luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn về thủy sản, có đường bờ biển kéo dàisuốt chiều dài lãnh thổ từ Bắc xuống Nam Hệ thống sông ngòi dày đặc là môi trườngthuận lợi cho thủy sản nước ngọt và nước lợ phát triển Đặc biệt các tỉnh phía nam khíhậu ấm áp quanh năm là môi trường tốt để phát triển các loài thủy sản thiết yếu, cónhững loại thủy sản Việt Nam trở thành đặc sản trên thị trường thế giới, người ViệtNam với bản tính cần cù lao động sáng tạo trong sản xuất và có tính cộng đồng rất caotạo nên nguồn lực vững mạnh phục vụ cho sản xuất Ngày nay với xu hướng phát triểnngành NTTS ngày càng gia tăng đó là hướng đi của nhiều nước trong đó có Việt Nam.Hơn nữa thủy sản là một trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu caocho nước ta, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18% năm
Nuôi tôm là một ngành được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm vì tôm là mặthàng xuất khẩu rất quan trọng của ngành thủy sản Hàng năm đem lại nguồn thu khálớn cho đất nước, tuy nhiên cũng không ít những rủi ro do thiên tai dịch bệnh ngàycàng phổ biến trong tình trạng biến đổi khí hậu như hiện nay Vì nuôi tôm phụ thuộcrất nhiều vào điều kiện tự nhiên
Núi Thành là huyện ven biển của tỉnh Quảng Nam Ở đây, nghề nuôi tôm đãphát triển từ rất lâu và là huyện nuôi tôm nhiều nhất trong tỉnh Nuôi tôm hiện nay đãphát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế NôngNghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả, tạo công ăn việc làm đồng thời cảithiện đời sống cho người dân nông thôn Tuy nhiên trong những năm trước đây, không
ít người dân vì nuôi tôm mà lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất, không có khả năngtrả nợ Nguyên nhân là môi trường ngày càng ô nhiễm, giá bán tôm thấp, dịch bệnhxảy ra thường xuyên… gây tâm lý chán nản cho người dân
Tam Tiến là một trong những xã có nghề nuôi tôm phát triển trong huyện Với
ưu thế nằm ở ven biển, giao thông đi lại thuận lợi, có nhiều con sông chảy qua Tuynhiên do quy trình nuôi chưa đúng kỹ thuật nên dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch
Trang 2trở lại đây, người dân ở xã thực hiện chuyển đổi một số kỹ thuật nuôi, giống tôm từtôm sú sang tôm thẻ chân trắng nên đã cải thiện được phần nào Từ đó nghề nuôi tômthực sự, trở thành một nghề sản xuất ổn định, giúp người dân xóa đói giảm nghèo, trảđược nợ nần, giúp các hộ nuôi tôm đầu tư cải tiến kỹ thuật Mặc dù đời sống được cảithiện nhưng ý thức bảo vệ môi trường nước trong vùng nuôi của các hộ còn hạn chế.
Vì thế hiện nay, vấn đề đặt ra của các cấp ngành liên quan là phải tìm ra giảipháp thiết thực để ngành nuôi tôm ngày càng phát triển bền vững và khẳng định mình,trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của xã để giải quyết công ăn việc làm nâng cao đờisống của người dân, khai thác triệt để những vùng đất chưa khai phá đồng thời phải điđôi với bảo vệ môi trường vùng nuôi
Xuất phát từ thực tế đó qua quá trình tìm hiểu địa bàn, tôi đã chọn đề tài:” Hiệu quả kinh tế nuôi tôm ở xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” làm
luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng sản xuất, kết quả và hiệu quả của nghề nuôi tôm
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả của nghề nuôi tôm,tìm ra những khó khăn, thách thức và thuận lợi của nghề này tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết hoặc hạn chế những khó khăn
mà các hộ nuôi tôm đang gặp phải
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp chuyên khảo Các số liệu thứcấp có liên quan được thu thập từ các cơ quan: Trực tiếp trao đổi và thu thập số liệu tạicác cơ quan có liên quan như UBND huyện Núi Thành, UBND xã Tam Tiến, lãnh đạocác thôn xã Tam Tiến; tìm kiếm trên mạng internet
+ Thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp đánhgiá nông thôn có sự tham gia
- Phương pháp xử lý, phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê thông qua phần mềm excel
Trang 3+ Phương pháp chuyên gia: Tổng hợp các ý kiến của các thầy cô, các cán bộchuyên trách và của cộng đồng.
+ Phương pháp phân tích kinh doanh: Vận dụng các chỉ tiêu tương đối tuyệtđối, bình quân, các chỉ tiêu đánh giá mức độ biến động của tiêu thức nhằm biểu hiệnquy mô, số lượng của hiện tượng, biểu hiện biến động của chỉ tiêu qua thời gian
+ Phương pháp phân tổ và phân tích thống kê: Dùng để chọn mẫu, phân tích vàđánh giá số liệu
+ Phương pháp so sánh: Xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêuphân tích
+ Phương pháp toán kinh tế
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ sản xuất tôm ở xã Tam Tiến.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Do giới hạn về thời gian cũng như kinh nghiệm thực tế nên
đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu ở xã Tam Tiến
+ Phạm vi thời gian: Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất tôm ở xã Tam Tiếnnăm 2009
Do thời gian tiếp cận và năng lực còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi nhữngsai sốt, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc để đề tài hoànthiện hơn
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là thuật ngữ chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện và các mục tiêuhoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điềukiện nhất định Trong nền kinh tế thị trường, một cách chung nhất, kết quả mà chủ thểnhận được theo hướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí bỏ rabao nhiêu càng có lợi bấy nhiêu, hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm hàng đầucủa nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội Đặc biệtkhi nhu cầu con người ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, trong khi đó nguồnlực còn hạn chế và trở nên khan hiếm thì hiệu quả kinh tế ngày càng được coi trọng
Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương ánhành động Hiệu quả được biểu hiện theo nhiều góc độ khác nhau vì vậy hình thànhnên nhiều khái niện khác nhau: Hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị
xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tươngđối…
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh
tế, là tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, nó được biểu hiệnqua các chỉ tiêu kinh tế như: Giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận, giá trị giatăng… tính trên một đơn vị chi phí bỏ ra
Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệmlao động xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế,gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất laođộng và quy luật tiết kiệm thời gian Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạtkết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tốithiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực,đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội
Hiệu quả kỹ thuật: Tức là thu được lượng đầu ra tối đa với lượng đầu vào nhất
Trang 5Hiệu quả phân phối: Tức là sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhằmđạt được lợi nhuận tối đa khi nắm được giá các yếu tố đầu vào
Hiệu quả kinh tế = hiệu quả kỹ thuật * hiệu quả phân phối
Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng
và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung Đây là cơ sở vật chấtkhông ngừng nâng cao mức sống dân cư Như vậy, tăng hiệu quả kinh tế trong nền sảnxuất xã hội là một trong những yêu cầu khách quan của tất cả các hình thái kinh tế xãhội Nó càng có ý nghĩa đặc biệt trong một số điều kiện nhất định: khi khả năng pháttriển kinh tế theo chiều rộng như tăng nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn bịhạn chế… Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc tăng hiệu quả kinh tế trongnền sản xuất xã hội là một trong những yếu tố làm tăng sức cạnh tranh, cho phép giànhlợi thế trong quan hệ kinh tế
Hiệu quả kinh tế tập trung vào bốn nội dung sau:
- Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào công nghiệp hóa hiệnđại hóa
- Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
1.1.2 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Sử dụng các chỉ tiêu kinh tế như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, diện tích, năngsuất, sản lượng,…để phân tích tình hình, xu thế biến động, quy mô hoạt động và xuthế phát triển của nghề nuôi tôm nước lợ Tuy nhiên do tính phức tạp và đa dạng trong
hệ thống các chỉ tiêu, nên mỗi chỉ tiêu dù là chỉ tiêu cơ bản cũng chỉ đánh giá đượcmột mặt hoặc một số khía cạnh của vấn đề cần nghiên cứu Do vậy, sử dụng hệ thốngchỉ tiêu đảm bảo khắc phục được sự phiến diện trong nghiên cứu, các chỉ tiêu sẽ bổsung, bổ trợ cho nhau, giúp cho việc đánh giá các vấn đề nghiên cứu được đầy đủ, toàndiện
Ngoài ra khi đánh giá hiệu quả kinh tế, cần so sánh mức độ đạt được của từng
Trang 6dùng để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế Có thể so sánh theo thời gian, so sánhtheo không gian… Khi so sánh phải đảm bảo thống nhất về các chỉ tiêu và đơn vị.
Các nguyên tắc xác định hiệu quả:
- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả
Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mụctiêu Phương án có hiệu quả cao nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiệncác mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất
- Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích: Phương án này được xem là hiệu quả khikết hợp trong đó các loại lợi ích
- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Để đánh giá hiệu quả cácphương án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nuôi tôm
1.1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ đầu tư các yếu tố sản xuất
Tổng vốn đầu tư: Là chỉ tiêu nói lên khả năng chủ động của vốn của người sản
xuất và mức độ đầu tư cũng như quy mô đầu tư về trang thiết bị, đầu tư chi phí sảnxuất, đầu tư xây dựng cơ bản
Chi phí xây dựng ao hồ: Đây là chỉ tiêu quan trọng trong bước đầu tiến hành
nuôi tôm, nó đánh giá chất lượng và mức độ kiên cố ao hồ
Giống: Là khâu quyết định đến chất lượng tôm và thành bại của vụ nuôi Giống
phải đảm bảo không chứa mầm bệnh và mật độ thả thích hợp
Chi phí thức ăn: Chi phí này nói cần bao nhiêu kg thức ăn để có thể tạo ra 1 kg
tôm thương phẩm Chỉ tiêu này loại trừ nguồn thức ăn có sẵn trong môi trường nước
ao trước khi thả nuôi
Chí phí lao động: Chỉ tiêu này nói lên mức độ đầu tư công cho hoạt động nuôi
như: Chăm sóc, thu hoạch
Chi phí xử lý và cải tạo ao hồ: Là một chỉ tiêu hết sức quan trọng liên quan mật
thiết đến khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm, hạn chế mần bệnh trong ao nuôi
Nó phản ánh lượng giá trị vật tư, dịch vụ đầu tư cho xử lý ao, cải tạo ao, tạo môitrường nước và diệt trừ mần bệnh trong ao nuôi
Trang 7Chi phí trung gian (IC): Là một bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất bao
gồm chi phí vật chất và dịch vụ sản xuất, không kể khấu hao trong quá trình nuôi tôm
và công lao động gia đình
Khấu hao tài sản cố định (KHTSCĐ): Là giá trị tài sản cố định chuyển vào giá
trị sản phẩm và sẽ được thu hồi trong quá trình hoạt động của tài sản cố định Cáckhoản mục tính khấu hao trong nuôi tôm bao gồm: Công trình xây dựng cơ bản của aonuôi trong năm đầu xuống vụ, các loại máy móc trang thiết bị phục vụ cho quá trìnhnuôi tôm như máy bơm nước, máy sục khí
Tổng chi phí sản xuất (TC): Là chỉ tiêu bao gồm chi phí trung gian, khấu hao tài
sản cố định, lao động gia đình đầu tư cho quá trình nuôi tôm, thuế và các khoản lệ phíkhác
1.1.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm
a Năng suất nuôi tôm (N): Phản ánh trung bình trong một năm thu bao nhiêu
kg tôm trên 1 đơn vị diện tích mặt nước nuôi trồng
N= Q/STrong đó: Q: tổng sản lượng tôm trong năm
S: diện tích mặt nước nuôi tôm
b Tổng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích: Là chỉ tiêu biểu biễn bằng
toàn bộ kết quả hữu ích mà lao động sáng tạo ra trong một thời gian nhất định (thường
là 1 năm) Hiện nay hầu hết các hộ nuôi tôm để tiêu thụ ra thị trường do đó tổng giá trịsản xuất cũng chính là tổng doanh thu (GO)
GO = ∑Pi*Qi
Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
c Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí về vật chất và dịch vụ được tính
bằng tiền mà hộ nông dân sử dụng để sản xuất ra sản phẩm trong một chu kỳ sản xuất
Chi phí trung gian (IC) = Chi phí vật chất + Chi phí dịch vụ (mua hoặc thuêngoài)
Trang 8d Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích: Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả
cuối cùng của hoạt động sản xuất Nó được tính bằng phần chênh lệch giữa tổng doanhthu (GO) và chí phí trung gian (IC) đầu tư ra
VA= GO - IC
e Thu nhập hỗn hợp (IM): Là chỉ tiêu kết quả nuôi của các hộ khi chưa trừ
công lao động gia đình
MI = VA – KHTSCĐ – Thuế
f Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC): Chỉ tiêu này cho biết hoạt
đông nuôi sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu khi đầu tư 1 đồng trung gian
g Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Phân tích một đồng chi phí
trung gian tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng Đây là chỉ tiêu quan trọng để lựa chọnphương án đầu tư tốt nhất trong giới hạn nguồn lực chi phí
h Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian (MI/IC): Cho biết một đồng chi phí
trung gian bỏ ra tạo bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp cho các hộ nuôi
1.1.4 Đặc điểm kỹ thuật của nuôi tôm
Tôm chân trắng (có nơi gọi là tôm he chân trắng hoặc tôm thẻ chân trắng) Cónguồn gốc Nam Mỹ Đây là loài tôm quý có nhu cầu cao trên thị trường được nuôi phổbiến ở khu vực Mỹ la tinh và cho sản lượng lớn gần 200 ngàn tấn (1999) Những nămgần đây tôm được thuần hóa và nuôi thành công ở một số nước Châu Á như: TrungQuốc, Thái Lan…
Khi chuẩn bị nuôi tôm đòi hỏi chủ hộ phải nắm được các nhân tố kỹ thuật chủyếu như sau:
Lựa chọn địa điểm:
- Các khu vực nuôi nằm trong khu vực quy hoạch NTTS chung (của xã, huyện,tỉnh) và không bị chồng lấn bởi quy hạch của các ngành khác
- Giao thông trong vùng thuận lợi hệ thống điện tới tận hồ nuôi và ao nuôi dễdàng trong việc cấp thoát nước (bao gồm nước ngọt, nước lợ và mặn)
- Không gần các nguồn gây ô nhiễm như: Nước thải sinh hoạt, nông nghiệp,công nghiệp,…
- Những khu vực nuôi nên tập trung ở phạm vi nhất định
Trang 9Yêu cầu về ao nuôi và chuẩn bị ao:
- Ao nuôi xây dựng kiên cố, không bị rò rĩ tránh thấm lậu
- Ao nuôi đảm bảo hệ thống cấp thoát nước hợp lý Tốt nhất có kênh cấp vàkênh thoát riêng biệt
- Nên có ao chứa nước khoảng 15 - 20% diện tích ao nuôi
- Mực nước ao nuôi nên giữ từ 1m đến 1,4 m
- Nước thải sản phẩm thừa phải đưa ra khỏi ao
- Ao phải được phơi khô ít nhất là một tuần Nếu không thể phơi ao được đáy,dùng máy bơm áp lực mạnh để chuyển toàn bộ lượng bùn đem ra khỏi ao Những ao
có nền đáy, bờ ao dạng cát bùn nên lót bạt chống thấm nhằm hạn chế xói lỡ, thẩm lậunước ra ngoài…
- Khu vực ao nuôi cần có nhà bảo vệ, kho lưu trữ thức ăn hóa chất…
- Bờ ao, ao nuôi được gia cố kỹ, kênh cấp, kênh thoát cần được nạo vét
Điều chỉnh độ pH đất:
Chú ý:
- Khi pH đất < 5: nên sử dụng vôi sống (CaO) vì vôi này làm tăng độ pH nhanh
đệm đáy tốt
- Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 - 3 ngày rồi xả lại hếtnước để tháo rửa Tháo rửa như vậy 2 đến 3 lần, sau đó dùng vôi bột để khử chua cả
bờ và đáy ao Lượng vôi tùy theo độ pH của đáy ao theo bảng sau
Bảng 1: Lượng vôi và loại vôi cần điều chỉnh pH đất
pH của đáy ao Lượng vôi CACO 3 Vôi nung CaO (kg/ha)
Trang 10cho việc thả giống là màu vàng xanh hoặc vàng rơm Gây màu nước nên được thựchiện trong thời tiết ấm hoặc những ngày nắng Có nhiều phương pháp gây màu Thờigian gây màu khoảng 4 - 5 ngày Khi nước đạt màu xanh hoặc vàng rơm, bắt đầu thảgiống.
- Trước khi thả giống cần kiểm tra lại các thông số kỹ thuật như: pH, độ mặn… khi đạtyêu cầu thì tiến hành thả giống
Chọn và thả giống:
- Chọn giống:
+ Giống rõ nguồn gốc, có chứng nhận kiểm dịch
+ Tôm giống phải được mua tại những trại có uy tín
+ Con giống đồng đều và khỏe mạnh
+ Tôm giống khi mua nên kiểm tra bệnh đốm trắng (WSSV) và MBV, không mua đàngiống bị nhiễm WSSV hoặc nhiều hơn 10% đàn giống bị nhiễm MBV Ngoài ra cầnkiểm tra bệnh phát sáng do vi khuẩn vibro gâu ra
+ Nên tập hợp cả tổ lại bắt giống để tiết kiệm chi phí kiểm dịch và chi phí xét nghiệmkhác
Trang 11+ Cách thả phải phù hợp: Nên thả trên gió, thả vào chiều mát hoặc vào buổi sáng trờimát.
+ Ngâm túi chứa tôm trong một ao nuôi khoảng 10 - 20 phút để từ từ cân bằng nhiệt
độ trong ao nuôi rồi mới thả tôm vào nuôi
Chăm sóc và quản lý:
- Tôm là đối tượng nuôi có yêu cầu rất cao trong chăm sóc và quản lý Hộ nuôi tômphải thường xuyên trực cạnh hồ tôm để kiểm tra tôm, để phát hiện các dấu hiệu khôngtốt mà kịp thời xử lý
- Quản lý môi trường nước trong ao nuôi đóng vai trò rất quan trọng Thực chất củacông tác này là điều khiển sao cho thông số: pH, độ kiềm, độ trong, độ mặn, nhiệt độ,
và phát triển
1.1.5 Các hình thức nuôi tôm
Tôm hiện nay đã phát triển cả về số lượng và chất lượng nghĩa là tăng cả về quy
mô diện tích, hình thức nuôi cũng được chuyển đổi theo chiều sâu Có 5 hình thứcnuôi chủ yếu:
Nuôi tôm quảng canh (QC): Đây là hình thức nuôi xuất hiện sớm nhất với kỹ
thuật đơn giản, giống và thức ăn dựa vào nguồn nước triều, ít đầu tư chi phí và côngchăm sóc nên năng suất thấp và phụ thuộc vào tự nhiên Vì thế, hình thức này đã vàđang dần bị thay thế bởi các hình thức cho hiệu quả cao hơn như nuôi quảng canh cảitiến, bán thâm canh
Nuôi tôm quảng canh cải tiến (QCCT): Hình thức này thường áp dụng ở vùng
thấp triều, nuôi với diện tích lớn, các khâu xử lý nước, cải tạo ao, cho ăn và nguồngiống chủ động hơn nuôi QC Tuy mức độ đầu tư còn thấp nhưng nuôi đúng kỹ thuật
sẽ mang lại hiệu quả khá cao
Người ta thường tận dụng thức ăn tươi như: Cá tươi, ốc, khuyết, bã sắn, cám,
Nuôi tôm bán thâm canh (BTC): Là hình thức nuôi nửa công nghiệp, chú trọng
khâu tôm giống, cho ăn đầy đủ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật và quan tâm các khâu
Trang 12phòng bệnh cho tôm, trang thiết bị được đầu tư cao đặc biệt là máy bơm nước, máysục khí.
BTC là hình thức nuôi phổ biến nhất ở nước ta, năng suất nuôi BTC đạt 1 – 1,5
phải có kinh nghiệm trong tổ chức quản lý, hoạch toán kinh doanh
Nuôi thâm canh (TC): Là hình thức nuôi công nghiệp với mức đầu tư, trình độ
ao, phòng bệnh và thức ăn cho tôm được thực hiện theo một quy trình kỹ thuật đảmbảo Hình thức này chưa phổ biến ở nước ta mà chủ yếu là nuôi ở các nước phát triển
Bảng 2 : Tiêu chí phân loại hình thức nuôi
Nhân tạo Nhân tạo
2 Thức ăn Tự nhiên Tự nhiên &
CSHT, máy móc thiết bị
Rất kỹ &
CSHT, máy mócthiết bị
Rất kỹ & CSHT, máymóc thiết bị
5 NS (Tấn/
(Nguồn: Bài giảng kinh tế thủy sản của GV: Tôn Nữ Hải Âu, trường đại học kinh tế Huế)
Nuôi tôm công nghiệp (CN): Là hình thức nuôi hoàn toàn bằng giống và thức ăn
tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốtnhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ
Các hình thức nuôi trên chỉ áp dụng đối với tôm sú còn trong trường hợp tômthẻ chân trắng thì với số kích thước khi thu hoạch là nhỏ hơn nhiều so với tôm sú nênngười ta nuôi với mật độ rất đông hầu hết là hình thức nuôi thâm canh với mật độ từ
Trang 1360 - 80 con/m2 đối với những ao nuôi tôm vùng hạ triều, và mật độ từ 100 – 120 con/
Qua nghiên cứu được biết, tập tính sống của tôm thẻ chân trắng khác với tôm
sú Chúng không sống ở tầng đáy và vùi mình trong bùn như tôm sú mà bơi lội liên tục
ở tầng nước giữa Tôm rất phàm ăn, khi phát hiện thấy thức ăn thì cả đàn lao xuốngđáy gắp thức ăn rồi bơi ngược lên gần giống như đàn cá bắt mồi Nếu thiếu thức ănchúng có thể tấn công ăn lẫn nhau, hoặc ăn bùn đáy bẩn sẽ sinh bệnh Do tôm sống ởtần nước giữa nên có thể nuôi mật độ dày bởi tầng nước này có lượng oxy hòa tan caohơn tầng đáy, các yếu tố môi trường ổn định và chủ yếu là hình tức nuôi thâm canh
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam
Việt nam là đất nước có bờ biển dài trên 3000 km và nhiều hệ thống sông suối
ao hồ chằng chịt Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy Việt Nam có tiềm năng lớn
về phát triển NTTS với những loài có giá trị kinh tế cao như: Cá basa, cá chẽm, cásong tôm sú, tôm thẻ, tôm hùm, tôm càng xanh…Vì thế trong những năm qua Đảng
và nhà nước ta luôn quan tâm khuyến khích thế mạnh này nhằm tạo nguồn đầu vàocho các ngành công nghiệp chế biến thủy sản để xuất khẩu, mang lại nguồn thu ngoại
tệ lớn cho đất nước, nâng cao đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.Hiện nay vấn đề nâng cao hiệu quả NTTS là điều được người dân sản xuất rất quantâm, trong đó vấn đề lựa chọn đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao luôn đượcđặt lên hàng đầu Và con tôm là đối tượng được người dân lựa chọn nuôi phổ biếnnhất, đặc biệt gần đây việc đưa con tôm thẻ chân trắng vào nuôi trồng đã mang lại hiệuquả lớn cho người dân
Trong những năm qua, nhìn chung diện tích nuôi trồng thuỷ sản đã được chútrọng phát triển, tuy nhiên diện tích nuôi tôm lại giảm Trong khi đó sản lượng qua các
Trang 14Bảng 3: Tình hình NTTS Và nuôi tôm của Việt Nam qua 3 năm (2007 – 2009)
(Nguồn: Tổng Cục TK, Website: www.gso.gov.vn)
năm vẫn luôn tăng vì vậy làm tăng năng suất nuôi trồng thuỷ sản cũng như năng suấtnuôi tôm Cụ thể:
Về diện tích nuôi: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng qua từng năm cho biết
người dân đã biết đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản đã và sẽ mang lại hiệu quảnhất, năm 2007 có 993.500 ha nhưng đến năm 2009 là 1.012.100 ha tăng 18.600 ha,ứng với tăng 1,87% Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm chiếm tỷ lệ cao những có xu hướnggiảm cho thấy phong trào nuôi tôm chưa cao do dịch bệnh xảy ra đối với tôm sú làmcho người dân chán nản, thậm chí mất đi động lực nuôi tôm, dẫn đến nhiều diện tích
ao hồ bỏ trống không nuôi tôm
Về sản lượng: Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng theo từng năm, đây là tín hiệu
vui mừng cho các hộ nuôi, năm 2007 cả nước có 2.123.300 tấn thuỷ sản nhưng đếnnăm 2009 cả nước đã có 2.530.450 tấn, tăng 407.150 tấn, ứng với tăng 19,18% Cùng
xu hướng, sản lượng tôm nuôi đã tăng qua các năm mặc dù diện tích nuôi tôm đã giảmqua từng năm, bởi người nuôi đã chuyển nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng nênnăng suất tăng lên điều đó được minh chứng cụ thể trong năm 2007 có 384.500 tấn,nhưng đến năm 2009 là 398.950 tấn, tăng 14.450 tấn ứng với tăng 3,76%
Trang 15Về năng suất: Năng suất nuôi trồng thuỷ sản tăng qua từng năm, với nhu cầu thị
trường đang cần lượng lớn thuỷ sản trong khi chúng ta không thể lúc nào cung mởrộng được diện tích nuôi bởi đất đai chỉ có hạn, để giải quyết vấn đề này thì chỉ cócách duy nhất để phát triển bền vững là tăng năng suất Và cụ thể là năm 2007 năngsuất nuôi là 2,137 tấn/ha, nhưng năm 2009 là 2,5 tấn/ha, tăng 0,363 tấn/ha ứng vớităng 16,99%
Năng suất nuôi tôm cũng tăng theo từng năm, năm 2007 là 0,746 tấn/ha, nhưngđến năm 2009 là 0,805 tấn/ha, tăng 0,059 tấn/ha, ứng với tăng 7,91%
Về thị trường tiêu thụ: Xuất khẩu thuỷ sản 11 tháng năm 2009 đạt 4,8 tỷ USD
với khối lượng xuất khẩu 1,55 triệu tấn, tăng 22,06% về giá trị và 33,60% về khốilượng Do những bất ổn trong tình hình kinh tế thế giới nên xuất khẩu thuỷ sản tháng
12 chỉ đạt 380 triệu USD, giá trị xuất khẩu thuỷ sản cả năm là 4,54 tỷ, tăng 19,69% sovới năm 2008
Mặt hàng tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu số một Tuy nhiên, xuất khẩu tômcũng đang gặp khó khăn do khủng hoảng tài chính Người tiêu dùng các nước pháttriển phải cắt giảm chi tiêu, các mặt hàng tôm đắt đỏ trước đây đã dần được thay thếbằng các loại thuỷ sản rẻ tiền hơn, dẫn đến giá tôm xuất khẩu bị giảm sút Sức tiêu thụcủa những thị trường truyền thống của Việt Nam như Nhật, Mỹ, do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đã giảm sút Mặc dù vậy, xuất khẩu tôm năm
2009 vẫn tăng trưởng cả về số lượng lẫn giá trị, nhưng khối lượng tăng nhanh hơn giátrị Xuất khẩu tôm 11 tháng năm 2009 đạt 196,29 ngàn tấn, tăng 20,37% so với cùng
kỳ năm 2008 Với giá trị gần 1,62 tỷ USD, tăng 8,98%
Nhật Bản vẫn là thị trường tiêu thụ tôm hàng đầu của Việt Nam, với khối lượngxuất khẩu là 53,92 ngàn tấn, chiếm 30,59% khối lượng tôm xuất khẩu, tăng 4,96%tương ứng với giá trị 460,47 triệu USD, chiếm 30,70% giá trị xuất khẩu tôm tăng2,59% Thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ hai là Mỹ với 42,97 ngàn tấn, chiếm 28,70%giảm 1,18%, thị trường tiêu thụ lớn nữa là EU có sự tăng trưởng khả quan hơn vớikhối lượng 30,44 ngàn tấn chiếm 17,27%, tăng 53,91% và giá trị là 218,42 triệu USDchiếm 14,56%, tăng 49,75% Mặc dù chịu nhiều tác động tiêu cực từ cuộc khủng
Trang 16hoảng tài chính khiến tình hình tiêu thụ thuỷ sản cuối năm tại các nước EU bị chững
lại, nhưng trong tương lai đây vẫn là thị trường tiềm năng của mặt hàng tôm Việt Nam
1.2.2 Tình hình nuôi tôm ở Quảng Nam
Là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền trung,
Quảng Nam có bờ biển kéo dài 125 km, có nhiều con sông chảy qua như: Sông Vu
Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ chảy qua đã tạo cho Quảng Nam có một vị trí thuận
lợi cho việc NTTS Trong những năm gần đây, thủy sản Quảng Nam có nhiều thành
tựu vượt bậc Năng suất và sản lượng thủy sản ngày càng cao
Với mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong những năm qua thủy sản
Quảng Nam đã có bước phát triển tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: nuôi
trồng, đánh bắt và chế biến Tuy nhiên theo đánh giá của cơ quan chuyên môn thành
tựu ấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương
Theo khảo sát của sở thủy sản, toàn tỉnh có khoảng 3000 ha mặt nước ao hồ có
thể phát triển ngành NTTS, 125 km bờ biển với trữ lượng thủy sản cao, hàng nghìn ao
nuôi thủy sản nước lợ; hệ thống kết cấu hạ tầng thuận lợi cho việc phát triển ngành
thủy sản Đặc biệt nguồn nhân lực hoạt động thủy sản rất dồi dào Và thực tế trong
những năm qua thủy sản Quảng Nam đã có những bước phát triển khá toàn diện về
nhiều mặt Trong lĩnh vực NTTS đã dần hình thành thị trường tiêu thụ, trong đó nghề
NTTS nước ngọt phát triển mạnh theo định hướng xuất khẩu
Bảng 4: Tình hình nuôi tôm ở Quảng Nam qua 3 năm (2007 – 2009)
(Nguồn: Chi cục thủy sản Quảng Nam)
Về diện tích: Diện tích nuôi tôm đã giảm qua các năm, do nhiều nguyên nhân.
Tuy nhiên có thể thấy hiện nay các hộ nuôi tôm đã biết thu hẹp diện tích để có điều
kiện hơn để áp dụng tiến bộ kỹ thuật đó là điều nên khuyến khích Năm 2007 cả tỉnh
Trang 17có 3000 ha nuôi tôm đến năm 2008 thì diện tích nuôi cả tỉnh chỉ là 2970 ha, giảm 30
ha, tương ứng giảm 1% Năm 2009 diện tích nuôi tôm là 2953 ha giảm 17 ha so vớinăm 2008, tương ứng 0,57%
Về sản lượng: Diện tích nuôi tôm qua các năm có giảm nhưng sản lượng tôm
tăng qua các năm, do người dân sản xuất đã chuyển một phẩn diện tích nuôi từ đốitượng nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất Năm
2007 sản lượng của cả tỉnh là 3180 tấn, nhưng năm 2008 là 8167,5 tấn, và tới năm
2009 toàn tỉnh có 19312,62 tấn, so với năm 2008 tăng 11145,12 tấn, tương ứng tăng136,46%
Về năng suất: Năng suất nuôi tôm của tỉnh cũng tăng theo từng năm và tăng
nhiều nhất trong năm 2009 Vì sản lượng tôm tăng nên dẫn đến năng suất tôm tăng Cụthể, so với năm 2008 thì năm 2009 năng suất tăng 3,79 tấn/ha, tương ứng tăng137,82%
Nhìn chung việc phát triển tôm thẻ chân trắng đã tạo ra cơ hội mới nhưng cũngđặt ra cho nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân không ít thách thức nhất làvấn đề môi trường dịch bệnh và các rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại Kết quảnuôi tôm lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết nên rủi ro cao về thiên tai vàdịch bệnh, trong khi nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho người dân NTTS khi bịthiệt hại do thiên tai, dịch bệnh xảy ra
1.2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở huyện Núi Thành qua 3 năm
Núi Thành là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Quảng Nam Là vùng có nhiềucon sông chảy qua thông ra biển Với điều kiện sinh thái hấp dẫn nên nơi đây có nhiềuloại thủy sản phát triển phong phú có giá trị kinh tế cao Tận dụng ưu thế đó, trongnhững năm qua, huyện luôn chủ trương mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, khôngchỉ nuôi trồng các loại thủy sản nước lợ mà còn nuôi trồng nhiều loại thủy sản nướcngọt có giá trị kinh tế cao Từ đó đến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản ở huyện ngàycàng tăng lên và trở thành huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất trong tỉnh
Tình hình nuôi trồng thủy sản của huyện Núi Thành được thể hiện trong bảngsau:
Trang 18Bảng 5 : Tình hình nuôi trồng thủy sản của huyện Núi Thành qua 3 năm (2007 – 2009)
Trang 19Về lĩnh vực nuôi tôm nước lợ: Qua bảng số liệu ta thấy tôm vẫn là ngành nuôi
chính Năm 2007 diện tích nuôi tôm của huyện là 1610 ha, sản lượng 1788 tấn đạtnăng suất là 1,11 tấn/ha Đến năm 2008, diện tích nuôi tôm là 1443 ha giảm 167 ha(tức là giảm 10,37%) so với năm 2007, nhưng sản lượng thì tăng cao và đạt 4148 tấn,năng suất 2,88 tấn/ha Năm 2008 diện tích nuôi tôm giảm mạnh là do dịch bệnh xảy rađối với tôm sú nhiều làm cho tôm sú chết hàng loạt, nhưng diện tích nuôi tôm thẻ chân
trắng tăng đáng kể và năng suất tôm thẻ chân trắng đạt khá cao nên sản lượng tôm năm
2008 đạt gấp đôi so với sản lượng tôm năm 2007 Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm thẻchân trắng chỉ tập trung ở một số vùng như: Tam xuân, Tam Tiến, Tam Hòa, (chiếm38% diện tích thả nuôi), còn phần lớn diện tích nuôi tôm của đa số nông dân trên địabàn huyện bị thua lỗ hoặc chuyển sang nuôi quảng canh Trong khi một bộ phận nôngdân được mùa do tôm thẻ chân trắng mang lại thì đa số nhân dân vùng tôm sú đứngtrước nguy cơ khó khăn, nợ nần do nuôi không hiệu quả, thậm chí sản lượng tôm súkhông tiêu thụ được Điều đó đặt ra cho ngành chuyên môn cần có định hướng kếhoạch lâu dài cho ngành nuôi tôm trên địa bàn trong thời gian tới
Trong năm 2009, diện tích nuôi tôm là 857,5 ha giảm 567,5 ha (tức là giảm39,33%) giảm mạnh so với năm 2008 nhưng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng186,98% so với cùng kỳ Diện tích nuôi tôm giảm là do nhiều hộ không nuôi tôm súcũng không mạnh dạn nuôi tôm thẻ chân trắng nên nhiều ao hồ để không, không nuôi.Sản lượng tôm cũng tăng lên và đạt là 5825 tấn, tăng 1677 tấn (tăng 40,43%) so vớinăm 2008, sản lượng tăng lên là do diện tích nuôi tôm thẻ tăng lên, số hộ lỗ giảmxuống do một ít hộ đã chuyển sang nuôi tôm thẻ
Trong lĩnh vực nuôi cá: Trong nhưng năm qua diện tích nuôi cá ở huyện tăng
lên và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Năm 2009, địa bàn huyện có 412,5 ha diệntích nuôi cá và đạt sản lượng là 710 tấn Mô hình nuôi cá vẫn chưa đạt kết quả cao domột số hộ nuôi chưa thực hiện khâu cải tạo ao mà tận dụng cá tự nhiên trong hồ Đây
là nguyên nhân làm cho tỷ lệ sống của cá giảm, sản lượng thấp Bên cạnh đó nhiều hộ
đã không mạnh dạn đầu tư về thức ăn, giống, chăm sóc, quản lý nên thu nhập mang lại
từ việc nuôi cá còn thấp
Trang 20* Những thuận lợi và khó khăn của ngành thủy sản nói chung và nuôi tôm nóiriêng trên địa bàn huyện Núi Thành:
Thường xuyên được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy đảng, các cấp chínhquyền, sở thủy sản (nay là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn), sự hỗ trợ giúp đỡtích cực của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể liên quan trong thực hiện chức năngquản lý ngành thủy sản và phát triển sản xuất
Nhiều chủ trương, chính sách nhà nước đã được triển khai thực hiện kịp thời,tạo cho người dân có thêm động lực để đầu tư phát triển sản xuấ thủy sản
- Khó khăn:
Còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro do thiên tai dịch bệnh gây ra Bão, lũ lụt, dịchbệnh, hạn hán nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao thường xuyên gây ra những thiệt hạilớn về tài sản và tính mạng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống củanhững người làm nghề thủy sản Cụ thể: Bão, lốc,lũ lụt làm sạt lỡ hàng ngàn ao hồnuôi tôm, thất thoát hàng trăm tấn tôm, cá Môi trường các thủy vực ngày càng xấu đi
do tác động của hoạt động nạo hút luồng mạch, hút cát, hút đất phục vụ cho xây dựng
ao hồ Ao hồ nhiều năm đã bị lão hóa nên việc đầu tư nuôi gặp nhiều khó khăn, hiệuquả sản xuất thấp nhiều hộ bị thua lỗ, nhất là những hộ nuôi thâm canh Gần 200 ha aonuôi bị bỏ hoang không đưa vào sử dụng
Huyện Núi Thành có nhiều hệ thống ao chìm, hệ thống kênh cấp thoát nước cònchung nhau, có nhiều ao nuôi không có ao xử lý nước thải, kênh cấp và thoát nước cònchung nhau Đây là nguyên nhân dễ phát sinh bệnh tật, ảnh hưởng đến năng suất nuôitôm, bên cạnh đó ý thức chấp hành bảo vệ của người dân còn kém gây ô nhiễm môitrường và dịch bệnh trong nuôi tôm dễ lây lan
Trang 21Ngư dân trong vùng giải tỏa lo lắng chưa an tâm đầu tư cho phát triển sản xuất,
có 100 ao nuôi bị giải tỏa, nhường đất cho xây dụng khu kinh tế Chu lai
Giá dầu diesel, vật tư… phục vụ cho hoạt động sản xuất tăng cao làm ảnhhưởng tới hiệu quả sản xuất
Giá cả thủy sản, đầu ra không ổn định
Trang 22CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý
Tam Tiến là một xã vùng ven biển phía Bắc của huyện Núi Thành có diện tích
tự nhiên là 2091 ha, trong đó có 5 thôn ven biển Diện tích đất sản xuất nông nghiệpchiếm tỷ lệ thấp so với diện tích tự nhiên với diện tích là 315 ha, chủ yếu là đồng bằng
Vị trí tự nhiên phân bổ rõ rệt trên địa bàn xã, có 7 thôn sản xuất nông nghiệp, 5 thônsản xuất đánh bắt hải sản
Phía Bắc giáp với xã Tam Phú và xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ
Phía Nam giáp với xã Tam Hòa, huyện Núi Thành
Phía Đông giáp với biển đông
Phía Tây giáp với xã Tam Xuân 1 và xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành
Địa hình bị chia cắt theo chiều dọc bởi 2 dòng sông Trường Giang và Tam Kỳ
2.1.2 Khí hậu
Khí hậu của huyện Núi Thành nói chung và xã Tam Tiến nói riêng thuộc vùng
trong năm là tháng 5 và tháng 6, nhiệt độ thấp từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau với
trưởng và phát triển của tôm Tôm sẽ chậm phát triển và sẽ mang bệnh nếu nhiệt độquá nóng
Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hàng năm là2531,5 mm Đây cũng là mùa gây nhiều biến động của hệ sinh thái vùng ven sông, là
độ mặn của nước giảm ảnh hưởng đến cơ cấu mùa vụ trong hoạt động nuôi trồng Hiệnnay, nhân dân trên địa bàn xã đã khắc phục bằng cách nuôi 2 vụ đã tránh được phầnnào những bất lợi do thời tiết đem lại Nhưng trong thời gian tới để giảm ảnh hưởngđến nguồn nước do việc nuôi trồng thải ra, bà con có thể nuôi trồng một vụ vừa giữ vệsinh môi trường vừa đảm bảo nguồn nước đỡ bị ô nhiễm
Xã Tam Tiến chịu 3 loại gió mùa chi phối: Gió tây nam và gió đông nam hoạtđộng từ tháng 3 đến tháng 7, gió đông bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 12 năm
Trang 23sau Hàng năm thường xuất hiện từ 8 đến 10 cơn bão ảnh hưởng đến huyện Bãothường kết hợp từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp với mưa lớn gây lũ lụt làm ảnh hưởngrất lớn đến việc NTTS Năm vừa rồi thời tiết có nhiều biến động, bão lũ diễn ra hoànhhoành làm cho việc NTTS bị thất thoát rất lớn, ở xã ước tính sản lượng NTTS bị mấttrắng do bão số 9 gây ra khoảng 11 tỷ đồng.
2.1.3 Địa hình thổ nhưỡng
Tam Tiến có bờ biển dài khoảng trên 10 km và một dãy cát chạy dọc theo venbiển rộng khoảng trên 100 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất cát phần lớn trồngcây dương liễu hiệu quả thấp và còn hoang hóa, diện tích cây màu rất ít Đây là xã cóđiều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chântrắng trên cát Nhằm khai thác hợp lý tiềm năng vùng cát ven biển và phát triển nghềnuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng bền vững ổn định
2.1.4 Nguồn nước
Nguồn nước là một nhân tố giữ vị trí quan trọng quyết định sự thành bại trong
vụ nuôi Nguồn nước sạch giúp tôm tăng trưởng nhanh, sức chông bệnh tốt Tam Tiến
là địa bàn có lợi thế 2 dòng sông Trường giang và sông Tam Kỳ nhiều bãi bồi nêntrong những năm trước đây nhân dân đã đắp ao nuôi tôm được nhiều, đến nay tổngdiện tích nuôi tôm trên địa bàn xã là 367 ha nằm quanh hai trục tuyến sông Tuy nhiêntrong những năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản xã nhà thường xảy ra dịch bệnhtrên tôm sú làm ảnh hưởng không ít đến việc NTTS Một thực tế là xã chưa có hệthống kênh mương cấp thoát không riêng biệt, nước cấp vào cũng là nước thải ra, do
đó bệnh tật dễ lây lan, ô nhiễm môi trường
Hiện nay, sông trên địa bàn xã đã bị ô nhiễm do nguồn nước thải ra từ các ao hồnuôi tôm và một số hoạt động sinh sống của người dân đổ ra làm ảnh hưởng đến chấtlượng nguồn nước dẫn đến ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của tômnuôi và những loài thủy sản khác
2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
2.2.1 Dân số và lao động
Dân số và lao động là một bộ phận hết sức quan trọng trong các hoạt động sản
Trang 25hãm sự phát triển của kinh tế của một địa phương, một quốc gia Chất lượng và sốlượng dân số, lao động cũng thể hiện được thực trạng cũng như tiềm năng thế mạnhcủa vùng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Năm 2008 tổng số nhân khẩu là 11760 người, so với năm 2007 thì năm 2008dân số tăng 22 người chiếm (tăng 0,19%), năm 2009 số nhân khẩu là 11772 người, sovới năm 2008 thì năm 2009 dân số tăng 12 người (tức là tăng 0,10%) Như vậy sự giatăng dân số đã giảm nhờ sự nhận thức của người dân trong vấn đề kế hoạch hóa giađình, cho thấy công tác kế hoạch hóa ở địa phương có dấu hiệu tốt Người dân có ýthức hơn trong việc chăm sóc sức khỏe cho con cái Tuy nhiên số lao động làm nôngkhá cao mà sản xuất nông nghiệp lại mang tính thời vụ nên vấn đề là phải tạo việc làmcho người dân trong những lúc nông nhàn là điều cần thiết
Cùng với sự gia tăng dân số, tổng số hộ cũng tăng Năm 2007 có 2846 hộ, năm
2008 có 2863 hộ, tăng 0,6% so với năm 2007 Năm 2009 có 2867 hộ, tăng 0,14% sovới năm 2008 Do sự gia tăng dân số chậm dẫn đến sự gia tăng số hộ cũng chậm Sốnhân khẩu bình quân trên hộ cũng có sự giảm đi do số người già chết đi và số hộ giađình mới kết hôn tách ra ở riêng
Xét về sự biến động tình hình lao động trên địa bàn xã, ta thấy tổng số lao động
có sự gia tăng qua 3 năm, năm 2007 là 7029 người, năm 2008 là 7157 người và tănglên 128 người (tức là tăng 1,82%) so với năm 2007, năm 2009 là 7224, tăng lên 67người (tức là tăng 0,94%) so với năm 2008 Sự gia tăng lao động cũng chậm lại domột số lao động ở địa bàn đi nơi khác làm ăn, làm dịch vụ, buôn bán hoặc xuất khẩulao động
Tuy nhiên số hộ NTTS tăng nhanh trong năm 2008 là 1270 hộ, tăng 20 hộ sovới năm 2007 (1250 hộ) Đến năm 2009 số hộ nuôi không tăng vẫn 1270 hộ Do chínhquyền địa phương hạn chế việc tăng ao nuôi để đảm bảo nguồn nước xung quanhvùng
2.2.2 Tình hình sử dụng đất
Đất đai có vai trò rất quan trọng trong tất cả các hoạt động kinh tế, đời sống xãhội Do đó tình hình sử dụng đất là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển kinh tế xã
Trang 26Để đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã trong 3 năm trở lại đây (2007 2009) ta phân tích tình hình sử dụng đất trong bảng số liệu dưới đây Qua bảng số liệu
-ta thấy diện tích đất tự nhiên của xã là 2091 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệpchiếm một tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên Năm 2007 diện tích đất nôngnghiệp của xã là 1476,20 ha chiếm 70,60% trong tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm
2008 diện tích đất nông nghiệp của xã là vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi Diệntích đất nông nghiệp năm 2009 là 1476,70 ha, chiếm 70,62% trong tổng diện tích đất
tự nhiên và bằng 100,03% so với năm 2008 (tăng 0,5 ha) Đất nông nghiệp năm 2009tăng là do đất trồng cây lâu năm tăng, người dân đã chuyển một số đất chưa sử dụngsang trồng cây lâu năm Trong diện tích đất nông nghiệp thì tổng diện tích đất nuôitrồng thủy sản năm 2007, năm 2008, năm 2009 không tăng vẫn giữ ở mức 370 ha.Diện tích đất NTTS không tăng lên là do chính quyền địa phương đã hạn chế việc mởrộng diện tích, ổn định diện tích nuôi trồng hiện có
Diện tích đất lâm nghiệp cũng chiếm tỷ lệ lớn Năm 2009 đất lâm nghiệp cótăng 0,3% Do người dân chuyển đất chưa sử dụng sang trồng rừng Điều này cho thấyngười dân nhận thức tốt trong việc trồng nhiều cây để bảo vệ rừng, trồng cây ven biển
để chống cát bay, bảo vệ nhà cửa và đồng ruộng trên địa bàn, hạn chế bão lũ xảy ra
Cùng với sự gia tăng số hộ gia đình, diện tích đất ở năm 2009 tăng lên 0,4 ha(tăng 0,23%) so với năm 2008 Phần diện tích tăng này do chuyển từ đất chưa sử dụngsang để tận dụng phần nào diện tích đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng của xã chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu là đất cát trắngkhông thể sử dụng sản xuất nông nghiệp Trong thời gian tới xã có chủ trương chuyểnmột số diện tích đất này sang đất chuyên dùng nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai hiệncó
Trang 27III Đất chưa sử dụng 292,00 13,96 292,00 13,96 291,10 13,92 0,00 0,00 -0,9 100,38
(Nguồn: phòng địa chính xã)
Trang 282.2.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng
Cở sở hạ tầng là điều kiện để phát triển kinh tế Trong những nănm vừa qua cơ
sở hạ tầng ở xã phát triển nhanh chóng Nếu như trước đây xã đường xá đi lại khókhăn, đất toàn là cát thì giờ đường xá đi lại thuận tiện Xã chủ động khai thác nội lựcđồng thời tranh thủ kêu gọi các dự án đầu tư vào địa bàn, năm 2009 tổng vốn đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng của xã là 1,5 tỷ đồng (bao hàm vốn đầu tư phát triển kinh tế vàvốn đầu tư cho văn hóa xã hội, các công trình phúc lợi khác) Hệ thống cơ sở hạ tầng
có nhiều cải thiện đáng kể Hệ thống đường giao thông ở xã khá thuận lợi cho việcphát triển kinh tế xã hội Đường giao thông liên thôn xóm hầu hết đều bê tông hóa
* Hệ thống thủy lợi: Đã được quan tâm đáp ứng yêu cầu trong sản xuất nông
nghiệp Hiện nay toàn xã có 9 km kênh mương cấp thoát nước, có nhiều cống trong đó
có một cống chính cung cấp nước ngọt cho trồng trọt vào mùa khô Ngoài ra có nhiều
hệ thống đê đập phuc vụ cho nuôi trồng cũng được nâng cấp hàng năm đảm bảo nuôitrồng ổn định, tránh bị sạc lỡ
Hệ thống sông mương nhiều, đây là điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng.Mỗi ao nuôi đều nằm ven sông đều có một cống cấp thoát nước Tuy nhiên tất cả các
ao đều dùng nước sông để cấp và thoát nước chưa xây dựng được ao xử lý nước thảinên việc thải chất cặn bã ra sông nhiều gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, dịchbệnh xảy ra lan tràn gây ảnh hưởng đến việc nuôi trồng trong những năm tiếp theo
* Y tế: Bên cạnh hệ thống giao thông và thủy lợi, việc chăm sóc sức khỏe cho
người dân cũng được quan tâm đặc biệt Xã có một trạm y tế đáp ứng yêu cầu cơ bản
về khám chữa bệnh cho người dân địa phương Hằng năm chương trình y tế cộng đồngnhư khám chữa bệnh, tiêm chủng và những chương trình y tế từ thiện của các tổ chứcđược thực hiện ở xã góp phần hạn chế những bệnh tật xảy ra cho người dân ở địaphương, đội ngũ y tá, bác sĩ được tăng cường và hoạt động có hiệu quả trong công tácsức khỏe và phòng khám chữa bệnh cho nhân dân
* Giáo dục: Ngành giáo dục đã phát triển Hiện nay trên địa bàn xã đã hoàn
thành xong phổ cập tiểu học và đang phổ cập trung học Tỷ lệ học sinh bỏ học đã hạnchế rất nhiều, việc học đã được người dân đặc biệt quan tâm Ở xã có một trường mẫugiáo, một trường trung học cơ sở và có 3 trường tiểu học Tỷ lệ học sinh đi học tại các
Trang 29trường đại học, cao đẳng và dạy nghề ngày càng đông đây là thế hệ tương lai góp phầnvào việc phát triển kinh tế xã nhà.
* Các cơ sở dịch vụ làng nghề: Hiện ở xã có các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và các dịch vụ sản xuất nông nghiệp cũng được quan tâm để đáp ững nhu cầungười dân lúc nông nhàn và góp phần nâng cao đời sống cho người dân Xã có 2 hợptác xã và các điểm dịch vụ vật tư nông nghiệp nhằm cung cấp đầu vào cho hoạt độngsản xuất nông nghiệp Ngoài ra ở xã còn có các ngành nghề khác như: Thợ mộc, thợnề… và một số nghề khác đem lại nghuồn thu nhập cho người dân
* Về văn hóa thông tin liên lạc: Toàn xã có hai bưu điện Hầu hết người dân
trên địa bàn xã đã có điện thoại bàn Hội nông dân, hội phụ nữ, hội người cao tuổicũng phát triển mạnh Hầu hết các thôn đều có nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng.Nhiều gia đình văn hóa ngày càng gia tăng
2.2.4 Tình hình NTTS trong những năm gần đây của xã Tam Tiến
Tam Tiến là một trong những xã có nghề nuôi tôm sớm nhất của huyện vì có vịtrí rất thuận lợi có 2 dòng sông chảy qua, có nhiều bãi bồi nên thuận lợi cho viêcNTTS, mà chủ yếu là nuôi tôm Qua vài năm trở lại đây bà con nhân dân đã tìm tòihọc hỏi các nơi khác và được hướng dẫn khuyến cáo của các trung tâm kỹ thuật đãmạnh dạn chuyển đổi NTTS từ tôm sú vốn thường bị dịch bệnh sang nuôi tôm thẻchân trắng
Qua bảng số liệu cho thấy diện tích nuôi tôm vẫn không đổi qua hai năm (năm
2007 và năm 2008) từ năm 2007 có 370 ha là do bà con nhân dân xã Tam Lộc, TiếnThành đã nuôi 35 ha tôm thẻ chân trắng cho năng suất cao, ít dịch bệnh hơn so với tôm
sú, số còn lại vẫn nuôi tôm sú, sang năm 2008 có 370 ha đưa vào nuôi còn một số diệntích qua nhiều năm thua lỗ nên có một số hộ không nuôi
Qua năm 2008 đầu vụ đông xuân các thôn như Tân Lộc, Tiến Thành, Tú Phong,Diêm Trà bà con nhân dân thả nuôi tôm thẻ chân trắng, còn lại các thôn nuôi tôm sú,
kể quả tôm thẻ chân trắng đạt năng suất cao, tôm sú không hiệu quả, dịch bệnh xảy ra
số còn lại thu hoạch thì tiêu thụ rất khó khăn
Trang 30
Bảng 8: Tình hình nuôi tôm ở xã Tam Tiến qua 3 năm (2007-2009)
Trang 31Trong vụ đông xuân 2008 có một số hộ không chấp hành lịch thời vụ thả sớmhơn quy định khoảng 20 - 25 ngày nhưng vẫn đạt kết quả như ở thôn Tân Lộc, TiếnThành.
Đến vụ 2 năm 2008 toàn bộ diện tích đưa vào nuôi tôm đã chuyển sang tôm thẻchân trắng toàn diện, nhiều hộ đạt từ 5 - 6 tấn/ha Vì vậy so với năm 2007 số hộ nuôicũng tăng lên dẫn tới sản lượng cũng tăng đáng kể từ 450 tấn (năm 2007) đến 1370 tấn(năm 2008) Điều này cho ta thấy trong năm 2008 ngành nuôi trồng xã nhà đem lạimột kết quả khá đáng kể làm tăng thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân nk`hiều
hộ giải quyết được nợ nần chồng chất trong những năm qua, nhiều hộ vươn lên làmgiàu, tăng thu nhập cho gia đình Điển hình có 10 hộ lãi từ 200 triệu đồng đến 300triệu đồng, 31 hộ có lãi từ 100 đến 190 triệu đồng, 83 hộ lãi từ 50 đến 100 triệu Cònlại nhiều hộ có lãi từ 5 đến 40 triệu Song song với nhiều hộ đạt kết quả tốt vẫn cònmột số hộ bị thua lỗ Toàn xã có 8 hộ thua lỗ, trong năm nay ước lỗ khoảng 200 triệuđồng
Quá trình chuyển từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng với tốc độ quánhanh, lại không đi kèm với bảo vệ môi trường nước tại vùng nuôi làm cho chất lượngmôi trường đang có xu hướng suy giảm rõ rệt Cùng với đó dịch bệnh cũng đang xảy
ra đã tác động tới kết quả làm cho năng suất tôm có giảm Năm 2009 diện tích nuôitôm là 370 ha cao Sản lượng tôm cũng tăng lên Nguyên nhân là do với kết quả đạtđược của năm 2008 bà con tập trung đầu tư sử dụng toàn bộ diên tích hiện có để nuôitôm thẻ chân trắng trên 2 vụ đông xuân và hè thu, tuy trong mùa vụ tôm có xảy ra tìnhhình dịch bệnh như: Đỏ thân làm ảnh hưởng một số diện tích trên địa bàn xã nằm rãirác ở các thôn Lộc Ngọc - Bản Long – Diêm Trà Nhưng trong năm qua ngành nuôitôm xã nhà vẫn đạt được kết quả đáng kể
Qua kết quả trên cho thấy trong năm 2009, ngành NTTS xã nhà đã đem lại kếtquả đáng kể làm tăng thu nhập, ổn định đời sông nhân dân Nhiều hộ có lãi từ 5 đến 40triệu đồng Tuy nhiên cũng có một ít hộ thua lỗ toàn xã có 18 hộ ước tính lỗ khoảng
300 triệu đồng Năm 2009 số hộ nuôi tôm thua lỗ tăng lên là do ở vụ 2 một số hộ thảmuộn, đến lúc tôm được 45 – 60 ngày tuổi thì bị ảnh hưởng của đợt mưa kéo dài từ
Trang 32năm 2009 số hộ lãi cũng khá lớn là do người nuôi tôm đã thực hiện tốt quy trình kỹthuật nuôi, thả tôm với mật độ hợp lý, việc quản lý chăm sóc sức khỏe cho tôm đượcchú trọng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và được sự quan tâm cán bộ kỹ thuật, cán
bộ quản lý
Từ thực tế đó, để đảm bảo cho ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và ngànhnuôi tôm nói riêng đi vào ổn định thì NTTS phải được đưa vào quy hoạch cụ thể,không tăng diện tích nuôi Tập trung rà soát lại vùng nuôi xây dựng cơ sở hạ tầng thiếtyếu phục vụ cho ngành như: Xây dựng hệ thống kênh mương thoát nước, xây dựngđầy đủ các ao chứa chất thải, ao xử lý chất thải của vùng nuôi để hạn chế việc ô nhiễmmôi trường, hạn chế dịch bệnh cho tôm
Qua phân tích cho thấy, mặc dù ngành nuôi tôm có sự biến động theo chiềuhướng tích cực Do vậy để phát triển tốt ngành nuôi tôm thì bà con nhân dân cũng nhưchính quyền địa phương tìm ra những giải pháp để hạn chế những tác động chính đểngành nuôi tôm phát triển trong thời gian tới
Trang 33CHƯƠNG III : HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM Ở XÃ TAM TIẾN 3.1 ĐẶC TRƯNG CHỦ YẾU CỦA CÁC HỘ NGHIÊN CỨU
3.1.1 Năng lực của chủ hộ
Hiện nay, trên địa bàn xã Tam Tiến, hầu hết hoạt động nuôi tôm đều do hộ giađình đảm nhận Trong đó quyết định của chủ hộ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngsản xuất nông nghiệp của từng hộ Trong hoạt động nuôi tôm phụ thuộc rất lớn vàokhả năng của chủ hộ hay nói cách khác thành bại của vụ nuôi ảnh hưởng rất lớn vàonăng lực của chủ hộ Năng lực của chủ hộ bao gồm: Khả năng tiếp thu khoa học kỹthuật, kinh nghiệm nuôi trồng, khả năng lựa chọn các biện pháp đầu tư hợp lý để nângcao hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm
Nghiên cứu năng lực của chủ hộ chúng ta thường xem xét trên các khía cạnhtuổi, trình độ văn hóa, số năm kinh nghiệm, số lần tập huấn Ngoài ra năng lực của chủ
hộ cũng ảnh hưởng của một số nhân tố khác như giới tính, phong tục tập quán…nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn lắm
Xét về tuổi của chủ hộ: Qua số liệu điều tra cho thấy, hiện nay trên địa bàn xã,
các hộ nuôi có độ tuổi từ 30 - 50 tuổi, gồm 27 người chiếm 54% Đây là nhóm chủ hộ
có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, rất nhanh nhạy trong quá trình tiếp thu kiến thức,úng dụng kỹ thuật mới, mạnh dạn đầu tư, đồng thời có sức khỏe trong việc nuôi tôm.Con nhóm tuổi < 30 tuổi thì không có Nhóm tuổi > 50 tuổi thì có 22 hộ, chiếm 46%.Đây là nhóm tuổi chiếm tỷ lệ khá lớn trong hoạt động nuôi tôm Họ thường dày dặctrong ra quyết định, bảo thủ hay làm theo ý mình, ít có thay đổi Do ở địa bàn xã hoạtđộng nuôi tôm có từ khá lâu nên số người nuôi tôm trong độ tuổi lớn là điều bìnhthường
Trình độ văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp thu và nhận thức, ápdụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất, do đó ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quảcủa hoạt động nuôi tôm Đặc biệt, nuôi tôm là ngành đòi hỏi người nuôi phải thực hiệnđúng quy trình kỹ thuật, do đó trình độ văn hóa có vai trò càng quan trọng Xem bảng
số liệu, chúng ta thấy số người không biết chữ không có ai cả Điều này cũng dễ thấy,hoạt động nuôi tôm đầu tư khá lớn, rủi ro cao nên những người có học thức mới có thể
Trang 34nông thôn, những người nuôi tôm trước kia đi học ít do gia đình khó khăn, phươngtiện đi lại cũng không có Nhóm từ lớp 6 - 9 có 26 người chiếm 52% Đây là một thuậnlợi lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức và ứng dụng kỹ thuật mới vào hoạt động nuôitôm Nhóm từ lớp 10 - 12 chiếm có 2% Hoạt động nuôi tôm đòi hỏi quy trình nuôinghiêm ngặt, do vậy trình độ văn hóa cao hơn là điều kiện thuận lợi để hoạt động sảnxuất đạt kết quả cao.
Hoạt động nuôi tôm đòi hỏi vốn lớn và rủi ro cao do đó kinh nghiệm nuôi tômcũng quan trọng không kém Cũng như các nơi khác hoạt động nuôi tôm ở địa bàn xã
có từ rất sớm, những năm trước đây người ta nuôi tôm sú, lúc đầu thì lãi cao nhưngdần về sau thì tình hình lỗ kéo dài, gần đây nhiều hộ đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chântrắng lãi suất hấp dẫn hơn tôm sú rất nhiều Do đó nếu nói về kinh nghiệm nuôi tôm súthì nhiều hơn nuôi tôm thẻ Số năm nuôi tôm thẻ ít hơn Nhóm từ 1 - 2 năm thì không
có Nhóm 3 - 5 năm thì chiếm tỷ lệ ít gồm 2 hộ, chiếm 4% Nhóm người có kinhnghiệm nuôi tôm lớn hơn 5 năm thì chiếm tỷ lệ lớn tới 96% Do kinh nghiệm nuôi tômcao nên các hộ không ngừng học hỏi kinh nghiệm nuôi nên kết quả và hiệu quả thuđược cao hơn
Về tập huấn chuyên môn, mỗi năm người ta thường tập huấn một lần để phổbiến kiến thức và tình hình nuôi tôm ở địa bàn, nhưng có một số hộ có năm khôngtham gia, thể hiện số lần tập huấn nhỏ hơn số năm kinh nghiệm nuôi Đây là một vấn
đề tồn tại, trong thời gian tới cần động viên các chủ hộ tích cực tham gia tập huấn đểnâng cao kiến thức, để hoạt động nuôi tôm được ngày một hiệu quả và bền vững hơn
Như vậy qua phân tích ở trên chúng ta thấy năng lực của chủ hộ ảnh hưởng rấtlớn đến thành bại của vụ nuôi