1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an

64 1,2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Tác giả Hoàng Thị Hồng Thắm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Nghệ An
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 630,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chè cùng với cao su, cà phê, tiêu là những cây công nghiệp lâu năm đem lại giá trịkinh tế cao ở nước ta Lịch sử cây chè ở nước ta có từ lâu đời nhưng chè được khai thác

và phát triển mạnh trong khoảng 50 năm nay Chè là cây có đời sống kinh tế lâu dàinhưng mau cho sản phẩm và có hiệu quả kinh tế cao

Cây chè có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam, nókhông chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà nó còn là thức uống quen thuộc và không thểthiếu Ngày nay, chè không chỉ là thức uống lý tưởng đối với người Việt Nam mà còn phổbiến trên Thế Giới Từ lâu, cây chè đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao ởnước ta bởi cây chè phù hợp với đất vùng núi và gò đồi Nó có ý nghĩa trong việc làmgiảm đói nghèo và có ý nghĩa trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập, giảiquyết việc làm cho người lao động, tạo môi trường sinh thái bền vững, góp phần thựchiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, với ba phần tư diện tích đấtliền là đồi núi và cao nguyên nên rất thích hợp với nhiều cây công nghiệp lâu năm Mặtkhác, việc phát triển cây công nghiệp lâu năm có ý nghĩa trong việc sử dụng hợp lý nguồntài nguyên quốc gia, tạo việc làm cho người lao động, giúp phát triển cân bằng giữa cácvùng miền Vì vậy, phát triển cây chè ở nước ta là rất phù hợp và là vấn đề được quantâm

Tuy nhiên, ngành chè ở Việt Nam chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng sẵn có

và chưa thực sự đem lại hiệu quả do chưa được chú trọng đầu tư đúng mức Việc pháttriển cây chè mới chỉ chú trọng đến chè búp (chè khô) để tăng nguồn xuất khẩu, chưa chú

ý đến phát triển chè lấy cành (chè tươi) mặc dù nó rất có ý nghĩa kinh tế và thiết thực vớingười dân ở nhiều địa phương như: nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, cải thiện bộ

Trang 2

mặt xã hội, tăng tính đoàn kết trong cộng đồng dân cư nông thôn,… Ở Việt Nam, chèđược trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.

Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực miền Trung có nhiều điều kiện thuận lợi cho pháttriển cây chè Hiện nay, diện tích trồng chè đang ngày càng được mở rộng và đang cónhiều dự án trồng chè tại nhiều huyện miền núi như: huyện Anh Sơn, huyện Con Cuông,huyện Tân Kì, huyện Kỳ Sơn,… Cây chè đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm tăng thunhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc tại các huyện

Anh Sơn là huyện có nhiều đồi núi và rất thích hợp với trồng chè Trong nhữngnăm qua, huyện đã chú trọng đến phát triển cây chè và đã mang lại hiệu quả, nhiều dự ánthực hiện trồng chè đã thành công như dự án xoá đói giảm nghèo 135, dự án 327,… Câychè được coi là cây kinh tế mũi nhọn của người dân địa phương, góp phần làm tăng thunhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho bà con, nhất là trong những năm gần đây thứcuống chè xanh được ưa chuộng nên trồng chè rất có hiệu quả

Tại huyện có hai loại chè được trồng và cho hai dòng sản phẩm là chè khô (chè lấybúp) và chè tươi (chè lấy cành) Cả hai loại đều mang lại giá trị kinh tế cao cho người dânnhưng chè búp luôn được sự quan tâm và phát triển hơn, chè tươi phát triển rải rác ở các

xã Gần đây thức uống chè tươi đang được ưa chuộng hơn nên chè lấy cành đang dầnđựợc quan tâm và phát triển

Cao Sơn là xã trồng nhiều chè lấy cành nhất trong cả huyện Là xã miền núi nên rấtthích hợp với trồng chè Cây chè lấy cành đã gắn bó với người dân địa phương từ xưa đếnnay, và nó là nguồn sống chủ yếu của người dân Trước đây, sản phẩm chè tươi còn ítngười biết đến nên người dân còn gặp nhiều khó khăn trong trồng chè lấy cành do khótiêu thụ, nhưng trong những năm gần đây, thức uống chè xanh đang ngày càng được phổbiến và ưa chuộng nhất là chè tươi nên trồng chè lấy cành có hiệu quả cao Mặt khác dođặc điểm của chất đất nên cây chè nơi đây có chất chè đặc biệt và ngày càng được ngườitiêu dùng biết đến với cái tên “chè Gay” Vì thế cây chè đang ngày càng được mở rộng tạiđịa phương và cuộc sống của nhân dân cũng ngày càng được nâng cao, thu nhập tăng lên.Cây chè có ý nghĩa sống còn đối với bà con nơi đây

Trang 3

Tuy nhiên, là xã miền núi, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đã gây khó khăn cho quátrình tiêu thụ và tiếp cận thi trường nên chè xanh ở xã chưa xây dựng được thương hiệumặc dù đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao Mặt khác, tại xã còn thiếu sự quan tâm chỉ đạothực hiện phát triển cây chè tập trung, việc phát triển cây chè chủ yếu là dựa vào kinhnghiệm truyền từ đời này qua đời khác nên để phát triển và xây dựng thương hiệu chochè xanh tại xã còn gặp nhiều khó khăn.

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Hiệu quả kinh tế của cây chè

xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã Cao Sơn – huyện Anh Sơn – tỉnh Nghệ An”

làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

 Mục tiêu nghiên cứu

+ Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trênđịa bàn xã Cao Sơn

+ Tìm ra một số giải pháp nhằm phát triển và xây dựng thương hiệu của sản phẩmchè xanh trên địa bàn xã

 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp Nguồn số liệu thứ cấp được lấy

từ báo cáo của Xã, phòng thống kê Xã, huyện, và từ sách báo, internet,… Nguồn

số liệu sơ cấp được lấy từ điều tra 50 hộ trên địa bàn xã Việc chọn các hộ điều trađược chọn ngẫu nhiên ở các xóm, mỗi xóm lấy 5 hộ

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu

+ Phương pháp phân tổ so sánh: Phân ra các nhóm để tính toán sự ảnh hưởng củamột số nhân tố như: quy mô đất đai, chi phí phân bón,… đến kết quả và hiệu quảkinh tế và so sánh giữa các nhóm trong cùng một nhân tố đó

+ Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Tham khảo những nghiên cứu của một

số nhà khoa học, kỹ sư nông nghiệp, ý kiến của cán bộ xã, đội trưởng đội sản xuấtcủa xã, các trưởng thôn, nông dân, đại lý cung cấp vật tư nông nghiệp, những chủthu mua chè xanh lớn và nhỏ, những người am hiểu, có kinh nghiệm trong sản xuấtchè xanh trên địa bàn

Trang 4

+ Phương pháp hồi quy

Và một số phương pháp khác

 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hiệu quả kinh tế cây chè của các nông hộ trên địa bàn xã

và tập trung nghiên cứu chủ yếu ở 50 nông hộ được điều tra

Trang 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Một số khái niệm

+ Hiệu quả kinh tế

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế chẳng hạn như tácgiả Hồ Đào Vinh cho rằng “hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa chiếm dụng và tiêu haotrong hoạt động kinh tế với thành quả có ích đạt được” Hay như tiến sĩ Nguyễn TiếnMạnh cho rằng “hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợidụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện trình độ quản lý, sử dụng nguồnlực để tạo ra kết quả lớn nhất với chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh tế là thước đo chấtlượng sản xuất kinh doanh và còn là vấn đề sống còn của các đơn vị kinh tế Muốn đánhgiá hiệu quả của nền sản xuất xã hội trước hết phải xác định được mục tiêu của nó Mọihoạt động sản xuất kinh doanh phải tuân theo quy luật khách quan và bị chi phối bởinhững mục tiêu đặt ra Khi đã hoàn thành mục tiêu thì phải điều chỉnh mọi hoạt độnghướng vào mục tiêu đó với mức cao nhất có thể đạt được trên cơ sở có tính chi phí để đemlại hiệu quả

Hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất gắn với việc trao đổi, vì thế nó chịu ảnhhưởng của các quy luật kinh tế như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giátrị… Hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn về xã hội và môitrường theo xu hướng kinh tế bền vững Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mốiquan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất

Khi nói đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp thì phải phân biệt rõ bakhái niệm cơ bản về hiệu quả: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối, hiệu quả kinh tế

Trang 6

Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vàohay nguồn lực sử dụng sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ sử dụngvào nông nghiệp Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại baonhiêu đơn vị sản phẩm.

Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầuvào được đưa vào tính toán để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phíthêm về đầu vào Bản chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu

tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra

Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả yếu tố hiện vật và yếu tố giá trị đều tính đến khixem xét các nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệuquả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệmlao động xã hội Đây là hai mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau, gắn liềnvới hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất lao động và quyluật tiết kiệm thời gian Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đavới chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ởđây được hiểu bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí cơ hội

Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong toàn bộ nềnkinh tế Nó được xem xét cả về quan điểm tài chính lẫn quan điểm phát triển tài chính

Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng chúng đềuthống nhất về mặt bản chất Và việc nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọngđối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung

Nó góp phần:

- Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có

- Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào CNH – HĐH

- Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động

Trang 7

1.1.1.2 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, phản ánh mốitương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính trong một chu

kỳ sản xuất Do đó muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì ta phải tính toán đầy đủ cáclợi ích và chi phí bỏ ra

Chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất là chi phí cho các yếu tố đầu vàonhư: đất đai, tiền vốn, lao động, nguyên vật liệu Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chiphí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc tính riêng cho từng yếu tố

Sau khi tính được kết quả đạt được và chi phí bỏ ra thì chúng ta có thể tính được hiệu quảkinh tế Có thể dùng những phương pháp sau:

b Phương pháp 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm củakết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra

Công thức tính:

Trong đó:

H: Hiệu quả kinh tế

∆Q: Phần tăng thêm của kết quả

Trang 8

∆C: Phần tăng thêm của chi phí

Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu chiều sâu, nó xác định lượng kếtquả thu thêm trên một đơn vị chi phí tăng thêm hay nói cách khác một đơn vị chi phí tăngthêm đã tạo ra bao nhiêu kết quả thu thêm

Với cách tính này ta sẽ biết được tổng thu nhập, tổng lợi nhuận đạt được một cáchchính xác cụ thể hơn nhưng không thể so sánh được hiệu quả kinh tế của các doanhnghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh có quy mô khác nhau

Như vậy hiệu quả kinh tế có nhiều cách tính khác nhau, mỗi cách tính phản ánhmột khía cạnh nhất định về hiệu quả kinh tế Do đó tùy theo từng điều kiện của đơn vị sảnxuất, kinh doanh mà lựa chọn cách tính phù hợp

1.1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

 Tổng giá trị sản xuất: GO

Tổng giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các cơ sởsản xuất thuộc tất cả các ngành nghề kinh tế quốc dân đạt được trong một chu kỳ nhấtđịnh thường là một năm Là kết quả hoạt động hữu ích từ các cơ sở sản đó, giá trị sản xuấtbao gồm:

Giá trị sản phẩm vật chất: tư liệu sản xuất và tiêu dùng

Giá trị sản phẩm dịch vụ: phục vụ sản xuất và phục vụ đời sống

Công thức tính:

GO = ∑Pi*Qi

Trong đó:

Pi: là giá bán sản phẩm loại loại i

Qi: là khối lượng sản phẩm loại i sản xuất ra

 Chi phí trung gian: IC

Chi phí trung gian là bộ phận cấu thành của tổng giá trị sản xuất bao gồm toàn bộchi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao) và chi phí dịch vụ (sản phẩm vậtchất và phi vật chất) được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ khác củađơn vị sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

Trang 9

Chi phí vật chất: là chi phí do hộ gia đình bỏ ra như: chi phí phân bón, vật rẻ tiềnmau hỏng được phân bỏ trong năm.

Chi phí dịch vụ: là chi phí cần trong quá trình hoạt động dịch vụ như: thuê laođộng, thuê máy móc,…

 Giá trị gia tăng: VA

Giá trị gia tăng là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trunggian

Công thức tính:

VA = GO – IC

Trong đó:

VA: giá trị gia tăng

GO: tổng giá trị sản xuất

IC: chi phí trung gian

 Tổng chi phí sản xuất: TC

Là toàn bộ hao phí về vật chất, dịch vụ và lao động đã đầu tư cho tất cả các hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong năm

 GO/IC: cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất

 VA/IC: cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng

 Lợi nhuận/IC (LN/IC): một đồng chi phí mua ngoài bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồnglợi nhuận

 LN/TC: cho biết bình quân một đồng chi phí đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêunày phản ánh năng lực của người sản xuất cũng như kết quả thu được

 GO/ha: phản ánh 1ha thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu sản xuất

 IC/ha: chỉ tiêu này cho biết mức đầu tư của 1ha thì bỏ ra bao nhiêu chi phí trung gian

 VA/ha: cho biết 1ha thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng

 TC/ha: cho biết 1ha thì cần dùng bao nhiêu chi phí để hoạt động sản xuất kinh doanh

 LN/ha: cho biết bình quân 1ha thì đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận

 Giá trị hiện tại thuần: NPV

Trang 10

Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu trừ đi giá trị hiệntại dòng chi phí tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn

Công thức tính:

Trong đó:

Bt: là khoản thu hàng năm của dự án và giá trị thanh lý khi hết thời ký kinh doanh

Ct: là chi phí hàng năm, vốn ban đầu bỏ ra để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ởthời điểm ban đầu cũng như thời điểm trung gian

t: là thời gian tình dòng tiền (chu kỳ sản xuất)

r: tỷ lệ chiết khấu được chọn

 Thời gian hoàn vốn: T

Là khoảng thời gian tính bằng năm tháng cần thiết để thu nhập vừa đủ hoàn chi phí

bỏ ra Nó cho biết tính thanh khoản của mức đầu tư, chỉ tiêu này giúp ta biết được bao lâuthì vốn đầu tư bắt đầu sinh lời

Công thức tính:

T =(t-1) + (Dt – THt-1)/(THt – THt-1)

Trong đó:

Dt: là đầu tư lũy kế được tính tại năm thứ t(đầu tư năm kiến thiết)

THt: là thu hồi lũy kế được tính tại thời điểm năm t

THt-1: là thu hồi lũy kế được tính tại năm t-1

t: là năm bắt đầu sinh lời

 Hệ số hoàn vốn nội bộ: IRR

Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó là hệ số chiết khấu để tínhchuyển khoản thu thi của dự án về mặt thời gian hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổngchi

Công thức tính:

r* = r1 + (r2 – r1) *NPVr1/(NPVr1 – NPVr2)

Trang 11

Trong đó:

r*: lãi suất cần nội suy ~ IRR

r1: lãi suất thấp hơn

r2: lãi suất cao hơn

NPV1: giá trị hiện tại thuần ứng với lãi suất r1

NPV2: giá trị hiện tại thuần ứng với lãi suất r2

 Chỉ số sinh lời: PI

Công thức tính:

Trong đó:

Bt: khoản thu hàng năm của dự án và cả giá trị thanh lý khi hết thời kỳ kinh doanh

Ct: là chi phí hàng năm, vốn ban đầu bỏ ra để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ởthời điểm ban đầu cũng như thời điểm trung gian

r: tỷ lệ chiết khấu được chọn

* Ngoài các chỉ tiêu trên tôi còn sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb – Douglas đểphân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc mô hình hàm sản xuất đến năng suất chè xanhcủa các nông hộ được điều tra trên phần mềm EViews4 Trong quá trình nghiên cứu, đểước lượng mô hình tôi sử dụng số liệu được thu thập thông qua bảng hỏi, phỏng vấn trựctiếp nông hộ

Giả sử hàm sản xuất có dạng: Y =

Sau đó ln 2 vế hàm có dạng sau: LnY = + lnX2 + lnX3 + lnX4 + lnX5

Trong đó: Y: Năng suất chè xanh (bó/ha)

: Hệ số tự do; (i = ) là các hệ số hồi quy

X2: Công lao động (ngày công/ha)

X3: Phân bón (kg/ha)

Trang 12

X4: Tuổi cây (năm)

X5: Diện tích (ha)

1.1.1.4 Giá trị của cây chè

Như chúng ta đã biết cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có hiệu quả kinh tế cao

và cho kết quả trong một thời gian dài Cây chè trồng một lần và có thể thu hoạch 30 – 40năm hoặc lâu hơn nữa Thêm vào đó thời gian kiến thiết cở bản của cây chè ngắn, nhanhcho thu hoạch, với điều kiện thuận lợi thì sau khi xuống hạt một năm chè đã có thể thuhoạch bói 1ha có thể bẻ được 1000 bó Các năm thứ hai, thứ ba có thể thu hoạch 1400 –

1500 bó/ha Năm thứ tư chè đã được đưa vào sản xuất kinh doanh Chính vì thế cây chè

đã góp phần vào việc cải thiện đời sống của người dân ở vùng đồi núi, tạo công ăn việclàm cho những hộ gia đình trong thời gian nhàn rỗi Từ việc sản xuất kinh doanh cây chè

đã làm thay đổi bộ mặt cho vùng miền núi, đưa người dân trong vùng tiếp cận với bênngoài nhiều hơn

Chè xanh là loại cây được dùng làm thức uống từ bao đời nay, nó có trước nhữngthức uống như cà phê, ca cao Nó được biết đến như một nét văn hóa của loài người.Nước chè xanh rất tốt được các nhà khoa học xác định như sau: Caffein và một số hợpchất khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kíchthích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của cơ thể, nângcao năng lực làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau những giờ làm việc căng thẳng Hỗn hợptamin trong chè xanh có khả năng giải khát

Nước chè xanh chữa được một số bệnh như tả, lỵ, thương hàn, phong nhiệt, ănkhông tiêu, hen suyễn, viêm gan nhẹ, giảm cholesterol trong máu, ngăn béo phì… Ngoài

ra chữa một số bệnh như: chữa bỏng, đậu mùa, thủy đậu, mụn nhọt,viêm da, đau răngnhiệt miệng Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàngquang, chảy máu dạ dày Theo M.N.Zaprometop (2008) thì hiện nay chưa tìm ra đượcchất nào lại có tác dụng làm vững chắc mao mạch tốt như catechin có trong chè Dựa vào

số liệu của viện nghiên cứu y học Leningrat thì khi điều trị các bệnh cao huyết áp vàneprit mạch thì hiệu quả thu được rất tốt nếu như người bệnh dùng catechin chè theo liều

Trang 13

lượng 150mg/ngày E.K.Mgaloblisvili và cộng sự của mình (năm) cũng xác định sự ảnhhưởng tích cực của nước chè tới hoạt động của hệ thống tim mạch, sự trao đổi muối –nước, sự trao đổi vitamin C…

Trong chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A B1, B2, B6, vitamin PP vànhiều vitamin C Gần đây chè còn được phát hiện là có thể chống phóng xạ Các nhà khoahọc Nhật Bản thông báo kết quả chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti(Sr)90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm

Hiện nay trong nông nghiệp đang diễn ra quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thìcây chè không tranh chấp đất đai với những loại cây khác Bên cạnh đó nước ta là mộtnước nông nghiệp, dân số đông nhưng thiếu việc làm, đặc biệt là ở nông thôn, nên việcphát triển vùng cây công nghiệp nói chung và cây chè nói chung góp phần vào việc giảmquá trình di dân từ nông thôn ra thành thị tạo nên sự bình ổn trong xã hội Bên cạnh đó,việc phát triển cây chè ở vùn trung du và miền núi cũng góp phần công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp nông thôn, giúp người dân ở vùng gò đồi cải thiện cuộc sống, xóađược cái nghèo

Ngoài ra, việc trồng cây chè xanh cũng tác động gián tiếp tới sự đoàn kết trongcộng đồng nông thôn

Như vậy cây chè xanh có giá trị về mặt kinh tế và xã hội rất cao, nâng cao mức thunhập cho người dân, giải quyết việc làm cho nhiều bộ phận dân cư trong vùng cũng nhưngoài vùng Từ đó giúp nông thôn cũng như ổn định hơn về mặt xã hội

1.1.1.5 Đặc điểm sinh vật học của cây chè

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis, là loại cây mà lá và chồi của chúngđược sản xuất trà xanh, trà đen… (đừng nhầm với cây hoa trà) Tên gọi sinensis có nghĩa

là “Trung Quốc” trong tiếng La Tinh Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea vàThea viridis Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay nóđược trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệtđới Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xéntỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy lá Là loại cây trồng một lần thu hoạch

Trang 14

nhiều lần, nhanh cho thu hoạch và thời gian kinh doanh của nó lên tới 30 – 40 năm hoặclâu hơn nữa.

+ Rễ: rễ của cây chè là loại rễ trụ, khi mới nảy mầm rễ trụ phát triển mạnh, sau 3 –

5 tháng thì rễ trụ phát triển chậm lại và rễ biên phát triển nhanh hơn Từ năm thứ 2 – 3 bộ

rễ phát triển mạnh và gần hoàn chỉnh Rễ cái của cây chè có thể đâm rất sâu vào lòng đấtnên cây ít khi bị lật cội

+ Thân chè: trong điều kiện phát triển tự nhiên cây chè có một thân chính, trênthân chia thành 3 loại: thân gỗ, thân nhỏ và phân bụi Trên phân bụi cây phân cành nhiều,cành chè mọc từ chồi dinh dưỡng trên thân chính gọi là cành 1, mọc từ cành 1 gọi là c2,c3…

+ Mầm chè: gồm mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng

* Mầm dinh dưỡng gồm:

- Mầm đỉnh: nằm trên đỉnh cây, sinh trưởng mạnh

- Mầm nách: nằm ở nách lá chè, mầm này được phát triển khi mầm đỉnh bị hái đi

và trong điều kiện tự nhiên tốt mầm nách cũng phát triển

- Mầm ngủ: nằm ở bộ phận thân già đã hóa gỗ

- Mầm bất định: nằm ở cổ rễ, mầm này thường phát triển vào mùa xuân, khi mầmnày phát triển có thể xem nó giống thân chính

* Mầm sinh thực: nằm ở nách lá, thường mỗi nách lá có hai mầm sinh thực mầm nàyphát triển thành hoa, quả chè

+ Búp chè: có 2 loại

- Búp bình thường: gồm 1 tôm và 2 – 3 lá non

- Búp xòe: không có tôm và có 2 – 3 lá non

+ Lá chè mọc trên cành chè, mỗi đốt có một lá và lá chè thay đổi hình dạng, màusắc qua độ tuổi, thời tiết Lá chè thường dài từ 4 – 15cm và rộng từ 2 – 5cm Lá tươi chứakhoảng 4% caffein

+ Hoa chè có màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5–4 cm, với 7 - 8 cánh hoa.Hoa chè bắt đầu nở trên cây chè 2 – 3 tuổi Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1 – 4 hạt,

Trang 15

hình dạng có thể là tròn, vuông…Khi còn non quả chè có màu xanh, chín có màu nâu, khiquả chín vỏ nứt ra.

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

Nước ta là một nước nông nghiệp có lịch sử lâu dài, với ¾ diện tích là đồi núi nêncây chè đã được trồng từ rất lâu Ban đầu chè được trồng dưới dạng chè xanh, nhưng doquá trình công nghiệp hóa nước ta đã chuyển đổi hướng trồng chè, chuyển sang trồng chèhái búp để làm trà Cho đến nay thì hầu hết các vùng trung du và miền núi đã chuyển sangtrồng chè hái búp và nhiều nơi đã có thương hiệu như chè Thái Nguyên, chè Thái, chèShan…Thị trường giành cho chè cũng rất rộng lớn, tỷ trọng xuât khẩu chè là khá lớn

Chè hái búp đã được coi trọng phát triển nhưng trong thực tế thị trường trong nướcthì chè xanh (chè tươi: Người dân sử dụng lá bánh tẻ và cành ngon để uống tươi) cũngđang là thức uống được nhiều bộ phận dân cư ưa chuộng đặc biệt từ Bắc miền Trung trở

ra Hà Nội Năm 1972 diện tích vùng chè xanh là 8.098 ha, được trồng chủ yếu ở các tỉnhNghệ An (4.550 ha), Thanh Hóa (1.427 ha) (theo nông thôn ngày nay) Những năm gầnđây một số vườn chè tươi đã chuyển sang hái búp, còn một số vùng đất đặc biệt vẫn trồngchè xanh Hàng ngày người dân vẫn tiêu thụ hàng ngàn bó chè xanh và người dân trồngchè xanh cũng thu về một khoản khá lớn không kém cạnh chè hái búp

1.1.2.2 Tình hình sản xuất chè ở xã Cao Sơn

Cao Sơn là một xã miền núi của huyện Anh Sơn, diện tích đất tự nhiên của xã có2611,76 ha và chủ yếu là đất đồi núi Từ bao đời nay người dân ở đây đã trồng chè xanh

để phục vụ nhu cầu thức uống cho gia đình và bán ra thị trường Trong nhiều năm gần đây

xã cũng đã nhận những đề nghị về việc chuyển đổi trồng chè xanh sang chè hái búp củaTổng đội 1 Thanh niên xung phong Xã đã trồng thử nghiệm một số diện tích nhưngkhông hiệu quả bằng cây chè xanh vốn đã rất quen thuộc với địa phương Tuy là cùngtrồng chè xanh, cùng giống chè nhưng chỉ có ở địa phương này mới có được chất chè nhưthế Người dân trong xã hầu như đều trồng chè Ngoài phần thu nhập từ chăn nuôi, trồnglúa thì chè là nguồn thu chủ yếu của mỗi gia đình Có thể nói họ sống là nhờ cây chè Chè

Trang 16

xanh của xã đã đi vào lòng người với một cái tên là Chè Gay Người hay uống chè xanhrất thích chè Gay, dù phải trả giá cao hơn chè xanh nơi khác họ cũng sẵn sàng Vì chèGay có vị rất riêng mà các loại chè khác không có được.

Cây chè xanh có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của nhân dântrong xã nên trong những năm qua diện tích trồng chè không ngừng được mở rộng Hàngnăm có khoảng 20 – 30 ha chè được trồng mới Tổng diện tích chè xanh năm 2009 là 383

ha tương đối đều trên toàn xã

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về diện tích và sản lượng, năng suất trên địa bàn xã trong 3

Trang 17

có thể cho thu hoạch là chè trồng mới ở năm 2006 Năm 2009 diện tích tăng thêm 20ha(5,51%) nhưng diện tích cho thu hoạch tăng thêm 30 ha 30 ha này cũng đang trong thờigian thu bói Trong năm 2007 – 2008 diện tích cho thu hoạch tăng 18 ha nhưng sản lượngtăng 1260 nghìn bó (25,93%) (1 bó = 1,5 kg), trong khi đó năm 2008 – 2009 diện tích chothu hoạch tăng 30ha nhưng sản lượng lại chỉ tăng 1080 nghìn bó (17,65%) Sở dĩ như vậy

vì trong năm 2008 thời tiết khá thuận lợi, chè con phát triển tốt thu hoạch bói rất dễ, vàcây đã trưởng thành đâm nhiều cành Còn năm 2009 thời tiết không thuận lợi, trời nắng,nhiệt độ quá cao, lượng mưa ít nên cây chè con không được tốt, thu hoạch cũng khó khăn,chủ yếu là trên diện tích chè trưởng thành Nhìn vào bảng ta cũng thấy năng suất chè trên1ha cũng không ngừng tăng, tuy tỷ lệ tăng giai đoạn 2008 – 2009 giảm so với 2007 –2008

Để tăng năng suất cho cây chè, tăng lượng sản phẩm trên địa bàn thì mỗi nămUBND xã đều thực hiện dự án “mở rộng diện tích chè, đầu tư chăm sóc, tấp tủ chè” Bêncạnh đó xã cũng đang cố gắng xây dựng thương hiệu chè Gay Để chè Gay đến với ngườitiêu dùng ngày một nhiều hơn và không bị nhầm lẫn với các loại chè xanh nơi khác

1.2 CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN CHÈ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Các chính sách và chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước

- Chỉ thị số 29: Ban hành ngày 31/11/1983 của BBT trung ương Đảng và chỉ thị 56

CT/TW ngày 29/01/1985 về việc giao khoán đất, giao rừng cho hộ nông dân, gắn quyềnhạn, trách nhiệm và lợi ích vật chất để khuyến khích nhân dân trồng rừng trên đất trống,đồi trọc, nhân dân được thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày.Đối với vùng núi cao không nhất thiết phải tổ chức HTX mà phát triển kinh tế hộ và thànhlập quan hệ Nhà nước theo đơn vị bản, buôn, HTX, thực hiện cơ chế khoán gọn cho xãviên

- Chỉ thị số 35 CT/TW: Ngày 08/01/1984 của BBT trung ương Đảng về khuyến

khích phát triển kinh tế hộ gia đình, cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọinguồn đất đai mà HTX và lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất Nhà nước

Trang 18

không đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình xãviên được chính thức thừa nhận là một bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa vàđược tạo mọi điều kiện phát triển.

- Nghị quyết 10: Ban hành ngày 05/04/1988 của BCH Trung ương Đảng với nội

dung chủ yếu là khoán hộ, đã xác định hộ nông dân được quyền tự chủ ruộng đất lâu dài

và làm chủ thêm nhiều tư liệu sản xuất Phần lớn các phương tiện sản xuất được giao cho

hộ nông dân và họ tự do sử dụng chúng theo mong muốn Đất đai vẫn thuộc quyền sở hữucủa nhà nước và có thể chia lại sau một thời gian nhất định

- Luật đất đai: Ra ngày 22/07/1993 và được sửa đổi vào ngày 02/12/1998 chính

thức được ban hành, nhằm khuyến khích mọi cá nhân tổ chức sử dụng đất đai vào sản xuấtnông lâm nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình, xác định quyền lợi và trách nhiệm của mọi

tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng và bảo vệ đất đai, khai thác hợp lý và sử dụng có hiệuquả tiềm năng của đất góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội

+ Luật đất đai quy định: “Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc các

thành phần kinh tế sử dụng đất đai vào sản xuất nông – lâm nghiệp ở những vùng cònnhiều đất đai chưa được sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả Được thêu mướn lao động,miễn giảm thuế”

+ Luật đất đai nhấn mạnh: “Nhà nước có chính sách khuyến khích và bảo vệ lợi

ích của mọi tổ chức, cá nhân thâm canh tăng năng suất cây trồng trên đất vườn, đất trốngđồi núi trọc”

Luật đất đai còn chấp nhận quyền thừa kế, quyền chuyển nhượng, thế chấp,…một cáchhợp pháp trên đất được giao

- Nghị định 02/CP: Ra ngày 15/01/1994 và sửa đổi thành nghị định số

163/1999/NĐ-CP ban hành văn bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, cánhân, hộ gia đình sủ dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Chỉ thị 01/CP: Ra ngày 14/01/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích

sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước

Trang 19

- Nghị định 13 của chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến nông,

khuyền lâm nhằm giúp họ nông dân mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất nông,lâm nghiệp từ đó phát triển kinh tế xã hội

- Để công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể này bỏ vốn, sức lao

động và kỹ thuật vào phát triển nông lâm nghiệp Nghị định 170 HĐBT đã tạo điều kiện

cho các thành phần kinh tế này phát triển trong mọi lĩnh vực như: Trồng rừng sản xuất,chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ Thông qua đó có thể mở rộng quy mô sản xuất,kinh doanh phù hợp với khả năng sẵn có của mình

- Ở nước ta diện tích đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước còn chưađược sử dụng một cách triệt để và hiệu quả Nhất là đối với diện tích đất trống đồi núi trọccần được phủ xanh còn lớn Nếu chỉ một mình Nhà nước thì không thể phủ xanh và nếu cócũng không mang lại hiệu quả cao, do đó để trồng, chăm sóc và bảo vệ tốt diện tích này

cần phải hợp tá với lực lượng hộ gia đình làm mũi nhọn Đứng trước tình hình đó nghị

quyết 327 HĐBT ra ngày 15/09/1993 đã đề ra: “Lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy

đơn vị quốc doanh làm đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa xây dựng kinh tế vườn đối với

hộ gia đình” Ngoài ra quyết định còn đưa ra chính sách khuyến khích “Giành 60% tổng

số vốn đầu tư để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cơ sở khoa học kỹ thuật, 40% còn lại cho hộ giađình vay theo nguyên tắc không lấy lãi, việc hoàn trả vốn ban đầu được thực hiện khi cósản phẩm, thời gian hoàn trả vốn thích hợp với mỗi loại cây con”

- Quyết định 72 HĐBT ra ngày 13/03/1990 về một số chủ chương chính sách cụ

thể để phát triển kinh tế xã hội miền núi Quyết định đề cập đến vấn đề giao đất, giao rừngcho các hộ gia đình, có quyền tự chủ kinh doanh bằng nhiều hình thức phù hợp với điềukiện cụ thể cho từng vùng

Thực tế cho thấy các chính sách của Đảng và nhà nước đã tạo cho nông thôn miềnnúi nói chung và các hộ gia đình miền núi nói riêng rất nhiều thuận lợi trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội của khu vực này, cụ thể như:

+ Quy hoạch đất đai từ đó giao đất khoán rừng cho người dân, tạo cho họ có nguồnthu nhập từ rừng

Trang 20

+ Việc đưa các chính sách vào áp dụng thực tế đã từng bước cải thiện được cơ sở

hạ tầng nông thôn như điện, đường, trường, trạm, chợ Nhìn chung các hệ thống này đã cơbản hoàn thiện, tuy nhiên ở một số vùng sâu và xa do điều kiện địa hình và kinh phí vẫncòn hạn hẹp nên vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của người dân, đặc biệt là đườnggiao thông

+ Giao đất giao rừng cho người dân tức là giao quyền làm chủ của những mảnh đấtcho họ, chính người dân là người chủ thực sự trên mảnh đất đó, họ tự do sản xuất, tự doquyết định tiêu thụ sản phẩm cuối cùng của mình

+ Nhà nước thông qua các dự án đã hỗ trợ nguồn vốn cho người dân để họ có vốnsản xuất với hình thức vay không lấy lãi hoặc vây với lãi suất thấp như các dự án 327,

747, v.v

Trang 21

CHƯƠNG II KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÂY CHÈ XANH TRÊN

ĐỊA BÀN XÃ CAO SƠN

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Cao Sơn là một xã nằm ở phía Tây Nam huyện Anh Sơn, phía Nam giáp xã LĩnhSơn – Anh Sơn, phía Tây giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc giáp xã Long Sơn, phíaĐông giáp xã Khai Sơn Là một xã miền núi, phần lớn diện tích là đồi núi, là điều kiệnthuận lợi phát triển nông – lâm nghiệp

Xã Cao Sơn cách thành phố Vinh 80 km, cách thị trấn Diễn Châu 40km về phía Nam,cách quốc lộ 7A 3 km, được nối với đường nhựa rộng rãi, bênh cạnh đó có đường mòn

Hồ Chí Minh chạy qua nên rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế của địa phương, nhất

là việc giao lưu buôn bán

Vì là miền đồi núi nên có rất nhiều thung lũng có thể trồng lúa, phát triển mô hìnhtrang trại chăn nuôi và trồng cây công nghiệp lâu năm có hiệu quả

2.1.1.2 Địa hình

Địa hình của xã Cao Sơn tương đối phức tạp, đất đai tương đối dốc, độ dốc trungbình từ 300 – 450, phía Bắc của xã chủ yếu là núi, độ cao bình quân là 500m, có nhiều nơilên đến 1000 m Địa hình như vậy nên phần lớn diện tích trong xã là đất đồi núi, chỉ cóthể phát triển nghề rừng, hay trồng các loại cây công nghiệp Nhưng nhìn chung việc lưuthông không gặp khó khăn bởi những thung lũng nối liền nhau tạo thành những vùngthấp, rất dễ đi lại Địa hình của xã cũng bị chẻ đôi từ đầu xã tới cuỗi xã bởi một khe suốivừa Và hàng năm ở 2 bên của con khe lại có thêm những khoảnh đất có thể trồng hoamàu

2.1.1.3 Thời tiết khí hậu

Trang 22

Vì nằm trong vùng Bắc Trung Bộ nên nơi đây vừa chịu ảnh hưởng của khí hậuvùng Bắc Bộ (lạnh vào mùa Đông), vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu miền Trung (mưanhiều vào tháng 7 – 8) Thêm vào đó là khí hậu riêng của miền Tây Nghệ An nắng nónggay gắt và chịu ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 8, ảnhhưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, đối với cây chè thì gây nên hiện tượng vàng,cháy lá.

Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từtháng 11 đến tháng 3 năm sau Mùa mưa thường gây ra lũ lụt vào tháng 7 – 8, hàng năm

có tới 3 – 4 lần lụt ảnh hưởng tới trồng trọt và trở ngại trong lưu thông buôn bán Vàotháng 4 – 5 – 6 thời tiết khắc nghiệt, khô nóng, thường bị hạn hán ảnh hưởng không nhỏđến sinh hoạt hàng ngày cũng như sản xuất của nhân dân Nhiệt độ trung bình hằng năm23,30C, độ ẩm 86% Lượng mưa khoảng 1.520mm/năm, số giờ nắng bình quân khoảng1.578 giờ/năm Vào mùa khô xuất hiện giá rét vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau Có lúcnhiệt độ xuống 70C rất hại cho mùa màng và cây cối

Nhìn chung khí hậu nơi đây gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệpnhưng đối với cây chè thì khả năng chống chọi với thời tiết rất tốt Cũng có thể nói chínhkhí hậu khá đặc biệt như thế góp phần tạo nên hương vị chè nơi đây

2.1.1.4 Thủy văn nguồn nước

Do nằm cách xa dòng sông Lam nên nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt của ngườidân nơi đây chủ yếu là nguồn nước ngầm Chất lượng nước ngầm rất tốt Còn nguồn nướcphục vụ cho sản xuất chủ yếu là từ khe suối, lượng mưa hàng tháng, và nước dự trữ từ các

hồ nhân tạo lẫn hồ tự nhiên

Nhìn chung nguồn nước trong xã đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt cũng như sản xuấtcủa bà con Tuy nhiên lượng mưa hàng năm gần đây có giảm xuống nên gây thiếu nướckhi mùa vụ đến, vì vậy chính quyền địa phương nên chủ động tìm biện pháp để ứng phóvới những bất trắc của tự nhiên, chẳng hạn đầu tư xây thêm những đập nước ở những nơi

có mạch nước ngầm nông, dễ dự trữ nước…

2.1.1.5 Thổ nhưỡng

Trang 23

Toàn xã có tổng diện tích là 2611,76 ha và có thể chia làm 3 nhóm đất chính: đấtphù sa, đất trồng lúa, và đất Feralit đồi núi.

+ Đất phù sa: chiếm phần nhỏ diện tích, được bồi đắp hàng năm ở dọc khe suối Đượcdùng để trồng hoa màu như: lạc, ngô, khoai, dưa hấu…

+ Đất trồng lúa chiếm 210,96 ha được phân bố ở các thung lũng, tương đối bằng phẳngnhưng manh mún

+ Đất Feralit vàng đỏ vùng đồi núi chiếm phần lớn diện tích Và chỉ 416,94 ha được đưavào sản xuất trồng cây công nghiệp lâu năm, còn phần lớn diện tích còn lại là đất có rừng

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã trong giai đoạn 2007 – 2009

Xã Cao Sơn thuộc huyện Anh Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 2611,96 ha Làmột xã có tốc độ phát triển khá nhanh trong huyện Để biết được thực trạng sử dụng đấtđai của xã trong 3 năm 2007, 2008, 2009 chúng ta xem bảng sau:

Trang 24

Bảng 2: Tình hình biến động đất đai của xã Cao Sơn trong 3 năm 2007 – 2009

Trang 25

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy đất đai có sự biến động qua 3 năm Trong đất nôngnghiệp thì đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm có biến động tăng, tuy nhiên

tỷ lệ tăng là rất nhỏ, còn đất trồng lúa và đất nuôi trồng thủy sản không thay đổi Năm

2008 so với 2006 đất trồng cây hàng năm tăng 0,44 ha tương đương 2,59%, đất trồng câylâu năm tăng 30 ha tương đương 7,2%, Năm 2009 có thay đổi một chút, đất trồng câyhằng năm tăng 0,63 ha tương đương 3.61%, cao hơn so với tốc độ tăng của năm 2008,nhưng đất trồng cây lâu năm tăng nhưng tăng ít hơn chỉ tăng 25,04 ha tương đương 5,6%.Còn riêng đối với đất lâm nghiệp thì giảm qua các năm, năm 2008 giảm 30 ha, và năm

2009 giảm tiếp 18,4 ha nữa Bảng số liệu trên cho ta thấy rằng xã đang chuyển dịch cơcấu đất, và trồng cây lâu năm và hàng năm có tiềm năng hơn cả Là một xã miền núi nêndiện tích đất lâm nghiệp chiếm diện tích khá lớn, và hàng năm đã có một phần diện tíchđược chuyển sang để trồng cây hàng năm, nhất là trồng cây lâu năm Năm 2006 diện tíchđất lâm nghiệp có 1609,3 ha đến năm 2009 còn 2560,9 ha và theo chiều hướng phát triểnhiện tại thì diện tích rừng còn bị thu hẹp Vì hiện nay cây công nghiệp lâu năm như câychè, cây keo,… đang có hiệu quả kinh tế cao và chủ trương của xã là xóa đất trống, đồitrọc, những khoảnh rừng không hiệu quả Như thế không có nghĩa là phát triển khôngbền vững mà những khu rừng phòng hộ đang được bảo vệ và phục hồi Ta cũng thấy diệntích trồng lúa và thủy sản không đổi vì hầu hết diện tích có thể dùng vào mục đích nàyđều đã được khai thác tối đa

2.1.2.2 Tình hình dân số và lao động của xã trong 3 năm 2007 – 2009

Dân số và lao động là một bộ phận hết sức quan trọng trong các hoạt động sản xuất– nó vừa là lực lưỡng lao động chủ động vừa là động lực thúc đẩy và cũng là đối tượnghướng đến của hoạt động sản xuất Đây là nhân tố quan trọng góp phần to lớn vào sựnghiệp phát triển kinh tế của mỗi địa phương mỗi quốc gia và cũng có thể kìm hãm sựphát triển Chất lượng và số lượng dân số, lao động là tiềm năng cho sự phát triển của lĩnhvực nông nghiệp khi mà hiện nay lực lượng lao động có trình độ cao của nước ta vẫn cònchiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, đặc biệt là trong nông nghiệp thì tỷ lệ này lại càng ít Do

đó việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là điều kiện cần thiết để đưa kinh tế địa

Trang 26

phương phát triển Và việc tìm hiểu về thực trạng dân số - lao động hiện nay để có những

đề xuất thích hợp là một điều không thể thiếu

Tình hình dân số và lao động của xã Cao Sơn qua 3 năm qua được thể hiện ở Bảng

3

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rằng:

+ Về số nhân khẩu: trong 3 năm số khẩu đều tăng lên, năm 2008 số khẩu trên toàn

xã là 4960 khẩu tăng 14 người (0,28%) so với năm 2007 Đến năm 2009 tổng số khẩu là

4978 khẩu tăng 18 người (0,38%) so với 2008 Ta cũng thấy bình quân nhân khẩu trên hộgiảm đi nhưng vẫn nằm ở một tỷ lệ nhỏ, năm 2007 là 4,27 NK/hộ, đến 2009 giảm còn4,25 NK/hộ

+ Về số hộ: tính đến ngày tổng điều tra dân số 1/4/2009 thì toàn xã có 1171 hộ với

4978 khẩu tăng lên 8 hộ so với năm 2007 (0,69%) Trong đó có 1008 hộ nông nghiệp tăng

8 hộ so với năm 2007 trong khi đó có 2145 lao động hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp giảm 168 lao động so với năm 2007 Thêm vào đó là bình quân lao động nôngnghiệp giảm đi qua 3 năm, năm 2007 có 2 NKNN/hộ và đến 2009 thì chỉ còn 1,83NKNN/hộ Số khẩu nông nghiệp tăng lên nhưng số lao động nông nghiệp lại giảm đi,điều này cho thấy đã có sự thay đổi nghề nghiệp trong nông thôn Năm 2009 có 136 hộphi nông nghiệp tăng 5 hộ so với năm 2007 và có 536 lao động hoạt động trong lĩnh vựcnày tăng 175 người Đến đây ta thấy rõ rằng số người thoát ly ra khỏi nông nghiệp ngàycàng nhiều, trong nông thôn đã không đơn thuần là sản xuất nông nghiệp nữa mà ngườidân đã đa dạng hóa ngành nghề làm cho nông thôn có diện mạo mới

Trang 28

Nhìn chung thì kết cấu lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp trong toàn xãchưa tốt, số hộ nông nghiệp cũng như lao động trong nông nghiệp vẫn còn khá cao, tuy sốlao động trong nông nghiệp đã có xu hướng giảm nhưng tốc độ còn chậm Để đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì cần có sự chuyển dịch hơn nữa, cónhư thế thì chúng ta mới có đội ngũ lao động có trình độ cao trong nông nghiệp và ngườilao động có tác phong công nghiệp.

2.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng và trang bị vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp

2.1.2.3.1 Cơ sở hạ tầng

Xây dựng cơ sở hạ tầng là một nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệphóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, vừa phục vụ cho sản xuất vừa phục vụ chosinh hoạt của cộng đồng dân cư, khiến cho bộ mặt nông thôn thêm khởi sắc

Về giao thông: giao thông là điều kiện quan trọng nhất cho quá trình hội nhập vàphát triển kinh tế toàn xã Quốc lộ 7 và đường mòn Hồ Chí Minh là hai huyết mạch giaothông chính của xã, thêm vào đó là hệ thống đường nhựa Nhân Tài – Trà Giang, đượcnâng cấp và hoàn thiện đáp ứng nhu cầu đi lại và lưu thông buôn bán

Đường giao thông nông thôn trên toàn xã dài 20km, trong đó đường nhựa là 8km,5km đang đổ nhựa, còn lại là đường đất Trong những năm tiếp theo xã đang đầu tư hoànthành xong hệ thống đường nhựa liên xã với số vốn đầu tư hơn 4 tỷ đồng Cho nên hiệnnay một số đoạn đường vẫn nằm trong giai đoạn thi công, gây khó khăn trong việc đi lại

Về hệ thống điện: đến thời điểm hiện tại thì 100% số hộ trên địa bàn xã đã sử dụngđiện Hệ thống mạng lưới điện được xây dựng trên toàn xã, có 4 trạm hạ thế công suất1000KVA, đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tỷ lệ dùng điện của các hộ

là 100% Trong năm vừa qua xã đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa đường dây điện đảm bảo antoàn

Về thủy lợi: là một xã hoạt động nông nghiệp là chủ yếu nên trong những nămtrước với sự trợ giúp của chính phủ cùng với sự đóng góp của nhân dân toàn xã đã xâydựng được hệ thống kênh mương với tổng chiều dài hơn 10km Toàn xã có 1 trạm bơmchính và những trạm bơm nhỏ rải rác khắp các xóm Góp phần ổn định trong sản xuất

Trang 29

+ Trạm y tế: trạm y tế được xây dựng cách đây 25 năm, nay đã được chỉnh trang,

tu sửa đáp ứng một số nhu cầu về khám và chữa bệnh

Sau đây là bảng số liệu thể hiện chung nhất về tình hình cơ sở hạ tầng của xã CaoSơn trong năm 2009

Bảng 4: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã trong năm 2009

Trang 30

Trang thiết bị sản xuất hiện đại sẽ giải phóng sức lao động của nông dân để họ cóthể tham gia vào các hoạt động sản xuất khác nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện cuộcsống.

Hiện nay việc sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã đã được trang bị máy móc.Toàn xã có 3 máy cày, 150 cày tay, 50 máy tuốt, máy bơm 10 chiếc… Trong việc làm đấttrồng cây lâu năm như cây chè thì người dân thuê máy múc và sử dụng cày tay, do đất đồinúi nên rất khó áp dụng máy móc vào sản xuất Thế nên người dân ở đây chỉ áp dụngtrình độ kỹ thuật vào chăn nuôi và trồng lúa, hoa màu ở những vùng đất bằng phẳng, cònlại trong trồng cây lâu năm, và những vùng đất dốc chỉ dùng dụng cụ thô sơ

2.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHÈ CỦA CÁC NÔNG HỘ ĐIỀU TRA

2.2.1 Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động của các nông hộ điều tra

Nhân khẩu và lao động là yếu tố quan trọng liên quan đến nguồn lực cho quá trìnhsản xuất kinh doanh của các hộ gia đình Trong sản xuất nông nghiệp thì lao động đóngmột vai trò không thể thiếu

Qua điều tra 50 hộ rải đều trên toàn xã tôi nhận thấy rằng các nông hộ có nhữngđiều kiện rất tốt để phát triển nông nghiệp nói chung và trồng chè nói riêng Trước hết tacần biết những thông tin chung của các nông hộ, chúng được thể hiện ở bảng 5 trang sau

Với đặc điểm của ngành nông nghiệp thì chủ hộ đóng vai trò rất quan trọng và gầnnhư quyết định trong sản xuất của hộ, bởi vì lựa chọn cây, con để sản xuất phụ thuộc rấtlớn vào chủ hộ Chính vì vậy kinh nghiệm của chủ hộ không thể đề cập đến Từ bảng 4 tathấy rằng độ tuổi bình quân của các chủ hộ là 46,7 trong tổng các hộ điều tra Con số nàycho ta thấy tuổi của chủ hộ thuộc độ tuổi trung niên nhưng chưa phải là già, ở độ tuổi nàykinh nghiệm sản xuất đã được tích lũy qua nhiều năm nên rất thuận lợi Mặt khác đây là

độ tuổi còn sung sức còn có những quyết định táo bạo và chín chắn trong đầu tư sản xuấtnhư việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất hay tiến hành mở rộng quy mô,thay đổi mô hình sản xuất họ sẵn sang chấp nhận rủi ro để cải thiện cuộc sống

Bảng 5: Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động của các nông hộ điều tra

(Tính bình quân/hộ)

Trang 31

Chỉ tiêu ĐVT Tổng/ BQC

3 Trình độ văn hóa bình quân chủ hộ Lớp 7,84

(Nguồn: số liệu điều tra hộ năm 2009)

Bên cạnh đó yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các hộ làtrình độ văn hóa Nếu có trình độ văn hóa cao thì khả năng nhận thức và khả năng tiếpnhận thông tin nhanh hơn, dễ dàng hơn Bảng số liệu cho thấy trình độ văn hóa bình quâncủa chủ hộ và 7,84 Con số này cho thấy trình độ văn hóa của các chủ hộ ở mức trungbình Cho nên việc tiếp thu kỹ thuật cũng không khó khăn, có thể tiếp cận với kỹ thuậthiện đại Tuy nhiên đó là trong sản xuất nông nghiệp, còn trong trồng chè lại khác, hiệntại việc trồng chè xanh chỉ có thể áp dụng một phần rất ít kỹ thuật tiên tiến, bởi điều kiệnkhách quan không cho phép

Xu hướng chính trên thế giới hiện nay là giảm dần lực lượng lao động tham gia laođộng trực tiếp, áp dụng nhiều hơn khoa học kỹ thuật, nhất là việc áp dụng cơ giới hóa,

Trang 32

giảm lao động chân tay, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất Nhưng nhìn chung ở nước

ta việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất vẫn còn thấp cho nên lao động vẫn còn đóng mộtvai trò quan trọng Trên địa bàn nghiên cứu cũng vậy, nhưng lao động bình quân trên hộchỉ là 2,4 người/hộ và lao động nông nghiệp là 1,8 người/hộ Con số này đã giảm so vớinhững năm trước và tương đối thấp, nó thể hiện lao động trong nông thôn đã có sựchuyển dịch, nhất là lao động trẻ họ đã tham gia vào những ngành nghề khác hoặc đi làmthuê ở thành phố Nếu tình hình tiếp diễn thì trong tương lai nông nghiệp có thể bị thiếuhụt Vì thế chính quyền địa phương nên quan tâm hơn nữa đến việc hạn chế di chuyểnnguồn lao động, để giúp cho ngành nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững

2.2.2 Tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ điều tra

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được trong sản xuất nôngnghiệp Trong trồng trọt nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động Như vậy đấtđai có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Bảng sốliệu sau cho biết tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ được điều tra

Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ điều tra năm 2009

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2009)

Nhìn vào bảng 6 ta thấy rằng diện tích trồng chè xanh là 31,35 ha chiếm 45,65%tổng diện tích điều tra, đây là một con số không nhỏ, lớn hơn cả diện tích sản xuất nôngnghiệp và lâm nghiệp Điều này cho thấy cây chè là cây trồng chính trong hoạt động nông

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về diện tích và sản lượng, năng suất trên địa bàn xã trong 3 năm qua (2006 – 2009) - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về diện tích và sản lượng, năng suất trên địa bàn xã trong 3 năm qua (2006 – 2009) (Trang 16)
Bảng 2: Tình hình biến động đất đai của xã Cao Sơn trong 3 năm 2007 – 2009 - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 2 Tình hình biến động đất đai của xã Cao Sơn trong 3 năm 2007 – 2009 (Trang 24)
Bảng 4: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã trong năm 2009 - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 4 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã trong năm 2009 (Trang 30)
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ điều tra năm 2009 - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 6 Tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ điều tra năm 2009 (Trang 33)
Bảng 8: Năm bắt đầu trồng chè của các nông hộ - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 8 Năm bắt đầu trồng chè của các nông hộ (Trang 35)
Bảng 9: Chi phí đầu tư trồng mới và bình quân các năm kiến thiết - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 9 Chi phí đầu tư trồng mới và bình quân các năm kiến thiết (Trang 37)
Bảng 13: Ảnh hưởng của quy mô diện tích đến kết quả và hiệu quả kinh tế - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 13 Ảnh hưởng của quy mô diện tích đến kết quả và hiệu quả kinh tế (Trang 46)
Bảng 15: Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất chè xanh Các biến và chỉ tiêu Hệ số hồi quy T - Statistic Prob. - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 15 Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất chè xanh Các biến và chỉ tiêu Hệ số hồi quy T - Statistic Prob (Trang 49)
Bảng 16: Phương án bố trí quy hoạch phát triển cây chè công nghiệp giai đoạn 2010 – 2015 và 2020 của tỉnh Nghệ An - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 16 Phương án bố trí quy hoạch phát triển cây chè công nghiệp giai đoạn 2010 – 2015 và 2020 của tỉnh Nghệ An (Trang 56)
Bảng tính thời gian hoàn vốn - Khóa luận hiệu quả kinh tế của cây chè xanh đối với các nông hộ trên địa bàn xã cao sơn, huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng t ính thời gian hoàn vốn (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w