1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế

98 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Tiêu Thụ Phân Bón Tại Công Ty Cổ Phần Vật Tư Nông Nghiệp Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do nghiên cứu

Đất nước ta đang trên con đường đổi mới và phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải thỏa mãn nhu cầucủa thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận: Kinh doanh trong cơ chế thịtrường đòi hỏi các doanh nghiệp phải rất năng động và nhạy bén, điều nàyquyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường Chính

vì thế vấn đề đặt ra cấp bách đối với các doanh nghiệp là sản xuất ra nhiều loạisản phẩm với chất lượng cao, mẫu mã đẹp và tìm thị trường tiêu thụ

Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang

cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đã có sự nhìn nhận nghiêm khắc hơn vềcác hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đề ra và điều chỉnh những chiếnlược trong hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp và có hiệu quả.Trong những nhiệm vụ trọng yếu ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh làchiến lược tiêu thụ sản phẩm, bởi vì khâu tiêu thụ sản phẩm là một khâu quantrọng nhất và nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi doanhnghiệp trên thương trường

Lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong ngành vật tư nông nghiệp mà đặcbiệt là trong lĩnh vực phân bón thì đây là sản phẩm đặc thù có tính chất thờigian sử dụng nhất định, trong quá trình vận chuyển và bảo quản cũng dễ bị ảnhhưởng đến sản phẩm, như bay hơi, phát tán, phân huỷ…Tuy nhiên phân bón cóvai trò hết sức quan trọng đối với tăng năng suất cây trồng, phẩm chất nôngsản, góp phần quan trọng về bảo đảm an ninh lương thực, tăng các sản phẩmtrồng trọt để xuất khẩu

Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Thừa Thiên Huế là đơn vị kinhdoanh được thành lập để cung ứng vật tư nông nghiệp cho các cơ sở sản xuấtnông nghiệp trên địa bàn tỉnh về các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu với

sự cạnh tranh gay gắt của các mặt hàng của các công ty vật tư khác trên thị

trường Nhận thức được điều đó, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Thừa Thiên Huế” để

Trang 2

làm khoá luận tốt nghiệp của mình với mong muốn từ việc nghiên cứu thựctrạng hoạt động tiêu thụ sẽ đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêuthụ, tạo cho công ty một thế đứng vững chắc hơn trên thị trường.

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu.

Nội dung nghiên cứu: Phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại CTCPVTNN TTH và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ

4 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp chỉ số

Phương pháp so sánh

Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trang 3

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm

Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ hàng hóa là việc chuyển dịch quyền sở hữu sảnphẩm hàng hóa đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hóahoặc được quyền thu tiền bán hàng

Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồmnhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặthàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng…nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất

Thực tế cho thấy, thích ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế khác nhau,công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng các hình thức khác nhau.Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hoạt động tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp được thực hiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩm với giá cả vàđịa chỉ do Nhà nước quy định Còn trong nền kinh tế thị trường, các doanhnghiệp phải tự mình giải quyết cả 3 vấn đề cơ bản cuả sản xuất kinh doanh:Sản xuất cái gì? Bằng cách nào? Sản xuất cho ai? Do vậy tiêu thụ đã trở thànhvấn đề sống còn của doanh nghiệp

Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là quá trình đơn vị bán xuất giao sản phẩmcho đơn vị mua và thu được tiền hoặc được người mua chấp nhận thanh toántheo phương thức thanh toán và giá cả đã thỏa thuận về số sản phẩm đó

Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng củasản phẩm hàng hóa Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sanghình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn Có tiêu thụ mới có vốn

để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng

Trang 4

cao hiệu quả sử dụng vốn Tiêu thụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết địnhthành bại, là quá trình thực hiện lợi nhuận – mục tiêu số một của doanh nghiệp.

1.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụsản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơisản xuất đến nơi tiêu dùng, nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trunggian giữa một bên là phân phối, một bên là tiêu dùng

Ở các doanh nghiệp, khi các sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ,tức là nó được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó.Sức tiêu thụ của sản phẩm được thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanhnghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và

sự hoàn thiện các hoạt động dịch vụ Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm phảnánh các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp

Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn liền người sản xuất và người tiêu dùng,

nó khiến các nhà sản xuất phải hiểu thêm về nhu cầu của khách hàng để có cácchiến lược sản xuất phù hợp, đạt hiệu quả cao

Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trongviệc cân đối giữa cung và cầu Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là quátrình sản xuất đang được diễn ra một cách trôi chảy, tránh sự mất cân đối, giữđược bình ổn trong xã hội Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị xácđịnh được hướng đi của kế hoạch sản xuất của giai đoạn tiếp theo

Thông qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự đoán nhu cầu tiêu dùng của xãhội nói chung và từng khu vực nói riêng của từng loại sản phẩm

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Nghiên cứu thị trường

1.2.1.1 Quan niệm về thị trường

Thị trường là tập hợp những người mua – người bán hiện thực hay tiềmnăng đối với một sản phẩm

Trang 5

Quy mô của thị trường phụ thuộc vào số các cá nhân có nhu cầu và cónhững sản phẩm được người khác quan tâm đến và sẵn lòng đem đổi nhữngsản phẩm này để lấy những cái mà họ mong muốn.

Một thị trường có thể hình thành xung quanh một sản phẩm, một dịch

vụ hoặc bất kì một cái gì có giá trị Chẳng hạn thị trường lao động bao gồmnhững người cống hiến sự lao động của họ để đổi lấy lượng tiền hay sản phẩm.Thị trường tiền tệ xuất hiện để đổi lấy sự thoả mãn những nhu cầu của conngười sao cho họ có thể vay mượn, để dành và bảo quản được tiền bạc…

Không nên quan niệm hạn hẹp thị trường như là một địa điểm diễn racác quan hệ trao đổi Trong các xã hội phát triển, thị trường không nhất thiếtphải là một địa điểm cụ thể Với những phương tiện truyền thông và chuyênchở hiện đại, một nhà kinh doanh có thể quảng cáo một sản phẩm trên chươngtrình ti vi vào giờ tối, nhận đặt hàng của hàng trăm khách hàng qua điện thoại,

và gửi hàng hoá qua đường bưu điện cho khách hàng trong những ngày sau đó,

mà không phải cần bất kì cuộc tiếp xúc trực tiếp nào với người mua

1.2.1.2 Chức năng của thị trường

Chức năng của thị trường có thể hiểu là sự tác động bắt nguồn từ bảnchất của thị trường đến quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá giữa bên mua

và bên bán, qua đó mà hình thành những quyết định về giá cả và số lượng hànghoá được phân phối

 Chức năng thừa nhận:

Như đã đề cập ở trên, quá trình trao đổi giữa người bán và người mua đểthoả mãn nhu cầu được diễn ra trên thị trường Nhà sản xuất đưa sản phẩm củamình vào thị trường với mong muốn chủ quan là để bán được nhiều hàng hoávới giá cả sao cho bù đắp được mọi chi phí đã bỏ ra và có nhiều lợi nhuận.Người tiêu dùng tìm đến thị trường để mua những hàng hoá đúng công dụng,hợp thị hiếu và phù hợp với khả năng thanh toán của mình

Trong quá trình diễn ra sự trao đổi, mặc cả trên thị trường giữa đôi bên

về một sản phẩm nào đó sẽ có 2 khả năng xảy ra: thừa nhận hoặc không thừanhận, tức là sản phẩm đó không phù hợp với khả năng thanh toán hoặc thị hiếucủa người tiêu dùng Điều đó sẽ làm cho quá trình tái sản xuất bị ngưng đọng

Trang 6

và không thực hiện được Ngược lại, khi thị trường thực hiện chức năng thừanhận tức là đôi bên đã đạt được sự thuận mua vừa bán và nhờ vậy, quá trình táisản xuất được giải quyết một cách trọn vẹn Và khi chức năng thừa nhận củathị trường đã hoàn thành thì kèm theo đó hành vi trao đổi và thanh toán đượcthực hiện, đồng thời quan hệ cân đối giữa cung và cầu được hình thành.

 Chức năng điều tiết, kích thích:

Thông qua sự hình thành giá cả dưới tác động của quy luật giá trị và quyluật cạnh tranh trong quan hệ cung cầu sản phẩm mà chức năng điều tiết củathị trường được thể hiện

Thật vậy, số cung được tạo ra từ nhà sản xuất và số cầu được hình thành

từ người tiêu dùng, giữa đôi bên hoàn toàn độc lập nhau trong quá trình thựchiện Nhưng khi đưa ra trao đổi thì số cung và số cầu của bên bán và bên muamới bộc lộ trạng thái mâu thuẫn Việc giải quyết mâu thuẫn quan hệ giữa cung

và cầu được thực hiện thông qua sự định giá trên thị trường giữa đôi bên.Trong quá trình định giá, chức năng điều tiết của thị trường được thể hiện bằngcách phân bổ lại lực lượng sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ khu vựcnày sang khu vực khác đối với người sản xuất, đồng thời hướng dẫn và xâydựng cơ cấu tiêu dùng đối với người tiêu dùng

 Chức năng thông tin:

Mọi hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trường và sự vận hành cơ chế của

nó trong cơ chế thị trường làm nảy sinh các thông tin Trong các thông tin cầnđược thu nhận để ra quyết định kinh doanh cũng như tiêu dùng, một bộ phậnlớn được thu thập từ thị trường Thị trường cung cấp thông tin về cung, cầu, cơcấu cung cầu, quan hệ cung cầu, khả năng thanh toán, giá cả, số lượng, chấtlượng sản phẩm, các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng đến quan hệmua bán… Từ các thông tin trên thị trường, các nhà sản xuất có được cácquyết định hợp lý trong việc tổ chức hoạt động kinh doanh và hạn chế nhữngrủi ro có thể gặp phải Với người tiêu dùng , thông tin từ thị trường sẽ giúp cho

họ chủ động tạo lập một cơ cấu tiêu dùng thích hợp với khả năng thu nhập củaminh

Trang 7

Các chức năng của thị trường có mối quan hệ gắn bó với nhau Sự táchbiệt các chức năng như trên có tính ước lệ để tiện cho việc nghiên cứu Trongthực tế, một hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện đầy đủ vàđan xen lẫn nhau giữa các chức năng Tuy nhiên chỉ khi chức năng thừa nhậnđược thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng đầy đủ.

1.2.1.3 Phân đoạn thị trường

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa làm cho của cải vật chất ngàycàng tăng, song việc tiêu thụ ngày càng khó khăn, cạnh tranh ngày càng trở nêngay gắt, mâu thuẫn giữa cung và cầu ngày càng phức tạp Trước tình hình đóbuộc các nhà kinh doanh phải phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mụctiêu, cũng như định vị hàng hóa của doanh nghiệp để tìm ra những giải pháp tối

ưu trong sự đồng nhất về nhu cầu, đặc tính, hành vi ứng xử của người tiêudùng và thực hiện các mục đích kinh doanh của mình là tối đa hóa lợi nhuận

Trước đây các cơ sở sản xuất kinh doanh chỉ biết sản xuất cho toàn bộthị trường một loại sản phẩm Sau dần, họ biết tạo ra các sản phẩm khác nhauvới hi vọng các khách hàng có nhu cầu khác nhau sẽ có các cơ hội lựa chọn cácsản phẩm khác nhau, nên các công ty đã chủ động tạo ra các sản phẩm với mẫu

mã rất đa dạng chứ họ không biết thế nào là phân đoạn thị trường để tạo ranhiều loại sản phẩm khác nhau như vậy Sau này, họ thấy rằng cần phải chủđộng phân chia khách hàng theo những dấu hiệu nhất định, cần nhận biết rõnhững nhu cầu của họ để doanh nghiệp có thể sẽ chỉ tập trung vào phục vụ một

bộ phận khách hàng cụ thể Nếu thực hiện theo chiến lược này thì chắc chắncông việc kinh doanh của các doanh nghiệp đó sẽ hết sức thuận lợi và đạt hiệuquả cao Vậy thì các doanh nghiệp đó phải biết làm thế nào để phân đoạn thịtrường? Phân đoạn thị trường như thế nào để một bộ phận khách hàng củamình được phục vụ một cách thoải mái nhất Để trả lời câu hỏi này, các nhàsản xuất phải hiểu được rằng, về thực chất việc phân đoạn thị trường là việcphân chia thị trường theo những nhóm người tiêu dùng khác nhau sẽ cho phépdoanh nghiệp tập trung giải quyết, thỏa mãn một số nhu cầu nhất định Nó là

cơ sở để xác định thị trường mục tiêu, xác định rõ giá cả, kênh phân phối vàyểm trợ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm

Trang 8

Như vậy, phân đoạn thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùngthành từng nhóm (khúc, đoạn) trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, vềtính cách hay hành vi.

1.2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là một kế hoạch hành động của doanhnghiệp được dùng để thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trongtừng thời kỳ nhất định Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phải phản ánh được cácvấn đề: Cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường tiêu thụ, khối lượng tiêu thụ sảnphẩm về hiện vật và giá trị có phân theo hình thức tiêu thụ, giá cả, các kênhphân phối

Trong các doanh nghiệp sản xuất, một chiến lược sản phẩm tương đốiphù hợp với quá trình phát triển của thị trường Kinh doanh thiếu sự địnhhướng có tính chiến lược sẽ dẫn đến quá trình đầu tư không có mục đích hoặcsai đích Cho nên, một kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đúng đắn luôn là cơ sở đểxây dựng một kế hoạch sản xuất thích hợp

Khi xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm phải căn cứ vào 3 nội dung

cơ bản sau:

Một là, căn cứ vào khách hàng: Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt làtrong điều kiện xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng hàng hoá vàdịch vụ giữa các nhóm dân cư cũng ngày càng bị phân hoá, bởi thế cũng khôngcòn thị trường đồng nhất Để tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp có thể vàcần phải chiếm được các phân đoạn khác nhau của thị trường Không chiếmđược khách hàng thì doanh nghiệp không có đối tượng để phục vụ và do đócũng không thể có hoạt động kinh doanh của doanh của doanh nghiệp Do vậy,người ta nói khách hàng là cơ sở của mọi chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốtquá trình xây dựng, triển khai và thực hiện chiến lược marketing của bất kìdoanh nghiệp nào

Hai là, căn cứ vào đối thủ cạnh tranh: Cơ sở để xây dựng chiến lượckinh doanh theo căn cứ này là so sánh các khả năng của doanh nghiệp với cácđối thủ cạnh tranh để tìm ra lợi thế của mình như cơ sở vật chất, tiền vốn, uytín của doanh nghiệp…

Trang 9

Ba là, căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp đều cónhững mặt mạnh, mặt yếu riêng của mình, điều quan trọng khi vạch ra cácchiến lược là tiêu thụ thì các doanh nghiệp phải biết khai thác các mặt mạnh vàhạn chế những nhược điểm của mình.

1.2.3 Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán

Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán cho khách hàng là hoạt động tiếp tụchoạt động sản xuất kinh doanh trong khâu lưu thông Công tác chuẩn bị hànghoá để xuất bán là công tác liên quan đến các nghiệp vụ kho, là công tác kháphức tạp đòi hỏi đội ngũ nhân công khá lớn Hàng hoá luôn trong tình trạngsẵn sàng xuất cho khách hàng, Thông thường kho hàng hoá được đặt gần nơisản xuất hàng hoá, hàng hoá phải được chuẩn bị tỉ mỉ, cẩn thận Cần phải sửdụng mô hình kho hợp lý để bảo quản được tốt và không bị hao phí nhiều trongquá trình bảo quản Hàng chuẩn bị xuất bán cơ bản phải hoàn thiện về bao bì,bao bì ngày càng trở nên quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp Đủ về số lượng như trong hợp đồng quy định, mẫu mã, quy cáchcũng phải làm theo yêu cầu của đối tác

1.2.4 Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau, theo đósản phẩm vận động từ nhà sản xuất đến hộ tiêu dùng cuối cùng Để hoạt độngtiêu thụ có hiệu quả thì cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ một cách hợp lý trên cơ

sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, điều kiện vận chuyển….Căn cứvào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng sản phẩm cóthể được thực hiện qua các kênh gián tiếp và kênh trực tiếp

Kênh tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp xuất bán thẳng sảnphẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng mà không qua một khâu trunggian nào

Kênh tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản phẩmcủa mình đến người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian

1.2.5 Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho công tác bán hàng

Hoạt động xúc tiến bán hàng bao gồm các hoạt động nhằm tìm kiếm vàthúc đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm Xúc tiến bán hàng

Trang 10

chứa đựng trong đó các hình thức, cách thức và những biện pháp nhằm đẩymạnh khả năng bán ra của doanh nghiệp Xúc tiến bán hàng có ý nghĩa quantrọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao sức cạnh tranh hàng hóatrên thị trường, nhờ đó mà quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đượcđẩy mạnh về cả số lượng lẫn thời gian Yểm trợ là hoạt động nhằm hỗ trợ, thúcđẩy, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ của doanhnghiệp Xúc tiến, yểm trợ là công cụ quan trọng của marketing Mục đích là đểcho cung và cầu gặp nhau, để người bán thoả mãn tốt hơn nhu cầu của ngườimua Xúc tiến, yểm trợ không chỉ hỗ trợ mà còn có tác dụng tăng cường chínhsách sản phẩm, giá cả và phân phối Nó không những làm cho hàng hoá đượcbán nhiều hơn, nhanh hơn mà nó còn làm cho thế lực, uy tín của doanh nghiệpđược củng cố.

Các hoạt động xúc tiến, yểm trợ vừa khoa học, vừa mang tính nghệthuật Nó đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt, khéo léo trong quá trình thực hiệnnhằm đạt những mục tiêu đã đặt ra với chi phí thấp nhất

Xúc tiến, yểm trợ bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Người bán hàng phải đặc biệt quan tâm đến tâm lý của người mua vìnhững bước tiến triển về tâm lý, tính chủ quan và khách quan diễn ra rất nhanhchóng trong khách hàng Diễn biến tâm lý của khách hàng thường trải qua 4giai đoạn:

Sự chú ý→ Quan tâm hứng thú→ Nguyện vọng mua→ Quyết địnhmua

Trang 11

Do đó, quá trình tác động của người bán đến với người mua cũng phảituân theo quy luật đó Nghệ thuật của người bán hàng là làm chủ quá trình tácđộng lên tâm lý người mua hàng, điều khiển có ý thức quá trình bán hàng.

Công việc bán hàng là hoạt động giao tiếp thường xuyên với khách hàngnên việc tuyển chọn nhân việc bán hàng rất quan trọng, nhân viên bán hàngphải hội tụ các điều kiện cần thiết như: hình thức, nghiệp vụ chuyên môn, nghệthuật giao tiếp và ứng xử, nhanh chóng nắm bắt và phản hồi thông tin chínhxác, kiên trì, trung thực…

Thái độ phục vụ khách hàng cũng là điều kiện vô cùng quan trọng đốivới hiệu quả công tác bán hàng Quan điểm đúng đắn là coi trọng hiệu quả lâudài, nghĩa là phải luôn bán hàng với doanh thu cao Điều này đòi hỏi nhân viênkhông chạy theo lợi ích trước mắt mà phải tận tình phục vụ khách hàng Khẩuhiệu: “Khách hàng là thượng đế” phải thực sự trở thành phương châm hànhđộng của mỗi nhân viên bán hàng Do đó nhà quản trị cần có chính sách trảlương khuyến khích nhân viên nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Bêncạnh đó, để bán được nhiều hàng hoá, các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêucầu của khách hàng: chất lượng, mẫu mã, giá cả, thương hiệu….và phải biếtlựa chọn hình thức bán phù hợp

1.2.6 Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Sau mỗi chu kì kinh doanh, doanh nghiệp cần phân tích, đánh giá hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm vừa qua để xem xét khả năng mở rộng thị trường haythu hẹp thị trường tiêu thụ, xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiêuthị sản phẩm, từ đó kịp thời có các giải pháp khắc phục Kết quả việc phân tích,đánh giá quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ là căn cứ để doanh nghiệp có các biệnpháp thúc đẩy tiêu thụ và hoàn thiện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhtrên mọi phương diện Vì vậy doanh nghiệp nên tổ chức tốt công tác, đồng thờiphải làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của doanh nghiệptrong quá trình thực hiện kế hoạch tiêu thụ

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM

1.3.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp

Trang 12

1.3.1.1 Chất lượng sản phẩm

Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sửdụng phổ biến và rất thông dụng hằng ngày trong cuộc sống cũng như trongsách báo Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánhtổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội

Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau vềchất lượng sản phẩm Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học nhằm giảiquyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế Đứng trên những góc

độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh mà cácdoanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ ngườisản xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường

 Quan niệm xuất phát từ sản phẩm: Chất lượng sản phẩm được phảnánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Quan niệm này đồng nghĩachất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm Tuynhiên sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được ngườitiêu dùng đánh giá cao

 Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoànhảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêuchuẩn, quy cách đã xác định trước

 Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp củasản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng

Ngày nay người ta thường nói đến chất lượng tổng hơp bao gồm: chấtlượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt đượcmức chất lượng đó Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quanniệm chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng

và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực

Còn nhiều định nghĩa khác nhau về Chất lượng sản phẩm xét theo cácquan điểm itếp cận khác nhau Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trongcác doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩnhóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000, phần thuật ngữ 9000 đã đưa ra địnhnghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc

Trang 13

tính đối với các yêu cầu" Yêu cầu có nghĩa là những nhu cầu hay mong đợiđược nêu ra hay tiềm ẩn Do tác dụng thực tế của nó, nên định nghĩa này đượcchấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay.Định nghĩa chất lượng trong ISO 9000 là thể hiện sự thống nhất giữa các thuộctính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của kháchhàng.

1.3.1.2 Giá bán sản phẩm

Cái giá của việc gắn cho sản phẩm của doanh nghiệp chính là tín hiệuđến khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp Điều đó giải thích tại sao việc địnhgiá đúng là rất quan trọng Nếu giá cả quá cao, doanh nghiệp sẽ mất vị trí trênthị trường, nhưng nếu nó quá thấp, doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng để pháttriển kinh doanh Việc chọn giá bán cho sản phẩm đòi hỏi phải cân bằng được

số tiền bán sản phẩm doanh nghiệp mong muốn và số tiền mà người mua sẵnsàng trả cho sản phẩm

Tín hiệu giá cả của nhà sản xuất gửi đi có quan hệ mật thiết với hìnhảnh thương hiệu Nhà sản xuất cần phải đưa ra quyết định về giá cả dựa trênthông tin có được về chiến lược thị trường và quảng cáo

Định giá cho sản phẩm không chỉ có nghĩa là xác định lợi nhuận bánhàng mà còn là tín hiệu cho khách hàng về loại sản phẩm đó Là một sản phẩmđắt tiền, chất lượng cao hay là một sản phẩm bình thường, giá cả sẽ nói chokhách hàng biết Doanh nghiệp cần phải để ý đến lợi nhuận, nhưng đồng thờicũng nên để ý đến việc giá cả sẽ chỉ cho khách hàng của doanh nghiệp biếtđiều gì

1.3.1.3 Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm

Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp hết sức phong phú

và đa dạng, đòi hỏi các nhà quản lý phải hết sức năng động và linh hoạt

Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm bao gồm các yếu tố sau:

 Quảng cáo: Do có nhiều hình thức và cách sử dụng quảng cáo, nênkhó có thể khái quát hoá đầy đủ những đặc thù của nó với tính cách là một yếu

tố cấu thành của hệ thống cổ động Nhưng dù sao cũng có thể nêu lên một sốđặc điểm của công tác quảng cáo:

Trang 14

- Tính đại chúng: Quảng cáo là một hình thức tuyên truyền mang tínhđại chúng rất cao Bản chất đại chúng của nó khẳng định tính chính thức củasản phẩm và cũng tạo nên một tiêu chuẩn của hàng hoá.

- Tính sâu rộng: Quảng cáo là một phương tiện truyền thông rất sâurộng, cho phép người bán lặp lại một thông điệp nhiều lần Nó cũng cho phépngười mua nhận và so sánh thông điệp của các đối thủ cạnh tranh

- Tính biểu cảm: Quảng cáo tạo ra những cơ hội để giới thiệu doanhnghiệp và sản phẩm bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màusắc

- Tính chung: Quảng cáo không thể có tính chất ép buộc như trườnghợp đại diện bán hàng của doanh nghiệp Công chúng không có bổn phận phảichú ý hay hưởng ứng

Quảng cáo có thể sử dụng để tạo ra một hình ảnh lâu bền cho một sảnphẩm, hay để kích thích tiêu thụ nhanh chóng Quảng cáo là một phương thức

có hiệu quả để vươn tới nhiều người mua phân tán về địa lý với chi phí thấpcho một lần tiếp xúc

 Khuyến mãi: Mặc dù công cụ khuyến mãi như phiếu thưởng, cuộc thi,phần thưởng… rất đa dạng, chúng đều có 3 đặc điểm chú ý sau:

- Truyền thông: Chúng thu hút sự chú ý và thường cung cấp thông tin cóthể đưa người tiêu dùng đến với sản phẩm

- Khuyến khích: Chúng kết hợp việc nhân nhượng, khích lệ hay hỗ trợnào đó có giá trị đối với người tiêu dùng

- Mời chào: Chúng chứa đựng lời mời chào thực hiện ngay việc muabán

Các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ khuyến mãi để tạo ra phảnứng đáp lại và mạnh mẽ hơn và nhanh hơn Có thể sử dụng các công cụ khuyếnmãi để chào hàng có hiệu quả và phục hồi mức tiêu thụ đang sa sút Tuynhiên, hiệu quả khuyễn mãi thường mang tính chất ngắn hạn và không có tácdụng tạo dựng sự yêu thích lâu dài đối với nhãn hiệu đó

 Phương thức bán hàng: Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường cácdoanh nghiệp đã và đang áp dụng các phương thức khác nhau như: bán buôn,

Trang 15

bán lẻ tại kho, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm…nhằm đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng.

 Tổ chức thanh toán: Hình thức thanh toán là một trong những yếu tố

có ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ Để kích thích tiêu thụ sản phẩm, doanhnghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức thanh toán khác nhau như: trả ngay, trảgóp…

 Dịch vụ kèm theo sau khi bán: Tổ chức tốt các dịch vụ sau bán hàng làđiều kiện không thể thiếu nhằm duy trì, củng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụsản phẩm và thị trường

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.3.2.1 Khách hàng

Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong điều kiện xã hội ngàycàng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ giữa các nhóm dân

cư cũng ngày càng bị phân hoá, bởi thế cũng không còn thị trường đồng nhất

Để tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp có thể và cần phải chiếm được cácphân đoạn khác nhau của thị trường Không chiếm được khách hàng thì doanhnghiệp không có đối tượng để phục vụ và do đó cũng không thể có hoạt độngkinh doanh của doanh của doanh nghiệp Do vậy, người ta nói khách hàng là

cơ sở của mọi chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, triểnkhai và thực hiện chiến lược marketing của bất kì doanh nghiệp nào

Đối thủ cạnh tranh là trở ngại lớn ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp Nếu các đối thủ cạnh tranh yếu, doanh nghiệp càng có

cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng số lượng tiêu thụ sản phẩm, tăng giá bán,

Trang 16

kiếm được lợi nhuận cao hơn Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tạimạnh thì mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sẽ giảm, lúc này sự cạnhtranh về giá là đáng kể, nhưng mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đếnnhững tổn thương.

Trong cùng ngành, có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh thì cơ hội đến vớitừng daonh ngiệp lại càng ít, thị trường bị phân chia nhỏ lẻ, mức tiêu thụ giảmsút dẫn đến lợi nhuận giảm sút theo Các doanh nghiệp cần phải nhận thức rằng

sẽ không có doanh nghiệp nào có được lợi thế cạnh tranh trên mọi phương diện

mà lợi thế cạnh tranh chỉ là tương đối và có thể thay đổi được

Vì vậy, để đứng vững trên thị trường, giữ được thị trường và mở rộngthị trường tiêu thụ thì doanh nghiệp phải thu thập đầy đủ thông tin về đối thủcạnh tranh, phân tích các đối thủ cạnh tranh để đưa ra các biện pháp thích hợp

về sản phẩm của doanh nghiệp

1.3.2.3 Khả năng của doanh nghiệp

Khả năng khai thác thế mạnh của doanh nghiệp là một thực tế, vì bất cứmột doanh nghiệp nào nếu so với các doanh nghiệp khác đều có những điểmmạnh hơn và yếu hơn Khi hoạch định chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp cóthể và cần phải khai thác triệt để điểm mạnh và những hạn chế đang ràng buộc

1.3.3 Các nhân tố khác

1.3.3.1 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố tác động đến sức mua của kháchhàng và cách thức tiêu dùng Thị trường cần có sức mua cũng như người mua.Tổng sức mua phụ thuộc vào thu nhập hiện tại, giá cả, tiền tiết kiệm và tíndụng Những người làm marketing cần phải lưu ý các xu hướng chính trongthay đổi thu nhập và các động thái thay đổi tiêu dùng của khách hàng Các thayđổi trong những biến số kinh tế chủ yếu như thu nhập, tỷ trọng thu nhập dànhcho tiêu dùng, cơ cấu chi tiêu, tiền tiết kiệm hay vay mượn có một tác động rấtlớn trên thị trường Các doanh nghiệp có các sản phẩm có giá trị lớn hoặc mứcsinh lợi cao cần nghiên cứu kỹ lưỡng những xu hướng biến động của môitrường kinh tế để chủ động có những điều chỉnh thích ứng Trong trường hợp

Trang 17

nền kinh tế gặp khủng hoảng, các nhà quản lý cần tiến hành các bước cần thiết

để thay thế sản phẩm, giảm chi phí và vượt qua những trở ngại

1.3.3.2 Môi trường chính trị, pháp luật

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng chịu tác động mạnh mẽ của nhữngbiến đổi trong môi trường chính trị và pháp luật Môi trường này được tạo ra từ

hệ thống luật pháp, các tổ chức chính quyền và gây ảnh hưởng cũng như ràngbuộc các hành vi của cá nhân lẫn tổ chức trong xã hội

1.3.3.3 Môi trường khoa học công nghệ

Sức mạnh mãnh liệt nhất tác động đến cuộc sống của con người là côngnghệ Công nghệ đã tạo ra những điều kì diệu như Penicilin, giải phẩu tim mạch

Nó cũng đem lại những điều khủng khiếp như bơm khinh khí, hơi độc Đồngthời cũng cung ứng các tiện ích như xe hơi, video Thái độ của một người đối vớicông nghệ tùy theo việc họ bị tác động bởi những điều kì diệu của nó, hay bị chiphối bởi những sai lầm của nó

Công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Công nghệ như là chìa khóa để làm chủ sự phát triểnkinh tế - xã hội, làm chủ tương lai

Các doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao thường có lợi thế trongcạnh tranh so với các hoanh nghiệp khác Bởi vậy doanh nghiệp nên tìm hiểu,nắm bắt các thông tin về khoa học công nghệ để có chiến lược ứng dụng thíchhợp nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng

1.3.3.4 Môi trường tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm: thời tiết, tài nguyênthiên nhiên Các yếu tố tự nhiên có thể tạo ra sự thuận lợi cho doanh nghiệpnày, nhưng cũng có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp khác trong công táctiêu thụ sản phẩm Vì vậy, doanh nghiệp cần khai thác tối đa những điều kiệnthuận lợi, đồng thời cũng hạn chế được những khó khăn

1.3.3.5 Môi trường văn hoá – xã hội

Các yếu tố văn hóa, xã hội của mỗi khu vực đều ảnh hưởng đến cuộcsống và nhu cầu tiêu dùng của con người, như phong tục tập quán, thị hiếu, lối

Trang 18

sống, từ đó có ảnh hưởng trực tiếp đến mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa củadoanh nghiệp.

Những khu vực có văn hóa - xã hội khác nhau, do vậy khả năng tiêu thụsản phẩm của mỗi doanh nghiệp của mỗi khu vực cũng khác nhau Do đó,doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những yếu tố thuộc về văn hóa-xã hội củamỗi khu vực để có chiến lược sản phẩm thích hợp đáp ứng tốt nhu cầu của mỗikhu vực

1.4 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở DN

1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm

1.4.1.1 Tổng khối lượng và danh mục sản phẩm tiêu thụ

Khối lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp có thể tính theo mặthàng, theo khu vực thị trường, theo khách hàng, theo thời gian Các chỉ tiêuphản ánh quy mô tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và dùng thước đo hiệnvật như: lít, kg, chiếc, bao, gói, m2

1.4.1.2 Doanh thu tiêu thụ

Đây là chỉ tiêu quan trọng giúp đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ sảnphẩm thực tế của doanh nghiệp

TR =

1

n

i i i

Q P

Trong đó: TR: Doanh thu tiêu thụ trong kì

Qi: Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ trong kì

Pi : Giá sản phẩm I tiêu thụ trong kì

1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá chi phí về hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Bao gồm các chi phí có liên quan đến hoạt động tiêu thụ như chi phí bánhàng, chi phí quảng cáo, chi phí vận chuyển, chi phí tiền lương, chi phí lãi vayngắn hạn…, trong đó có các chi phí phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triểncủa sản phẩm Cho nên không phải cứ chi phí tiêu thụ thấp là cũng tốt mà phảixem mức chi phí đó trong giai đoạn nào của công tác thực hiện chiến lược

1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm

1.4.3.1 Lợi nhuận

Trang 19

Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu

và tổng chi phí Lợi nhuận thu được càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạtđộng càng có hiệu quả và ngược lại

LN = TR – TC

LN: Lợi nhuận

TR : Tổng doanh thu

TC: Tổng chi phí

1.4.3.2 Tỷ suất lợi nhuận

Là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng nhưhiệu quả sản xuất kinh doanh

a, Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (TLN/TR)

TLN/TR = LN s

TR LNs: Lợi nhuận sau thuếChỉ tiêu này phản ánh 1 đồng doanh thu thu được thì có bao nhiêu đồnglợi nhuận trong kỳ sản xuất

b, Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (TLN/TC)

Trang 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ PHÂN BÓN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN VTNN THỪA THIÊN HUẾ

2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Từ khi chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế, Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Bình Trị Thiên đượcchia thành 3 công ty: Công ty VTNN Quảng Bình, công ty VTNN Quảng Trị,công ty VTNN Thừa Thiên Huế

Công ty VTNN Thừa Thiên Huế chính thức được thành lập theo quyếtđịnh số 71/QĐ-UB ngày 17/07/1989 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Đếnngày 29/01/1993 theo quyết định số 126/QĐ-UB của UBND tỉnh Thừa ThiênHuế được công nhận là doanh nghiệp nhà nước thực hiện các hoạt động theo

cơ chế độc lập, cung ứng và trao đổi vật tư nông nghiệp trên thị trường trongtỉnh cũng như thị trường ngoài tỉnh

Theo quyết định số 1069/QĐ-UB ngày 05/04/2005 của UBND tỉnhThừa Thiên Huế, công ty VTNN được chuyển thành công ty cổ phần VTNNThừa Thiên Huế Đến ngày 29/12/2005 theo nghị định 4408/QĐ-UB củaUBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã chính thức phê duyệt phương án xây dựng cổphần hóa Như vậy, từ tháng 1/2006, để phù hợp với nền kinh tế thị trường, xuhướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế nhà nước ta đã chuyển các doanhnghiệp nhà nước sử dụng vốn ngân sách trở thành công ty cổ phần Với vốn cổphần sẽ giúp cho công ty, doanh nghiệp trở nên chủ động, tự chịu trách nhiệm

về hiệu quả kinh doanh của mình

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty

Theo thông báo số 377 TB/UB ngày 23/07/1990 công ty được giao chứcnăng và nhiệm vụ cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu trực tiếp đến các hợp tác

xã và từng hộ nông dân, địa bàn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của công tychủ yếu là trong tỉnh Với những chức năng sau:

Trang 21

- Cung ứng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho sản xuất nôngnghiệp

- Sản xuất các loại phân bón như phân NPK, phân lân hữu cơ sinh học

- Thu mua và chế biến nông sản

- Xuất nhập khẩu và kinh doanh các mặt hàng cơ khí, vật liệu xây dựng

- Sản xuất kinh doanh các loại giống cây trồng

- Kinh doanh các lại thức ăn gia súc

Với những nhiệm vụ sau:

- Đảm bảo cung ứng kịp thời thuốc bảo vệ thực vật, phân bón

- Thực hiện các chủ trương cung ứng các mặt hàng chính sách miền núi,chương trình trợ giá, trợ cước của nhà nước và tiêu thụ các mặt hàng nông sảncho các khu vực miền núi trên toàn tỉnh

- Thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách theo đúng chủ trương và chế độcủa nhà nước

- Đặc biệt công ty phải thực hiện nhiệm vụ duy trì và phát triển hoạtđộng sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo và an toàn vốn nhằm góp phầnvào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chức năng các phòng ban trong công ty

Kể từ năm 2006, khi công ty VTNN Thừa Thiên Huế đã được cổ phầnhóa thì cơ cấu của công ty cũng đã có một số thay đổi để phù hợp với tiến trìnhmới Về quan hệ trực tuyến được thể hiện bằng những chỉ thị hướng dẫn chỉđạo của HĐQT đối với GĐ, PGĐ và các phòng ban chức năng cũng như cáctrạm phụ thuộc Về quan hệ chức năng được thể hiện bằng mối quan hệ giữacác phòng ban và các trạm phụ thuộc

- HĐQT: Do đại hội đồng bầu ra để điều hành công ty HĐQT có thể là3,5,7 thành viên, đại diện cho cổ đông để giải quyết các vấn đề sản xuất kinhdoanh của công ty HĐQT đề ra các quy chế, hình thức hoạt động và giaonhiệm vụ cho giám đốc công ty thực hiện

- Giám đốc công ty cổ phần có thể đi thuê hoặc là thành viên củaHĐQT Gám đốc là người đứng ra chịu trách nhiệm và thực hiện các chỉ đạo

Trang 22

của HĐQT Là người trực tiếp điều hành nhân sự, có trách nhiệm điều hànhcác phòng ban cấp dưới thực hiện.

- Phó giám đốc: Là người chịu trách nhiệm khâu mua bán hàng hoá, tìmkiếm nguồn hàng, kí hợp đồng với các tổ chức kinh doanh để mua hàng hoá,ngoài ra còn chỉ đạo các trạm tiến hành tốt công tác tiêu thụ

- Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ thông tin chính xác, kịp thời tình hìnhhàng hoá hiện tại, tình hình tiêu thụ và khả năng cung cấp hàng hoá cho phíađối tác, nhu cầu thị trường từ đó tham mưu cho lãnh đạo công ty để có nhữnggiải pháp phù hợp nhất tại những thời điểm xác định

- Phòng kế toán: Có nhiệm vụ tổ chức hoạch toán các nghiệp vụ trongquá trình kinh doanh của công ty

- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ giải quyết các công tác hànhchính như văn bản bảo mật, bảo vệ cơ quan, tiếp khách… Và có chức năngtham mưu cho lãnh đạo về công tác tổ chức nhân sự, chính sách hưu trí…

2.1.4 Tình hình về lao động

Trong những năm qua, hoạt động của công ty tương đối ổn định, sảnphẩm của công ty đã được khách hàng thừa nhận về chất lượng Công ty đã tạocông ăn việc làm cho 175 lao động trong năm 2009 vừa qua Và tình hình sửdụng lao động của công ty được thể hiện ở bảng 1

Lực lượng lao động đã có những biến động về mặt số lượng lẫn chấtlượng qua 3 năm: Năm 2007 là 135 lao động, năm 2008 tăng lên 155 lao động

và năm 2009 là 175 lao động, mức tăng lao động bình quân mỗi năm là 20 laođộng Tốc độ tăng số lao động đã qua đào tạo cũng tăng lên hàng năm Năm

2007 số lao động đã qua đào tạo (từ THCN trở lên) chiếm 48,15% thì năm

2009 là 56% Tuy số lao động của công ty có sự biến động qua các năm nhưng

số lao động trực tiếp vẫn chiếm đa số Năm 2007, số lao động trực tiếp chiếm74,07%, năm 2008 là 67,74%, đến năm 2009 là 65,71%, mặc dù lực lượng laođộng trực tiếp chiếm đa số nhưng đã có sự giảm dần qua các năm

Trang 23

Bảng 1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2007 – 2009.

Chỉ tiêu

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 So sánh Số

lượng (người)

Cơ cấu (%)

Số lượng (người)

Cơ cấu (%)

Số lượng (người)

Cơ cấu (%)

08/07 09/08

Số lượng (người)

Cơ cấu (%)

Số lượng (người)

Cơ cấu (%)

( Nguồn: Phòng kế toán tài chính – Công ty CP VTNN Thừa Thiên Huế)

Trang 24

Lực lượng cán bộ có trình độ đại học có xu hướng tăng qua các năm, từnăm 2007 là 25,93% tăng lên 28,57% vào năm 2009 Điều này cho thấy chấtlượng của đội ngũ ngày càng được nâng cao và làm việc năng suất hơn Tathấy tỷ trọng của đội ngũ CNKT và LĐPT đã giảm từ 52,26% từ năm 2008xuống 44% ở năm 2009 Đây là điều đáng mừng cho công ty, thể hiện sự chăm

lo công tác đạo tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho người công nhân nhằmnâng cao năng suất lao động

Xét về giới tính thì lao động nam vẫn luôn nhiều hơn lao động nữ, điềunày hoàn toàn phù hợp với tính chất công việc và đặc điểm kinh doanh củacông ty Nam giới luôn chiếm hơn 50% tổng số lao động, năm 2007 là 75,56%,năm 2009 là 71,43% Tuy nhiên công ty còn gặp một số khó khăn trong độingũ lao động là đội ngũ lao động CNKT tuy đã có qua đào tạo, song tuổi đờivẫn con trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong công việc

Lao động là yếu tố nguồn lực quan trong của mỗi doanh nghiệp, là mộttrong những yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả và hiệu quả của quátrình kinh doanh Vì vậy, việc phân công sử dụng nguồn lao động hợp lý, phùhợp với trình độ của người lao động là rất quan trọng Việc sử dụng tốt nguồnlao động về số lượng và thời gian, tận dụng hết khả năng và kĩ năng của ngườilao động là một trong những yếu tố làm tăng khối lượng sản phẩm, giảm chiphí, hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường

2.1.5 Tình hình tài chính của công ty

Từ khi thành lập đến nay, công ty đã có những thay đổi, cụ thể là sựthay đổi từ công ty vật tư nông nghiệp sang công ty cổ phần vật tư nôngnghiệp, do đó vốn kinh doanh cũng đã có những sự thay đổi và đươc bổ sunghàng năm Cụ thể là năm 2007 nguồn vốn kinh doanh của công ty là 70.738,78triệu đồng, sang năm 2009 tăng thêm 12.552,81 triệu đồng tương ứng với17,75%, đến năm 2009 tăng thêm 5.447,86 triệu đồng tương ứng với tăng thêm6,54% Nguồn vốn CSH cũng diễn ra theo chiều hướng tốt, năm 2007 là7.127,93 triệu đồng, năm 2008 tăng thêm 1.724,8 triệu đồng tương ứng 24,2%,sang năm 2009 tăng thêm 3000,22 triệu đồng tương ứng với tăng 33,89% Điều

Trang 25

Bảng 2: Tình hình vốn của công ty

ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu

Giá trị Cơ cấu

(%) Giá trị

Cơ cấu(%) Giá trị

Cơ cấu(%)

Giá trị Cơ cấu

(%) Giá trị

Cơ cấu(%)Tổng vốn 70.737,78 100 83.291,59 100 88.739,45 100 12.552,81 117,75 5.447,86 106,54

Trang 26

này giúp công ty thuân lợi hơn, chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mình Tuy nhiên, nguồn vốn vay vẫn còn tăng qua các năm: năm 2007 là63.610.85 triệu đồng đến năm 2008 tăng thêm 10.808,01 triệu đồng tương ứng17,02%, năm 2009 tăng thêm 2.447,64 triệu đồng tương ứng với tăng thêm 3,29%,

sỡ dĩ vốn vay chiếm tỷ trọng lớn hơn là do công ty không ngừng mở rộng quy môsản xuất và đầu tư trang thiết bị vật chất kỹ thuật

Xét theo đặc điểm vốn thì VLĐ và VCĐ đều có xu hướng tăng, nhưngVLĐ của công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với VCĐ, lý do là đặc điểm kinhdoanh của công ty là vừa sản xuất thương mại, vừa phục vụ cho nông nghiệp nênviệc đầu tư vào VLĐ là điều cần thiết để quay vòng vốn nhanh hơn, tạo hiệu quảtrong kinh doanh, làm lợi cho công ty Năm 2007, VLĐ là 62.600,41 triệu đồng,năm 2008 tăng thêm 9.415,23 triệu đồng tương ứng với 15,04%, năm 2009 tăngthêm là 3.128,93 triệu đồng tương ứng với tăng thêm 4,34% so với năm 2008.Cùng với sự biến động đó thì VCĐ cũng đã có sự gia tăng qua các năm: Năm

2007 là 8.138,37 triệu đồng, năm 2008 tăng thêm 3.137,56 triệu đồng tương ứng38,55%, năm 2009 tăng thêm 2.318,94 triệu đồng tương ứng với tăng 20,57% sovới năm 2008

Qua việc phân tích trên ta thấy tuy vốn CSH đã có sự biến đổi theo chiềuhướng tốt là tăng lên qua các năm tuy nhiên vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong tổnggiá trị nguồn vốn của công ty Mà nguồn vốn CSH thể hiện khả năng chủ độngtrong kinh doanh, cho nên trong những năm tới cần có những kế hoạch để tăngnguồn vốn CSH, vốn CSH càng tăng thì khả năng đem lại lợi nhuận cho công ty

sẽ càng lớn

2.2 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ PHÂN BÓN TẠI CÔNG TY

2.2.1 Nhu cầu phân bón của thị trường

Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nền nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớntrong cơ cấu kinh tế, do đó nhu cầu phân bón để phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp là rất lớn Nắm bắt được lợi thế đó, công ty CP VTNN Thừa Thiên Huế đã

Trang 27

không ngừng khai thác, mở rộng thị trường tiêu thụ phân bón để đáp ứng nhucầu của bà con nông dân.

Bảng 3: Nhu cầu phân bón của thị trường Thừa Thiên Huế năm 2009

ưa chuộng loại phân bón này mặc dù giá cả của loại phân này có phần trội hơn

so với các loại phân khác

Giá cả là một trong những yếu tố tạo nên cầu phân bón trên thị trường,

mà phân bón của công ty chủ yếu là nhập khẩu, cho nên giá cả có sự phụ thuộcvào thị trường thế giới, điều đó cũng sẽ kéo theo nhu cầu phân bón sẽ không ổnđịnh, cho nên việc xác định nhu cầu vật tư của thị trường chỉ mang tính chấttạm thời, trong từng thời kỳ ngắn Cho nên công ty cần có sự nghiên cứu thịtrường, dự báo thị trường một cách liên tục, cập nhật để có thể chủ động đốiphó trước mọi tình thế xấu có thể xảy ra

2.2.2 Khối lượng phân bón hiện có của công ty

2.2.2.1 Sản lượng phân bón mua vào của công ty

Sản lượng phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007-2009 đượcthể hiện ở bảng 4 Công ty luôn chú trọng đến việc sử dụng nguồn lực cũngnhư phân bổ chi phí hợp lý trong quá trình thu mua phân bón nhằm đem lại lợiích cao nhất Lượng phân bón mua vào như: Lân, kaly, urê không những dùng

Trang 28

Bảng 4: Sản lượng phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007 – 2009

Danh mục phân bón

Sản lượng(Tấn)

Cơcấu(%)

Sản lượng(Tấn)

Cơcấu(%)

Sản lượng(Tấn)

Cơcấu(%)

Sản lượng(Tấn)

Cơcấu(%)

Sảnlượng(Tấn)

Cơ cấu(%)

Trang 29

để bán mà còn để dùng để sản xuất phân hỗn hợp NPK Các mặt hàng này mộtphần được mua từ các nhà sản xuất trong nước, một phần phải nhập khẩu từ nướcngoài Tuy nhiên, trong tương lai cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học

kỹ thuật thì các nhà sản xuất trong nước sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng caođồng thời tiết kiệm được chi phí sẽ thay thế được tình trạng nhập khẩu như hiệnnay

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy lượng phân bón mua vào của công ty có sựbiến động qua 3 năm, trong 3 mặt hàng lân, kaly, urê thì phân lân là được công tymua nhiều hơn cả, tỷ trọng cũng chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 loại phân, chiếm40,6% vào năm 2007, 41,23% vào năm 2008 và năm 2009 là 41,71%, sở dĩ nhưvậy là do giá phân lân thấp trong 3 loại phân nói trên Không những lân là loạiphân chiếm tỷ trọng cao mà nó còn tăng mạnh về sản lượng mua vào qua 3 năm:năm 2008 tăng 308 tấn so với năm 2007, tương ứng với 5,04%, năm 2009 tăng

427 tấn tương ứng với tăng 6,23% so với năm 2008

Trong khi đó urê là loại phân tăng ít nhất qua 3 năm: 2008 tăng 94 tấn sovới 2007, tương ứng với 1,73%, năm 2009 tăng 199 tấn tương ứng với tăng 3,61%

so với năm 2008 Sở dĩ như vậy là do urê mua từ các nhà sản xuất trong nước vàmua từ nước ngoài đều phải nhập khẩu qua các khâu trung gian, điều đó đã đẩymức giá lên cao hơn Tình hình chung của năm 2009 là vậy, tuy nhiên vào 2 thángđầu năm 2009, do ảnh hưởng cuối năm 2008 là cho giá phân bón giảm hơn so vớicùng kỳ, cho nên nhập khẩu phân bón ước tính tăng gần 50% so với cùng kỳ.Trong đó, đáng chú ý là nhập khẩu urê 2 tháng đầu năm ước tính tăng gần 80% vềlượng, nguyên nhân là giá phân bón đầu 2009 đã giảm quá mạnh so với năm 2008dẫn đến tình trạng doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu để bảo hoà với lượng phânbón nhập khẩu với giá cao trước đây

Tuy nhiên, sản lượng urê mua vào vẫn chưa phải là thấp nhất trong 3 loạiphân Kaly có sản lượng mua vào thấp nhất, năm 2007 là 3.527 tấn, chiếm23,42%; năm 2008 là 3.641 tấn, chiếm 23,37%; năm 2009 là 3.862 tấn tương ứngvới 23,51% Một trong những lý do khiến công ty mua kaly với lượng thấp nhất là

Trang 30

giá kaly khá cao hơn so với 2 loại phân lân và urê và kaly là mặt hàng mà công

ty phải nhập khẩu hoàn toàn từ các nhà trung gian

2.2.2.2 Biến động giá phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2009

2007-Giá cả là yếu tố quan trọng góp phần vào quyết định việc mang lại lợinhuận và sự canh tranh cho công ty Cho nên để có một mức giá bán hợp lý thìcông ty phải nỗ lực nhiều hơn trong công tác nghiên cứu thị trường nguồn hàngmua vào sao cho các mặt hàng mua vào vừa có chất lượng tốt, giá cả phảichăng để tiết kiệm chi phí cho công ty

Tình hình giá các loại phân bón có sự biến động qua các năm Năm

2008 có sự tăng giá so với năm 2007, cụ thể là năm 2007 giá các loại phân bónnhư sau: kaly: 12.500 đồng/kg, urê: 7.000 đồng/kg, lân: 2.400 đồng/kg; năm

2008, phân lân tăng thêm 350 đồng/kg, tương ứng với tăng thêm 14,58%, kalytăng thêm 1200 đồng/kg, tương ứng với tăng 9,6%, urê tăng 1800 đồng/kg,tương ứng tăng 25,71% Tuy nhiên giá phân bón lại có sự giảm sút hơn trongnăm 2009, sở dĩ như vậy là do tác động giảm mạnh của giá dầu mỏ, bên cạnh

đó nguồn cung phân bón cuối năm 2008 khá dồi dào trong khi nhu cầu phânbón còn yếu và chưa đi vào chính vụ, bên cạnh đó tình hình bão lũ phức tạp đãkhiến hoạt động trồng trọt gặp nhiều khó khăn Do vậy, cuối năm 2008 là thờiđiểm mà giá phân bón đã ổn định ở mức thấp nhất trong năm Tuy nhiên từ đầunăm 2009 đến nay, giá phân bón trong nước đã có xu hướng tăng trở lại Cụthể, vào cuối năm 2008 giá urê ở mức 5.500 đồng/kg và đến những tháng đầunăm 2009 đã tăng lên 7.500 đồng/kg

Thị trường phân bón trong nước từ đầu năm 2009 có sự thay đổi xuhướng về giá so với giai đoạn cuối năm 2008 là do chịu tác động tăng giá trởlại của thị trường phân bón thế giới Từ đầu năm 2009, giá phân bón thế giới

đã không ngừng tăng lên hàng tuần, hàng tháng Đơn cử đối với phân urê đãtăng gần 2000 đồng/kg so với thời điểm cuối năm 2008

Giá phân bón đảo chiều đã tác động khiến giá phân bón trong nước tăngnhẹ trong 2 tháng đầu năm 2009 bất chấp nguồn cung còn dồi dào và nhu cầunhững ngày đầu năm còn khá yếu Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của thế giới

Trang 31

Bảng 5: Giá phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007-2009

Trang 32

không lớn khi xu hướng giá phân bón tăng với tốc độ nhẹ và có thể coi là ổn địnhxét trên mặt bằng chung.

Quý I/2009 là thời gian cả nước trong kỳ cao điểm sản xuất vụ đông xuân,nhu cầu tiêu thụ phân bón đã tăng lên, hoạt động buôn bán, vận chuyển, phân phốiphân bón đã có sự sôi động trở lại sau tình trạng ảm đạm cuối năm 2008, do vậy

đã có sự nhích tăng giá phân bón trong năm 2009

Cho nên giá phân bón năm 2009 được thể hiện ở bảng 5, giá phân lân là2.350 đồng/kg, kaly là 12.000 đồng/kg, giá phân urê là 7.500 đồng/kg Giá phânlân giảm 400 đồng/kg, tương ứng giảm 14,55% Giá phân kaly giảm 1.700đồng/kg tương ứng giảm 12,41% so với năm 2008 Giá phân urê giảm 1.300 đồng/

kg tương ứng giảm 14,77% Giá phân bón đầu vào giảm đã làm lợi cho các công

ty mua vật tư, giảm khoản chi phí đầu vào, góp phần vào tăng lợi nhuận cho côngty

2.2.2.3 Sản lượng NPK sản xuất ra của công ty

Công ty CP VTNN Thừa Thiên Huế là công ty sản xuất kinh doanh các loạiphân bón, cho nên ngoài nhiệm vụ là kinh doanh phân bón thì công ty còn hoạtđộng trong lĩnh vực sản xuất, công ty sản xuất phân hỗn hợp NPK, để sản xuất raloại phân này thì cần phải có 3 loại đơn phân: lân, kaly, urê là những nguyên liệuchủ yếu Cho nên việc thu mua các loại phân lân, kaly, urê không những chỉ phục

vụ cho bà con nông dân mà còn để sản xuất phân tổng hợp NPK Hiện nay công ty

đã sản xuất ra hơn 20 loại phân NPK, là những loại phân rất phù hợp với từng loạiđất, từng loại cây trồng cho nên rất được bà con nông dân ưa chuộng Qua bảng sốliệu 5 ta thấy được rằng tổng số liệu NPK sản xuất ra hàng năm đã có sự gia tăng

Cụ thể năm 2007 là 5.811 tấn, năm 2008 là 5.913 tấn, tăng 102 tấn tương ứng vớităng 1,76% so với 2007, năm 2009 là 6.824 tấn, tăng 911 tấn tương ứng với tăng15,41% so với năm 2008

Trong các loại NPK thì NPK 16.16.8 là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng số hơn 20 loại phân mà công ty sản xuất ra Điều này chứng tỏ loại

Trang 33

Bảng 6: Sản lượng NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009

Danh mục phân bón

Sảnlượng(Tấn)

%

Sảnlượng(Tấn)

%

Sảnlượng(Tấn)

Trang 34

phân này được tiêu thụ tốt trên thị trường, đặc biệt loại phân này rất phù hợpvới các loại cây cho giá trị cao như cafe, cao su, hồ tiêu, cho nên được bà conđầu tư vào phân bón và chăm sóc Sự tín nhiệm đó của bà con đã được thể hiệnthông qua sản lượng của công ty qua các năm: 2007: 1.522 tấn; năm 2008:1.527 tấn, tăng thêm 5 tấn tương ứng với 0,33% so với năm 2007, năm 2009 là1.792 tấn tăng 202 tấn, tương ứng với tăng 13,23% so với năm 2008.

Sau mức sản lượng cao của NPK 16.16.8 là sản lượng của NPK 10.10.5.Năm 2007, sản lượng là 1.194 tấn; năm 2008 là 1.197 tấn, tăng 3 tấn tương ứngvới 0,25% so với năm 2007; năm 2009 là 1.581 tấn tăng 384 tấn tương ứng vớităng 32,08%

NPK 20.20.5 cũng có xu hướng tăng qua các năm Năm 2007 là 1.140tấn; năm 2008 là 1.145 tấn, tăng 5 tấn tương ứng với 0,44% so với 2007; năm

2009 là 1.441 tấn, tăng 296 tấn tương ứng tăng 25,85% so với năm 2008 Cùngvới xu hướng đó các loại phân NPK khác cũng có sự gia tăng nhưng chưa ồ ạtnhưng cũng đã góp phần làm tăng tổng sản lượng NPK của công ty Sản lượngtăng qua các năm chứng tỏ sản phẩm đã có vị trí trên thị trường, điều đó sẽ làđộng lực thúc đẩy công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm cũngnhư các kế hoạch về giá cho phù hợp với thị trường

2.2.2.4 Chi phí sản xuất NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009

Cùng với sự biến động tăng qua 3 năm của sản lượng NPK đã làm chochi phí sản xuất của NPK cũng gia tăng theo qua các năm Chi phí sản xuất thểhiện quá trình đầu tư cho sản xuất để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu phân bóncho thị trường cả về số lượng lẫn chất lượng

Tổng chi phí qua 3 năm lần lượt như sau: Năm 2007 là 48.825,81 triệuđồng; năm 2008 là 57.437,37 triệu đồng; năm 2009 là 60.632,77 triệu đồng;năm 2008 tăng thêm 8.611,56 triệu đồng so với năm 2007 tương ứng vơi17,64%; năm 2009 tăng thêm 3.195,4 triệu đồng, tương ứng với tăng 5,56% sovới năm 2008 Trong đó chi phí nguyên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất:năm 2007 là 42.420,30 triệu đồng chiếm 86,88% trong tổng chi phí sản xuất;năm 2008 là 49.919,25 triệu đồng chiếm 86,91%; năm 2009 là 52.495,85 triệuđồng, chiếm 86,58% Sở dĩ như vậy là vì công ty luôn mở rộng sản xuất nhằm

Trang 35

tăng cường sản lượng bán ra trên thị trường, đặc biệt để tạo lòng tin và uy tíncho khách hàng, công ty đã không ngừng nghiên cứu để sản xuất ra nhiều loạiphân hỗn hợp NPK với những chức năng khác nhau phù hợp với từng loại câytrồng Đồng thời để sản phẩm có chất lượng cao hơn, công ty đã tăng cường tỷ

lệ đạm, lân, kaly có trong hỗn hợp NPK làm cho sản phẩm ngày càng hoànthiện và có chất lượng đảm bảo, có khả năng cạnh tranh so với các mặt hàngcùng loại ở một số đơn vị khác Chính vì điều này đã làm cho chi phí phân bónmua vào dùng cho hoạt động sản xuất không ngừng tăng lên qua các năm vàchiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí sản xuất

Sau chi phí nguyên vật liệu thì chi phí về khấu hao TSCĐ cũng là mộtkhoản chi phí lớn, có tỷ trọng lần lượt qua 3 năm là: Năm 2007: 4.671,63 triệuđồng chiếm 9,57%; năm 2008 là 5.216,27 triệu đồng chiếm 9,08%; năm 2009

là 5.456,95 triệu đồng chiếm 9% Năm 2008 tăng 544,64 triệu đồng tương ứngvới 11,66% so với năm 2007; năm 2009 tăng thêm 240,68 triệu đồng tươngứng với tăng 4,61% so với năm 2008 Mức khấu hao TSCĐ tăng lên qua 3 năm

là do công ty không ngừng gia tăng sản xuất làm cho một số máy móc thiết bịngày càng bị hao mòn, hư hỏng cần được sửa chữa Mặt khác giá trị sử dụngcủa TSCĐ cũng giảm dần theo thời gian, số lượng phân bón sản xuất ra, điềunày cũng làm mức khấu khao TSCĐ tăng lên qua các năm

Cuối cùng là chi phí về công lao động, do số lao động trong công ty có

xu hướng gia tăng qua các năm đã kéo theo chi phí lao động tăng lên Năm

2007, chi phí dành cho lao động là 1.235,74 triệu đồng, chiếm 2,57% trongtổng chi phí sản xuất; năm 2008 là 1.637,52 triệu đồng, chiếm 2,85% trongtổng chi phí sản xuất; năm 2009 là 1.934,19 triệu đồng, chiếm 3,19% trongtổng chi phí sản xuất; năm 2008 chi phí lao động tăng thêm 401,78 triệu đồng,tương ứng với 32,51% so với năm 2007; năm 2009 tăng lên 296,67 triệu đồngtương ứng với tăng thêm 18,12% so với năm 2008 Sỡ dĩ có sự gia tăng này là

do tiền lương của công nhân viên tăng lên qua 3 năm, mặt khác để khuyếnkhích công nhân viên làm việc hăng say, công ty đã không ngừng khen thưởng,bồi dưỡng và tăng lương cho người lao động Chi phí này tăng lên qua 3 năm

Trang 36

Bảng 7: Chi phí sản xuất NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009

Chỉ tiêu

Giá trị(triệuđồng)

Cơcấu(%)

Giá trị(triệuđồng)

Cơcấu(%)

Giá trị(triệuđồng)

Cơcấu(%)

+/- (triệuđồng)

Cơ cấu(%)

+/- (triệuđồng)

Cơ cấu(%)Tổng chi phí 48.825,81 100 57.437,37 100 60.632,77 100 8.611,56 117,64 3.195,4 105,56

Trang 37

đã chứng tỏ công ty kinh doanh ngày càng có hiệu quả và đời sống của cán bộcông nhân viên đã được cải thiện hơn.

2.2.3 Khối lượng phân bón công ty cung cấp cho thị trường qua 3 năm 2007 – 2009

2.2.3.1 Đặc điểm kênh phân phối của công ty

Trong giai đoạn 2007 – 2009 công ty đã áp dụng 3 loại kênh phân phối

là kênh cấp 0, kênh cấp 1, kênh cấp 2

Kênh cấp 0: phân phối trực tiếp từ công ty đến các dự án và người tiêudùng sản xuất nông nghiệp thông qua phòng kinh doanh và 6 trạm của công tytại Phong Điền, An Lỗ, Sịa, Phú Đa, Truồi và A Lưới Đây là cách thức bántrực tiếp không qua trung gian nên giảm được các khoản chi phí không cầnthiết, đồng thời cũng tránh được các xung đột giữa các trung gian, tốc độ lưuthông hàng hóa nhanh và công ty có thể thu hồi ý kiến của khách hàng mộtcách trực tiếp

Kênh cấp 1: Phân phối từ công ty đến các cửa hàng bán lẻ, lượng hàngbán ở kênh này không nhiều do đối tượng thường mua nhiều loại mặt hàngnhưng với số lượng nhỏ

Kênh cấp 2: Phân phối từ công ty – đại lý bán buôn – đại lý bán lẻ vàcông ty – hệ thống HTX Khối lượng hàng hóa bán ra ở kênh này tương đốilớn Khách hàng ở kênh này thường mua với khối lượng lớn nhưng khôngnhiều loại mặt hàng mà chỉ mua những loại mặt hàng mà thị trường ưa chuộng

Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm của công ty cổ phần VTNN Thừa

Thiên Huế

Ngườimua

Đại lý bán lẻ

Các dự án

Đại lý bán buôn/HTX

Cửa hàng bán lẻCông ty

Trang 38

2.2.3.2 Tổng lượng phân bón tiêu thụ của công ty qua 3 năm 2007 – 2009

Tổng lượng phân bón công ty cung cấp cho thị trường qua 3 năm 2007 –

2009 đã có sự gia tăng, và sự gia tăng đó được thể hiện thông qua bảng 8 dướiđây Sở dĩ có sự gia tăng như vậy là do nhu cầu sử dụng phân bón trên thịtrường ngày càng nhiều, mặt khác do công ty không ngừng mở rộng thị trườngtrong tỉnh, ngoài tỉnh làm cho sản lượng phân bón tiêu thụ ngày càng tăng lênqua các năm Hơn thế nữa, do phân bón của công ty đã được thị trường đónnhận và tin dùng, điều đó đã tạo ra vị trí cho sản phẩm của công ty trên thịtrường đầy cạnh tranh Mà cụ thể là năm 2007, tổng sản lượng cung cấp cho thịtrường là 14.685 tấn; năm 2008 là 15.042 tấn; năm 2008 tăng thêm 357 tấntương ứng với tăng 2,43% so với năm 2007; năm 2009 là 17.826 tấn, tăng thêm2.784 tấn tương ứng với 18,51% so với năm 2008 Qua số liệu bảng 8 ta thấylân là loại phân bón được tiêu thụ nhiều nhất qua các năm Năm 2007 là 4.582tấn, năm 2008 là 4.826,5 tấn, năm 2009 là 5.650 tấn Không những thế, lân còn

là loại phân có số lượng tiêu thụ tăng mạnh qua các năm, năm 2008 tăng 244,5tấn tương ứng với 5,34% so với năm 2007, năm 2009 tăng 823,5 tấn tương ứngvới tăng 17,06% so với năm 2008 Một trong những yếu tố khiến lân được tiêuthụ mạnh như vậy là do giá cả, giá phân lân luôn thấp nhất trong các loại phâncủa công ty Và kaly là loại phân có lượng tiêu thụ thấp nhất và giá cả cũng làmột trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ của kaly, năm 2007

là 2.024 tấn, năm 2008 là 2.075,5 tấn, năm 2009 là 2.786 tấn, tuy nhiên đâychưa phải là loại phân có mức tiêu thụ tăng lên hàng năm là thấp nhất Mà mứctăng lên thấp nhất qua các năm là NPK, năm 2008 tăng thêm 24,5 tấn tươngứng với tăng 0,58% so với năm 2007, năm 2009 tăng thêm 466,5 tấn tươngứng với 10,97% so với năm 2008

Ngoài những yếu tố trên thì yếu tố về con người cũng quan trọng không kémtrong việc tăng tổng sản lượng phân bón tiêu thụ ra thị trường Công ty đã cóđội ngũ cán bộ công nhân viên đoàn kết nhất trí, sáng tạo không ngừng để đưa

ra những kế hoạch nghiên cứu thị trường, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phù hợpvới từng đặc điểm của từng vùng, từng địa phương Chính điều đó đã góp phầnvào tăng sản lượng tiêu thụ cho công ty

Trang 39

Bảng 8: Tổng lượng phân bón tiêu thụ trên thị trường qua 3 năm 2007 -2009

Trang 40

Bảng 9: Sản lượng phân bón cung cấp cho thị trường qua các kênh phân phối qua 3 năm 2007 – 2009

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2007 – 2009. - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 1 Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 23)
Bảng 2: Tình hình vốn của công ty - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 2 Tình hình vốn của công ty (Trang 25)
Bảng 3: Nhu cầu phân bón của thị trường Thừa Thiên Huế năm 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 3 Nhu cầu phân bón của thị trường Thừa Thiên Huế năm 2009 (Trang 27)
Bảng 4: Sản lượng phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 4 Sản lượng phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 28)
Bảng 5: Giá phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007-2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 5 Giá phân bón mua vào của công ty qua 3 năm 2007-2009 (Trang 31)
Bảng 6: Sản lượng NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 6 Sản lượng NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 33)
Bảng 7: Chi phí sản xuất NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 7 Chi phí sản xuất NPK của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 36)
Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm của công ty cổ phần VTNN Thừa  Thiên Huế - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Sơ đồ 1 Kênh phân phối sản phẩm của công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế (Trang 37)
Bảng 8: Tổng lượng phân bón tiêu thụ trên thị trường qua 3 năm 2007 -2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 8 Tổng lượng phân bón tiêu thụ trên thị trường qua 3 năm 2007 -2009 (Trang 39)
Bảng 9: Sản lượng phân bón cung cấp cho thị trường qua các kênh phân phối qua 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 9 Sản lượng phân bón cung cấp cho thị trường qua các kênh phân phối qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 40)
Bảng 10: Sản lượng tiêu thụ qua các dự án thời kỳ 2007-2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 10 Sản lượng tiêu thụ qua các dự án thời kỳ 2007-2009 (Trang 41)
Bảng 11: Sản lượng phân bón do các cửa hàng bán lẻ tiêu thụ - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 11 Sản lượng phân bón do các cửa hàng bán lẻ tiêu thụ (Trang 42)
Bảng 12: Sản lượng phân bón do hệ thống đại lý bán buôn và HTX tiêu  thụ - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 12 Sản lượng phân bón do hệ thống đại lý bán buôn và HTX tiêu thụ (Trang 44)
Bảng 13: Chênh lệch giá bán ra qua từng kênh của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 13 Chênh lệch giá bán ra qua từng kênh của công ty qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 47)
Bảng 14: Biến động doanh thu tiêu thụ của công ty qua các kênh tiêu thụ - Khóa luận phân tích tình hình tiêu thụ phân bón tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp thừa thiên huế
Bảng 14 Biến động doanh thu tiêu thụ của công ty qua các kênh tiêu thụ (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w