi lợnchết thì chỉ có cách tiêu hủy chứ không thể tiêu thụ trên thị trường được vì không thểlừa được người tiêu dùng Khi lợn bị chết các hộ thường đào hố để chôn, tuy nhiênmột số hộ ở gần sông Lam thường đem lợn xuống sông để vứt Chính vì vậy làm chomôi trường nước sông bị ô nhiễm và dịch bệnh lây lan nhanh hơn Dịch bệnh leptô đã
Trang 29làm chết lợn nái hàng loạt nên làm cho nguồn cung lợn giống trên địa bàn xã giảmmạnh Hơn nữa chưa có biện pháp khử trùng chuồng trại hiệu quả, sợ lây sang nhữnglứa lợn sau nên những hộ gia đình có lợn bị chết họ không dám nuôi lại lứa khác màphải để chuồng trống một thời gian sau mới nuôi Chính vì hai nguyên nhân trên đãlàm cho đàn lợn năm 2009 giảm đột ngột so với năm trước
Qua cột tính tốc độ phát triển BQ giai đoạn từ 2007 - 2009, cho ta thấy các loạigia súc, gia cầm trên địa bàn xã có sự phát triển (trừ lợn), tuy nhiên tốc độ phát triển làchưa cao Đàn lợn của xã trong gia đoạn đó giảm rất mạnh, tốc độ phát triển bình quânchỉ đạt 58,18% Chính vì vậy chính quyền địa phương cần có biện pháp để thúc đẩyngành chăn nuôi phát triển hơn nữa, đặc biệt là chăn nuôi lợn Để làm được điều đótrong thời gian tới, xã cần thực hiện tốt công tác kiểm dịch, phòng trừ dịch bệnh, cóbiện pháp hỗ trợ cho người nuôi khi lợn bị dịch bệnh chết, để họ tái chăn nuôi, thôngqua đó để phục hồi đàn lợn nói riêng và đàn gia súc nói chung trong thời gian tới
2.2.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
2.2.2.1 Năng lực sản xuất của các hộ nuôi
2.2.2.1.1 Nhân khẩu và lao động
Con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, mọi hoạt động đều nhằm mục đíchphục vụ nhu cầu của con người và hướng đến cuộc sống tốt đẹp cho con người Vìvậy, nhân khẩu và lao động là nguồn lực quan trọng của các hộ, sẽ là nhân tố làm racủa cải vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình Để biết thêm
về nguồn nhân lực của các hộ điều tra nhằm làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế, đềtài phân tích bảng thống kê 8
Qua điều tra 50 hộ nuôi, bình quân nhân khẩu trên hộ là 4,52 nhân khẩu, trongkhi đó bình quân lao động/hộ là 2,7 lao động, nó hứa hẹn nguồn lao động dồi dàotrong tương lai Tuy nhiên chỉ tiêu bình quân nhân khẩu trên lao động là 1,67 nhânkhẩu, điều đó cho thấy số người ăn theo trên một lao động cũng khá cao Điều này gâykhó khăn trong việc tích lũy, nhiều gia đình sản xuất không đủ ăn do số người ăn theolớn Bình quân lao động nông nghiệp/hộ là 1,96 lao động, các hộ gia đình thôngthường chỉ có hai vợ chồng làm nông nghiệp, còn con cái đến tuổi lao động thường đilàm ăn xa chứ ít người ở nhà làm ruộng Chính điều này đã gây khó khăn trong việc ápdụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Trang 30Bảng 8: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra trên địa bàn xã
Lam Sơn năm 2009
7 BQ trình độ văn hóa của người được điều tra Lớp 7,5 (hệ lớp 10)
9,4 ( hệ lớp 12)
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Bình quân tuổi của người được phỏng vấn là 43,12 tuổi; do việc chăn nuôi lợnthường do những người phụ nữ đảm nhận nên đối tượng được phỏng vấn đều là phụ
nữ Với độ tuổi bình quân như vậy chứng tỏ họ là những người có đủ sức khỏe và sựchín chắn trong hoạt động chăn nuôi lợn Trình độ văn hóa của người được phỏng vấnkhá cao, đối với hệ lớp 10 là 7,5 lớp, còn với hệ lớp 12 là 9,4 lớp Trình độ văn hóa cóliên quan đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệpnói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
Số năm nuôi lợn bình quân là 12,16 năm, điều đó nói lên rằng các hộ nuôi lànhững người có kinh nghiệm trong việc chăn nuôi lợn Kinh nghiệm chăn nuôi lợnđược thể hiện rõ nhất trong khâu chọn giống Trong hoạt động sản xuất nông nghiệpnói chung và hoạt động chăn nuôi lợn nói riêng thì kinh nghiệm của những người nôngdân rất quý báu, nó được đúc rút từ thế hệ này sang thế hệ khác và nó góp phần khôngnhỏ trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất
Trang 312.2.2.1.2 Đất đai
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu,đặc biệt và không thể thay thế được Qua số liệu ở bảng 9 cho ta thấy rõ hơn về tìnhhình sử dụng đất đai của các hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Lam sơn
Bảng 9: Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra năm 2009
ĐVT : m 2
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Bình quân diện tích đất nông nghiệp/hộ là 3.538 m2 (hơn 7 sào); bình quândiện tích đất nông nghiệp/LĐNN là 1.805,10 m2, đây là một con số tương đối lớn sovới các xã khác thuộc vùng lân cận Nguyên nhân là do diện tích đất nông nghiệptrên địa bàn xã nhiều và có nhiều gia đình đấu thầu hoặc nhận thêm ruộng của nhữngngười khác để làm
Là xã nông nghiệp, nên đất nông nghiệp chỉ để trồng lúa là chủ yếu, ngoài racòn trồng các loại cây khác như: ngô, lạc, đậu và hàng năm nó cung cấp một lượnglớn ngô, thóc lép làm thức ăn cho quá trình chăn nuôi lợn Theo điều tra cho thấy, bìnhquân một sào ruộng cho khoảng 0,4 tạ thóc lép/vụ và bình quân một sào ngô cho 2,5 -
3 tạ /vụ, đây là nguồn thức ăn chính cho lợn thịt của các hộ nuôi trên địa bàn xã
Bình quân diện tích đất khác/hộ là 733,3m2 Đất khác bao gồm đất nhà và đấtvườn Những hộ có vườn rộng họ thường trồng rau khoai lang làm thức ăn cho lợn
2.2.2.1.3 Quy mô chuồng trại
Chuồng trại là tư liệu sản xuất hàng đầu không thể thiếu đối với các hộ chănnuôi lợn Xây dựng chuồng nuôi hợp lý cũng góp phần nâng cao trọng lượng lợn hơixuất chuồng Muốn xây dựng chuồng nuôi hợp lý trước hết ta phải biết được mục đíchcủa việc nuôi lợn Nếu nuôi lợn thịt thì mục đích để lấy thịt, càng nhiều thịt càng tốt,muốn vậy lợn phải ít vận động nên thường xây chuồng hẹp và cao để tránh lợn vậnđồng nhiều Bảng số liệu 10 cho ta biết quy mô và giá trị chuồng trại của các hộđiều tra
Trang 32Bảng 10: Quy mô chuồng trại của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam Sơn
4 BQ giá trị xây dựng ban đầu / chuồng nuôi 1000đ 3.768,52
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Bình quân số chuồng nuôi/hộ là 1,08 chuồng và diện tích bình quân/chuồngnuôi là 5,21 m2 Trong tổng số 50 hộ điều tra chỉ có 4 hộ có hai chuồng nuôi lợn thịt,
46 hộ còn lại chỉ có một chuồng nuôi Theo các hộ nuôi thì việc nuôi lợn chỉ lấy cônglàm lãi, các hộ nuôi để tận dụng phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp (thóc lép,
vỏ lạc ) Vì vậy cho nên họ không có ý định mở rộng quy mô chuồng nuôi, thậm chínhiều người còn có ý định bỏ nghề nuôi lợn
Phần lớn các hộ điều tra đều xây chuồng kiên cố, thời gian sử dụng ước tính từ
10 - 20 năm Tuy nhiên giá trị xây dựng ban đầu của mỗi chuồng nuôi không lớn, bìnhquân là 3.768.520đ/chuồng Giá trị xây dựng ban đầu của mỗi chuồng nuôi phụ thuộcvào thời điểm xây dựng và mức đầu tư của từng hộ Đa số kinh tế của các hộ chưa dưgiả, hơn nữa họ nuôi lợn để tận dụng phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp nênkhi xây dựng chuồng nuôi thường tận dụng tre, gỗ trong vườn; mua gạch, ngói loại Bnên chi phí xây dựng chuồng trại ban đầu không lớn
2.2.2.2 Quy mô sản lượng thịt bán ra của các hộ điều tra năm 2009
Sản phẩm thu được từ chăn nuôi bao gồm sản phẩm chính là trọng lượng lợnhơi xuất chuồng phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng và sản phẩm phụ là phân bónphục vụ cho ngành trồng trọt Bảng số liệu 11 cho ta thấy rõ về quy mô sản lượng lợnthịt bán ra trong năm 2009 của các hộ nuôi
Trang 33Bảng 11: Sản lượng lợn thịt của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam sơn năm 2009
Tổng số lợn thịt nuôi của các hộ điều tra Con 270Tổng số lợn thịt bán của các hộ điều tra Con 269Tổng trọng lượng thịt bán ra của hộ điều tra Kg 14.757
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Trong tổng số 50 hộ điều tra năm 2009, các hộ nuôi 270 con lợn thịt và xuấtchuồng 269 con Tỉ lệ lợn nuôi sống đạt 99,63% Do lợn là giống dễ nuôi nên tỉ lệnuôi sống tương đối cao Trọng lượng xuất chuồng/con nằm trong khoảng 43 - 71 kg,bình quân đạt 54,86 kg Theo các hộ nuôi nếu nuôi lợn quá to trên 65 kg thì nhà muagom - giết thịt cho rằng lợn quá lớn làm thịt bán không hết Hơn nữa càng nuôi lớnthì chi phí cho lợn ăn nhiều, nên lợn tầm khoảng 50 - 55 kg là các hộ nuôi xuất bán.Mặt khác giống lợn chủ yếu là lợn nội, mua ở địa phương nên khó có thể nuôi lớnhơn Trọng lượng lợn hơi khoảng trên dưới 50 - 55 kg được các nhà mua gom - giết
Qua đó ta thấy quy mô của các hộ nuôi còn manh mún, nhỏ lẻ Tuy nhiên các
hộ cũng không có ý định mở rộng quy mô, thậm chí nhiều hộ còn chuyển từ nuôi lợnsang nuôi bò vì họ cho rằng với lượng cám đó nếu chuyển sang đầu tư chăn nuôi bò sẽ
có lợi hơn Tuy nhiên trên địa bàn xã các hộ nuôi bò chủ yếu là để cày kéo chứ ít giết
Trang 34thịt vì nó có giá trị quá lớn, nên thị thường tiêu thụ bò thịt trên địa bàn xã chưa pháttriển Chính vì vậy chăn nuôi lợn vẫn là nghề quan trọng trên địa bàn xã
2.2.2.3 Chi phí chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam Sơn
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn, ta phải tính đến chi phí.Chi phí càng cao thì làm cho giá trị gia tăng giảm xuống, tuy nhiên mức đầu tư hợp lí
và cân đối giữa các yếu tố trong chi phí trung gian là điều kiện quyết định đến giá trịgia tăng và thu nhập
Chi phí chăn nuôi lợn bao gồm: Chi phí trung gian (IC), chi phí tự có của hộ giađình (rau, cám hộ gia đình tự sản xuất được, lao động gia đình), chi khấu hao chuồngnuôi Chi phí trung gian bao gồm: Giống, cám, rau xanh, thức ăn công nghiệp, phòngtrừ dịch bệnh, chi nhiên liệu (củi, điện, nước) mà các hộ nuôi phải mua ở bên ngoài
Mức độ đầu tư vào chăn nuôi lợn phụ thuộc vào nguồn lực của từng nông hộ.Qua bảng số liệu 12 sẽ cho ta thấy rõ hơn về mức độ đầu tư chi phí trong quá trìnhchăn nuôi lợn của các nông hộ điều tra
Để nuôi một con lợn, hộ gia đình phải bỏ ra 1.378.110 đồng, trong đó chi phítrung gian là 570.540 đồng, chiếm 41,40%; chi phí tự có của hộ gia đình là 744.760đồng, tương ứng 54,04%; khấu hao chuồng trại chiếm 62.810 đồng, tương ứng 4,56%
Trong tổng chi phí thì chi phí tự có của hộ gia đình là lớn nhất, chiếm 54,04%.Chi phí tự có chiếm tỉ trọng lớn như vậy là do hộ nuôi đều là những hộ sản xuất nôngnghiệp, bình quân diện tích đất nông nghiệp/hộ cao (3.538 m2/hộ) cho nên phần lớn hộ
tự túc được thức ăn cho lợn và công lao động Trong chi phí tự có thì chi thức ănchiếm 64% Thức ăn tự có của hộ gia đình chủ yếu là rau và cám, thành phần trongcám chủ yếu là ngô và thóc lép, hai thứ này trộn lẫn vào nhau, nghiền nhỏ làm thức ăncho lợn Còn rau chủ yếu là rau lang được các hộ trồng ở vườn
Chi lao động gia đình tính bình quân/con là 268.090, chiếm 36% trong tổng chiphí tự có Qua điều tra các hộ nuôi cho biết, mỗi ngày hộ thường bỏ ra khoảng 1 - 1,5giờ vào những công việc chăm sóc lợn Trong quá trình chăm sóc thì công việc chủyếu là nấu cám, cho lợn ăn, dọn chuồng Những công việc này thường là do phụ nữtrong gia đình đảm nhận vì khối lượng công việc không nhiều, và cũng không nặngnhọc, nó thích hợp với người phụ nữ hơn Tuy nhiên việc chăm sóc lợn nuôi chưa thực
sự được các hộ quan tâm, nhiều hộ cho lợn ăn không theo một thời gian cụ thể nàotrong ngày Khi nào lợn kêu thì mới cho ăn, khi nào chuồng bẩn thì dọn chứ không
Trang 35dọn hằng ngày Trong các hộ điều tra thì chưa có hộ nào đầu tư hệ thống máy bơm đểtắm cũng như dọn chuồng hàng ngày cho lợn Đặc biệt là những ngày mùa, các hộthường đi sớm về khuya nên không để ý đến việc cho lợn ăn Theo những hộ nông dânvào ngày mùa lợn chỉ được ăn 1 - 2 lần trong ngày, buổi sáng thì cho ăn quá sớm, buổitối lại cho ăn quá muộn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trọng cũng như chấtlượng của lợn xuất chuồng Chăm sóc đúng kỹ thuật là một trong những nhân tố quantrọng quyết định đến thành quả của việc nuôi lợn, vì vậy các hộ nuôi cần tuân thủ đúngquy trình Do các hộ đều nuôi với quy mô nhỏ, chủ yếu tận dụng phế phụ phẩm, laođộng nhàn rỗi của hộ nên không có hộ nào thuê lao đông từ bên ngoài.
Tiếp đến là chi phí trung gian, chi phí này tính bình quân/con là 570.540 đồng
và tính bình quân/hộ là 3.080.860 đồng, chiếm 41,40% trong tổng chi phí Trong chiphí trung gian thì chi mua thức ăn chiếm tỉ trọng lớn nhất 58,53%, tiếp đến là chi muagiống chiếm 35,64% Chi nhiên liệu và chi phòng trừ dịch bệnh chỉ chiếm một phầnnhỏ trong chi phí trung gian, lần lượt là 5,46% và 0,37%
Trong chi mua thức ăn thì chi mua thức ăn công nghiệp là lớn nhất, chi phí nàytính bình quân/con là 274.830 đồng, chiếm 82,30% Theo các hộ nuôi nếu không cho
ăn thức ăn công nghiệp thì lợn lười ăn và chậm lớn Tuy nhiên do kinh tế của các hộnuôi còn khó khăn, mặt khác các hộ nuôi cho rằng việc nuôi lợn chỉ để tận dụng phế,phụ phẩm, sản phẩm dư thừa trong bữa ăn gia đình nên họ đầu tư mua thức ăn côngnghiệp là không lớn Thường cho ăn rất ít, chỉ để kích thích lợn hay ăn hơn, có hộ chỉcho ăn khi còn nhỏ, thậm chí có hộ không cho ăn Muốn đạt kết quả cao thì các hộ cầnđầu tư thêm về thức ăn công nghiệp và cho ăn đúng liều lượng Qua diều tra cho thấycác hộ nuôi thường sử dụng thức ăn cao đạm được sản xuất theo công nghệ Mỹ củacông ty Thiên Long, thức ăn mang nhãn hiệu S.J.S do Sun Feeds Company sản xuấthoặc thức ăn mang nhãn hiệu S168 do công ty thức ăn chăn nuôi Thái dương sản xuấtdành cho heo từ tập ăn đến xuất chuồng Có nhiều hộ nuôi khi được hỏi tại sao họ mualoại thức ăn công nghiệp này thì họ trả lời thấy nhà hàng xóm dùng loại này lợn nhanhlớn nên họ mua theo Họ không thực sự biết loại nào phù hợp với lợn nhà mình và cómột số hộ thì được tư vấn bởi những người bán thức ăn công nghiệp Giá thức ăn côngnghiệp phụ thuộc vào trọng lượng từng bao và từng loại thức ăn Cụ thể giá của một sốloại thức ăn như sau: vào thời điểm tháng 10, 11 năm 2009 thức ăn do công ty ThiênLong sản xuất bao 5kg có giá 80.000đ, bao 20kg có giá 312 - 32.000 đ, bao 25kg có
Trang 36giá 340 - 348.000đ; thức ăn mang nhãn hiệu S.J.S do Sun Feeds Company sản xuấtbao 25kg có giá khoảng 300 - 320.000đ/bao Khi cần mua thức ăn công nghiệp hộ nuôi
có thể điện thoại hoặc gặp trực tiếp người cung cấp thức ăn, họ sẽ chở thức ăn đến tậnnhà và nếu chưa có tiền thì có thể nợ đến lúc bán lợn rồi trả Việc trả tiền trước hay saukhi bán lợn mới trả không có sự chênh lệch nhiều Những người cung cấp thức ănthường không lấy lãi nếu hộ nuôi tra tiền chậm, sở dĩ nhà cung cấp thức ăn côngnghiệp có sự ưu đãi như vậy với hộ nuôi là để thu hút khách hàng
Bảng 12: Chi phí chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam Sơn
(tính BQ/năm)
Tính BQcho 1 con
4 Chi nhiên liệu (củi, điện nước) 31,17 168,30 5,46
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Ngoài thức ăn công nghiệp phải mua ngoài, một số hộ phải mua thêm cám, rauvào cuối vụ Theo kết quả điều tra cho thấy giá cám năm 2009 dao động trong khoảng
từ 3.500 - 5.500 đồng/kg, tùy vào từng loại cám và thời điểm mua Nếu cám ngô, muavào đầu vụ thu hoạch ngô thì giá chỉ khoảng 3.000 - 4.000 đồng/kg, nếu mua vào cuối
vụ thì giá có thể lên đến 5.000 đồng Ngoài ra giá cám còn phụ thuộc vào từng loại
Trang 37cám Cám ngô thường rẻ hơn cám gạo 1.000đ/kg, cám ngô lẫn thóc lép giá rẻ hơn cámngô tinh 1.000 đồng.
Trong tổng chi phí trung gian, chi phí giống chiếm 35,64%, tính bình quân/hộ/năm
là 1.098.000đ; tính bình quân/con thì chi phí này là 203.330 đ Các hộ đều mua giốngcủa những người nuôi lợn nái trong làng, không có hộ nào mua ở chợ hay ở các trạmgiống, vì vậy giống không được kiểm dịch và nhiều giống lợn đã bị thoái hóa do quaquá nhiều lứa đẻ Năm 2009, giá giống dao động từ 180 - 220.000đ /con Đa số các hộnuôi thường chọn giống theo cảm quan, kinh nghiệm mà cha ông để lại Theo kinhnghiệm của các hộ nuôi muốn chọn giống lợn thịt tốt thì phải chọn con: lưng dài,mông nở, chân cao, mắt tinh, lông mượt, da hồng nếu chọn được những con giống cóđặc tính như vậy thì hay ăn và chóng lớn
Trong tổng chi phí trung gian, thì chi phòng trừ dịch bệnh chiếm tỉ trọng nhỏ nhấtchỉ 0,37%, tương ứng 11.320 đồng tính BQ/hộ/năm Các hộ nuôi chỉ tiêm phòng dịchđịnh kỳ cho lợn do xã phát động một năm hai lần, mỗi lần tiêm là 2.000đ/ con Chính vìthế chi phí này không nhiều Mỗi năm xã chỉ tổ chức tiêm phòng hai lần vào đầu vàgiữa năm, trong khi nhiều hộ nuôi một năm 3 - 4 lứa lợn cho nên có nhiều con chưađược tiêm phòng Mặt khác, do chất lượng các đợt tiêm phòng chưa cao nên khi xãphát động thì người dân không mấy hào hứng Nhiều hộ nuôi chỉ tiêm theo hình thứcchống đối Phần lớn các hộ nuôi không hiểu biết nhiều về các loại bệnh mà lợn mắcphải, khi phát hiện lợn có triệu chứng bị bệnh, mà chủ yếu là bỏ ăn, chán ăn thì lập tức
họ gọi cán bộ thú y Tất cả các khâu chẩn đoán, điều trị, chi phí… đều do cán bộ thú yquyết định Qua đó cho thấy hộ hoàn toàn bị động trong khâu phòng và trị bệnh dịchcho lợn
Nhiên liệu cần thiết trong quá trình chăn nuôi lợn như củi (dùng nấu cám cholợn), điện nước, chi phí này chiếm 5,46% trong tổng chi phí trung gian Do ở vùngnông thôn chưa có nước máy mà các hộ chủ yếu dùng nước giếng khoan, nên khôngphải mua nước, tuy nhiên để có được nước cho lợn ăn, dọn chuồng, tắm cho lợn thìcần phải bơm Nên chi phí nước dùng cho hoạt động chăn nuôi lợn được tính chungvào tiền điện
Chi khấu hao bình quân/hộ là 339.170đ, chiếm 4,56% trong tổng chi phí Chikhấu hao ở đây chủ yếu là khấu hao chuồng nuôi, ngoài chuồng nuôi thì hộ không đầu
tư tài sản cố định nào thêm để phục vụ cho việc nuôi lợn Các hộ nuôi nuôi lợn theo
Trang 38hình thức tận dụng là chủ yếu nên đầu tư cho hệ thống chuồng trại chưa nhiều, thôngthường mỗi chuồng nuôi từ 3 - 4 con và trong mỗi chuồng thường xây thêm một cáimáng để tiện cho việc cho lợn ăn.
2.2.2.4 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra ở xã Lam Sơn
Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả làm ăn củangười nông dân hay doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp đượcđánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau: GO, VA, IC, MI, GO/IC, VA/IC, MI/IC Bảng
số liệu 13 sẽ cho ta thấy hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Lamsơn
Bảng 13: Kết quả và hiệu quả nuôi lợn thịt của các hộ điều tra trên địa bàn xã Lam
sơn (tính BQ/năm)
Giá trịTính BQ cho 1con
Tính BQ cho
1 hộ
- Trọng lượng lợn hơi xuất chuồng
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Bình quân một năm một hộ nuôi lợn thu được 6.788.380 đồng giá trị sản xuất,đây là một nguồn thu đáng kể cho những hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Trọnglượng xuất chuồng bình quân/con là 54,86 kg và giá bán lợn hơi bình quân23.000đ/kg Theo các hộ nuôi trong năm 2009 giá bán thời điểm cao nhất là 28.000đ/kg, vào thời điểm thấp nhất là 18.000 đ/kg Giá cao thường vào dịp và những ngày
Trang 39lễ, tết Vì đây là những ngày lễ lớn của người dân địa phương nên sức tiêu thụ thịt lợncao hơn những ngày bình thường.
Giá trị gia tăng bình quân một con mang lại trong một năm là 691.240đ, và tínhBQ/hộ/năm là 3.707.520đ Đây là một nguồn tương đối lớn đối với các hộ nuôi Đốivới những người nông dân, thu nhập của họ chủ yếu là từ hoạt động sản xuất nôngnghiệp khoản thu này góp phần giúp họ tích góp được một số tiền nhằm giải quyết mộtphần khó khăn về kinh tế Với những người nông dân thì đây là khoản thu giúp họ cótiền nộp học cho con, có tiền mua vật tư (lân, đạm) phục vụ cho sản xuât nông nghiệp
và dể trang trải cho các hoạt động ma chay, cưới hỏi Sở dĩ giá trị gia tăng tínhBQ/hộ/năm tương đối cao là do các hộ nuôi phần lớn là những người sản xuất nôngnghiệp, họ tự trồng được ngô, lúa, rau để làm thức ăn cho lợn nên khối lượng thức ăn
họ mua ngoài không nhiều, vì thế chi phí tự có lớn điều đó làm cho giá trị gia tăng lớn
Thu nhập hỗn hợp là một chỉ tiêu phản ánh kết quả, nó chính là giá trị gia tăngsau khi trừ đi khấu hao Thu nhập hỗn hợp bình quân mỗi hộ nuôi thu được trong năm
là 3.368.350 đồng, đây là một khoản thu đáng kể đối với các hộ nuôi, tuy nhiên trongkhoản thu nhập hỗn hợp này thì chi phí gia đình tự có chiếm đến 4.021.730 đồng, nếutrừ chi phí gia đình tự có ra thì các hộ nuôi không những không thu được khoản nào
mà còn bị lỗ (do chi phí gia đình bỏ ra lớn hơn thu nhập hỗn hợp)
Xem xét các chỉ tiêu hiểu quả: GO/IC, VA/IC, MI/IC cho thấy các hộ nuôi ởđây cứ bỏ ra một đồng chi phí trung gian thì thu được 2,2 đồng giá trị sản xuất, 1,2đồng giá trị gia tăng và 1,1 đồng thu nhập hỗn hợp So với một số ngành nông nghiệpkhác thì hiệu quả chăn nuôi lợn như vậy là cao Tuy nhiên do các hộ nuôi trên địa bàn
xã đều là những hộ sản xuất nông nghiệp, nên họ tự túc được phần lớn thức ăn cho lợn
mà ít phải mua từ bên ngoài Chính đặc điểm này đã làm cho chi phí trung gian của hộ
bỏ ra ít, nên giá trị gia tăng và thu nhập hỗn hợp cao, điều này đã làm cho các chỉ tiêuhiệu quả GO/IC, VA/IC, MI/IC cao
2.3 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THỊT LỢN CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LAM SƠN
2.3.1 Mô tả chuỗi cung đầu ra của lợn thịt (Kênh tiêu thụ)
Hiện nay trên địa bàn xã, kênh tiêu thụ lợn thịt của các hộ nuôi đi theo haihướng, và nó được thể hiện ở sơ đồ sau:
Trang 40Sơ đồ 2: Mỗi quan hệ giữa các tác nhân trong kênh tiêu thụ sản phẩm lợn thịt của
Việc thanh toán giữa người mua gom và hộ chăn nuôi lợn được thực hiện chủyếu theo hai hình thức, thứ nhất: trả tiền ngay khi bắt lợn; thứ hai: trả trước một phần,sau khi mổ lợn bán rồi trả tiếp phần còn lại, trả tiền theo hình thức này thì sau khi đếntrả phần còn lại người mua gom thường đưa ra những lý do như: lợn mỡ nhiều không
có người mua, ế không bán được để bớt tiền của hộ nuôi Bằng cánh này hay cáchkhác thì những người thu gom luôn tìm cách bớt tiền của hộ nuôi
Người tiêu dùng
Thu gom, giết
mổ, bán sỉ, bán lẻ
Thu gom, giết
mổ, bán lẻ ởNgười bán lẻ
Hộ chăn nuôi lợn thịt