1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông qua môn học giáo dục công dân

170 697 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 6,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những phẩm chất, năng lực của người học chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua nhiều hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động giáo dục trong giờ nội khó

Trang 1

0/

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT

VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ

Nhóm tác giả

Trang 2

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT

VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG QUA MÔN HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn sáng kiến

Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách

và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người Mục tiêu giáo dục trong mọi thời đại đều hướng tới mục tiêu giáo dục nhân cách Tuy nhiên qua các thời kỳ với các giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu về nhân cách nói chung

và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời kỳ đó

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW về"đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

và đào tạo”, nền Giáo dục và Đào tạo nước ta cần có sự thay đổi Bên cạnh việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, giúp người học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì giáo dục còn cần phải giúp người học hình thành một

hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Theo đó, những phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người

Trong dự thảo chương trình giáo dục, đến năm 2018 mới có sách giáo khoa cho chương trình mới theo khung chương trình tổng thể, nhưng hiện nay các trường có thể vận dụng được việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trên chương trình và sách giáo khoa hiện hành (sách của chương trình sau năm 2000) Điều đó thực hiện được bởi vì trong sách giáo khoa tri thức vẫn là tri thức khoa học, chỉ có sự chiếm lĩnh tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức là điều cần thay đổi và luôn thay đổi Vì vậy khi tiếp cận, làm quen với việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học, người cán bộ quản lý giáo dục, người day

sẽ phát hiện ra nhiều vấn đề có thể đóng góp hữu ích cho dự thảo chương trình tổng thể hiện nay và chương trình cụ thể trong thời gian tới

Khi nung nấu và bắt tay vào thực hiện ý tưởng, nhóm tác giả đã tìm hiểu

và rất tâm đắc với sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối quan hệ với các yếu tố

Trang 3

tư tưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ docácnhà nghiên cứu

và phát triển giáo dục Việt Nam đưa ra:

Theo sơ đồ trên, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học tuy có khác với dạy học trước đây nhưng có sự kế thừa, nâng lên từ phương pháp, nội dung dạy học trước đây Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức

độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây

Hướng dẫn Số 964 /SGDĐT-CTTT, ngày 13/9/2016 của phòng CTTT- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình về việc thực hiện Công tác HSSV, giáo dục thể chất và y tế trường học năm học 2016-2017 đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là: Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chú trọng nội dung liên quan tới giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chương trình khởi nghiệp cho HSSV; Triển khai có hiệu quả Quyết định

số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án"Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”; Kế hoạch triển khai Quyết định số 1501/QĐ-TTg của ngành Giáo dục ban hành theo Quyết định số 410/QĐ-BGDĐT ngày 04/02/2016 của Bộ trưởng Bộ GDĐT; Tiếp tục thực hiện có hiệu

Trang 4

cho thanh, thiếu niên trong trường học; tăng cường giáo dục toàn diện; giáo dục

kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, xã hội cho HSSV Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong nhà trường; Triển khai có hiệu quả hoạt động câu lạc bộ, tư vấn tâm

lý, nghề nghiệp cho HS; Tổ chức triển khai thực hiện các quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BGDĐT-BVHTTDL-BLĐTBXH-BCA ngày 05/5/2016 về việc hướng dẫn thực hiện giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trong nhà trường

Những phẩm chất, năng lực của người học chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua nhiều hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động giáo dục trong giờ nội khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp; căn cứ vào kinh nghiệm quản lý; chức năng, nhiệm vụ và kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân (GDCD) ở cơ sở giáo dục cấp THPT; căn cứ vào lý luận về đổi mới phương pháp giảng dạy và điều kiện, tình hình thực tiễn, trong những năm học từ 2015 - 2016 và 2016 - 2017 nhóm tác giả sáng kiến đã trăn trở và mạnh dạn áp dụng một số giải pháp trong đó có phương pháp dạy học trực quan thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa môn GDCD; phát huy vai trò liên môn, khả năng xã hội hóa giáo dục; tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tạo nhiều sân chơi, nhiều cơ hội cho học sinh được trải nghiệm sáng tạo, đó là những lý do cơ bản nhất để nhóm tác giả lựa

chọn sáng kiến"Một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực

cho học sinh trung học phổ thông qua môn học Giáo dục công dân”.

2 Lịch sử đề tài

Vai trò, chức năng của giáo dục phổ thông luôn nhắc tới mục tiêu giáo dục toàn diện nhưng trên thực tế những năm qua, việc tổ chức thực hiện vẫn nặng về"dạy chữ” hơn là"dạy người”,"dạy nghề” Sự thiếu sót này bắt nguồn từ

sự quá tải của chương trình học nội khóa; sự nhận thức sai lệch, thiếu quan tâm của một số các nhà quản lý, các nhà giáo về việc bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh Trong các cơ sở giáo dục phổ thông còn gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian và cơ hội cho các hoạt động giáo dục nội khóa và đặc biệt là giáo dục ngoài giờ lên lớp

Mỗi cơ sở giáo dục có điều kiện, hoàn cảnh riêng vì vậy sự vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện và hiệu ứng của chương trình giáo dục cũng khác nhau Trong năm học 2015 - 2016, nhóm thực hiện sáng kiến của chúng tôi đã tiến hành đi sâu nghiên cứu, tiếp cận vấn đề và quan tâm trau dồi,

Trang 5

phát triển các phẩm chất, kỹ năng cho học sinh thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa bộ môn GDCD đối với khối 11; năm học 2016 –

2017 nhóm tác giả tiếp tục áp dụng mạnh việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa bộ môn GDCD đối với cả ba khối lớp 10,11,12 đồng thời phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Chữ Thập đỏ, Ban Đại diện cha mẹ học sinh tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (NGLL) như hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Hội thi"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình”, tổ chức"Ngày Hội Khởi nghiệp”

Qua quá trình vận dụng một số giải pháp đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn GDCD, tạo sự biến chuyển tích cực về nhận thức và hành vi của học sinh Việc học sinh hứng thú học tập và sự thành công của các chương trình ngoại khóa đã khẳng định bước đi đúng hướng, phù hợp với đối tượng học sinh THPT và địa phương Hoa Lư, Ninh Bình, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường, góp phần tạo tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo trong thời gian tiếp theo

3 Điểm mới của sáng kiến

3.1 Đổi mới phương pháp tổ chức thực hiện

Hoạt động dạy và học là hoạt động điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững

hệ thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam về tự nhiên xã hội- nhân văn, đồng thời rèn luyện cho các em hệ thống

kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Trên cơ sở tổ chức cho học sinh nắm vững tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức mà hình thành cho các em cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra

- Trước hết: Sự đổi mới phương pháp tổ chức thực hiện được thể hiện

trong sự đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức trong giờ nội khóa

Để thực hiện thành công một giờ lên lớp người thầy phải tìm tòi và áp dụng rất nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với đối tượng song trong phạm vi sáng kiến này chúng tôi tập trung làm rõ nét về phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong môn học GDCD;

- Thứ hai: Lựa chọn tên hội thi, hình thức hội thi, cuộc thi tuyên

truyền"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình” được sân khấu

Trang 6

bạn”,"tình yêu”,"hôn nhân và gia đình” được đặt dưới góc nhìn của tuổi học trò;

là những vấn đề đang diễn ra với vai trò là một trong các thành tố giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội; đó có thể là vấn đề của bạn, của tôi hoặc của gia đình bạn, gia đình tôi và của toàn xã hội song cái mà nhóm tác giả hướng tới là từ những kiến thức sẽ đánh thức ý thức trách nhiệm giáo dục của nhà trường - gia đình - xã hội đến ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng phẩm chất, năng lực và hình thành nhân cách của mỗi học sinh; đánh thức ý thức trách nhiệm của thanh niên

- người công dân - chủ nhân đất nước trong tương lai trong bước khởi nghiệp tiến tới chấn hưng đất nước và một giá trị nhân văn hướng tới là sự chia sẻ "vì bạn xứng đáng”

- Thứ ba: Phát huy tối ưu sự kết hợp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển

năng lực cho học sinh trong giờ nội khóa môn GDCD kết hợp với giải pháp bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bởi lẽ học trên lớp và hoạt động ngoại khóa là hai hình thức tổ chức dạy học mà ở mỗi hình thức dạy học đều có điểm mạnh và những hạn chế nhất định song sự kết hợp các hình thức tổ chức dạy học đó lại có điều kiện bổ trợ cho nhau rất hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học Giờ học nội khóa diễn ra trong khuôn khổ lớp học theo thời gian quy định để thực hiện khung chương trình đã được quy định mà ở đó chủ yếu diễn ra hoạt động tương tác chủ yếu giữa thầy và trò, giữa trò với trò trong khi đó hoạt động ngoại

khóa là một trong những sân chơi để học sinh tự nguyện tham gia theo nhu cầu,

khả năng của bản thân giúp học sinh giải tỏa căng thẳng trong việc học với khối lượng kiến thức lớn ở trên lớp và tìm tòi ra những bài học từ trong cuộc sống, phát triển kĩ năng; được khám phá bản thân, phát triển những kĩ năng mới và củng cố những gì bạn có Học sinh còn tập làm quen với việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình giúp triển khai các mục tiêu, dự định cũng như có thêm nhiều kinh nghiệm quản lý và làm việc theo nhóm Tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh cân bằng cuộc sống, thư giãn và tiếp thêm sinh lực từ đó khám phá ra những sở thích mới mẻ, những trải nghiệm thú

vị, phát triển rất nhiều kỹ năng đặc biệt là kỳ năng sống (KNS) góp phần hoàn thiện bản thân cùng với những kiến thức được học để xây dựng hành trang vững chắc nhất khi bước vào cuộc sống xã hội với những bổn phận và trách nhiệm của người công dân

- Thứ tư: Phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các

lực lượng giáo dục ngoài nhà trường: Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của hoạt

Trang 7

động dạy học ở trường phổ thông, đòi hỏi phải gắn hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong đó, quan trọng nhất là tạo động lực và kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên; kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong tập thể với sự quản lý thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường; đảm bảo chất lượng dạy học một cách bền vững; xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp để phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường

Thực hiện mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh qua giảng dạy bộ môn GDCD, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo nhóm chuyên môn kết hợp với BCH Đoàn trường xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện trong

đó đi sâu áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa và chương trình ngoại khóa"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình” được triển khai trên cả khối lớp 10, 11,12 Trong chuỗi hoạt động đó cao điểm là Hội thi"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình”; Hội thi được đặt trong không gian"Ngày Hội Khởi nghiệp” tổ chức vào ngày 24/3/2017 với phương châm hiệu quả, an toàn, tiết kiệm, phát huy nội lực, phát huy tối đa khả năng và sức sáng tạo của học sinh và khả năng xã hội hóa giáo dục trong hoạt động dạy và học

3.2 Học sinh thực sự là chủ thể trong mọi hoạt động

- Trong giờ nội khóa HS là chủ thể của mọi hoạt động nhận thức: Lớp trưởng (nhóm trưởng) là người điều hành hoạt động nhóm; mọi thành viên chủ động tiếp cận, phát hiện, nêu vấn đề và đưa ra ý kiến, hướng giải quyết vấn đề; giáo viên hướng dẫn và ở mức độ nào đó cùng HS làm đồ dùng dạy học (cùng

vẽ sơ đồ tư duy, lập bảng biểu kiến thức, phản ánh những câu chuyện có thật trong cuộc sống );

- Trong giờ ngoại khóa HS là"Nhóm Khởi nghiệp”,"Nhà đầu tư”, được làm người dẫn chương trình, người thủ lĩnh hay người quản lý một nhà hàng; được làm một diễn viên trên sân khấu hóa thân trong những hình tượng nhân vật yêu thích; được đối diện với sự thành công hay thất bại trong kinh doanh, được nói lên quan điểm, nhận thức của mình

Theo sự hướng dẫn của thầy cô, HS hoàn toàn chủ động tiếp cận vấn đề

Trang 8

luyện kỹ năng, bồi dưỡng tư tưởng, thái độ, tình cảm tích cực trong giờ nội khóa với các hoạt động giáo dục NGLL; qua quá trình học tập khám phá tri thức cũng chính là quá trình các tập thể và cá nhân khám phá chính bản thân mình, bộc lộ khả năng, thái độ, xúc cảm, vai trò của mình trong tập thể từ đó có định hướng

rõ hơn con đường đi trong tương Kết quả đạt được của các hoạt động là thước

đo tình cảm, tài năng, trí tuệ của mỗi tập thể và cá nhân

3.3 Phát huy khả năng vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học

Môn GDCD có đặc trưng riêng là tổng hợp nhiều kiến thức từ Triết học, Kinh tế - chính trị Mác - Lênin, Nhà nước và pháp luật, Đạo đức, các chính sách

xã hội và tích hợp nhiều nội dung như giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh, Phòng chống tham nhũng, tuyên truyền Luật an toàn giao thông, phòng chống các tệ nạn xã hội Nội dung của chương trình có mối liên hệ với một số nội dung của các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục quốc phòng, Sinh học, Công nghệ Chính vì vậy khi đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực người học, GV các môn học khác nhau có thể phối hợp nhịp nhàng để cùng xây dựng và thực hiện các hoạt động giáo dục Đặc biệt với hình thức giáo dục NGLL Chẳng hạn, với chủ đề"môi trường”,"dân số”, ‘việc làm”, kiến thức môn học Giáo dục công dân và Địa lí có nhiều điểm trùng nhau Hay bài 14 (GDCD10): Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có một số điểm tương đồng với kiến thức môn Ngữ văn (giáo dục lòng yêu nước), môn Lịch sử, Giáo dục quốc phòng (giáo dục truyền thống yêu nước)

Phát huy tính liên môn trong hoạt động giáo dục, mục tiêu bồi dưỡng phẩm phẩm chất, phát triển năng lực cho người học sẽ đạt được hiệu quả cao hơn nhờ việc khai thác và vận dụng kiến thức liên môn nên sâu sắc, có ý nghĩa hơn Mặt khác, giáo viên các môn học có sự tương tác, phối hợp nên qua đó việc học hỏi và trao đổi kinh nghiệm chuyên môn có hiệu quả hơn

3.4 Phát huy tối đa việc thực hiện xã hội hóa trong học tập

Khả năng xã hội hóa (XHH) giáo dục được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản như: Hoạt động giáo dục đó đã lôi cuốn được bao nhiêu người tham gia? họ

là ai? họ đã tham gia thực hiện công việc như thế nào? Số tiền ủng hộ để thực hiện công việc đó là bao nhiêu? Những ai được thụ hưởng thành quả từ hoạt động giáo dục đó?

Chương trình đã đạt được những thành công nhất định Kết quả có được

là do sự đồng thuận, sự quan tâm chỉ đạo vào tạo mọi điều kiện vật chất, tinh

Trang 9

thần, con người, thời gian của các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền trong nhà trường, các cơ quan chuyên môn và có liên quan đóng trên địa bàn, sự phối hợp của các ban, ngành, của các bậc phụ huynh, của giáo viên (GV) và HS trong toàn trường

3.5 Đưa thông điệp rộng rãi trong cộng đồng

Thực hiện chuyên đề ngoại khóa, nhóm tác giả đã lựa chọn hình thức"Hội thi” theo từng chủ đề cho khối 10 là"Tình bạn”; khối 11 -"Tình yêu”; khối 12 -

"Hôn nhân và gia đình”

Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình là những phạm trù, những vấn

đề của đời sống xã hội mà mỗi người vừa là chủ thể vừa là khách thể trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội đó Hiển hiện trong đời thực lại có rất nhiều câu hỏi, nhiều bài toán cuộc đời được đặt ra; có những góc khuất tâm hồn ta không nhận thấy Tự tin bước tiếp hay không thể vượt qua một ranh giới vô hình mong manh trong những vấn đề của cuộc sống? Tất cả đề được gọi tên, nêu ra, để tìm, để hiểu, để có câu trả lời - Chỉ có những diễn đàn mới đưa thông điệp đến với công chúng nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất ngay cả những điều khó nói nhất

4 Phạm vi, đối tượng áp dụng sáng kiến

Sáng kiến góp phần cung cấp những kỹ năng có thể áp dụng để giảng dạy trong giờ chính khóa hoặc ngoại khóa ở tất cả các môn học trong chương trình hiện hành và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với học sinh trung học phổ thông

Trang 10

1.1 Khái niệm về nhân cách, phẩm chất, năng lực

Dưới góc nhìn giáo dục học thì nhân cách là tổ hợp của những phẩm chất

và năng lực, là đạo đức và tài năng được kết tinh ở mỗi con người Con người khi mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất của xã hội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành, phát triển trong hoạt động giao lưu Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi, giải trí con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình Còn theo các nhà

xã hội học thì nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc

Theo từ điển Tiếng Việt: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật; hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục

Cũng theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm có năng lực chung

và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân trong đó:

Trang 11

- Các yếu tố bẩm sinh - di truyền tốt là những mầm mống của phẩm chất

và tài năng, nhất là tài năng con người; các mầm mống cần được phát hiện kịp thời và giáo dục đúng cách thì tài năng mới phát huy, tỏa sáng Nếu không làm như vậy, mầm mống cũng bị mai một Do vậy yếu tố di truyền không có vai trò quyết định đến hình thành nhân cách

- Môi trường tự nhiên, môi trường gia đình, xã hội, hoàn cảnh sống có tác động và ảnh hưởng to lớn đến cá nhân nhưng cũng không có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển nhân cách bởi vì hoàn cảnh sáng tạo ra con người nhưng trong một chừng mực, con người cũng sáng tạo ra hoàn cảnh

- Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách như: giáo dục sẽ định hướng cho phát triển nhân cách, giáo dục làm phát huy các yếu tố bẩm sinh - di truyền, giáo dục khắc phục được một số các khuyết tật, lệch lạc của cá nhân Tuy vậy cá nhân phát triển đến mức độ nào, theo xu hướng nào, giáo dục không quyết định được cho cá nhân Giáo dục không là vạn năng

Trong các yếu tố kể trên chỉ có hoạt động của cá nhân mới là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách vì vậy dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vừa là mục tiêu giáo dục (xét về mục đích, ý nghĩa của dạy học), vừa là một nội dung giáo dục (xét về các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người học) đồng thời cũng là một phương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện) Do vậy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có một ưu thế vượt trội trong hình thành và phát triển nhân cách bởi vì nó hướng người học đi vào hoạt động cá nhân (hoạt động trong giờ, ngoài giờ, hoạt động giao tiếp với tự nhiên, xã hội, môi trường, trải nghiệm ), mà các hoạt động sống, hoạt động cá nhân có vai trò quyết định đối với hình thành nhân cách Vì vậy vấn đề còn lại là người học tham gia như thế nào các hoạt động để hình thành và phát triển nhân cách của mình

1.3 Mô hình dạy học phát triển 3 phẩm chất, 8 năng lực ở Việt Nam

Trong một dự thảo cho đổi mới về chương trình sách giáo khoa sau năm

2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra một chương trình tổng thể gồm ba phẩm chất và tám năng lực như sau (Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố ngày

Trang 12

* Ba phẩm chất là: Sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm

- Sống yêu thương gồm: Yêu tổ quốc, giữ gìn phát huy truyền thống, di sản quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, nhân ái, khoan dung, yêu thiên nhiên

- Sống tự chủ gồm: Sống trung thực; tự trọng; tự lực; chăm chỉ; vượt khó;

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực hợp tác

Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân

- Năng lực tính toán

- Năng lực công nhệ thông tin và truyền thông

2 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh

Bồi dưỡng các phẩm chất, phát triển các năng lực cho học sinh thực chất chính là hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống Công tác này có vai trò vô cùng quan trọng trong thời kỳ hiện nay, khi tình trạng xuống cấp đạo đức đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và kỹ năng, năng lực lao động xã hội rất thấp đang là vấn đề báo động cấp quốc gia Và môn GDCD là một bộ môn đặc thù có đóng góp quan trong trong việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh phổ thông

Giáo dục đạo đức, lối sống giúp cho mỗi cá nhân nâng cao trình độ nhận thức về các giá trị đạo đức, lối sống từ đó tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, lối sống của xã hội

Giáo dục đạo đức, lối sống góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo dựng; đồng thời góp phần tích cực trong việc giáo dục hình thành những giá trị đạo đức, lối sống mới, khắc phục những quan

Trang 13

điểm lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị đạo đức truyền thống, những thói hư tật xấu hay những hiện tượng phi đạo đức

Giáo dục đạo đức, lối sống không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức, lối sống mà còn thông qua đó để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức Trên cơ sở đó giúp con người nhận ra giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý nghĩa cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần nhân đạo hóa con người và đời sống xã hội Trong chiến lược phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta đề cao vai trò giáo dục đạo đức, lối sống cho cho học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng góp phần:

- Hoàn thiện nhân cách cho học sinh thực hiện tốt những bổn phận đạo đức của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện, có trách nhiệm với gia đình và

xã hội

- Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh

- Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm trong sáng, cao thượng

- Bồi dưỡng ý chí, hành động đúng, hình thành những thói quen đạo đức, lối sống đặc biệt là ý thức trách nhiệm công dân

- Đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành động của học sinh Xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch, tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội

- Hướng tới mục tiêu ngăn chặn tình trạng bạo lực trong học sinh; đảm bảo an ninh, trật tự trong trường học, kiềm chế, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật trong học sinh

Giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng các phẩm chất, năng lực cho người học có vai trò rất lớn trong việc hình thành ý thức, tình cảm cũng như các hành

vi đạo đức của con người nói chung, của học sinh nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức xã hội; trước những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên thì công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh càng trở nên quan trọng Để hoàn thành xuất sắc"sứ mệnh” của môn học, nhà giáo là yếu tố quyết định thành công của công tác giáo dục phẩm chất, năng lực cho học sinh thông qua việc biết lựa chọn phương pháp giảng dạy

Trang 14

cầu của người học; để từ đó, trang bị kiến thức và kỹ năng cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn

3 Vai trò của bộ môn Giáo dục công dân trong việc bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh THPT

Vai trò của các môn học đối với phát triển phẩm chất, năng lực theo các mức độ khác nhau và thể hiện theo các mức độ như: Môn học đóng vai trò chủ yếu ; môn học góp phần ; môn học tạo cơ hội phát triển năng lực cụ thể hoặc theo nhóm năng lực

Môn học GDCD trong chương trình giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục học sinh về ý thức và hành vi, góp phần trang bị cho học sinh kỹ năng sống, rèn luyện ý thức sống của người công

dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực

cần thiết của công dân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Đây là

việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài và cũng không hề đơn giản trước những làn sóng văn hóa của thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế thị trường Đặc biệt là khi Nhà nước đang quyết tâm triển khai thực hiện có hiệu

quả việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng

phát triển phẩm chất, năng lực của người học, chuyển mạnh quá trình giáo dục

từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển con người toàn diện thì hơn bao giờ hết, bộ môn GDCD giữ một vị trí vô cùng quan trọng, là môn học cần thiết, không chỉ trang bị cho người học những tri thức đạo đức mà điều quan trọng là rèn luyện cho học sinh thói quen, kỹ năng và thực hiện hành vi quan hệ giao tiếp, ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

Thứ nhất: Giáo dục công dân đóng vai trò quan trọng trong quá trình

hình thành phẩm chất, nhân cách học sinh

Khi sinh ra mỗi học sinh giống như tờ giấy trắng, chính sự dạy dỗ của gia đình, nhà trường và xã hội mà hình thành nên nhân cách một con người Nhà trường là nơi mà trẻ em được giáo dục đầy đủ nhất về các mặt như: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ… Trong đó môn giáo dục công dân đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Môn giáo dục công dân hình thành cho các

em những tri thức, niềm tin đạo đức, từ đó hình thành nên các hành vi đạo đức

và động cơ đạo đức tương ứng Môn học khơi gợi cho học sinh tình yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực và trách nhiệm Những hành động sai thường bắt nguồn từ những quan điểm sai lệch, chính vì vậy mà ngay từ dầu chúng ta phải hướng các em học sinh đến những quan điểm đạo đức

Trang 15

đúng đắn, phù hợp với quan niệm đạo đức của xã hội, để hình thành nên những thói quen đạo đức tốt Giáo viên trực tiếp là người uốn nắn những tư tưởng sai lệch của học sinh, chỉ ra cho các em cái gì là đúng là phù hợp với quan niệm đạo đức của xã hội, điều gì là chưa đúng để các em kịp thời sửa chữa

Thứ hai: Giáo dục công dân là môn học cung cấp cho học sinh cái

nhìn đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan

Trong cuộc sống biết nhìn nhận mọi vấn đề một cách khách quan, không

áp đặt ý kiến chủ quan của mình Nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và phát triển của thế giới Tin tưởng vào sự phát triển của xã hội, tránh xa những hủ tục, lạc hậu và mê tín dị đoan Trở nên bình tĩnh trước mọi tình huống của cuộc sống Có thái độ cầu thị trong học tập, rèn luyện và lao động sản xuất Tránh cho học sinh tư tưởng chủ quan, coi thường việc nhỏ Đây là những đức tính tốt giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu của học sinh sau này Là con đường để hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa

Thứ ba: Giáo dục công dân là phương tiện hữu hiệu để giúp học sinh

hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng sống Kỹ năng sống của học sinh

là khả năng vận dụng những kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…)

để giải quyết một nhiệm vụ Bất cứ kỹ năng nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết Những kiến thức mà môn giáo dục công dân đã cung cấp cho học sinh chính là những cơ sở đầy đủ và mang tính khách quan nhất Kỹ năng quan trọng mà học sinh tiếp nhận được khi học môn giáo dục công dân là những kỹ năng như: tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, ứng… Nhờ những kỹ năng này mà học sinh có thể tự tin hơn trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội

Như vậy có thể nói môn giáo dục công dân có một vai trò vô cùng to lớn đối với việc giáo dục phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh Nó giúp cho học sinh có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để ứng xử phù hợp trong cuộc sống Việc dạy học có hiệu quả môn giáo dục công dân sẽ giúp giảm thiểu những tệ nạn xã hội đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra trong xã hội Xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, không còn lối ứng xử thiếu văn hóa, không còn tình trạng bạo lưc trong giáo dục, một xã hội chỉ có tình yêu thương,

sự tôn trọng, sống trung thực, trách nhiệm, xây dựng hòa bình, hạnh phúc

Trang 16

B CƠ SỞ THỰC TIỄN

I Thực trạng vấn đề đạo đức, lối sống của học sinh THPT hiện nay

1 Những biểu hiện tích cực về đạo đức, lối sống của của học sinh

Có thể khẳng định rằng, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện nay đã có nhiều tiến bộ; sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng trong toàn bộ hệ thống chính trị được tăng cường; việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để chung tay giáo dục học sinh có lối sống lành mạnh, tích cực học tập, nghiên cứu khoa học và sống có trách nhiệm đã được quan tâm đúng mức Học sinh hiện nay nói chung và học sinh trường THPT Hoa Lư A nói riêng

có tinh thần yêu quê hương đất nước, tin tưởng, chấp hành đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của nhà nước Đa số học sinh đều xác định được mục tiêu sống, có lý tưởng phấn đấu rõ ràng với động cơ học tập nghiêm túc; tích cực tham gia các hoạt động, các phong trào thanh niên vì cộng đồng, vì xã hội; biết chia sẻ, hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn

* Về phẩm chất, tư tưởng chính trị: Hầu hết học sinh có tinh thần yêu quê

hương đất nước, tin tưởng và chấp hành đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đa số học sinh đồng ý việc cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay; quê hương, cội nguồn dân tộc vẫn là quan trọng

Đa số học sinh đều xác định được mục tiêu cuộc sống, có lí tưởng phấn đấu rõ ràng với động cơ học tập nghiêm túc, tích cực và chủ động với tinh thần vượt khó; có

ý chí vươn lên trong học tập, rèn luyện và đưa ra được yêu cầu tính tích cực, chủ động, linh hoạt là yếu tố quan trọng giúp học sinh thành công trong học tập

* Về phẩm chất đạo đức: Đa số học sinh có nhận thức và hành vi trân

trọng các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Các phẩm chất như nhân ái, tương thân tương ái giúp đỡ nhau, sống có nghĩa tình, cần cù kiên trì, hiếu học, tôn sư trọng đạo, trung thực, đoàn kết được đại đa số học sinh nhận thức và phát huy Hầu hết học sinh có ý thức trách nhiệm với gia đình, với việc học tập rèn luyện và bản thân

Học sinh đều biết và thực hiện sống, làm việc tuân thủ theo pháp luật; ý thức và trách nhiệm công dân được tăng cường hơn rất nhiều Học sinh tích cực tham gia các hoạt động tập thể, các phong trào, xung kích, sáng tạo, tình nguyện

vì cộng đồng Phong trào tình nguyện do Trung ương Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên Việt Nam tổ chức đã trở thành phong trào chung, thường xuyên trong tất cả các nhà trường với nhiều hình thức phong phú

Trang 17

* Về lối sống, kỹ năng sống: Học sinh THPT hiện nay đều có lối sống

lành mạnh, biết chia sẻ, hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn trong các phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai

Phần lớn học sinh có lối sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú và phê phán những tiêu cực, tệ nạn xã hội và các hành vi trái thuần phong mĩ tục của dân tộc, không sa vào tệ nạn xã hội Tích cực tham gia các hoạt động, phong trào thi đua, cuộc vận động do ngành Giáo dục và các đoàn thể xã hội tổ chức phát động

Trong cuộc sống hiện đại, với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì mọi người cần hợp tác với nhau hơn Học sinh quan niệm rằng hợp tác giúp tạo nên sức mạnh và khiến cho công việc đạt hiệu quả hơn Đồng thời, học sinh vẫn giữ được nếp sống yêu lao động, tiết kiệm, giản dị, khiêm tốn, tôn trọng

sự khác nhau về cá tính và tôn trọng người khác

Như vậy, hầu hết học sinh THPT ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với

Tổ quốc và gia đình và bản thân, ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt với khát vọng cống hiến hết mình vì tương lai tươi sáng của dân tộc

2 Những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống của học sinh

Phải thừa nhận rằng, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học sinh ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, như phai nhạt lý tưởng: Không chịu học tập, học lấy

vì, gian dối trong thi cử kiểm tra, học tập mang tính gò ép của cha mẹ, cho rằng sướng khổ do số trời…

- Một bộ phận không nhỏ chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật điều này thể hiện rõ qua biểu hiện: Thiếu lễ phép với với cha mẹ, thầy cô thích gây

gổ, quấy rối, đánh nhau, trộm cắp, cướp giật mà những điều đó cũng bởi vì đam

mê cờ bạc, số đề, nghiện chơi game…

- Những biểu hiện đó làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên, nhất là khi chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này

Tất cả những suy nghĩ lệch lạc đó dần dần ảnh hưởng xấu đến động cơ, ước mơ hoài bảo vươn lên: lý tưởng trống rỗng, mục đích trông chờ, mờ nhạt, tư

Trang 18

Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân, gia đình, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang"chờ đợi” và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược"diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam

Cụ thể, đạo đức trong học đường đang có nguy cơ xuống cấp, mơ hồ về truyền thống dân tộc, chê bai tinh hoa dân tộc trong khi đó đua đòi sính ngoại… Một bộ phận học sinh rơi vào những tệ nạn xã hội, bạo lực học đường; không kính trọng thầy cô, xem thường bạn bè, mọi người xung quanh; không hiếu thảo với ông bà cha mẹ; thiếu tính nhân đạo; các em mê games bỏ học hoặc

tự tử vì games, vì yêu đương …

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra con số thống kê (chưa đầy đủ) thì từ năm 2009 đến nay, học sinh, sinh viên liên quan đến trên 8.000 vụ việc pháp luật hình sự, trong đó các hành vi gây rối trật tự công cộng có 935 vụ, tội phạm ma túy có 357 vụ, giết người có 37 vụ, trên 6.000 vụ trộm, cướp tài sản…Bạo lực học đường tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn xảy ra tại nhiều địa phương Tình trạng học sinh, sinh viên bỏ học, bỏ nhà sống lang thang, tụ tập thành băng nhóm gây rối trật tự công cộng, phạm pháp diễn biến phức tạp Theo báo cáo sơ bộ của công an 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, từ năm 2010 đến nay, có trên 7.700 học sinh, sinh viên tham gia đánh nhau, bị xử lý kỷ luật

Đối với học sinh trường THPT Hoa Lư A cũng còn có những học sinh bộc

lộ một số biểu hiện chưa tốt về đạo đức, lối sống, lý tưởng:

- Một số học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, không xác định được động cơ học tập nên bỏ học hoặc học để lấy tấm bằng tốt nghiệp THPT

- Một số học sinh thường xuyên vi phạm, không chấp hành nội quy của nhà trường: đi học muộn, không thực hiện đồng phục học sinh, nghỉ học không

lí do, gây mất trật tự trong lớp, nói tục, nói dối thầy cô và bạn bè; để các kiểu tóc, ăn mặc phản cảm…

- Còn hiện tượng học sinh bỏ học đi chơi điện tử; hút thuốc lá

- Có hiện tượng gây gổ gây gổ đánh nhau trong trường, có các hành vi ngôn ngữ, ứng xử thiếu văn hóa

Trước thực trạng đó, công tác bồi dưỡng phẩm chất, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, phát triển năng lực của học sinh được các cơ sở giáo dục, các nhà giáo tích cực triển khai thực hiện với nhiều cách thức khác nhau và đem lại hiệu quả nhất định, trong đó, hình thức giáo dục qua hoạt động ngoài giờ lên lớp thu

Trang 19

hút được sự quan tâm, tạo ra hứng thú mạnh mẽ với học sinh phổ thông, nhờ đó

có ảnh hưởng tích cực đến phẩm chất, năng lực của học sinh

II Thực trạng việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh THPT trong môn học Giáo dục công dân và những nguyên nhân tồn tại

1 Thực trạng việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh THPT trong môn học Giáo dục công dân

Mặc dù bộ môn GDCD có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh THPT, song đến thời điểm hiện nay, trong tâm niệm của của đa số phụ huynh và học sinh vẫn còn lối suy nghĩ bộ môn GDCD là bộ môn phụ trong nhà trường, là môn học không có trong các kỳ thi quan trọng như thi tốt nghiệp hay thi đại học nên học sinh thường học chỉ để có đủ điểm, bỏ qua vấn đề suy ngẫm, tìm hiểu thêm kiến thức đằng sau mỗi bài học, thậm chí là học qua loa, học cho xong Mặc dù từ năm học này, môn GDCD đã trở thành một trong những môn thi tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia nhưng người học chưa thực sự quan tâm học tập, nhất là những học sinh không chọn thi khối khoa học xã hội Thực trạng đó đã và đang tác động tiêu cực tới tâm lí của người dạy Một bộ phận giáo viên tâm huyết với nghề, với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nhưng không ít giáo viên thiếu sự đầu tư, tìm tòi suy nghĩ để cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực của người học Dù các trường đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng vẫn còn"bó khung” trong khuôn khổ của lớp học, giờ dạy nặng tính lý thuyết, thiếu những tư liệu, trích đoạn"người thật việc thật”, những tình huống"thật”… cho nên sức thuyết phục, độ cảm xúc của bài dạy chưa cao Hơn nữa thời lượng dành cho môn GDCD chỉ có 1 tiết/ tuần mà lượng kiến thức thì khá nhiều, không chỉ riêng nội dung chính thức mà nhiều nội dung giáo dục khác nhau cũng"bị giao" cho môn GDCD để"tích hợp” nên việc dạy học mang nặng tính khái quát, giáo viên không có nhiều thời gian giảng dạy cặn kẽ cho học sinh những nội dung, vấn đề nào đó mà học sinh có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn Sự khó khăn về thời gian và kinh phí khiến môn học thiếu điều kiện tốt nhất để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình Công tác phối hợp giữa cấp uỷ, Ban Giám hiệu với tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đã được thực hiện nhưng vẫn chưa phát huy hết nội lực, mối tương quan trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Trang 20

nghiêm túc nội quy nhà trường, thiếu động cơ học tập, rèn luyện, chưa tích cực lao động, chưa tự giá rèn luyện phẩm chất, đạo đức cần thiết và quan trọng, do

đó, kỹ năng sống thiếu và yếu…Chính vì vậy, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho người học được chủ động học tập, nghiên cứu và vận dụng tri thức vào thực tiễn đã và đang được Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai sâu rộng trong ngành giáo dục Lựa chọn những giải pháp tích cực, tiên tiến nhất

để áp dụng trong môn GDCD nhằm thực hiện mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh là vấn đề cần thiết và phải triển khai mạnh mẽ,

kịp thời, có hiệu quả trên cơ sở điều kiện nhà trường, giáo viên và học sinh

2 Nguyên nhân của của những tồn tại

Bất kỳ một lỗi lầm nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân sâu xa của

nó Đạo đức, lối sống của học sinh ngày càng suy thoái, bị"tha hóa”, chất lượng giảng dạy môn GDCD còn hạn chế xuất phát từ 2 nguyên nhân cơ bản sau:

* Nguyên nhân khách quan

- Về phía gia đình: Đối với gia đình cha mẹ sống hòa thuận, có điều kiện

phát triển về kinh tế, cha mẹ có điều kiện và thời gian chăm sóc, yêu thương và quan tâm đến việc nuôi dạy con cái thì trẻ sẽ có phẩm chất đạo đức tốt Còn đối với những gia đình thiếu về vật chất, cha mẹ phải bôn ba lo cuộc sống thì việc giáo dục con cái bị sao nhãng điều này cũng ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách lối sống của các em Bên cạnh điều kiện sống của gia đình, tấm gương đạo đức của cha mẹ cũng là ngọn đuốc soi sáng và giáo dục đạo đức cho con cái Cha mẹ có lối sống lành mạnh, hòa nhập, sống thiện, sống tốt, có lòng nhân nghĩa và biết quan tâm giúp đỡ mọi người xung quanh, hiếu thảo với ông

bà cha mẹ… thì con cái cũng học tập và có những phẩm chất tốt đẹp của cha mẹ vì"gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Ngược lại, nếu trẻ sống trong gia đình mà cha mẹ gây cãi, đánh nhau, rượu chè cờ bạc… cũng ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách và đạo đức của các em

Hơn nữa, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ cũng quyết định quá trình hình thành đạo đức của trẻ Cha mẹ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, quan tâm, thương yêu giúp đỡ và chia sẽ lẫn nhau những khó khăn trong cuộc sống luôn tạo ra một niềm tin và định hướng cho con cái phát triển Ngược lại, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ không hạnh phúc, đỗ vỡ sẽ tạo ra một áp lực lớn về tinh thần cho con cái, làm cho con cái chán nản, bi quan trong cuộc sống, dễ rơi vào

tệ nạn xã hội, đạo đức bị suy thoái

Mặt khác, do nhu cầu thực dụng của phụ huynh về nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai cho con, họ chỉ quan tâm đầu tư đến các môn học để thi Đại

Trang 21

học nên xem nhẹ môn GDCD Thậm chí, nhiều bậc phụ huynh ít quan tâm đến giáo dục đạo đức cho con, chỉ chú ý đến việc đáp ứng các nhu cầu vật chất của con

- Về phía nhà trường: Thực tế cho thấy, nhiều trường học chưa quan tâm

thích đáng đến công tác giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh Khó khăn lớn nhất của nhà trường là phải chú trọng thực hiện các mục tiêu khác được cho là quan trọng hơn Bên cạnh đó, một số giáo viên chỉ chú trọng dạy chữ mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh cách làm người Một phần do thời lượng chương trình không cho phép giáo viên bộ môn dừng lại

để uốn nắn học sinh Một phần do môn GDCD chưa được coi trọng đúng mức, giáo viên thiếu sự đầu tư giảng dạy để đạt chất lượng cao nhất Hơn nữa, với thời lượng 1 tiết/tuần, dù nỗ lực thì giáo viên dạy môn GDCD cũng rất khó khăn trong bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh do nội dung chương trình mang tính hàn lâm, nặng về lí thuyết, nội dung đạo đức, kỹ năng sống chưa được đặt ở một vị trí xứng đáng với tầm quan trọng vốn có Thông qua các tiết dạy, giáo viên vừa trang bị kiến thức, vừa trang bị kỹ năng sống và giáo dục đạo đức trong học sinh, cho nên, hiệu quả đạt được chỉ ở một mức độ nhất định

- Về phía xã hội: Môi trường xã hội ảnh hưởng không nhỏ vào việc hình

thành nhân cách của mỗi công dân nói chung và mỗi học sinh nói riêng do tác động của mặt cơ chế thị trường làm cho trẻ vị thành niên bị cám dỗ vào lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỉ … Môi trường sống xung quanh cùng với những tệ nạn xã hội đang diễn ra tràn lan và ngày càng xâm nhập sâu vào học đường cũng

là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức…

*Nguyên nhân chủ quan

Từ chính bản thân của các em học sinh: Do các em chưa phát triển đầy

đủ về tâm sinh lí, ở giai đoạn này trẻ luôn hướng tới sự ham thích mới lạ, hiếu động trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, thiếu bản lĩnh khả năng kiềm chế chưa cao dễ bị sa ngã vào các tệ nạn xã hội Trong khi đó, môn GDCD ở bậc THPT lại bao hàm hệ thống kiến thức mang tính lí luận, khô khan, trừu tượng, thiếu hấp dẫn Đồng thời, đó là môn không thi Đại học nên các em thiếu quan tâm thích đáng Điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục nói chung và môn GDCD nói riêng

Trang 22

Chương II MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THPT QUA MÔN HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN

A SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG GIỜ NỘI KHÓA

I Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học

Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo Phương pháp dạy học trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:

+ Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…

+ Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị

kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video Trình bày thí nghiệm

là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận

về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức - học tập của HS, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của GV từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo…

Đồ dùng dạy học ở đây được hiểu là những phương tiện, thiết bị vật chất được sử dụng trong quá trình dạy học như: Tư liệu, câu chuyện, tranh, ảnh, bản

đồ, biểu đồ, sơ đồ, bản thống kê, số liệu, phim tình huống, phim tư liệu, trò chơi…Ngoài ra, ta có thể sử dụng một số đồ dùng thông thường trong gia đình, trong sinh hoạt: Dùng để sắm vai, chơi trò chơi

Như vậy đồ dùng dạy học ở đây còn bao gồm cả đồ dùng dạy học trực

quan, do đó có nhiều kiểu và loại đồ dùng dạy học khác nhau nhưng chức năng

của chúng là tích hợp và cơ động Mỗi đồ dùng dạy học đều có thể thực hiện một trong các chức năng sau:

- Truyền thụ tri thức

- Giới thiệu vào bài

- Thông báo hay trình bày thông tin

- Minh họa, giải thích, mô tả trực quan

Trang 23

Đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nâng cao chất

lượng dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh có hiệu quả nhất Đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển tải thông tin

và nó còn là nội dung của quá trình truyền thụ tri thức giáo dục tư cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS Nó điều khiển mọi hoạt động tư duy của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Nó tác động lớn trong việc phát huy năng lực chủ động, sáng tạo, tích cực ở học sinh, kích thích hứng thú trong việc dạy và học của thầy và trò Đặc biệt sử dụng đồ dùng hợp lí bao giờ cũng cho những kết quả đúng về tính khoa học sư phạm và tính mĩ thuật, các giờ học trở nên sinh động, hiệu quả hơn

II Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy môn GDCD

- Về phía giáo viên:

Đổi mới phương pháp dạy học là xu thế của thời đại, là trào lưu chung của loài người, là mệnh lệnh của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là sự đòi hỏi của sự đáp ứng yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện thị trường lao động đầy cạnh tranh của con em chúng ta, chứ không phải là ý muốn chủ quan của một người hoặc một nhóm người nào đó

Như chúng ta đều biết dạy học môn GDCD trước đây thường thiên về giải thích cho học sinh hiểu khái niệm, các giá trị và chuẩn mực, sau đó buộc các em phải chấp nhận Cụ thể là: đối với các bài học thuộc chuẩn mực đạo đức thì giáo viên yêu cầu học sinh trình bày khái niệm đã có sẵn trong sách giáo khoa, sau đó giáo viên lấy ví dụ minh họa rồi học sinh có thể dựa vào đó lấy thêm ví dụ Trên

cơ sở tìm hiểu đó, học sinh áp dụng vào làm bài tập liên quan Còn đối với các bài học thuộc quy phạm, chuẩn mực pháp luật, bài học về các chính sách kinh tế, chính trị xã hội thông thường trước đây giáo viên thường dựa chủ yếu vào các qui định có sẵn trong sách giáo khoa để phổ biến cho học sinh Ngoài ra giáo viên có thể phân tích, giải thích tại sao lại phải qui định như vậy, tại sao phải đề ra các chính sách đó Tuy nhiên, bài học chỉ dừng lại ở mức hiểu những qui định, phương hướng trong một phạm vi nhất định chứ không có nhiều liên hệ thực tế, không có cơ hội được thể hiện, không phát triển được năng lực học sinh

Trong mấy năm gần đây, bộ môn GDCD đã đổi mới nhiều trong các khâu

cơ bản của quá trình dạy học Bài học GDCD diễn ra sinh động, hấp dẫn, không khí học tập sôi nổi, hứng thú, học sinh được hoạt động nhiều hơn, tích cực làm việc một cách độc lập, có phần sáng tạo Nhiều giáo viên dạy GDCD có năng

Trang 24

nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học Đặc biệt, một số giáo viên

đã tích cực sử dụng phương tiện, đồ dùng trực quan dạy học có hiệu quả góp phần quan trọng vào việc rèn luyện năng lực tích cực, độc lập suy nghĩ, sáng tạo nhằm phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình học tập; giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn hệ thống kiến thức của môn học, rèn luyện cho học sinh kĩ năng tư duy, lôgic…Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức nói chung, tinh thần chuyên cần trong lao động học tập, thái độ vượt khó nói riêng, biết quý trọng lao động Năm học 2014 - 2015, Bộ giáo dục triển khai việc đổi mới trong dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực của học sinh Bên cạnh việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống, kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học thì việc tăng cường sử dụng phương tiện, đồ dùng trực quan dạy học góp phần quan trọng trong việc phát triển năng lực tư duy, năng động, sáng tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh Song đôi khi vì nhiều lí do, do điều kiện khách quan, điều kiện chủ quan cũng có, làm cho trong quá trình sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên không phải lúc nào cũng thành công, cũng mang lại hiệu quả cao Chẳng hạn một thực

tế hiện nay các nhà trường THPT nói chung và trường tôi nói riêng đã trang bị các phương tiện phục vụ cho giảng dạy từng bước được tăng cường hơn trước như máy tính, máy chiếu, mạng Internet Tuy thế nhưng hầu như các trường đều chưa có điều kiện lắp đặt máy tính, máy chiếu cho tất cả các phòng học, chỉ có một số phòng học được trang bị máy chiếu, máy tính Do đó, giáo viên không thể ứng dụng CNTT trong mọi giờ dạy hàng ngày Chính vì thế, truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn hạn chế Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết Việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Trong giờ học, học sinh được hoạt động ít, thụ động, giờ học không sinh động, không gây hứng thú cho học sinh, thậm trí có những em còn ngủ trong giờ không ghi chép bài, vì đồ dùng dạy học ít được sử dụng hoặc sử dụng một cách hình thức Nên đó chưa phải là phương pháp tích cực vì học sinh chưa thực sự có cơ hội để thể hiện thái

độ, lập trường năng hực của cá nhân mình Những giờ học như vậy, học sinh ít

có khả năng sáng tạo, khám phá, không gây hứng thú cho người học

Trên thực tế có nhiều giáo viên đã sử dụng phương tiện, đồ dùng trực quan dạy học, tuy nhiên sử dụng đồ dùng dạy học để phát triển năng lực cho học sinh một cách có hiệu quả nhất thì còn nhiều hạn chế

Trang 25

- Về phía học sinh: Các em thường hay rụt rè khi được yêu cầu phát biểu,

thường chỉ một vài em tích cực từ đầu năm đến cuối năm luôn luôn phát biểu, còn có em ngại nói, ít tư duy, không cần quan tâm đến giờ học những gì, có thái

độ bàng quan trong giờ Nếu thầy, cô không yêu cầu trả lời câu hỏi thì các em sẽ tiếp thu bài học một cách khiên cưỡng, không tích cực phát huy vai trò của mình trong giờ học Vì vậy phần lớn học sinh ngại học GDCD, không thích học GDCD Hầu hết các em coi môn GDCD là môn phụ không cần học, nếu có học chỉ để được cho điểm, không cần đọng lại gì trong đầu về các bài học đạo đức, pháp luật đặc biệt các em còn có thái độ ái ngại và chán nản hơn khi học các bài học về kinh tế, chính trị, Học sinh học GDCD một cách thụ động, chỉ biết ghi chép, học thuộc như một cái máy

Tại sao học sinh lại không yêu thích với môn GDCD, giờ học GDCD? Do nội dung bài học mang tính lí luận trừu tượng hay vì người dạy chưa có phương pháp thích hợp? Tôi đã tiến hành khảo sát tâm lí 350 học sinh đang học lớp 11, kết quả trắc nghiệm như sau:

BẢNG KHẢO SÁT TÂM LÍ

3 Em có thích những tranh, ảnh minh họa bài

4 Em có thích những phim tư liệu, Video clip

tình huống minh họa bài học GDCD không? 100 0

5 Em có thích những câu chuyện minh họa bài

6 Em có thích những trò chơi được tổ chức

7 Em có thích những biểu đồ minh họa bài học

8 Em có thích nội dung bộ môn GDCD mang

9 Em thích môn GDCD vì cô giáo dạy rất hay? Đúng: 100 Sai: 0

Qua kết quả điều tra, số học sinh yêu thích môn GDCD còn thấp do nội dung chương trình mang nặng tính lí luận trừu tượng Và các phương pháp giảng dạy có sử dụng hiệu quả một số đồ dùng dạy học thích hợp đã đem lại sức hấp

Trang 26

II Sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy bộ môn GDCD

1 Sử dụng đồ dùng trực quan theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS

Việc sử dụng đồ dùng dạy học bộ môn phải tuân theo những yêu cầu nhất định Để việc sử dụng có hiệu quả, tránh xu hướng lạm dụng hoặc sử dụng một cách hình thức, chiếu lệ cho xong, trước hết đồ dùng và sử dụng đồ dùng phải có mối quan hệ phù hợp với phương pháp dạy dọc, gắn bó hữu cơ với phương pháp dạy học, như một thành tố của phương pháp dạy học Mỗi hoạt động dạy học được xây dựng trên cơ sở vận dụng một phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể,

có phương tiện dạy học phù hợp để hỗ trợ cho hoạt động đó Vì vậy sử dụng phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời, tránh đưa ra một cách tuỳ tiện

Một yêu cầu rất quan trọng là đồ dùng dạy học phải có tác dụng kích thích học sinh tư duy, suy nghĩ, tìm tòi, không phải chỉ như một phương tiện minh hoạ nội dung bài học Khi sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học là giáo viên cung cấp

cho học sinh những chất liệu cần thiết để học sinh tìm tòi, tự kiến tạo tri thức, kỹ

năng trên cơ sở làm việc với nguồn thông tin từ các phương tiện dạy học mà giáo

viên trình bày, giới thiệu, học sinh phải có ý kiến nhận xét, đánh giá về nội dung, tính chất sự việc, rút ra kết luận bài học cần thiết, từ đó giúp học sinh hình thành những năng lực thực sự cho mình như năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực tự nhận thức, tự lực, tự chịu trách nhiệm, tự điều chỉnh hành vi

Bên cạnh đó một yêu cầu không thể thiếu muốn sử dụng đồ dùng trực quan đạt hiệu quả cao trong mỗi bài dạy đạo đức, kinh tế, chính trị người giáo viên dạy GDCD phải chuẩn bị tốt đồ dùng trực quan sử dụng trong tiết dạy Do những đồ dùng trực quan sử dụng trong các tiết dạy đạo đức, kinh tế, chính trị ít

có sẵn nên việc chuẩn bị đồ dùng cho một tiết dạy khá công phu đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư về mặt thời gian, công sức, trí tuệ và lòng nhiệt tình

Trước hết người giáo viên phải xác định xem trong tiết dạy này cần sử dụng loại đồ dùng nào cho phù hợp Bảng, phấn, giấy, bút, thước; tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, phiếu học tập, bảng phụ…hay các loại phương tiện

kỹ thuật nghe nhìn như máy băng đĩa ghi âm, máy chiếu các bản in, máy băng đĩa hình, các phương tiện đa chức năng như máy tính, máy chiếu, các phần mềm dạy học trên máy vi tính…

Khi đã có những đồ dùng cần sử dụng, cần tiến hành nghiên cứu thật kỹ từng ký hiệu trên hình vẽ, bức tranh tìm hiểu chi tiết nội dung, ý nghĩa của từng

Trang 27

bức tranh, hình vẽ để khi lên lớp giảng dạy được tốt Trong quá trình sưu tầm tư liệu tôi cố gắng tích lũy và sắp xếp chúng theo từng chủ đề khác nhau như: Văn hoá, Khoa học và công nghệ, Hội nhập quốc tế, Bộ máy Nhà nước, Tài nguyên

và môi trường, nền kinh tế Việt Nam trước và sau 1986, Quốc phòng và an ninh Trong từng chủ đề có các thể loại tư liệu khác nhau, những tư liệu này không chỉ dạy học ở một khối lớp mà còn có thể sử dụng ở những khối lớp khác tùy theo chủ đề để lựa chọn Việc sắp xếp này cũng giúp cho giáo viên dễ dàng trong việc lấy dùng khi cần thiết, giáo viên có thể trình chiếu trực tiếp, thiết kế giáo án điện tử hoặc photo ra giấy khổ to A0 để sử dụng Muốn làm được những điều đó thì người giáo viên phải có những am hiểu tình hình chính trị xã hội của địa phương, đất nước, phải cập nhật thông tin trên đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, trên mạng Internet để kịp thời bổ sung những tranh ảnh, bài viết, số liệu mới để đảm bảo tính chính xác, cập nhật, tính thời sự của bài giảng

Mặt khác đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là đổi mới phương tiện

và không có nghĩa là dùng nhiều phương tiện dạy học, mà điều quan trọng là sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý, có hiệu quả, tránh lạm dụng hoặc sử dụng một cách hình thức Cần tránh xu hướng sử dụng đồ dùng dạy học một cách tràn lan, không có chủ đích rõ rệt Bởi nội dung và thời gian một tiết học có giới hạn nhất định do vậy mà mỗi đồ dùng dạy học khi đưa ra cần được khai thác triệt để, phải khai thác hết nội dung của đồ dùng, tránh tình trạng sử dụng tùy hứng, thiếu chuẩn bị sẽ làm hạn chế hiệu quả của đồ dùng dạy học Nếu chỉ đưa những tranh ảnh, bản đồ, số liệu để học sinh xem chứ không yêu cầu các em quan sát tìm hiểu, suy nghĩ, nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận thì khó phát huy được vai trò của nó Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy có rất nhiều tình huống nảy sinh, lúc đó đòi hỏi người giáo viên phải giải quyết tình huống thật khéo léo thì tiết dạy sẽ đạt kết quả tốt

Do vậy trong quá trình giảng dạy, tùy từng nội dung, từng hoạt động dạy khác nhau mà giáo viên có thể sử dụng đồ dùng là tranh ảnh hay sơ đồ, chuyện, hay biểu đồ, trò chơi cho hiệu quả Đối với tôi cũng từ thực tiễn giảng dạy tôi

đã phân loại và tiến hành sử dụng như sau:

1.1 Sử dụng đồ dùng là tranh ảnh

Tranh ảnh: là những hình ảnh có thể có sẵn trong sách, hoặc là do giáo

Trang 28

1.1.1 Các năng lực hình thành ở học sinh qua việc sử dụng đồ dùng dạy học là tranh ảnh

Sử dụng đồ dùng này nhằm phát huy năng lực tự phát hiện, năng lực quan sát, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hiểu biết các vấn đề xã hội, khả năng tư duy liên hệ, vận dụng thực tế

1.1.2 Cách tiến hành

Với đặc điểm trên của tranh ảnh để phát huy được hết tác dụng của loại đồ dùng này tôi thường dùng nó để phục vụ hỗ trợ cho hoạt động giới thiệu bài

mới, hoạt động tìm hiểu khái niệm, nội dung kiến thức cơ bản của bài

Ngoài ra nó còn có tác dụng giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những điều thu nhận được Không những thế khi sử dụng tốt tranh ảnh không chỉ có tác động một chiều mà còn gây được phản ứng của các em về bức tranh, ảnh đó với những thắc mắc, câu hỏi của các em đặt ra cho GV và các bạn GV tiếp nhận, xử

lý các câu hỏi của HS, như vậy đã tác động lần nữa đến suy nghĩ và hành động của các em nảy ra những ý tưởng về những điều đã trình bày, tiến hành trao đối

ý kiến với nhau, với thầy cô

- Hoạt động giới thiệu bài

Đối với hoạt động này, nếu chỉ đàm thoại hay thuyết trình thì hiệu quả sẽ không cao, không lôi cuốn được học sinh Thông thường đối với hoạt động này chỉ cần một hoạt cảnh sắm vai tình huống nhỏ, một đoạn video clip phóng sự hoặc sử dụng tranh ảnh sẽ giúp cho giáo viên có lối vào bài hiệu quả, tạo sự lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt ngay từ đầu, thu hút sự tập trung chú ý cao, giờ học trở nên sinh động hơn Nhưng thường hoạt động giới thiệu bài chỉ giành rất ít thời gian, nếu đưa tình huống, sắm vai hoặc video clip thì phải mất nhiều thời gian hơn Chính vì vậy sử dụng tranh ảnh là hiệu quả nhất, thuận tiện nhất cho hoạt động này

*Ví dụ 1 : Khi tôi tiến hành hoạt động mở bài ở Bài 3 lớp 10"Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất” – tiết 1

Mục đích sử dụng tranh ảnh: Dùng để mở bài, giới thiệu bài mới

Trang 29

Cách tiến hành như sau: Giáo viên có thể cho học sinh xem tranh nói

về hình ảnh vận động của con người, núi lửa, của nước, đá, đàn chim,

Em có nhận xét gì về các hình ảnh sau ?

- Giáo viên nêu câu hỏi: Em có nhận xét gì về các hình ảnh trên?

- HS trả lời: Vận động viên đang chạy, đàn cò đang bay, nước đang chảy, cây đang lớn lên

- Giáo viên kết luận dẫn dắt vào bài: Các sự vật trên đang vận động và

phát triển Vậy vận động là? Có mấy hình thức vận động? Phát triển là gì? Bài học hôm nay sẽ trả lời cho các em những câu hỏi đó

* Ví dụ 2: Khi dạy Bài 10 lớp 11" Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa"

Mục đích sử dụng tranh ảnh: Dùng để mở bài, giới thiệu bài mới

Cách tiến hành như sau:

Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh: Nhân dân tham gia bầu cử Đại

Trang 30

Hình ảnh: Bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐNH các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016

- GV hỏi: Em hãy cho biết hình ảnh trên nói về hoạt động nào?

* Ví dụ 3: Khi dạy phần 1, Bài 4 lớp 12" Quyền bình đẳng của công dân

trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội"

Mục đích sử dụng đồ dùng: Dùng để mở bài, giới thiệu bài mới

Cách tiến hành như sau:

- GV: cho học sinh xem những hình ảnh sau: Hình ảnh cô dâu, chú dể,

giấy kết hôn, hình ảnh về các thành viên trong gia đình

Trang 32

gì? Nội dung và ý nghĩa của quyền này như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay để làm rõ các nội dung trên ?

* Ví dụ 4: Khi dạy phần 2, Bài 13"Chính sách khoa học và công nghệ”

Mục đích sử dụng: Dùng để mở bài, giới thiệu bài mới

Cách tiến hành như sau:

GV giới thiệu hình ảnh về chiếc máy rút tiền khi khoa học công nghệ chưa ra đời thì việc làm sổ sách, đếm tiền mất rất nhiều thời gian, hay khi đi xa nhà mà hết tiền phải mất thời gian về nhà lấy rất bất tiện Nhưng mọi vấn đề đó ngày nay không còn là nỗi lo của mọi người nữa vì đã có máy tính, máy đếm tiền, thẻ ATM

- GV Hỏi : Em có nhận xét gì khi xem hình ảnh trên ?

- Giáo viên kết luận dẫn dắt vào bài:"Đó là nhờ sự phát triển của khoa học

và công nghệ, vậy Nhà nước ta có chính sách như thế nào đối với khoa học và công nghệ, chúng ta cùng đi vào tìm hiểu phần 2 Bài 13”

* Ví dụ 5: Khi dạy Bài 15 :" Chính sách đối ngoại"

Mục đích sử dụng: Giới thiệu bài mới bằng cách sử dụng hình ảnh về

hoạt động đối ngoại của nước ta

Cách tiến hành như sau:

- GV: Đưa những hình ảnh nói về các hoạt động ngoại giao của các vị

lãnh đạo cấp cao của Nhà nước ta cho HS xem, và yêu cầu quan sát, nhận xét trả lời

Trang 33

Tổng thống Đức J.Gauck tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang 11 / 2015

- GV : Em hãy cho biết những hình ảnh trên nói về hoạt động nào của

Nhà nước ta ?

- HS trả lời hoạt động đối ngoại (ngoại giao) của các vị lãnh đạo Nhà nước

- GV kết luận vào bài: Hiện nay nước ta tham gia vào rất nhiều tổ chức trong khu vực và thế giới nhằm mục đích mở rộng giao lưu, hợp tác để phát triển Đó chính là kết quả to lớn của việc đề ra và thực hiện đúng đắn chính sách đối ngoại Những hình ảnh trên đã nói về hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta Vậy chính sách đối ngoại là gì ? Nội dung cơ bản và trách nhiệm của mỗi công dân trong việc thực hiện chính sách đối ngoại như thế nào? Chúng ta cùng tìm bài 15 sẽ rõ

- Hoạt động tìm hiểu khái niệm, nội dung kiến thức cơ bản

Với hoạt động này, tôi thường sử dụng phương tiện trực quan tranh ảnh kết hợp với phương pháp nêu vấn đề bằng cách đặt câu hỏi để kích thích hoạt động tư duy của học sinh, tạo sự hấp dẫn, hứng thú cho các em ngay từ phần chuyển ý, hướng các em vào những vấn đề, kiến thức cơ bản trọng tâm của bài cần phải tìm hiểu

Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi, quan sát, thảo luận nhằm phát hiện

và rút ra khái niệm, những nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm Lúc này giáo

Trang 34

- GV yêu cầu HS quan sát tranh, hỏi: Theo em con gà bị làm thịt, con gà

đó có còn tồn tại và phát triển không?

- Học sinh trả lời : Con gà không thể tồn tại, phát triển

- GV: Kết luận con gà không tồn tại được chính là con gà đó đã bị xóa bỏ gọi là phủ định Vậy phủ định là gì?

- HS trả lời rất nhanh: Phủ định là xóa bỏ sự tồn tại của một sự vật, hiện tượng nào đó

*Ví du 2: Khi dạy Bài 13:"Chính sách quốc khoa học và công nghệ”

Mục đích sử dụng: Tìm hiểu nội dung về "Vai trò của khoa học và

công nghệ”

Cách tiến hành như sau: Giáo viên giới thiệu đến học sinh những bức

ảnh về các sản phẩm tiêu biểu, hết sức sáng tạo của người dân Nhật Bản

Trang 35

Ví dụ 1: Akinori lto nhà phát minh người Nhật Bản chế

tạo cỗ máy sản xuất dầu thô từ nhựa phế thải.

Ví dụ 2: Người máy ASIMO

- GV: Yêu cầu HS quan sát hình ảnh và trả lời câu hỏi

+ Qua hình ảnh trên em biết những gì về người máy ASIMO?

- HS: Quan sát và trả lời, ASIMO là người máy đầu tiên trên thế giới có nhiều hoạt động giống người, ASIMO biết nói, biết thổi kèn, biết bưng bê, biết bắt tay và cảm nhận được cái bắt tay đó

Trang 36

Người máy ASIMO còn biết đi cầu thang, chạy nhảy và biết điều chỉnh bước đi nhanh chậm, là nhân vật quan trọng không thể thiếu của Thủ tướng Nhật Bản đón tiếp khách quý và các nguyên thủ quốc gia ASIMO là sản phẩm sáng tạo đỉnh cao của công nghệ robot của Nhật Bản Có thể nói có những điều tưởng chừng con người ta không làm được, thì người Nhật Bản đã làm được đó là nhờ

sự sáng tạo và phát triển của khoa học và công nghệ

- GV đặt câu hỏi: Vậy khoa học và công nghệ có vai trò như thế nào với

sự phát triển của đất nước?

- HS: Trả lời

- GV: Kết luận

Khoa học và công nghệ có vai trò ngày càng nổi bật là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển đất nước

*Ví du 3 : Khi dạy Bài 6, lớp 12, tiết 1:"Công dân với các quyền tự do cơ bản”

Mục đích sử dụng: Tìm hiểu nội dung về"Bắt người trong trường hợp

phạm tội quả tang hoặc đang có lệnh bị truy nã”

Cách tiến hành như sau: Giáo viên có thể giới thiệu đến học sinh

những bức ảnh về các hoạt động của kẻ đang phạm tội, của công an nhân dân bắt tội phạm

Bắt người phạm tội quả tang và bị truy nã

Trang 37

- GV: Yêu cầu HS quan sát, hỏi

+ Những hình ảnh trên nói đến phạm tội trong trường hợp nào?

+ Ai có quyền được bắt trong trường hợp này?

- HS: Phạm tội bị bắt quả tang và đang có lệnh bị truy nã, trong trường hợp này ai cũng có quyền được bắt

1.2 Sử dụng đồ dùng là sơ đồ, bản đồ tư duy

Đối với loại đồ dùng này có tác dụng huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả phương pháp dạy học Đồng thời sử dụng sơ đồ, bản đồ tư duy trong dạy học giáo viên còn giúp học sinh có thói quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã học theo cách hiểu của người học giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, chủ động nắm bắt kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, sâu sắc và chắc chắn hơn Nhất là khi học sinh tự tay thường xuyên vẽ sơ đồ, sơ đồ tư duy sẽ phát triển khả năng thẩm mỹ với những nhánh mầu sắc, đường nét đậm nhạt khác nhau, có cơ hội được thể hiện ý tưởng của mình

Trang 38

1.2.1 Các năng lực hình thành ở học sinh qua việc sử dụng đồ dùng dạy học là sơ đồ, sơ đồ tư duy

Đồ dùng này góp phần phát triển năng lực tự lực và sáng tạo, năng lực

tư duy lôgic, năng lực thẩm mỹ, tự nghiên cứu, tự lĩnh hội, tích lũy kiến thức cao hơn

Dựa vào đặc điểm đó của phương tiện dạy học này, tôi thường sử dụng sơ

đồ, sơ đồ tư duy cho hoạt động giảng dạy khái niệm, hay làm rõ một nội dung của bài và hoạt động củng cố bài, kết thúc, tổng kết một nội dung, một phần học, một bài học nào đó

1.2.2 Cách tiến hành

- Hoạt động giảng dạy khái niệm, hay một nội dung của bài

Đối với hoạt đồng này phần lớn là khai thác, hay làm nổi bật một đơn vị kiến thức trọng tâm của bài, do vậy việc sử dụng phương tiện càng không được tùy tiện, mỗi sơ đồ đưa ra cần gắn chặt với một đơn vị kiến thức nhất định và

phải được khai thác triệt để tác dụng của nó

*Ví dụ 1: Khi dạy bài 5 lớp 10

- Mục đích sử dụng: Để tìm hiểu khái niệm"Độ”,"Điểm nút”

- Cách tiến hành như sau: Giáo viên hỏi học sinh về khái niệm độ, điểm

nút, giáo viên chiếu sơ đồ HS quan sát

Độ

Cấp 9 Cấp 8 Cấp 10

Cấp7 Cấp 5

Điểm nút

Quan sát sơ đồ thể hiện sự biến đổi

về lượng dẫn đến sự biến đổi về

chất của gió.

Cấp6 Cấp 4

Bão

Áp thấp

Độ

Trang 39

- GV: Dẫn dắt HS hiểu khoảng gió biến đổi từ cấp 4 đến dưới cấp 7 gọi là

áp thấp Khoảng đó được gọi là độ, tại điểm gió đạt cấp 7 trở lên gió chuyển thành bão và ngược lại, điểm chuyển đó gọi là điểm nút

GV: Hỏi

+ Độ là gì?

+ Điểm nút là gì?

*Ví dụ 2: Khi dạy Bài 4, lớp 10"Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông

hàng hóa” ở phần 1 khái niệm cạnh tranh

- Mục đích sử dụng: Để tìm hiểu khái niệm

- Cách tiến hành như sau: Giáo viên hỏi học sinh về khái niệm cạnh

tranh theo nghĩa thông thường, chỉ ra tính chất, chủ thể kinh tế, mục đích sau đó chiếu (đưa ra) sơ đồ về khái niệm cạnh tranh cho học sinh xem

CẠNH TRANH

CHỦ THỂ KINH TẾ TÍNH CHẤT

MỤC ĐÍCH

Sản xuất, kinh doanh

hàng hóa

Sự ganh đua, đấu tranh

Giành những điều kiện thuận lợi để thu được nhiều lợi nhuận

Cạnh tranh là gì?

- GV yêu cầu HS quan sát sơ đồ, và rút ra khái niệm đầy đủ nhất

- HS quan sát sơ đồ

- GV đặt câu hỏi : Vậy cạnh tranh là gì ?

- HS trả lời khái niệm có thể không phải nhìn sách giáo khoa, dựa trên sơ

Trang 40

Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa, nhằm giành những điều kiện thuận lợi để thu được nhiều lợi nhuận

* Ví dụ 3 : Khi dạy tiết 1, Bài 8" Chủ nghĩa xã hội" giáo viên sử dụng sơ

đồ tư duy để giúp các em học sinh tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Cách tiến hành như sau: Tôi cũng cho lớp thảo luận nhóm, chia lớp

thành 8 nhóm và yêu cầu học sinh các nhóm thảo luận, vẽ sơ đồ tư duy, mỗi nhóm tìm hiểu và vẽ một đặc trưng Tôi gợi ý bằng cách cung cấp cho các em các từ khóa, mỗi một đặc trưng có một từ khóa gồm: Xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, con người, dân tộc, Nhà nước, đối ngoại

- HS Các nhóm tiến hành thảo luận tự vẽ trong thời gian 3 phút

- GV: Gọi HS đại diện của nhóm lần lượt lên bảng trình bày về đặc trưng của nhóm

- GV: Yêu cầu HS các nhóm khác còn lại nhận xét, bổ xung

- GV: Nhận xét đánh giá sự trình bày của các nhóm

- Sau đó tôi đưa ra sơ đồ tư duy mình đã chuẩn bị đầy đủ 8 đặc trưng cho học sinh quan sát

8

SƠ ĐỒ TƯ DUY – CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA CNXH Ở VIỆT NAM

Các đặc trưng CNXH ở Việt Nam

Ngày đăng: 30/04/2020, 04:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bộ Giáo Dục - Đào Tạo,“Tài liệu đổi mới PPDH môn GDCD THPT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu đổi mới PPDH môn GDCD THPT
16. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Nguyễn Hữu Khải (Chủ biên) tài liệu" Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD THPT”, NXBGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD THPT
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
17. Đinh Văn Đức ( Tổng chủ biên – 2010 ),"Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân lớp 11”, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân lớp 11
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
18. Hồ Thanh Diện - Nguyễn Văn Cát (2007),"Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 11”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 11
Tác giả: Hồ Thanh Diện - Nguyễn Văn Cát
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
2. Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giao dục phổ thông (https://tusach.thuvienkhoahoc.com) Link
4. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học (https://tusach.thuvienkhoahoc.com) Link
1. Chín phương pháp giảng dạy học mới năm 2016 (vnexpress.net) Khác
3. Hấp dẫn các hình thức trải nghiệm sáng tạo (Giaoducthoidai.vn) Khác
5. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực ( SlideShare) Khác
6. Một số yêu cầu cơ bản trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trung học (www.htu.edu.vn) Khác
7. Những phẩm chất và năng lực cơ bản cần định hướng (thtongtran.phucu.hungyen.edu.vn) Khác
8. Ba phẩm chất chính và 8 năng lực cốt lõi của học sinh phổ thông (giaoduc.net.vn) Khác
9. Tạp chí khoa học giáo dục (Viện khoa học giáo dục Việt Nam) Khác
10. Vai trò của giáo dục ngoài giờ với học sinh (kynanggiaoduc.edu.vn) 11. Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trường trung học (toc.123doc.org) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w