1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an

83 1,4K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa Luận Nghiên Cứu Chuỗi Cung Rau An Toàn Của Hộ Nông Dân Ở Xã Hưng Đông, Thành Phố Vinh, Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Vinh
Thể loại Khóa luận
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 621,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.1.Về mặt lý thuyết

Trồng trọt là một trong những ngành quan trọng của sản xuất nông nghiệp Việt

Nam, đặc biệt đối tượng khu vực nông thôn nơi 80% dân số là lao động đang sống

và làm việc Sản xuất rau là một bộ phận quan trọng trong ngành trồng trọt, cung

cấp cho chúng ta nguồn thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày Rau

có giá trị dinh dưỡng (cung cấp các loại vitamin và khoáng chất ) và giá trị kinh tế

cao (là nguyên liệu và mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, là nguyên liệu cho

ngành công nghiệp thực phẩm, làm thuốc, thức ăn cho gia súc )

Hiện nay, thuật ngữ “rau an toàn” được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện

truyền thông đài báo, thông tin đại chúng nhưng trên thị trường lại thiếu rau sạch

trầm trọng và dường như không thể phân biệt được rau sạch và rau thường

Nói về chuỗi cung các nông sản từ người sản xuất đến người tiêu dùng là rất

phức tạp, chênh lệch giá trị giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng là rất

lớn Nhưng người nông dân chỉ nhận được một phần rất nhỏ trong tổng lợi nhuận từ

người sản xuất đến người cuối cùng

Nghiên cứu phân tích chuỗi cung sản phẩm rau Cải ngọt tại Hưng Yên của cơ

quan Fresh Studio Innovations Asia Ltd, phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển

nông thôn tỉnh Hưng Yên (2007), đã chỉ ra rằng: "kết quả phân tích chuỗi giá trị Cải

ngọt khẳng định một nghịch lý rằng thị trường rau an toàn là tiềm năng và người dân

có thể sản xuất rau an toàn Tuy nhiên, rau an toàn chưa phát triển được" Nhưng

bên cạnh đó cũng tồn tại một số nghịch lý như người tiêu dùng muốn mua rau an

toàn nhưng không biết mua ở đâu? Người dân Hưng Yên nói họ có thể sản xuất rau

an toàn nhưng không biết bán ở đâu Nhiều khởi xướng dự án sản xuất và tiêu thụ

rau an toàn đã được triển khai bởi chính quyền trung ương, địa phương Hưng Yên

và các tổ chức tư nhân nhưng kết quả còn rất hạn chế

Trang 2

Trong khi đó Công ty nghiên cứu thị trường Việt Nam (Axis) đã có những

nghiên cứu về chuỗi giá trị về rau an toàn và có những kết luận sau: "Chương trình

rau an toàn đã tạo nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất và tiêu thụ, tăng thu

nhập cho người nông dân, giúp họ an tâm sản xuất và gắn bó với đồng ruộng",

nhưng bên cạnh đó vẫn có những hạn chế như: "hiện nay sản xuất rau an toàn còn

mang tính chất sản xuất nhỏ chưa đủ cung cấp nên giá thành cao, chất lượng chưa ổn

định, chưa có tính cạnh tranh bền vững"

Chương trình phát triển kỹ thuật Đức GTZ, Metro Việt Nam và Bộ Thương

mại phối hợp thực hiện dự án chuỗi giá trị rau Đà Lạt (2005) đã có những kết luận

như sau: "chuỗi giá trị của rau, củ, quả Đà Lạt nhìn chung khá phức tạp, gồm nhiều

thành phần và vai trò của từng thành phần không được phân định rõ ràng, thiếu sự

kiểm soát chặt chẽ Tổng hao tổn từ người trồng đến người tiêu dùng khá cao (do

việc vận chuyển xa từ Đà Lạt đến các thành phố lớn), ước tính lên tới 35-40%, tổng

hao hụt về rau từ phía người nông dân (qua các khâu) trung bình nhỏ hơn 10% (nếu

tự thu họach và vận chuyển đến thương lái) Riêng rau an tòan, giống như rau thành

phố Hồ Chí Minh, do yêu cầu khắt khe của nhà tiêu thụ (siêu thị, xuất khẩu) nên

mức độ hao hụt do sơ chế cao hơn khoảng 20-30%", do đó đã có một số đề nghị

như: tổ chức lại hệ thống lưu thông phân phối rau của các công ty quốc doanh và tư

nhân, đào tạo, hướng dẫn nông dân trông rau sạch, hỗ trợ cho các hộ trồng rau

Nghiên cứu của AXIS với đề tài: "chuỗi giá trị rau an toàn của thành phố Hồ

Chí Minh" đã đưa ra kết luận sau: "Đa số nông dân chỉ đảm trách phần thu hoạch và

chuyên chở thẳng đến điểm thu mua Cá biệt có nông dân tự thu hoạch, cắt tỉa, đóng

gói và dán nhãn ngay tại vườn rồi chuyên chở tới Hợp tác xã hoặc Công ty thu mua

(như hợp tác xã Rau An Toàn Tân Phú Trung hay Công ty Sao Việt…) Tuy nhiên,

do bên mua không tin tưởng vào việc nông dân có thể tuân thủ đúng quy cách yêu

cầu của khách hàng sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận nên thông thường Hợp tác xã hoặc

Công ty thu mua tự làm lấy các khâu bằng cách mua nguyên cây (tự cắt gốc, tỉa cành

Trang 3

thấp (1-2%) Vì vậy đã có một số đề nghị như: hỗ trợ nhà lưới phù hợp với điều kiện

tự nhiên của vùng, hỗ trợ kỹ thuật trồng và chăm sóc, chọn giống, hỗ trợ vốn cho

nông dân, quy hoạch tập trung sản xuất

1.2.Về mặt thực tiễn

Rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mọi gia

đình Vấn đề an toàn thực phẩm ngày càng được đặt ra một cách nóng bỏng, trong

đó nhu cầu về rau xanh an toàn ngày càng tăng Vì những lợi nhuận trước mắt mà

những người sản xuất bất chấp phun các loại thuốc kích thích, các loại thuốc tăng

trưởng, ngâm các hóa chất để cho rau tươi lâu hơn, trong ngon mắt hơn

Khác với sản xuất rau thường, rau an toàn khắt khe từ đất trồng, thủy lợi tưới

tiêu, khâu giám sát đầu vào, quy trình chăm sóc đến khâu quy hoạch tiêu thụ sản

phẩm cũng phải đòi hỏi đúng quy trình kỹ thuật, chính vì thế đối tượng sản xuất rau

an toàn cũng phải là những hộ nông dân có vốn khá để đầu tư sản xuất

Mặt khác trên thị trường vẫn lẫn lộn rau an toàn và rau không an toàn nên đầu

ra của rau an toàn còn rẻ, chưa đem lại lợi nhuận cho các hộ nông dân Rau an toàn

cần có một thương hiệu để nó có thể đứng vững trên thị trường, được người tiêu

dùng tin tưởng là rau an toàn không có chất bảo quản, không dùng các loại thuốc

quá liều lượng cho phép

Đối với chuỗi cung rau không an toàn thường dài và qua nhiều mắt xích, nhưng

Rau an toàn thì khác, chuỗi cung ngắn hơn so với rau không an toàn và các đối

tượng tham gia ít hơn vì rau an toàn được bán ở chợ rất ít, đa số là trong siêu thị, nhà

hàng, các nhà chế biến, các nhà xuất nhập khẩu

Hưng Đông là một xã bán nông nghiệp của TP Vinh với 1.112 hộ thuần nông,

trong đó có hơn 40% số hộ trồng và sống chủ yếu nhờ nguồn thu nhập từ cây rau

Đây là địa phương cung cấp rau chủ yếu cho nhu cầu của người dân TP Vinh Việc

cung cấp sản phẩm rau an toàn đến người tiêu dùng qua rất nhiều mắt xích, qua

nhiều khâu trung gian, qua mỗi một mắt xích thì giá trị của nó lại tăng lên Nhưng

sản phẩm rau an toàn khác với rau thường vì nó được đảm bảo vệ sinh an toàn thực

Trang 4

phẩm, đường đi của nó đến người tiêu dùng ngắn hơn so với các sản phẩm khác Để

hiểu rõ đường đi của sản phẩm rau an toàn như thế nào nên tôi đã chọn đề tài:

"Nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã Hưng Đông, thành

phố Vinh, Nghệ An".

2.Mục đích nghiên cứu của để tài

- Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở địa bàn Xã Hưng Đông,

thành phố Vinh, Nghệ An

- Phân tích chuỗi cung rau an toàn trên địa bàn xã

- Phân tích yếu tố nào quyết định đến giá cả và lợi ích từ các mắt xích trong

chuỗi cung

- Kiến nghị giải pháp phát triển trên cơ sở yêu cầu của thị trường nhằm làm cho

chuỗi rau an toàn phát triển thành công hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn từ đó

mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào chuỗi

3.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét và đặt vấn đề nghiên cứu trong

mối quan hệ mật thiết với sự vận động và phát triển liên tục của bối cảnh kinh tế, xã

hội và tự nhiên, đặc biệt trong địa bàn Xã Hưng Đông, thành phố Vinh, Nghệ An

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập tại

UBND Xã Hưng Đông diện tích gieo trồng, sản lượng rau, năng suất rau an toàn của

Xã, diện tích quy hoạch rau an toàn của xã qua 3 năm 2007- 2009

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: điều tra 50 hộ nông dân trồng rau an

toàn ở Xã Hưng Đông, 3 người thu gom nhỏ, 3 người thu gom lớn, 2 siêu thị bán lẻ

tại thành phố Vinh, Nghệ An (Điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

không lặp)

- Phương pháp sơ đồ: sử dụng sơ đồ trong đề tài mô tả các kênh từ người sản

xuất đến người tiêu dùng cuối cùng

- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài có tham khảo ý

Trang 5

- Phương pháp thống kê kinh tế: kết hợp với các phương pháp khác, phương

pháp thống kê được sử dụng để thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích các thông tin

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống

- Phương pháp so sánh: dùng các phương pháp này để so sánh các trị số của

các chỉ tiêu như diện tích, sản lượng của đối tượng nghiên cứu

4.Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến

việc sản xuất và chuỗi cung rau an toàn, các mắt xích trong cung, các giai đoạn vận

chuyển sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng trên địa bàn Xã Hưng Đông, thành

phố Vinh, Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu việc sản xuất và cung cấp Rau an toàn trên

địa bàn Xã Hưng Đông, TP Vinh, Nghệ An

+ Về thời gian:

 Các số liệu thứ cấp được thu thập ở giai đoạn 2007- 2009

 Các số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra 50 hộ nông dân của Xã Hưng Đông

trong năm 2009

Trang 6

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Cơ sở khoa học về sản xuất Rau an toàn

1.1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Khái niệm Chuỗi cung sản phẩm

Khó có thể nói thuật ngữ chuỗi cung được hình thành từ khi nào, và còn khó

hơn để tìm ra câu trả lời thống nhất toàn cầu cho câu hỏi: chuỗi cung sản phẩm là

gì? Chuỗi giá trị cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm

từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào

năm 1985 trong cuốn sách: “Competitive Advantage: Creating and Sustaining

Superior Performance” Chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động Sản phẩm đi qua tất cả

các hoạt động của mỗi chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được

một giá trị nào đó Chuỗi giá trị cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng

hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại

Chuỗi cung bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp hay

gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Bên trong mỗi tổ chức chẳng hạn

nhà sản xuất, chuỗi cung bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và

đáp ứng nhu cầu khách hàng Những chức năng này không hạn chế, phát triển sản

phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng

Trong định nghĩa trên nói rõ ba vấn đề sau đây:

Thứ 1: Thành phần của chuỗi cung bao gồm các doanh nghiệp tham gia trực

tiếp và gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đóng vai trò làm cầu nối cho

người sản xuất và người tiêu dùng

Thứ 2: Nói về mối quan hệ đồng thời cùng các dòng chảy bên trong chuỗi cung

như: dòng thông tin, dòng thanh toán, dòng chuyển quyền sở hữu

Trang 7

Thứ 3: Nói về các vai trò và chức năng phân phối trong toàn bộ chu kỳ sống

của sản phẩm- dịch vụ

Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của

người dân cũng như trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp,

người sản xuất không chỉ quan tâm đến việc đưa ra thị trường sản phẩm gì, với giá

bao nhiêu mà còn là đưa ra thị trường như thế nào? Đây là chức năng phân phối của

marketing

Hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kênh phân phối:

Người sản xuất có thể nhấn mạnh vào các loại trung gian khác nhau cần sử

dụng để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, vì vậy có thể định nghĩa kênh phân

phối như là hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau

Những người trung gian đang hy vọng có được dự trữ tồn kho thuận lợi từ những

người sản xuất và tránh được các rủi ro liên quan đến chức năng này có thể quan niệm

dòng chảy quyền sở hữu hàng hoá như là cách mô tả tốt nhất kênh phân phối

Các kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp: so với loại kênh thiêu thụ hàng hoá

công nghiệp và dịch vụ thì có số lượng kênh nhiều hơn và có một số kênh gián tiếp

nhìn chung là dài hơn

Tóm lại, kênh phân phối là tập hợp các quan hệ với các tổ chức và các cá nhân

bên ngoài doanh nghiệp để tổ chức và quản lý các hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm

đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp cũng như người sản xuất trên thị trường

Trang 8

Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp

Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm Nông nghiệp

( Nguồn: Bài giảng Marketing nông nghiệp, Ths Nguyễn Văn Cường, Đại học kinh tế Huế, 2006)

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

BÁN LẺ

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 9

1.1.1.2.Khái niệm Rau an toàn

* Khái niệm của Bộ NN&PTNT: “Những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại

rau ăn củ, thân, lá, hoa quả) có chất lượng đúng như đặc tính của nó Hàm lượng các

chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo

đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo vệ sinh

thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn” (theo QĐ của Bộ NN&PTNT số 04/2007 QĐ

BNN ngày 19 tháng 01 năm 2007)

* Khái niệm của nông dân: người nông dân thường hiểu rau an toàn là rau phải

được phun thuốc đúng cách, người dân được tập huấn về cách trồng rau an toàn,

phải có nguồn nước sạch để tưới tiêu, phải có nhà lưới, có nhãn mác, xuất xứ

Nhưng cũng theo một số người dân thì khó phân biệt rau an toàn và rau không an

toàn bằng mắt thường, chủ yếu là phải có nhãn mác và xuất xứ rõ ràng (điều tra

phỏng vấn hộ nông dân)

* Khái niệm của người tiêu dùng: nhìn chung, một số chưa có nhận thức về rau

an toàn mà thường là qua “cảm nhận” từ hình thức bên ngoài của rau

Qua các khái niệm trên đây, có thể kết luận rằng tình hình sản xuất rau của các

hộ nông dân ở xã Hưng Đông, TP Vinh chưa thật sự được gọi là sản xuất rau an

toàn Trên thực tế, một số hộ vẫn sản xuất theo lối tập quán canh tác lạc hậu, chưa

gắn với nền sản xuất hàng hóa Sản phẩm rau sản xuất ra chưa đáp ứng được các tiêu

chuẩn mà các Bộ, ban, ngành đưa ra Các hàm lượng thuốc BVTV, quy trình trồng

trọt chưa tuân thủ đúng quy định của sản xuất rau an toàn

Đa số hộ các gặp rất nhiều khó khăn trong việc trồng rau an toàn từ khâu chọn

giống đến khâu trồng trọt, thu hoạch Các hộ nông dân được phỏng vấn đều cho rằng

khó khăn hiện nay là vấn đề nước tưới, không có nguồn nước sạch cho cây trồng;

mặt khác các hộ đều thiếu vốn để đầu tư trang thiết bị và thâm canh cây trồng Nghệ

An là vùng chuyển tiếp cái nắng nóng của miền Trung và cái lạnh của miền Bắc nên

thời thiết ở đây khá khắc nghiệt, bão lũ, hạn hán… xảy ra hàng năm, do đó ảnh

hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất rau

Trang 10

Bên cạnh những khó khăn cũng có một số thuận lợi như nguồn lao động dồi

dào, kinh nghiệm sản xuất và đặc biệt tính chịu thương, chịu khó của người dân

miền trung nói chung và Nghệ An nói riêng đã được cả nước biết đến Chính những

thuận lợi đó đã giúp người dân ở nơi đây đẩy mạnh trồng rau và mở rộng diện tích

gieo trồng, nhằm tăng sản lượng, năng suất cây trồng, từ đó tăng thêm thu nhập cho

gia đình

1.1.1.3.Khái niệm Rau không an toàn

Rau không an toàn là những loại rau có dư lượng các chất độc hại cao hơn mức

cho phép, không đảm bảo cho con người và môi trường

Rau an toàn gần đây ngày càng được nhiều người quan tâm Đã có khá nhiều

trường hợp người tiêu dùng sau khi ăn đã bị ngộ độc, và có nhiều trường hợp bị tử

vong Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì có 4 tiêu chuẩn sau nếu

vượt quá ngưỡng cho phép sẽ thuộc loại không an toàn Đó là các chất: dư lượng

thuốc hoá học (thuốc sâu, bệnh, thuốc cỏ); số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng gây

bệnh; dư lượng đạm nitrat; dư lượng các kim loại nặng (chì, thuỷ ngân,kẽm,

đồng…)

Sản xuất nông nghiệp ở Hưng Đông đang có xu hướng giảm dần mà thay vào

đó là các khu công nghiệp với đủ mọi ngành nghề, làm cho nguồn nước cũng như

chất đất ở đây ngày càng bị ô nhiễm nặng nề Những người dân ở xã Hưng Đông đã

có kinh nghiệm trồng rau từ hơn 30 năm nay, nhưng trồng rau theo hướng ViệtGap

thì chỉ trong những năm gần đây Trồng rau sạch đòi hỏi rất khắt khe về yêu cầu kỹ

thuật từ khâu chọn giống đến phân bón, tưới tiêu, đất trồng…

1.1.1.4.Nguồn gốc, giá trị của cây rau

Trồng rau đã có từ rất lâu đời ở nước ta Rau là một loại dễ trồng, cho sản

phẩm nhanh và rất tốt cho sức khoẻ Con người không thể không có rau xanh trong

các bữa ăn, vì nó mang lại sức khoẻ và vị tươi ngon, bổ dưỡng, cung cấp các

vitamin, khoáng chất cho con người

Trang 11

Nghề trồng rau ở xã đã có cách đây hơn 30 năm, nhưng sản xuất rau sạch thì

mới được áp dụng những năm trở lại đây Với những yêu cầu khắt khe về quy trình

sản xuất, người nông dân đang từng bước áp hướng đến sản xuất rau sạch theo đúng

nghĩa của nó

Xét về góc độ dinh dưỡng, các nhà khoa học đã tính toán và cho rằng: để đủ

năng lượng và cơ thể hoạt động bình thường mỗi người mỗi ngày cần khoảng

250-300g rau Trong khi đó theo thống kê ở nước ta bình quân chỉ tiêu này (năm 2006)

chỉ đạt xấp xỉ 177g Như vậy chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu; nếu tính sản lượng

rau bình quân đầu người ở nước ta thì chỉ tiêu này có tăng lên theo thời gian nhưng

vẫn chưa đạt đến lượng nhu cầu cấn thiết

Trong khẩu phần ăn của người dân ta hiện nay rau cung cấp khoảng 95- 99%

nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vitamin B và gần 100% nguồn vitamin C Nếu ăn

uống lâu ngày thiếu rau xanh thường xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ,

quáng gà do thiếu vitanim A, chảy máu chân răng, mệt mỏi suy nghược do thiếu

vitamin C, lở loát do thiếu vitamin B2… thiếu vitanin sẽ giảm sức dẻo dai, năng suất

làm việc sút kém, bệnh tật dễ phát sinh

Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể

như canxi, phốt pho, sắt… có tác dụng bồi bổ sức khỏe, chống thiếu máu, thêm dẻo

dai, tăng cường sức đề kháng, mặt khác làm tăng khả năng đồng hóa protein Lượng

gluxit và protein trong rau bổ sung cho con người một phần năng lượng tuy không

nhiều nhưng protein của rau chứa nhiều lizin (khoảng 5- 7%) và với tỷ lệ axits amin

khác nhau nên ăn nhiều loại rau sẽ có tác dụng lớn trong việc nâng cao giá trị sử

dụng protein của rau Chất xơ trong rau cũng giúp thuận lợi cho quá trình tiêu hóa,

chống táo bón

Ngày nay rất nhiều loại rau cao cấp như Súp lơ, Bó xôi, Xà lách đã đi vào các

bữa ăn của người dân trên khắp cả nước Và đặc biệt, thế giới ngày càng phát triển,

với những thức ăn nhanh đã làm cho con người mắc các bệnh như béo phì, máu

Trang 12

nhiễm mỡ… chính vì lẽ đó mà họ ngày càng tăng cường ăn rau xanh trong các bữa

ăn để tăng cường chống các bệnh tật và làm cho con người trẻ trung hơn

Những năm trước, những người trồng rau thường có ý định chuyển đổi cây trồng,

vì giá bán quá thấp, dẫn đến không thu đủ lại vốn Nhưng hiện nay, cây rau ngày càng

có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là trồng rau an toàn Rau quả được ưa chuộng nhiều hơn,

nên nhu cầu ngày càng tăng cao, giá bán tăng nên nhiều hộ đã mạnh dạn chuyển đổi cơ

cấu kinh tế cây trồng theo hướng hiệu quả nhất Từ đó càng nâng giá trị của cây rau lên,

tạo ra một hướng phát triển kinh tế mới cho bà con nông dân

Tóm lại, rau có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng

ta, và là một món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình

Mặt khác, rau là mặt hàng nông sản có tỷ suất hàng hóa lớn và là một trong

những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, các

loại rau chủ yếu được xuất khẩu là Ớt khô, hạt Mùi, Tỏi khô, hạt Tiêu và một số loại

rau tươi như Cà tím, Cải Bắp, Cà Chua, Dưa Chuột thu được lượng ngoại tệ đáng

kể cho nền kinh tế nước ta

Về giá trị công nghiệp: rau là nguyên liệu cho ngành công ngiệp chế biến, công

nghiệp thực phẩm: làm đồ hộp (Cà Chua, Đậu, Bắp, Dưa Chuột ), làm bánh kẹo

(Carot, Khoai tây, Bí xanh ), sản xuất nước giải khát (Cà Chua, Carot, rau má ),

chế biến dược liệu (Hành khô, Diếp cá có tác dụng giải cảm, Gừng để tránh gió hoặc

chống say tàu xe, rau Xà lách có tác dụng an thần, giúp ngủ ngon ), làm hương liệu

(hạt Mùi, Cà Chua, Ớt )

Về giá trị nông nghiệp: rau cũng là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho

ngành chăn nuôi (thường là các loại rau kém phẩm chất) Trong tổng số đơn vị thức

ăn dành cho chăn nuôi thì rau chiếm từ 30% đến 50%.Ngoài ra rau cùng còn được

làm phân xanh rất tốt Điều này chứng tỏ ngành trồng trọt cũng góp phần đáng kể

cho ngành chăn nuôi

Trang 13

1.1.1.5.Các nguyên tắc trong kỹ thuật trồng rau an toàn

* Không ô nhiễm các chất hoá học vượt quá mức cho phép

- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

- Kim loại nặng (thuỷ ngân, chì, asen, đồng, kẽm, thiếc…)

* Không ô nhiễm sinh học vượt quá mức cho phép:

- Các loại vi sinh vật gây bệnh

Các chất trên đều là những chất độc hại với cơ thể người, trong đó đáng chú ý

nhất là thuốc BVTV và vi sinh vật độc hại

Các mức dư lượng cho phép này được quy định cho mỗi loại rau và phải được

các cơ quan chức năng kiểm tra xác nhận cho từng lô hàng Trong thực tế sản xuất,

các dư lượng phụ thuộc vào môi trường canh tác (đất, nước, không khí…) và kỹ

thuật trồng trọt (bón phân, tưới nước, phun thuốc trừ sâu bệnh…)

* Rau sạch và hấp dẫn về hình thức: tươi, không dính bụi bẩn, đúng độ chín,

không có triệu chứng bệnh

1.1.1.6.Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

a Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được hộ

nông dân sản xuất ra ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây là chỉ

tiêu tổng hợp nói lên quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ,

bao gồm cả số sản lượng bán và để lại tiêu dùng

GO = Qi*Pi ( i=1,2, ,n)

Trong đó : Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i

Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i

N: Số sản phẩm

b Chi phí sản xuất của hộ: Là các khoản chi phí mà các hộ nông dân phải bỏ

ra đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bao gồm chi phí

bằng tiền của hộ (C) và chi phí tự có của hộ (Tc)

+ Chi phí bằng tiền của hộ (C): là tất cả các khoản mà hộ phải chi tiền mặt ra

phục vụ cho quá trình sản xuất của mình trong một thời gian nhất định Ví dụ như

Trang 14

tiền thuê lao động, tiền mua giống, phân bón, mua thuốc BVTV, trả tiền lãi vay

Ngân hàng

+ Chi phí tự có (Tc): là những khoản mà hộ gia đình tự có và họ dùng nó để

đầu tư vào sản xuất Các chi phí này là chi phí cơ hội của hộ nông dân Ví dụ như

công lao động của gia đình, giống, phân bón mà gia đình tự có

c Thu nhập hỗn hợp (MI): là kết quả cuối cùng thu được sau khi đã trừ đi chi

phí bằng tiền của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó của hộ gia đình

MI = GO – C

d Hiệu suất chi phí bằng tiền theo thu nhập hỗn hợp (MI/C): được tính

bằng thành phần giá trị thu nhập hỗn hợp tính bình quân trên một đơn vị chi phí

bằng tiền bỏ ra trong sản xuất Nó cho biết một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng

thu nhập hỗn hợp

1.1.2.Cơ sở thực tiễn

Thực tế cho thấy, nhiều nơi chất lượng rau an toàn chưa bảo đảm, chưa thuyết

phục được người tiêu dùng bỏ được sự nghi ngờ Một nỗi trăn trở kinh niên của

người trồng rau sạch là "đầu ra" của rau, vì hiện nay phần lớn rau an toàn vẫn được

tiêu thụ bình thường như rau không an toàn ngoài thị trường với giá cả không khác

gì nhau

Nhu cầu thị trường ngày càng cao về chủng loại và chất lượng Chính vì thế cần

mở rộng và phát triển việc trồng rau an toàn Đó là điều đã và đang được các địa

phương khác triển khai thực hiện và có những bước thành công đáng kể Một điển hình

là rau sạch Quỳnh Lương (Nghệ An) đã và đang được cả nước và thế giới biết đến

Nghệ An bắt đầu thực hiện mô hình sản xuất Rau an toàn từ năm 2003 Tuy

nhiên, kết quả sản xuất thời gian đó không thành công và không được duy trì liên

tục Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, như chi phí sản xuất khá cao,

kiểm định chất lượng, cấp giấy chứng nhận sản phẩm không nhỏ

Bên cạnh đó, khâu tiếp thị, xúc tiến thương mại để bán sản phẩm rau an toàn ra

Trang 15

được Các loại rau đã được cấp giấy chứng nhận sản phẩm an toàn nhưng hiện tại vẫn

phải tiêu thụ tại thị trường tự do, với giá ngang bằng các loại rau khác Mặt khác, việc

cấp giấy chứng nhận rau an toàn cũng rất gặp nhiều khó khăn và rất tốn kém

Những năm qua, sản xuất rau an toàn không thành công như mong đợi, nhưng

ít nhất Nghệ An cũng thu được những kinh nghiệm quý Nông dân đã từng bước tiếp

cận, ứng dụng quy trình sản xuất rau an toàn và ứng dụng rộng rãi hơn

1.1.2.1.Tại sao phải sử dụng Rau an toàn?

Sức khoẻ của con người ngày càng được quan tâm, và đời sống cũng ngày càng

được nâng cao ngay cả trong ăn uống cũng vậy Sử dụng những sản phẩm sạch và an

toàn để đảm bảo sức khoẻ của chính mình và gia đình

Lựa chọn rau an toàn là một trong những lựa chọn của các bà nội trợ ngày nay

Ai ai cũng muốn chọn lựa những bó rau xanh, tươi, những hoa quả bổ dưỡng cho gia

đình Chính vì thế nhu cầu về rau sạch ngày càng tăng cao

1.1.2.2.Lợi ích của việc sử dụng Rau an toàn

Rau rất tốt cho sức khoẻ con người và ăn nhiều rau thì có thể chống lại các

bệnh tật như táo bón, máu nhiễm mỡ, gút… trong người Ăn nhiều rau cũng có thể

giúp con người trẻ ra, căng tràn sức sống

Trồng rau an toàn cũng giúp bảo vệ môi trường trong sạch, có một bầu không

khí xanh cho con người, cung cấp CO2 cho môi trường, hút các chất bụi bẩn…

Rau có ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng, trong các bữa ăn hàng ngày của

con người Rau quả tươi, khô, ăn sống hay nấu chín sẽ cung cấp lượng vitamin thiên

nhiên và các khoáng vi lượng cần thiết cho cơ thể Khi được bổ sung vitamin đầy đủ,

các phản ứng sinh hóa trong cơ thể diễn ra trọn vẹn, hỗ trợ hoạt động bình thường của

các tuyến nội tiết, bảo vệ hệ thần kinh Từ đó cơ thể giảm bệnh tật Ăn đầy đủ rau

xanh hàng ngày sẽ giúp con người trẻ lâu, chống được lão hóa, chống lại các bệnh tim

mạch, chống loãng xương, ngăn ngừa các bệnh huyết áp và đường ruột

Rau chứa nhiều vitamin, chất khoáng và chất xơ cần thiết cho cơ thể: sinh tố

chứa nhiều trong rau gồm vitamin C (ớt, cà chua, cải bắp, cải bông, rau dền, dưa

Trang 16

chuột, rau muống, cần tây), vitamin A (trong rau có màu đỏ, màu cam như cà rốt, ớt,

bí đỏ, cà chua, bố xôi, cần tây), vitamin P (cà rốt, củ dền, ớt ngọt)

Chất khoáng quan trọng cho cơ thể gồm có Phốt pho, Calci, Kali, Natri và sắt

Calci và Phốt pho cần cho sự phát triển của các tế bào xương, Kali tham gia điều

khiển quá trình trao đổi nước trong cơ thể, chất sắt có giá trị sinh học rất lớn vì sắt là

thành phần cấu tạo hồng huyết cầu, sắt chứa nhiều trong rau cải, củ cải trắng, cà

chua; Chất xơ giúp tăng thể tích tiếp xúc của thức ăn với dịch tiêu hoá, giúp cho việc

tiêu hoá được dễ dàng

1.2.Tình hình cơ bản của xã Hưng Đông

1.2.1.Điều kiện tự nhiên

Hưng Đông là một xã nằm ở phía Tây Bắc TP Vinh của tỉnh Nghệ An, thuộc

vùng Bắc Trung bộ, là một xã bán nông nghiệp, nằm ngoại thành của thành phố

Hưng Đông có ranh giới phía Bắc giáp Nghi Kim; phía Nam giáp phường Lê Lợi,

Đông Vĩnh; phía Đông giáp Nghi phú; phía Tây giáp xã Hưng Tây (Huyện Hưng

Nguyên)

Hưng Đông có diện tích tự nhiên là 651,53 ha với dân số hiện nay là 11.040

người (2009), phân bố thành ba HTX, trong đó có hai HTX nông nghiệp, một HTX

chuyên sản xuất rau

Nằm trong dải đất Bắc Trung Bộ, Hưng Đông chịu ảnh hưởng bởi gió mùa

Đông Bắc, từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau; gió Tây nam (gió Lào) mấy

tháng hè, nhất là tháng 6, tháng 7 (âm lịch) rất nóng và khô

Miền Trung là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bảo và áp thấp nhiệt

đới, chiếm gần 65% số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó Nghệ An chiếm

28,5 % Mưa bão nơi đây diễn ra từ tháng 7 đến tháng 10 (âm lịch), nhiều nhất là

tháng 9, tháng 10 Do những đặc điểm về thời tiết khí hậu nên ở Nghệ An nói chung

và Hưng Đông nói riêng đã hình thành nên 2 vụ sản xuất chủ yếu:

Trang 17

Vụ Đông xuân bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau với đặc

điểm khí hậu lạnh và thời gian chuyển tiếp từ mùa nóng sang mùa lạnh, từ mùa lạnh

sang mùa nóng

Vụ Hè thu và vụ mùa: Vụ hè thu bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9; vụ mùa từ

tháng 9 đến tháng 11 bao gồm toàn bộ mùa nóng và khoảng thời gian chuyển tiếp,

thường là mùa mưa

Như vậy, với hai mùa sản xuất như trên thì nơi đây đã hình thành cơ cấu cây

trồng thích hợp với điều kiện thời tiết khí hậu vừa có những cây trồng nguồn gốc

nhiệt đới trong vụ hè thu vừa có cây trồng nguồn gốc á nhiệt đới, ôn đới trong vụ

Đông xuân Mặt khác, do cơ chế thị trường nên các hộ nông dân trồng các loại cây

trái vụ để cung cấp đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường với giá cả có lợi cho người

sản xuất Nhưng ngày ngay với công nghệ sinh học ngày càng phát triển nên có

nhiều loại giống được lai tạo phù hợp với mọi điều kiện thời tiết, khí hậu do đó các

loại cây được trồng quanh năm

1.2.2.Điều kiện kinh tế, xã hội

1.2.2.1.Tình hình đất đai

Đất đai đóng vai trò quan trọng trong đời sống cũng như trong các hoạt động sản

xuất Đất đai Hưng Đông thuộc loại đất phù sa ven biển, độ PH kém (nhiều cánh đồng từ

0,3-0,59), ít sức kết dính, lúc khô thì nhẹ, khả năng giữ độ ẩm và giữ màu kém; đất khô

ráo Mạch nước cạn, chỉ cần đào sâu một mét đã có nước ngầm, nhiều vùng bị úng lụt

Vùng cao, khô thuộc đất bạc màu Do vậy, nếu không được cải tạo, quy hoạch lại thì

trồng lúa, trồng khoai kém năng suất mà trồng cây ăn quả cũng khó tươi tốt, mau tàn

Diện tích tự nhiên qua ba năm hầu như không thay đổi là 651,5 ha Đất nông

nghiệp năm 2008 giảm 1,9 ha; đất phi nông nghiệp tăng 6,1 ha; đất chưa sử dụng

giảm 5,3 ha so với năm 2007 Đất nông nghiệp năm 2009 giảm 3,8 ha, đất phi nông

nghiệp tăng 21,4 ha, đất chưa sử dụng giảm 20,8 ha so với năm 2008 Nguyên nhân

là do xã nằm ven thành phố nên các khu công nghiệp ngày càng được đầu tư về đây

nhiều hơn làm cho diện tích đất nông nghiệp bị giảm đi nhanh đáng kể

Trang 18

Hưng Đông là một xã thuần nông nhưng do các khu công nghiệp được xây

dựng nhiều nên diện tích đất sản xuất nông nghiệp qua 3 năm có xu hướng giảm,

năm 2008 giảm 2,8 ha so với năm 2007, năm 2009 giảm 3,7 ha so với năm 2008

Chính vì thế đầu tư thâm canh là biện pháp hữu hiệu để tăng năng suất cây trồng do

nhu cầu về lương thực và rau quả của con người ngày càng tăng và đòi hỏi chất lượng

cao nên đã có một số hộ đã mạnh dạn đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng

Còn nói về đất lâm nghiệp và NTTS thì diện tích còn ít, cụ thể như sau:

Diện tích đất lâm nghiệp năm 2008 giảm 1,5 ha so với năm 2007; diện tích đất

NTTS năm 2008 tăng 2,3 ha so với năm 2007, năm 2009 tăng 1,9 ha so với năm

2008, do một số bà con đã chú ý đầu tư vào nuôi cá vì hiện nay nuôi cá cũng đem lại

cho các hộ nông dân nguồn thu nhập khá

Là khu vực ven đô với nhiều điều kiện thuận lợi để giao thương với các vùng

kinh tế khác trong và ngoài tỉnh nên nhu cầu sử dụng đất ở ngày càng cao Chính vì

thế mà diện tích đất ở năm 2008 tăng 1,1 ha so với năm 2007; năm 2009 tăng 3,2 ha

so với năm 2008

Đất ở xã Hưng Đông thuộc lại đất có độ PH kém, ít sức kết dính, lúc khô thì

nhẹ, khả năng giữ độ ẩm và giữ màu kém do đó cần có biện pháp cải tạo đất phù hợp

với loại đất trồng Chính điều này đã làm cho các hộ trồng rau gặp không ít khó

khăn khi phải bỏ nhiều công sức vào khâu làm đất, cải tạo đất Yêu cầu về đất trồng

rau đòi hỏi phải có một chất đất tốt, nhưng đối với đất trên địa bàn xã thì đó lại là

một điều trở ngại, đáng lo lắng của bà con nông dân

Nói chung, tình hình sử dụng đất đai của xã Hưng Đông đang có sự chuyển

biến theo hướng tích cực, phù hợp với nhu cầu của địa phương và nhu cầu sản xuất

hàng hoá trong nông nghiệp Bên cạnh đó diện tích chưa sử dụng đã có phần giảm,

một phần vì xã đã có hướng để khai thác đất trống đưa vào sử dụng, một phần là do

chính quyền thành phố đã đưa khu công nghiệp vào hoạt động, tăng ngân sách cho

địa phương

Trang 19

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007-2009

DT (ha) Cơ cấu

Trang 20

1.2.2.2.Dân số và lao động

Đối với việc sản xuất rau chủ yếu dựa vào tập quán canh tác của người nông

dân Nhưng sản xuất rau an toàn đòi hỏi khắt khe về quy trình trồng trọt và việc áp

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính vì vậy, trình độ văn hóa sẽ có ảnh hưởng đến

việc sản xuất tại địa phương Tổng dân số của xã năm 2009 là 9.927 người trong đó

số dân có trình độ văn hóa từ 10-12 là 3.552 người, chiếm 35,2% tổng dân số So

với năm 2008 tỷ lệ này tăng 4,7%, tương ứng với 95 người là do sự thay đổi nhận

thức của các gia đình về việc đầu tư học tập cho con em, mặt khác có chính sách

khuyến học của địa phương

Trình độ văn hóa ngày càng được nâng cao là một ưu thế cho việc sản xuất nông

nghiệp nói chung, sản xuất rau an toàn nói riêng trên địa bàn xã trong thời gian tới

Theo số liệu của ban nông nghiệp xã Hưng Đông, năm 2009 dân số cả xã là

9.927 người, trong đó số lao động nữ là 1.844 người, tăng 2,5% so với năm 2008

Lao động nam năm 2009 là 1.950 lao động, tăng 4% so với năm 2008 tương ứng với

75 lao động

Trên địa bàn xã hiện nay đa số là các lao động nữ và những người ngoài độ

tuổi lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp Một số đi làm ăn xa hoặc vào các

khu công nghiệp… Chính điều đó đã ảnh hưởng đến việc sản xuất rau ở nơi đây

Thiếu đi bàn tay của người đàn ông trong những công việc nặng nhọc Nhưng bù lại

là sự cần cù, chịu thương, chịu khó của chị em đã chăm sóc tốt cây rau và mang lại

kết quả đáng kể

Muốn mang lại hiệu quả cao trong sản xuất rau, đòi hỏi người lao động phải

nắm vững quy luật sinh trưởng của từng loại rau, đòi hỏi phải bỏ công chăm sóc

theo từng giai đoạn phát triển của cây rau Truyền thống, kinh nghiệm sản xuất và

trình độ của người lao động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất

Người lao động có trình độ cao sẽ nhanh chóng nắm bắt những công nghệ, kỹ thuật

mới áp dụng vào sản xuất, cho năng suất cây trồng cao Người lao động có kinh

Trang 21

nghiệm sản xuất lâu năm sẽ ứng phó được với những rủi ro, những điều kiện thời

tiết xấu có thể xảy ra

Với kinh nghiệm trên 30 năm trồng rau, các hộ nông dân ở đây đã tích lũy

những kinh nghiệm về chăm sóc và kỹ thuật trồng cho riêng mình Một số hộ đã

mạnh dạn chuyển đổi cơ câu cây trồng sang trồng rau, để nâng cao nguồn thu nhập

và đến hiện tại, nghề trồng rau là nguồn chủ chốt, là thu nhập chính cho các gia đình

và địa phương ở nơi đây

Nhìn chung, Hưng Đông có nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng còn

thấp Vì vậy cần phải đào tạo nâng cao trình độ cho nguồn lao động, đa dạng hoá

ngành nghề để khai thác triệt để, có hiệu quả nguồn nhân lực, góp phần tạo công ăn

việc làm cho người lao động

Trang 22

Bảng 2: Quy mô và cơ cấu dân số của xã Hưng Đông giai đoạn 2007- 2009

2.4033.2923.298

29,435,834,8

2.5893.5583.393

25,033,441,6

2.8013.6743.552

27,237,035,8

+186+226+95

7,78,13,2

+212+116+89

8,25,34,7

Phân theo giới tính

Nam Nữ

1.7841.686

51,448,6

1.8751.799

51,049,0

1.9501.844

51,448,6

+91+113

5,16,7

+75+45

4,02,5

(Nguồn: UBND xã năm 2009)

Trang 23

1.2.3.Đặc điểm sản phẩm và quá trình trồng trọt

1.2.3.1.Đặc điểm của sản phẩm Rau an toàn

Rau là một sản phẩm dễ trồng, có thể trồng dùng trong gia đình với nhữngmảnh đất nhỏ hoặc có thể trồng ngoài vườn, ngoài ruộng Rau là loại dễ trồng, thờigian sinh trưởng ngắn, cho thu hoạch nhanh, tuỳ từng loại, có lúc chỉ 0,5-1 tháng đãcho sản phẩm, cũng có thể vài ngày đã cho thu hoạch

Rau là một loại sản phẩm rất phổ biến, dễ sử dụng trong các bữa ăn Ngày nay nhucầu của con người ngày càng tăng nên yêu cầu về các sản phẩm phải có độ an toàn ngàycàng cao, rau cũng là một sản phẩm không loại trừ Rau an toàn ngày càng được nhànước chú trọng đầu tư nhiều hơn, với diện tích lớn hơn trên khắp cả nước

1.2.3.2.Quy trình trồng Rau an toàn (Theo Quyết định số 04/2007/QĐ-BNNngày 19/01/2007 của Bộ NN & PTNT)

a. Đất trồng

- Đất quy hoạch để trồng rau an toàn phải đảm bảo đảm các điều kiện sau đây:

Có đặc điểm lý, hóa, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển cây rau Không

bị ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân

cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung và từ các nghĩa trang, đường giaothông lớn

- Đảm bảo tiêu chuẩn môi trường đất trồng trọt theo tiêu chuẩn TCVN 5941;

Trang 24

- Không sử dụng các loại phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao như: phân chuồngtươi, nước giải, phân chế biền từ rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp để bón trựctiếp cho rau

c Nước tưới

- Nước tưới cho rau phải lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật vàhóa chất độc hại, phải đảm bảo chất lượng nước tưới theo tiêu chuẩn TCVN6773:2000

- Không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua sử lý, nước thải từ các bệnhviện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các lò giết mổ gia súc, nướcphân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau

- Nguồn nước tưới cho các vùng rau an toàn phải được kiểm tra định kỳ và đột xuất

Trang 25

- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm đối tượng sâu bệnh hại đểphòng trừ kịp thời.

- Áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, đặc biệt là biện pháp bắt sâu, bắtbướm và diệt ổ trứng sâu vào thời điểm thích hợp, tiêu hủy các cây, bộ phận của cây

f Thu hoạch và bảo quản

- Thu hoạch: Rau an toàn phải thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng thời điểm để đảmbảo năng suất chất lượng và vệ sinh an toàn thược phẩm;

- Bảo quản: Rau an toàn sau khi thu hoạch phải được bảo quản bằng biện pháp thíchhợp để giữ được hình thái và chất lượng của sản phẩm

1.2.3.3.Quy trình phát triển rau an toàn

Từ trước năm 2000, ở hai đầu đất nước đã có nhiều dự án về rau an toàn,nhưng đối với Nghệ An thì những năm gần đây mới có sự thay đổi và phát triển cácvùng trồng rau sạch để cung cấp rau cho thành phố và các tỉnh lân cận

Giai đoạn 2004-2007, Sở NN&PTNT phối hợp với các cơ quan chức năng vàcác xã, huyện tập trung triển khai chương trình trồng rau an toàn Hiện nay đã cómột số vùng rau ở xã Quỳnh Lương (Quỳnh Lưu) với hơn 200 ha giành để trồng rau

Trang 26

an toàn, với năng suất bình quân chính (vụ đông) 35 40 tấn/ngày, (vụ xuân hè 20

-30 tấn/ngày) Ở giai đoạn này đã có sự chuyển biến trong nhận thức của người sảnxuất và người tiêu dùng về rau an toàn

Giai đoạn 2007- 2010: đã có nhiều dự án về rau an toàn với tiêu chuẩn VietGapđược đầu tư, tiêu biểu là dự án rau an toàn ở xã Hưng Đông với diện tích lên tới 90

ha, thu hút khoảng 60 hộ trồng rau an toàn, hiện dự án đang khởi đầu với 3,8 ha,bước đầu mang lại kết quả khả quan về năng suất và chất lượng

1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn

1.2.4.1.Vị trí điạ lý

Hưng Đông thuộc TP Vinh, nằm trong khu vực Bắc Trung bộ, với khí hậunắng nóng, khô về mùa hè, lạnh và khô về mùa đông Thời tiết rất khắc nghiệt nênảnh hưởng nhiều tới năng suất, sản lượng cây trồng Nắng nóng, khô hạn về mùa hèdẫn đến tình trạng thiếu nguồn nước tưới làm cho cây bị khô héo, thiếu sức sống,làm giảm năng suất cây trồng Mặt khác chuyển tiếp cái lạnh của miền Bắc nên thờitiết nơi đây có một mùa đông lạnh và khô hanh, làm cho cây trồng khó phát triển.Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra đã làm ảnhhưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng rau, từ đó ảnh hưởng đến kết quả và hiệuquả sản xuất rau

1.2.4.2.Các nhân tố vĩ mô

* Thị trường: Bất kỳ hoạt động sản xuất cũng đều chịu sự tác động qua lại củacung cầu thị trường Sự thay đổi cung, cầu hàng hoá đều ảnh hưởng đến giá thànhsản phẩm Sự thay đổi trong việc cung cấp hàng hoá qua các mắt xích cũng làm chosản phẩm thay đổi giá cả

Thành phố Vinh là trung tâm chính của tỉnh Nghệ An, một thị trường rộng lớnnhưng cũng đầy tiềm năng, là cửa ngõ giao thương kinh tế- xã hội Hưng Đông là xãvùng ven thành phố Vinh nên việc tiêu thụ rau thường đưa vào chợ đầu mối là chợVinh, chợ Quán Lau… và có rất nhiều điều kiện trong việc tiêu thụ các sản phẩm

Trang 27

Bên cạnh thuận lợi thì cũng có những khó khăn đặt ra như người tiêu thụ thànhphố thường rất khắt khe về chất lượng, giá cả sản phẩm…, là người tiêu dùng khótính nên hộ nông dân cần đầu tư chăm sóc, đảm bảo đúng quy trình trồng trọt để cho

ra sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng và có khảnăng cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường

Ở Nghệ An hiện nay có rất nhiều địa phương trồng rau sạch như huyện QuỳnhLưu (xã Quỳnh Lương), xóm Sơn Thành (xã Tam Hợp, Quỳ Hợp)… Nhiều đối thủcạnh tranh ở trong và ngoài tỉnh về lĩnh vực sản xuất rau, như rau ở huyện QuỳnhLưu, Quỳ Hợp…mẫu mã và chất lượng rau đều cao hơn hẳn so với rau ở HưngĐông Đây là một thách thức đáng kể cho nghề trồng rau ở xã Hưng Đông

Các hộ nông dân tham gia tích cực vào các dự án trồng rau an toàn Một số bàcon mạnh dạn thay đổi phương thức canh tác, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướngtập trung chuyên canh mang lại giá trị kinh tế cao, do đó thị trường cạnh tranh giữacác sản phẩm rất cao nên các hộ nông dân cần có thêm thông tin thị trường, đầu tư

và cây trồng… để tăng năng suất, cạnh tranh giá cả với các sản phẩm cùng loại.Nghệ An là thị trường tiềm năng, cũng là thị trường tiêu thụ rộng lớn, đó cũngchính là thuận lợi, cũng chính là khó khăn cho việc tiêu thụ các sản phẩm nôngnghiệp Ưu thế của Hưng Đông là một xã ven đô nên giao thông thuận lợi cho việcmua bán, vận chuyển rau đến nơi tiêu thụ

Thuận lợi của rau vẫn là một trong 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớnhơn nhiều so với các mặt hàng khác Vì thế, Nhà nước luôn có những định hướng vàchiến lược cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của ngành rau xanh Riêng đối với tỉnhNghệ An - là một trung tâm của Bắc Trung bộ, để đáp ứng nhu cầu to lớn của ngườidân, các cơ quan chính quyền đã chú trọng đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ rau ở địaphương, quy hoạch các vùng trồng rau tập trung, mở ra hướng sản xuất rau mới, đó

là sản xuất rau an toàn

Nhu cầu về rau xanh ngày càng tăng mạnh Trước sự bùng nổ về các dịch bệnh

ở gia súc, gia cầm ngày nay thì rau xanh sự lựa chọn an toàn cho mỗi bữa ăn của các

Trang 28

gia đình hiện nay Nhu cầu về rau xanh từ phía người dân ngày càng tăng mạnh, đặcbiệt là khi thu nhập của người dân càng được nâng cao thì tỷ lệ thịt, cá trong bữa ănhàng ngày càng được giảm xuống đáng kể, thay vào đó là sự tăng lên về tỷ lệ rauxanh, trái cây

Cung ra thị trường là tổng số sản phẩm mà tất cả người sản xuất (người bán)sẵn sàng cung ứng thị trường tương ứng với các mức giá khác nhau của hàng hoá đótrong khoảng thời gian xác định, các yếu tố khác không đổi

Cung hàng hoá nông sản chịu ảnh hưởng của cá yếu tố như giá cả các yếu tốđầu vào, năng suất, mức độ rủ ro…

+ Giá các yếu tố đầu vào như phân bón, giá giống, thuốc BVTV…Sự thay đổicác yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất ảnh hưởng đến sự đầu tư sản xuất của ngườidân từ đó tác động đến đầu ra của sản phẩm

+ Năng suất: việc tăng năng suất sẽ tăng khối lượng đầu ra của sản phẩm

Cầu sản phẩm nông nghiệp là tổng hợp lượng hàng hoá mà người tiêu dùng ởmột thị trường mong muốn mua và có khả năng mua khi giá thay đổi trong các yếu

tố khác không đổi

Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nông sản hàng hoá: giá cả và sự sẵn có của hànghoá, dịch vụ, thu nhập của người tiêu dùng, dân số, sở thích, thị hiếu tiêu dùng…+ Thu nhập của người tiêu dùng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến cầu hànghoá, dịch vụ Tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng đúng với hàng hoá nôngsản vì nông sản tuy rất cần thiết cho con người nhưng nhu cầu về nông sản bị giớihạn bởi đặc điểm sinh học của con người

Cơ sở hạ tầng: là một yếu tố quyết định đến hiệu quả sản xuất, bao gồm đường

giao thông, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, điện nước… Quá trình sản xuất nông nghiệpđòi hỏi đầu tư lớn, chính vì thế hệ thống giao thông sẽ tạo điều kiện đảm bảo việccung ứng sản phẩm, bên cạnh đó hệ thống tưới tiêu đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho chủđộng tưới tiêu nhằm đối phó với những biến động bất thường của tự nhiên

Trang 29

Hưng Đông hôm nay đã có sự đổi thay nhanh chóng của một xã ven thành phố.Các tuyến đường liên xã được đầu tư mở rộng, nâng cấp và nhựa hóa, thuận lợi cho

sự giao lưu phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn và với các tỉnh, huyện khác.Đường bê tông trải dài đến từng ngõ xóm dân cư, nhà cửa của người dân xây dựngkhang trang với các tiện nghi sinh hoạt đầy đủ đã chứng minh cho sự chuyển đổi cơcấu kinh tế của xã có hiệu quả Với các tuyến đường liên xã, tỉnh lộ được mở rộng

và nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp

* Sự phát triển của hệ thống dịch vụ

+ Dịch vụ các yếu tố đầu vào: bao gồm giống, phân bón, thuốc BVTV…Nếu

hệ thống dịch vụ đầu vào được trang bị tốt sẽ là cơ sở cho việc giảm khoảng chênhlệch giá giữa các khâu trung gian

+ Dịch vụ các yếu tố đầu ra: vai trò của hệ thống thu mua trong chuỗi cung làrất quan trọng Họ là những mắt xích, những đầu mối để đưa sản phẩm đến tận tayngười tiêu dùng

1.2.4.3.Các nhân tố vi mô

* Quy mô ruộng đất: trong sản xuất nông nghiệp, quy mô ruộng đất có ảnhhưởng quan trọng đến nâng suất và chất lượng sản phẩm từ đó ảnh hưởng đến đếnmức thu nhập của các nông hộ Nếu quy mô đất đai đáp ứng được yêu cầu sản xuấtthì sẽ tạo điều kiện cơ giới hoá trong sản xuất, giảm công lao động, tiết kiệm chi phí

và nâng cao mức thu nhập Ngược lại quy mô đất đai bị hạn chế thì sẽ không ápdụng cơ giới hoá vào trong sản xuất, sẽ làm tăng công lao động, tăng chi phí, giảmthu nhập cho nông hộ

* Vốn: là yếu tố đầuvào quan trọng cho quá trình sản xuất Vốn có ảnh hưởngrất lớn đến quá trình sản xuất Có vốn người nông dân mới mở rộng được việc sảnxuất của mình, đầu tư vào cho sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao Không chỉtrong trồng rau mà trong sản xuất nông nghiệp thì vốn được bỏ ra từ đầu vụ, đếncuối vụ mới thu lại được nên cũng gây một số khó khăn cho nông dân để có vốn đầu

tư Mặt khác, trong nông nghiệp thường mang lại rủi ro cao vì vậy tâm lý e ngại đầu

Trang 30

tư nên không mang lại kết quả cao Chính vì thế vốn cần được đầu tư đúng lúc, kịpthời, đúng thời điểm để phát huy tốt nhất tác dụng của nó, tránh lãng phí.

* Kiến thức và tập quán của người dân: ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất vàsản lượng Nếu tập quán canh tác lạc hậu sẽ hạn chế việc tái sản xuất và đầu tư mới,hạn chế thâm canh, hạn chế việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trongsản xuất, tù đó dẫn đến năng suất thấp, sản xuất kém hiệu quả Ngược lại, tập quántiên tiến sẽ tăng năng suất cây trồng Chính vì thế nên tăng cường công tác khuyếnnông, giúp người dân hiểu rõ tầm quan trọng của việc áp dụng các tiến bộ khoa họcvào trong sản xuất là điều hết sức cần thiết

Trang 31

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG RAU AN TOÀN CỦA HỘ NÔNG DÂN Ở XÃ HƯNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ VINH, NGHỆ AN QUA 3 NĂM

( 2007- 2009)

2.1.Tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã

2.1.1.Khái quát tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã

Hưng Đông là một xã bán nông nghiệp của thành phố Vinh với 1.112 hộ thuầnnông, trong đó có hơn 40% số hộ trồng và sống chủ yếu nhờ nguồn thu nhập từ câyrau Đây là địa phương cung cấp rau chủ yếu cho nhu cầu của người dân thành phốVinh Những hộ sản xuất rau ở đây ít tham gia sản xuất ngành nghề phụ Bởi vì họ

đã sống nhờ cây rau mấy năm nay, cho dù những năm năng suất xuống thấp thì đồngruộng Hưng Đông cũng phải trồng rau

UBND xã Hưng Đông và phường Đông Vĩnh đã trình UBND thành phố “ dự ánđầu tư, xây dựng khu sản xuất rau an toàn, hoa và cây cảnh thành phố Vinh” doUBND xã Hưng Đông là chủ đầu tư Quy mô dự án gần 90 ha, thu hút khoảng 60 hộsản xuất rau sạch, tổng vốn dự án ban đầu lên tới gần 63,5 tỷ đồng Quy trình sản xuấtrau được áp dụng trong dự án với nhiều yêu cầu khắt khe: lựa chọn đất, nước tưới,thời gian sử dụng phân hoá học, các thuốc bảo vệ thực vật… dưới sự kiểm tra củatrạm bảo vệ thực vật thành phố Vinh và các cơ quan chủ quản Với quy trình sản xuấttrên, rau của dự án sẽ đảm bảo chất lượng đúng yêu cầu và tiêu chuẩn về rau sạch Đây là dự án có ý nghĩa rất lớn, đảm bảo cung cấp rau sạch cho thành phốVinh, tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho người nông dân UBND xã đã chỉ đạo bàcon thử nghiệm sản xuất rau tập trung tại xóm Trung Thuận, Mỹ Long, Mỹ Hậu trêndiện tích 22,5 ha và bước đầu đã cho kết quả khả quan về năng suất và chất lượng

Trang 32

Bảng 3: Tình hình sản xuất rau của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007- 2009

(Nguồn: UBND xã Hưng Đông năm 2009)

Hưng Đông là một xã chuyên trồng rau, có các vùng rau chuyên canh, trồngrau suốt quanh năm Cũng có những hộ gia đình đến vụ Lạc trồng Lạc nhưng vụ tớilại trồng rau, hoặc có một số hộ không trồng Lạc mà chuyển hẳn sang trồng rau nêndiện tích rau chuyên canh và rau tăng vụ có xu hướng tăng, năm 2009 tăng 7,6% sovới 2008 Nguyên nhân là do ở đây người dân đã sống nhờ cây rau nên trồng rau có

xu hướng tăng Mặt khác, giá cả rau ngày càng tăng nên nhiều hộ chuyển đổi sangtrồng rau để tăng thu nhập cho gia đình

Năm 2008, năng suất trên địa bàn xã có xu hướng giảm, năng suất chỉ còn 96,5tạ/ha, giảm 4,4% so với năm 2007, nguyên nhân là do tình hình sâu bệnh và thời tiếtkhông ổn định nên làm cho cây trồng đạt năng suất thấp Nhờ áp dụng các biện pháp

kỹ thuật vào cây trồng nên sang năm 2009, năng suất tăng 8,8% so với năm 2008

Sản lượng năm 2009 tăng 16,8% so với năm 2008, là do hai năm qua các hộgia đình chú trọng đầu tư vào trồng rau đúng kỹ thuật, được sự hướng dẫn của các

cơ quan ,các trung tâm khuyến nông… Mặt khác, thị trường đòi hỏi nhu cầu về rau

Trang 33

cao, mặc cho thời tiết có phần khắc nghiệt nhưng xã đã có diện tích rau tăng vụ đáng

kể Tuy năng suất không bằng rau chuyên canh nhưng cũng đem lại kết quả khảquan cho những hộ trồng rau

Bên cạnh những vùng trồng rau chuyên canh hàng năm thì còn có các đợt trồngrau tăng vụ để đáp ứng thị trường và có thêm thu nhập cho hộ nông dân Năng suấtrau tăng vụ thấp hơn so với trồng chính vụ nhưng cũng cho thấy những kết quả khảquan ngay bước đầu Năng suất 2009 đạt 92,5tạ/ha, tăng 5,3% so với năm 2008.Những bước đầu như vậy là rất khả quan cho người trồng rau, đảm bảo phát triểnkinh tế hộ và địa phương

Nhìn chung, qua ba năm diện tích trồng rau ở xã tăng đáng kể, năng suất khá ổnđịnh qua các năm, là điều đáng mừng cho các hộ nông dân Chính vì thế cần phát huy thếmạnh đang có và khắc phục những thiệt hại do sâu bệnh và thời tiết thất thường để tăngnăng suất cây trồng và đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ gia đình trồng rau

2.1.2.Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn

Khu công nghiệp Bắc Vinh nằm trên địa bàn xã Hưng Đông, nên một phầndiện tích trồng trọt đã bị thu hẹp Diện tích nông nghiệp toàn xã năm 2009 là 275,1

ha, trong đó diện tích rau an toàn là 22,5 ha Đã có dự án đầu tư, dự kiến mở rộngkhoảng 90 ha trồng rau an toàn trong năm tới đây

Bảng 4: Diện tích rau an toàn của xã

Đơn vị tính: ha n v tính: ha ị tính: ha

(Nguồn: UBND xã Hưng Đông)

Trước đây, người tiêu dùng ít quan tâm về chất lượng rau, nhưng theo xu thế xãhội phát triển, con người mong muốn sức khoẻ mình càng đảm bảo hơn nên đã chú ýđến chất lượng bữa ăn hàng ngày và xu hướng trồng rau sạch càng tăng Chính ngaytrông các hộ gia đình cũng tự chính mình trồng rau để đảm bao không quá nhiềuchất kích thích độc hại đối với sức khoẻ Nhưng nhiều gia đình thì diện tích có hạn

Trang 34

nên đánh vào tâm lý người tiêu dùng, bà con đã từng bước chuyển sang trồng rau antoàn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Do đó diện tích trồng rau an toàn của

xã tăng nhanh trong 3 năm gần đây

Các xóm trồng rau nhiều như xóm Mỹ Long, Trung Thuận, Mỹ Hậu…với đadạng các loại rau như rau Cải, rau Mùi, rau Dền, Xà lách, Dưa Chuột… Nông dânthường đa dạng các loại rau để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.Không chỉ có trồng rau, trên địa bàn xã còn trồng các loại hoa như Lan, HướngDương, còn trồng cả dưa Hấu, dưa Lứt…để tăng thu nhập và đa dạng sản phẩm chongười tiêu dùng

2.2.Tình hình cơ bản của các hộ điều tra

2.2.1.Tình hình sử dụng đất đai

Diện tích gieo trồng bình quân hộ là chỉ tiêu để đánh giá năng lực sản xuất của

hộ gia đình Kết quả điều tra thực tế cho thấy:

Bảng 5: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2009 (tính BQ/hộ)

(sào)

Cơ cấu (%) Tổng diện tích

100,0

5,594,529,651,54,58,9

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Hộ nông dân ở xã Hưng Đông chủ yếu là trồng các loại cây như hoa, Lúa, Lạc,rau… Ở đây diện tích đất trung bình mỗi hộ là 9,1 sào, trong đó diện tích đất canhtác là 8,6 sào/hộ, chiếm 94,5% tổng diện tích Trong phần diện tích đất canh tác thìmỗi hộ dành đất cho trồng rau là 2,7 sào, chiếm 29,6% diện tích đất canh tác Đấttrồng rau của gia đình bao gồm đất vườn và đất do HTX phân Diện tích đất trồng

Trang 35

0,4 sào, chiếm 4,5% tổng diện tích đất canh tác, và diện tích trồng lạc là 0,8 sào,chiếm 8,9% tổng diện tích đất canh tác Hoạt động trồng hoa là hoạt động còn mới

mẻ đối với các hộ gia đình ở đây Diện tích trồng hoa ít vì các hộ điều tra khôngphải là về chuyên về trồng hoa Đối với các hộ gia đình này thì hoạt động trồng rau

là hoạt động chính, cây rau là cây trồng mang lại nguồn thu nhập chính cho gia đình,

vì chi phí đầu tư các yếu tố đầu vào thấp, chỉ cần tốn công sức mà mang lại hiệu quảkinh tế cao Cây Lúa tuy chiếm diện tích lớn nhưng chi phí cao nên nguồn thu thấp,hiệu quả kinh tế mang lại không cao bằng cây rau

2.2.2.Tình hình nhân khẩu và lao động

Qua kết quả điều tra tại 2 xóm: Mỹ Long, Mỹ Hậu tôi đã thu thập được một sốliệu như sau:

B ng 6: Tình hình nhân kh u v lao ảng 6: Tình hình nhân khẩu và lao động các hộ điều tra ẩu và lao động các hộ điều tra à lao động các hộ điều tra động các hộ điều tra ng các h i u tra ộng các hộ điều tra đ ều tra

145-

2,9

-(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Qua bảng số liệu trên ta thấy: bình quân nhân khẩu/hộ tại đại bàn nghiên cứu là4,4 người/hộ thuộc dạng trung bình của xã

UBND xã cũng đã tăng cường tập huấn cho bà con các kỹ thuật mới trong sảnxuất, bên cạnh đó trạm khuyến nông tỉnh và thành phố cũng xuống xem xét, khảo sátđịa bàn, cùng với bà con nông dân tập huấn đưa kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, tănghiệu quả cây trồng Mặt khác cũng đa dạng hoá các ngành nghề, mở rộng một sốdịch vụ tại địa bàn xã để thu hút lao động trẻ tại xã, sử dụng nguồn lao động hợp lý,hiệu quả

2.2.3.Tình hình sử dụng các giống rau

Trang 36

Giống là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng sảnphẩm Việc lựa chọn giống tốt, ít sâu bệnh, cho năng suất cao, phù hợp với điều kiệnkhí hậu và thời tiết của địa phương là cần thiết Bên cạnh đó cách thức trồng vàchăm sóc khác nhau sẽ mang lại năng suất và chất lượng khác nhau Để thấy rõ tìnhhình đầu tư các loại rau cũng như cơ cấu gieo trồng các loại rau của các hộ điều tra,

ta phân tích bảng:

Bảng 7: Cơ cấu diện tích gieo trồng các giống rau trong năm 2009

của các hộ điều tra:

Loại rau Diện tích

( sào )

Cơ cấu ( % )

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Nhìn chung, người dân ở đây chủ yếu trồng rau Cải, rau Mùi và Xà lách, rauDền bên cạnh đó cũng trồng một số cây như Bầu, Dưa Chuột… nhưng diện tíchkhông đáng kể Đa số là họ trồng Cải, với tổng diện tích của các hộ điều tra là 61,9sào, chiếm 45,6% trong tổng diện tích Trồng Cải rất dễ và cho năng suất cao,khoảng 5,5 tạ- 6 tạ/sào Nguyên nhân là do hầu hết các hộ gia đình ở đây đều cókinh nghiệm lâu năm trong trồng Cải, cây Cải là cây rau chủ lực của họ trong số cáccây rau Mặt khác, cây Cải là loại cây dễ trồng, thích hợp với thời tiết cả mùa đônglẫn mùa hè, điều kiện đất đai của người dân ở đây lại thích hợp với việc trồng cảinên người dân dành diện tích đất cho việc trồng cải nhiều hơn các loại rau khác vàhầu như trồng quanh năm.Vào mùa đông, đặc biệt là các dịp lễ, tết, nhu cầu tiêudùng các loại rau tăng cao nên giá cả các mặt hàng này tăng khá nhanh Giá trên thịtrường từ 2.000đ- 3.500đ/bó

Trang 37

Mùi là loại rau chiếm diện tích trồng ít nhất, chỉ có 14,8 sào, chiếm 10,9%trong tổng diện tích trồng rau của hộ gia đình Đây là loại rau thường được trồng vàomùa đông Khác với Mùi, rau Dền thường được trồng bắt đầu từ tháng 3 đến hếtmùa hè, diện tích trồng rau dền của các hộ là 27,3 sào, năng suất bình quân đạt 3,5-5,5 tạ/sào, chiếm 20,2% tổng diện tích gieo trồng của các hộ điều tra.

Nhìn chung, các cây trồng chính của các hộ gia đình là Cải, Mùi, Xà lách, Dền,

vì đây là những cây dễ trồng và cho năng suất cao

2.2.4.Diện tích, năng suất, sản lượng của các hộ trồng rau

Bảng 8 : Năng suất, sản lượng rau của hộ (BQ/hộ/năm)

(tạ/sào)

Sản lượng (tạ)

Cơ cấu (%)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Năng suất trồng trọt là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sảnxuất Đối với các hộ trồng rau, năng suất, sản lượng có ảnh hưởng đến thu nhập của họ Từ Bảng 8 cho thấy tổng sản lượng của BQ của hộ là 77,6 tạ/sào, trong đó năngsuất rau Cải đạt 5,4 tạ/sào, với sản lượng là 58,4 tạ chiếm 75,3% tổng sản lượng, doCải là loại dễ trồng và phù hợp với điều kiện thời tiết và đất đai ở nơi đây Xà láchcũng là loại rau dễ trồng và cho năng suất cao, đạt 4,4 tạ/sào, với sản lượng là 8,4 tạchiếm 10,8% tổng sản lượng Tiếp đến là rau Mùi, năng suất đạt được năm 2009 là3,2 tạ/sào Cuối cùng là rau Dền, sản lượng đạt 6,6 tạ, chiếm 8,5% tổng diện tích các

hộ điều tra

Mặt khác, một số hộ đã áp dụng nhiều biện pháp để phòng trừ sâu bệnh nhưlàm lưới trên các luống rau để ngăn bướm, sâu bệnh Bên cạnh đó, được sự hướng

Trang 38

dẫn của các cán bộ khuyến nông nên bà con đã trồng cây với năng suất cao hơnnhững năm trước.

2.3.Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các hộ điều tra

Bảng 9: Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau

của các hộ điều tra (BQ/h /n m) ộng các hộ điều tra ăm)

Chỉ tiêu

Loại

Rau

GO (1000đ)

Chi phí (1000đ)

MI (1000đ)

MI/GO (lần)

MI/Chi phí (lần)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Mọi hình thức đầu tư cho sản xuất đều hướng đến đích cuối cùng là tạo ra kếtquả và hiệu quả sản xuất cao Bảng trên phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất củatừng loại rau tính bình quân của một hộ gia đình trong một năm

Cây Cải là loại rau được trồng quanh năm, bình quân từ 7-10 lứa/năm, do đó chiphí đầu tư cho cải nhiều nhất, thu nhập mang lại từ cải cũng cao nhất Trung bìnhmột hộ gia đình ở đây bỏ ra gần 7 triệu đồng đầu tư cho cây cải, và họ thu về 18triệu đồng thu nhập hỗn hợp Xà lách được trồng từ 2-4 lứa/năm, do đó chi phí đầu

tư trong một năm cho Xà lách ít hơn, mặt khác xà lách là loại rau ăn sống do đó yêucầu về chi phí thuốc BVTV, phân bón… ít hơn rất nhiều so với Cải Trung bình một

hộ gia đình trong một năm bỏ ra gần 800 ngàn đồng đầu tư cho Xà lách và thu vềgần 2,5 triệu đồng thu nhập hỗn hợp Chi phí đầu tư cho rau Dền cũng tương đươngvới Xà lách, trung bình một hộ gia đình trong một năm bỏ ra gần 800 ngàn đồng chorau Dền và thu về 2,3 triệu đồng thu nhập hỗn hợp Đối với rau Mùi là loại gia vịnên người dân ở đây dành diện tích cho việc trồng rau Mùi ít, do đó cho phí đầu tư

Trang 39

cho rau Mùi trong một năm cũng thấp, 360 ngàn đồng trong một năm, và họ thu vềkhoảng 1,6 triệu đồng thu nhập hỗn hợp

Trong các loại rau thì rau Mùi là cây cho hiệu quả kinh tế nhất Chỉ số MI/Chiphí rau Mùi là 4,5 tức là 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ thu về 4,5 đồng thu nhập hỗn hợp.Tiếp đến là rau Xà lách, chỉ số MI/Chi phí là 3,1 Chỉ số MI/Chi phí của rau Dền là3,04 và thấp nhất là rau Cải 2,57 vì Cải là cây hay bị sâu bệnh, đòi hỏi vốn đầu tưlớn nhất nhưng hiệu quả đưa lại chưa cao cho bà con ở nơi đây, do các hộ nông dânbiết cách khắc phục được tình trạng sâu bệnh xảy ra theo hướng dẫn của các cán bộ

xã, thành phố… Tuy nhiên, do đặc điểm sinh học của từng loại rau mà mỗi loại chỉđược trồng trong một khoảng thời gian nhất định Do đó, Xà lách và rau Mùi là câymang lại hiệu quả kinh tế cao

Bảng 10: Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau

của các hộ điều tra (BQ/sào/năm) Chỉ tiêu

Loại Rau

GO (1000đ)

Chi phí (1000đ)

MI (1000đ)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)

Qua điều tra cho thấy đối với hầu hết các hộ gia đình thì cây Cải là cây đượctrồng quanh năm, vì đó là loại rau thích hợp với cả thời tiết lạnh lẫn thời tiết nắngnóng, trừ tháng 9, tháng 10 (do mưa bão) thì không trồng được Một năm có thể

Trang 40

trồng từ 7 -10 lứa Do đó, chi phí đầu tư cho Cải cũng cao hơn nhiều so với nhữngloại rau khác Tổng chi phí đầu tư cho Cải gần 6 triệu đồng/sào/năm.

Các loại rau khác được trồng với số lứa trong 1 năm ít hơn Cải, như Xà lách

2-4 lứa/năm, rau Dền trồng 3-2-4 lứa/năm, Mùi trồng từ 2-2-4 lứa/năm nên chi phí đầu tưít hơn Xà lách và rau Mùi chủ yếu được trồng vào mùa đông nên chi phí cho BVTVcũng ít hơn vì sâu bệnh ít hơn Mặt khác, Xà lách là cây ăn sống, yêu cầu là phảisạch nên những chi phí cho phân bón, BVTV tính trên 1 lứa/sào ít hơn rất nhiều sovới Cải Chi phí phân bón, BVTV cho Xà lách chỉ bằng 1/3 hoặc 1/4 so với cây Cải.Mùi là loại cây có số lứa trồng ít nhất trong năm so với những loại rau khác Mứctổng chi phí đầu tư cho các loại rau: Xà lách, Mùi, Dền từ 1,1-1,3 triệu đồng tínhBQ/sào/năm

Tóm lại, tổng chi phí đầu tư cho toàn bộ các loại rau của các hộ nông dân ở xãHưng Đông hơn 9 triệu đồng Trong những năm tới, người nông dân cần đầu tư hơnnữa cho giống, thuê lao động, chi phí mua công cụ, dụng cụ, bón phân đầy đủ, hợp

lý, giảm bớt chi phí BVTV để hướng tới thương hiệu rau an toàn

Nông dân là người luôn thiệt thòi nhiều nhất Theo nguồn điều tra phỏng vấn hộnông dân, lợi nhuận mà họ thu được từ sản xuất là không đáng kể, khoảng 10-15%giá cả trên thị trường

Lợi nhuận tạo ra qua quá trình lưu thông tăng dần qua các kênh phân phối.Người tiêu dùng là người chịu phải trả giá cao nhất Qua thương lái giá sản phẩmtăng từ 15-25%, tiếp đến là bán lẻ 25-30%, cuối cùng là người tiêu dùng mua sảnphẩm với giá tăng 30-40% giá người sản xuất đưa ra

Chính vì thế để nâng cao hiệu quả trồng rau, hộ nông dân không chỉ tập trungvào sản xuất mà cần chọn kênh phân phối để lưu thông sản phẩm của mình nhằmnâng cao thu nhập

2.4.Phân tích Chuỗi cung sản phẩm rau an toàn

2.4.1.Đặc điểm chung của Chuỗi cung rau an toàn

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm Nông nghiệp - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 1 Kênh phân phối sản phẩm Nông nghiệp (Trang 8)
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007-2009 - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007-2009 (Trang 19)
Bảng 3: Tình hình sản xuất rau của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007- 2009 - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 3 Tình hình sản xuất rau của xã Hưng Đông qua 3 năm 2007- 2009 (Trang 32)
Bảng 5: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2009 (tính BQ/hộ) - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 5 Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2009 (tính BQ/hộ) (Trang 34)
Bảng 6: Tình hình nhân khẩu và lao động các hộ điều tra - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 6 Tình hình nhân khẩu và lao động các hộ điều tra (Trang 35)
Bảng 7: Cơ cấu diện tích gieo trồng các giống rau trong năm 2009 của các hộ điều tra: - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 7 Cơ cấu diện tích gieo trồng các giống rau trong năm 2009 của các hộ điều tra: (Trang 36)
Bảng 8 : Năng suất, sản lượng rau của hộ (BQ/hộ/năm) Loại rau Năng suất - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 8 Năng suất, sản lượng rau của hộ (BQ/hộ/năm) Loại rau Năng suất (Trang 37)
Bảng 9: Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau  của các hộ điều tra (BQ/hộ/năm) - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 9 Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau của các hộ điều tra (BQ/hộ/năm) (Trang 38)
Bảng 10: Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau  của các hộ điều tra (BQ/sào/năm) - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 10 Kết quả và hiệu quả sản xuất từng loại rau của các hộ điều tra (BQ/sào/năm) (Trang 39)
Sơ đồ 2: Kênh phân phối phân bón ở xã Hưng Đông - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 2 Kênh phân phối phân bón ở xã Hưng Đông (Trang 42)
Sơ đồ 3: Chuỗi cung sản phẩm rau trên địa bàn xã Hưng Đông - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 3 Chuỗi cung sản phẩm rau trên địa bàn xã Hưng Đông (Trang 44)
Bảng 12: Chênh lệch giá trong kênh phân phối rau - Khóa luận nghiên cứu chuỗi cung rau an toàn của hộ nông dân ở xã hưng đông, thành phố vinh, nghệ an
Bảng 12 Chênh lệch giá trong kênh phân phối rau (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w