luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết lúa gạo là một trong những cây lương thực quan trọng trên thế giới, điều này có thể thấy được qua sự phổ biến của nó trên khắp các châu lục hiện nay Nguyên nhân chính giải thích cho sự phổ biến đó là khả năng thích ứng của nó với nhiều điều kiện khí hậu sinh thái khác nhau như: Nhiệt đới, ôn đới, vùng cao khô, vùng thấp có nước…
Diện tích lúa trên thế giới hiện nay khoảng 140 triệu ha tập trung chủ yếu
ở Châu Á (chiếm 90% tổng diện tích) và tổng sản lượng lúa đạt khoảng 344 triệu tấn, chỉ đứng sau lúa mì (355 triệu tấn trên diện tích 210 triệu ha) nhưng năng suất lúa trung bình (25 tạ/ha) cao hơn lúa mì (20 tạ/ha) và nhiều cây lương thực khác
Lúa là nguồn lương thực chính cho hơn 3 tỷ người trên thế giới Chỉ riêng tại châu Á có khoảng hơn 2 tỷ người tiêu dùng lúa gạo và các phế phẩm từ lúa gạo để bổ sung 70% nguồn năng lượng hàng ngày
Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời và có nền văn minh lúa nước Cùng với sự đa dạng về khí hậu, tài nguyên, tập quán canh tác, nguồn gen quý và văn hoá, Việt Nam còn có sự đa dạng về cơ cấu giống cây trồng địa phương, đặc biệt là giống lúa địa phương cổ truyền
Nam Định là một trong những tỉnh sản xuất lúa lớn nhất của vùng Đồng bằng Sông Hồng và là tỉnh có truyền thống lâu đời về sản xuất lúa chất lượng cao như Tám ấp bẹ Xuân Đài, Tám nghển, Tám tiêu…đặc biệt là lúa Tám xoan đặc sản địa phương Cũng như các tỉnh khác ở Đồng bằng Sông Hồng, trong thập kỷ 90 do sức ép
về dân số, nông dân tỉnh Nam Định nói chung và huyện Hải Hậu nói riêng đã chuyển phần lớn diện tích đất sản xuất lúa Tám sang sản xuất lúa cao sản như lúa lai, lúa thuần nhập khẩu từ Trung Quốc Tuy nhiên, các giống lúa mới như lúa lai 2 dòng, 3 dòng, các giống lúa thuần nhập nội thường có năng suất cao nhưng chất lượng không cao Do vậy, giá bán sản phẩm thấp trong khi chi phí sản xuất cao và đặc biệt không được người tiêu dùng ưa chuộng nhất là tại các thành phố lớn và rất khó xuất khẩu
Trang 2Vì vậy, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, khoa học
kỹ thuật, nhu cầu về năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao, nhiều hộ nông dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã sử dụng diện tích của mình để sản xuất các giống lúa cao sản, giống lúa thơm có năng suất, chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường
Trong lịch sử, lúa Tám được trồng khá phổ biến ở Đồng bằng Sông Hồng trong
vụ mùa Diện tích lúa Tám giai đoạn trước cải cách chiếm đến 22% diện tích gieo cấy Tập đoàn giống lúa Tám khá đa dạng, có trên 20 giống khác nhau (Bùi Huy Đáp, 1957) nhưng chỉ có 2 giống là Tám thơm và Tám xoan đặc sản là được ưa chuộng hơn cả vì cơm của hai loại này có mùi và vị khá đặc biệt Tuy nhiên đây là những giống khó tính đặc biệt là lúa Tám xoan đặc sản Với thời gian sinh trưởng trung bình dài đến 160 ngày, cây cao dễ đổ, điều kiện canh tác lúa Tám xoan đặc sản lại đòi hỏi đất tốt, PH từ chua nhẹ đến trung tính Tám xoan đặc sản là giống khó chuyển vùng, chất lượng gạo ngon nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố canh tác khác nhau như đất đai, quá trình kỹ thuật canh tác, bảo quản
và chế biến
Huyện Hải Hậu là một trong số ít địa phương ở Đồng bằng Sông Hồng có điều kiện
để phát triển giống lúa Tám xoan đặc sản này, việc sản xuất lúa Tám xoan đặc sản đã trở thành nét đặc trưng mang tính truyền thống về văn hoá, tinh thần của người dân huyện Hải Hậu Từ vài thập kỷ nay, gạo Tám xoan đặc sản – Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân trong cả nước Vài năm gần đây, chất lượng gạo Tám xoan đặc sản Hải Hậu đã giảm, trên thị trường có sự lẫn lộn và pha trộn, người nông dân không quan tâm đến nâng cao chất lượng gạo, sản xuất không có tổ chức Do vậy nguy cơ biến mất giống lúa Tám xoan đặc sản – Hải Hậu sẽ không xa nếu chúng ta không có sự khôi phục sản phẩm này Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lúa Tám xoan đặc sản cổ truyền địa phương nhưng chủ yếu tập trung vào những yếu tố kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lúa Tám xoan
Trang 3Để trả lời câu hỏi về thực trạng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu diễn ra như thế nào? Tại sao diện tích, chất lượng, năng suất lại suy giảm qua các năm? Giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa Tám xoan đặc sản trong giai đoạn hiện nay Tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” để làm khoá luận tốt nghiệp đại học.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của đề tài là đánh giá thực trạng và tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trường, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
và sinh thái tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất lúa gạo nói chung và lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu nói riêng Phân tích thực trạng tình hình sản xuất
và đánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa Tám Xoan đặc sản Đánh giá tiềm năng sản xuất giống lúa Tám Xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu Cụ thể sẽ tập trung điều tra ở 2 nhóm hộ sản xuất lúa Tám Xoan đặc sản và nhóm hộ sản xuất lúa thường ở một số vùng trên địa bàn huyện
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trên phạm vi huyện Hải Hậu chúng tôi chia thành 2 vùng để tiến hành nghiên cứu Vùng 1 (vùng đất cao) chọn xã Hải Trung Đây là vùng đất có tính chất ít chua, độ mùn thấp, lân nghèo, thành phần cơ giới nhẹ, độ dày canh tác trong vùng từ 15cm – 25cm Vùng 2 (vùng đất vàn) chọn xã Hải Toàn Đây là vùng đất có độ cao từ 0,5m – 0,7m so với mặt nước biển, độ PH của đất thấp (PH = 5,5 – 6,0), đất này giàu chất dinh dưỡng,
độ mùn khá, tầng canh tác dày tới 70cm, với thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt đến thịt nặng
Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng và tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vụ mùa năm 2009 Đề ra định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất lúa Tám xoan đặc sản trong thời gian tới
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Phương pháp phân tổ thống kê
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1.Tiềm năng và khai thác tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1 Lý thuyết về tiềm năng
Thuật ngữ tiềm năng được sử dụng rất rộng rãi, tiềm năng có thể hiểu là những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người
Tiềm năng kinh tế: Là toàn bộ các nguồn lực (vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn, thị trường trong và ngoài nước…) chưa được khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định
Như vậy tiềm năng kinh tế có thể tồn tại dưới 2 dạng, dạng chưa đánh thức (tiềm năng “tĩnh”), dạng chưa khai thác hết và khai thác chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn (tiềm năng “động”)
Tiềm năng kinh tế không phải là bất biến, mà thay đổi theo không gian và thời gian Tiềm năng kinh tế có thể do nội tại hoặc cũng có thể nảy sinh khi có sự tác động của các yếu tố mới từ bên ngoài
- Tiềm năng nội sinh được hiểu là tiềm năng nội tại, sẵn có hoặc là những yếu
tố nội lực ẩn chứa bên trong các nguồn lực như vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, vốn, thị trường chưa phát huy được một cách đầy đủ kể cả mặt lượng và mặt chất Do đó, phát huy yếu tố nội lực là
cơ bản, quyết định Tuy nhiên, nếu có sự hỗ trợ của các yếu tố bên ngoài thì hiệu quả của các yếu tố nội lực sẽ được nâng lên
- Tiềm năng ngoại sinh là những tiềm năng kinh tế mới xuất hiện khi có sự tác động về sự thay đổi của các yếu tố bên ngoài Tiềm năng ngoại sinh thường rất nhạy cảm và được tận dụng khai thác một cách triệt để khi xuất hiện
Trang 6Những tiềm năng mới nảy sinh hầu như được đưa lại do những tác động của chủ quan con người thông qua việc triển khai thực hiện chính sách kinh tế như chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, phát triển trung tâm đô thị, khu công nghiệp và các dự án phát triển kinh tế - xã hội khác Do đó, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới mà con người phải tìm cách khai thác những lợi thế mới xuất hiện như khả năng về thương mại, dịch vụ, thị trường, mức độ thu hút lao động và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.
Có thể nói, tiềm năng nội sinh hay ngoại sinh cũng chỉ mang tính chất tương đối
về mặt thời gian, đến một lúc nào đó các tiềm năng ngoại sinh cũng sẽ trở thành tiềm năng nội sinh
Tiềm năng kinh tế cũng là sự thể hiện lợi thế của mỗi vùng, mỗi quốc gia Tiềm năng và lợi thế luôn nảy sinh, xuất hiện cùng với quá trình phát triển kinh tế
Tóm lại, tiềm năng kinh tế có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và
xã hội của một lãnh thổ nhất định Khai thác tiềm năng phát triển kinh tế là việc làm thường xuyên và là vấn đề hết sức quan trọng nhằm sử dụng một cách triệt để các nguồn lực cho phát triển kinh tế Để các tiềm năng kinh tế biến thành hiện thực, trở thành sản phẩm hàng hoá, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương cần phải biết lựa chọn, biết phát huy, khơi dậy tiềm năng bằng những chính sách và biện pháp thích hợp Các chính sách của Chính phủ cũng do con người đặt ra theo ý chủ quan trên cơ sở phân tích khoa học và khách quan tuân theo các quy luật của tự nhiên – xã hội, quan trọng là biết vận dụng nó và những điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi nước trong từng giai đoạn phát triển
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi chỉ đề cập đến khái niệm “tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản” để đánh giá khả năng phát triển sản xuất lúa Tám xoan đặc sản của huyện Hải Hậu
Tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan đặc sản là toàn bộ các nguồn lực và lợi thế (nguồn lực đất đai, khả năng thị trường, tiềm năng năng suất, kinh nghiệm sản xuất, lao động, vốn, vị trí địa lý, đường lối chính sách, tiềm năng năng suất, giá sản phẩm, tiềm năng thị trường…) chưa được khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả nhằm phục vụ cho việc
Trang 7phát triển sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu.
1.1.1.2 Khai thác tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp
Tiềm năng đất đai
Khi đề cập đến tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp, trước hết phải nói đến tiềm năng đất đai, vì đất đai là cơ sở, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Trong khi đó diện tích đất đai dùng cho sản xuất nông nghiệp thì có hạn và ngày càng giảm do sự phát triển của đô thị hoá, của các ngành công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng… Vì vậy việc
sử dụng đất đai hợp lý và đem lại hiệu quả thiết thực là một vấn đề luôn được quan tâm
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai thì cần đánh giá đặc điểm, thực trạng quy
mô diện tích, phân tích tình hình sử dụng đất đai, qua đó thấy được khả năng mở rộng sản xuất, đất đai được sử dụng một cách hợp lý và đầy đủ hay không, có thể nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nữa hay không, giúp cho việc bố trí giống cây trồng phù hợp, đồng thời đi đôi với việc khai thác là bảo vệ và cải tạo đất hợp lý trong quá trình sử dụng để đất không những không bị hao mòn mà còn nâng cao độ phì nhiêu của đất
Tiềm năng lao động
Cùng với đất đai, lao động có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, là yếu tố không thể thiếu được đối với bất kỳ ngành sản xuất nào Trong điều kiện nước ta, cơ giới hoá trong nông nghiệp chưa thực sự phát triển thì lao động ngày càng đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình sản xuất
Ở nước ta, lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% lực lượng lao động xã hội, trình
độ văn hoá ở một số vùng tương đối cao, do đó vấn đề đặt ra là phải khai thác triệt để nguồn lao động để tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng cao cho xã hội Hiện nay, đa số lao động ở nông thôn ra thành thị tìm kiếm công ăn việc làm vì diện tích đất nông nghiệp
bị thu hẹp do đô thị hoá, xây dựng nhà ở, khu công nghiệp…dẫn đến lao động ở nông thôn thiếu việc làm Do vậy, khai thác tiềm năng lao động trên cơ sở tạo công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng cây trồng, vật nuôi, phát triển những ngành nghề truyền thống, giảm hộ thuần nông, chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp trong đó coi trọng và tạo điều kiện cho công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển
Trang 8Cũng như các ngành kinh tế khác, việc khai thác tiềm năng lao động cần tính đến hiệu quả sử dụng lao động, so sánh hiệu quả khi lao động nông nghiệp có thể tham gia các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động.
Tiềm năng vốn, cơ sở hạ tầng
Vốn và cơ sở hạ tầng là điều kiện cho sản xuất phát triển Việc đầu tư vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển sản xuất
Trong sản xuất nông nghiệp, vốn chính là giá trị các yếu tố sản xuất, là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp thường có chu kỳ dài nên vốn thường bị ứ đọng lâu trong quá trình sản xuất, vòng quay vốn chậm, sử dụng vốn có tính thời vụ cao và gặp rủi ro lớn Khai thác tiềm năng vốn là việc huy động vốn một cách hợp lý để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất bao gồm: Hệ thống thuỷ lợi, giao thông, mạng lưới điện, thông tin… cũng cần được chú trọng đầu tư, khai thác hợp lý, nhằm phát huy lợi thế của vùng
Tiềm năng năng suất
Với việc các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, vốn, …có hạn thì việc tạo ra nhiều sản phẩm, chất lượng cao với chi phí thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quan trọng Một trong những yếu tố để nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất là nâng cao năng suất Đối với năng suất, có năng suất thực tế và năng suất lý thuyết Trong sản xuất nói chung và trong sản suất nông nghiệp mà trong đó
có sản xuất lúa nói riêng, việc đánh giá tiềm năng năng suất, đưa ra các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất là rất cần thiết
Tiềm năng thị trường
Trong cơ chế thị trường như hiện nay, việc đánh giá tiềm năng thị trường là rất quan trọng Thị trường là nơi quyết định sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu, giá
cả như thế nào, đó cũng là nơi cung cấp nhiều thông tin hết sức quan trọng cho cả người sản xuất và người tiêu dùng
Thị trường nông thôn không chỉ là nơi tiêu thụ những sản phẩm nông nghiệp mà
Trang 9còn là nơi trao đổi mua bán các yếu tố khác: Thị trường vật tư, thị trường lao động, thị trường vốn…Thị trường với các quy luật vốn có của nó luôn chứa đựng các khả năng tự phát và dẫn đến rủi ro cho người sản xuất do giá cả không ổn định nhất là trong thị trường nông sản (thị trường nông sản đa số là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và rất phức tạp)
Khai thác tiềm năng thị trường trong vùng đòi hỏi phải phân tích, đánh giá thị trường, phân tích nhu cầu hay khả năng tiêu thụ đối với từng loại sản phẩm, đồng thời phân tích khả năng cung ứng dựa vào nguồn lực sẵn có của địa phương, của vùng Qua đó cân đối cung cầu để xây dựng phương án sản xuất hợp lý
Tiềm năng kinh nghiệm sản xuất
Trong hoạt động đời sống và trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người đã đúc kết được nhiều quy luật tự nhiên như: Quy luật thời tiết, khí hậu, quy luật sinh trưởng
và phát triển của cây trồng, những kinh nghiệm trong sản xuất, chế biến tiêu thụ sản phẩm…Trong đó có cả những kinh nghiệm thành công hay thất bại Trải qua quá trình lịch
sử, những kinh nghiệm đó càng được nhiều thêm, nhờ những kinh nghiệm đó mà cây trồng
có năng suất và chất lượng cao hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác
Đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lúa nói riêng có đặc điểm
là chu kỳ sản xuất dài, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, do đó việc rút ra được quy luật mất rất nhiều thời gian Việc đúc kết kinh nghiệm và kết hợp những kinh nghiệm truyền thống với khoa học công nghệ tiên tiến càng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của cây trồng Vì vậy, việc đánh giá tiềm năng kinh nghiệm của con người trong việc phát triển sản xuất là rất cần thiết, nó quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Tiềm năng các yếu tố sinh thái ( nước, khí hậu, thời tiết)
Trong sản xuất nông nghiệp, các yếu tố sinh thái này có vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng sẽ phát triển nhanh, cho năng suất cao và ngược lại Mặt khác, tại các vùng có điều kiện sinh thái khác nhau thì trồng được những cây trồng khác nhau Vì vậy khai thác tiềm năng của vùng chính là phát huy lợi thế của vùng
Tóm lại, việc đánh giá tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp chính là việc
Trang 10đánh giá, phân tích nhằm khai thác tiềm năng đất đai, năng suất, kinh nghiệm sản xuất…Các tiềm năng và nguồn lực sản xuất trên có quan hệ mật thiết với nhau Việc đánh giá tiềm năng và đưa ra các quyết định lựa chọn: Sản xuất cái gì, quy mô thế nào, sản xuất cho ai, cần phải đánh giá tiềm năng sản xuất dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả xã hội từ đó đưa ra các chính sách, quyết định, giải pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
1.1.2 Khái niệm và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường đầy năng động như hiện nay thì vấn đề hiệu quả kinh
tế luôn được đặt lên hàng đầu nếu người sản xuất hay doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường Điều đó càng có ý nghĩa sống còn trong thời kỳ bùng nổ của toàn cầu hoá cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO bới tính cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh ngày càng khốc liệt Do đó, vấn đề hiệu quả kinh tế hay hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của mỗi nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội
Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là thước đo chất lượng của hoạt động sản xuất – kinh doanh, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất, trình độ sử dụng các nguồn nhân tài vật lực và là vấn đề sống còn đối với tất cả các doanh nghiệp Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước” Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định” Còn theo tác giả Hồ Vĩnh Đào thì: “Hiệu quả kinh tế còn gọi là:
“Hiệu ích kinh tế” So sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế (bao gồm lao động vật hoá và lao động sống) với thành quả có ích đạt được”
Theo Farrell (1957), Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật lực, tiền vốn…) để đạt được kết quả đó Các học giả trên đều cho rằng cần phân biệt rõ 3 khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật (technica effciency), hiệu quả phân bổ các nguồn lực (allocative efficiency), và hiệu quả kinh tế (economic effciency)
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu
Trang 11vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ
áp dụng Hiệu quả này thường được phản ánh trong các mối quan hệ về các hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các loại sản phẩm
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra Vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá (Price effciency) Việc xác định hiệu quả này giống như việc xác định các điều kiện về
lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận Điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế
Có thể biễu diễn mối quan hệ trên bằng biểu thức:
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật x Hiệu quả phân bổ
Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa một bên
là kết quả đạt được và một bên là các chi phí bỏ ra Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là
đó là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên có hạn Tuy vậy, cần thấy rằng kết quả thu được rất phong phú đa dạng, có thể trên phương diện kinh tế tài chính xã hội như giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, giảm thất nghiệp và cải thiện môi trường sinh thái Do đó, hình thành nên các khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả mà xã hội đã bỏ ra và kết quả xã hội đã đạt được như: Tạo thêm việc làm, cải tạo môi trường sinh thái, cải thiện điều kiện sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
Hiệu quả kinh tế - xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt
Trang 12được cả về kinh tế và xã hội.
Qua nội dung đã trình bày ở trên, có thể kết luận rằng:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra
1.1.2.2 Phương pháp xác định hiệu quả kinh
Dựa vào các khái niệm hiệu quả kinh tế trên, ta có thể xác định bằng các cách sau:
Hiệu quả kinh tế = Kết quả sản xuất (đầu ra) – chi phí sản xuất (đầu vào)
Hiệu quả theo cách này cho thấy lợi nhuận mang lại như thế nào Cách tính này đơn giản, thuận lợi nhưng không phản ánh hết chất lượng kinh doanh cũng như những tiềm năng nâng cao các kết quả và khả năng tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội
Vì vậy, trong quá trình phân tích hiệu quả, chúng ta cần kết hợp với cách đánh giá hiệu quả như dạng sau:
Dạng thuận:
Kết quả sản xuất (đầu ra)
Hiệu quả kinh tế =
Chi phí sản xuất (đầu vào)
H =Q
C
Hoặc dạng nghịch:
Chi phí các yếu tố sản xuất( đầu vào)
Hiệu quả kinh tế =
Kết quả sản xuất (đầu ra)
Trang 13xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu đơn vị kết quả hoặc một đơn vị kết quả cần phải chi phí bao nhiêu đơn vị nguồn lực.
Hiệu quả kinh tế còn được xác định bằng phương pháp hiệu quả cân bằng, nghĩa
là so sánh phần giá trị tăng thêm và chi phí tăng thêm
Công thức như sau:
Dạng thuận: hb=∆∆C Q
Dạng nghịch: hb= ∆∆Q C
Hb: hiệu quả cận biên
∆Q: lượng tăng (giảm) của kết quả
∆C: lượng tăng (giảm) của chi phí
Phương pháp này cho ta biết được một đơn vị đầu tư tăng thêm cho bao nhiêu đơn vị kết quả thu thêm Hoặc để tăng thêm một đơn vị đầu ra cần bổ sung thêm bao nhiêu đơn vị đầu vào
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của sản xuất lúa
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trên toàn thế giới, nhất là các nước đang phát triển Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2.6 tỷ người (49% dân số thế giới) tham gia sản xuất nông nghiệp và chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển Trong sản xuất nông nghiệp, lúa là cây trồng quan trọng cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới Năm 2005 tổng diện tích đất trồng lúa trên thế giới khoảng 147.1 triệu ha (87,6% diện tích từ các nước châu Á) Hàng năm, cả thế giới sản xuất khoảng 576 triệu tấn lúa và chiếm 88,5% sản lượng lúa từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ
Mặc dù diện tích lúa ngày càng bị thu hẹp do những thay đổi về khí hậu, xói mòn và công cuộc phát triển công nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, nhưng lúa vẫn là cây trồng chủ lực và góp phần quyết định đến an ninh lương thực của mỗi quốc gia và toàn thế giới, nhất là những nước ở châu Á, đặc biệt là các nước kém và đang phát triển Trong tổng sản lượng lúa gạo sản xuất được có tới 90% được sản xuất và tiêu thụ tại Châu Á
Về lâu dài, lúa vẫn là cây trồng cung cấp lương thực cho hơn 50% dân số thế giới Với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay, đến năm 2030 cả thế giới phải sản xuất
Trang 14một lượng lúa gạo nhiều hơn (160% so với năm 1995) thì mới cung cấp đủ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trên toàn thế giới.
Sản xuất lúa vẫn chiếm vai trò quan trọng trong an ninh lương thực Theo tính toán, năm 2007 lúa gạo là lương thực chủ yếu 84 triệu dân Philippines Ở Trung Quốc, nước đông dân thế giới lúa gạo càng trở lên quan trọng hơn Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng Trung Quốc đã tiến hành áp dụng những tiến bộ về công nghệ sinh học trong sản xuất lúa Đặc biệt là lúa lai với năng suất rất cao
Cùng với những thuận lợi và nhu cầu bức thiết, sản xuất lúa gạo cũng đối mặt với không ít khó khăn Trong giai đoạn 1966- 2005 tốc độ tăng trưởng mật độ dân số tại các nước sản xuất lúa gạo bằng 90% tốc độ tăng trưởng về sản lượng lúa gạo vì thế các nước này phải nỗ lực tăng cường sản xuất lúa gạo từ 257 triệu tấn năm 1966 lên 600 triệu tấn
2004 mới giảm bớt được áp lực về lương thực
1.1.4 Phương pháp xác định tiềm năng sản xuất lúa Tám xoan
- Xác định tiềm năng sản xuất
Xác định tiềm năng sản xuất phải xem xét trên nhiều phương diện và yếu tố khác nhau Vì thế, để có thể tiến hành sản xuất đối với bất kỳ lĩnh vực nào thì điều cần là phải
có các nguồn lực sản xuất, nguồn lực là yếu tố cơ bản để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ ngành kinh tế nào Các nguồn lực chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp bao gồm: Đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và công trình… Các nguồn lực sản xuất thường bị giới hạn bởi quy luật khan hiếm về nguồn lực Trong khi nhu cầu cho cuộc sống ngày càng cao, vì vậy vấn đề đặt
ra trong sản xuất nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng là phải khai thác và
sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả, khai thác các tiềm năng và lợi thế sao cho có hiệu quả nhất nhằm tạo ra các sản phẩm có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cao phục vụ cho cuộc sống con người
- Ra quyết định sản xuất lúa Tám xoan
Trang 15Hiệu quả sản xuất Khuyến cáo
So sánh hiệu quả kinh tế của lúa Tám xoan đặc
sản > các giống lúa khác( lúa lai, lúa thuần…)
Có thể mở rộng sản xuất
So sánh hiệu quả kinh tế của lúa Tám xoan đặc
sản < các giống lúa khác (lúa lai, lúa thuần…)
Thu hẹp sản xuất, sản xuất một lượng nhất định, bảo tồn những giống hiệu quả kinh tế thấp có
Hiệu quả xã hội (là những giống đặc sản, cổ
truyền được sử dụng trong các dịp lễ, tết…)
- Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa Tám xoan
Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến năng
suất lúa Tám xoan
Các giải pháp về phân bón, tập huấn kỹ thuật, bảo vệ thực vật, chăm sóc…
Giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và giá cả
Phân tích hiệu quả của
Chất lượng sản phẩm được nâng cao, giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ, được người tiêu dùng tin tưởng và chấp nhận
1.1.5 Phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi chọn điểm nghiên cứu và thu thập số liệu như sau: Dựa vào đặc điểm đất đai và kinh tế xã hội của huyện Chọn 2 xã đại diện cho huyện về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và kinh tế xã hội, sản xuất trồng trọt dưới sự tư vấn của lãnh đạo, cán bộ Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê và Uỷ ban nhân dân huyện Tiến hành khảo sát các xã đã chọn
+ Mẫu điều tra gồm 80 hộ, được chọn ngẫu nhiên, không lặp lại, số hộ điều tra thuộc 2
xã trên địa bàn huyện Đó là xã Hải Trung đại diện cho vùng đất cao và xã Hải Toàn đại diện cho vùng đất vàn
+ Thu thập số liệu
Trang 16Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thông qua các báo cáo kinh tế - xã hội và các nghị quyết, niêm giám Thống kê của huyện Hải Hậu, các số liệu thu thập từ sách, báo, tạp chí, mạng Internet và các công trình nghiên cứu…
Số liệu sơ cấp: Thông qua các mẫu điều tra, phỏng vấn được thiết kế sẵn, tiến hành phỏng vấn trực tiếp 80 hộ được lựa chọn ngẫu nhiên ở 2 xã Hải Trung (vùng đất cao) và
xã Hải Toàn (vùng đất vàn)
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
Trong quá trình xử lý thông tin, tôi phân tổ các hộ điều tra theo các tiêu thức:
+ Phân tổ theo vùng sản xuất
+ Phân tổ những hộ tham gia Hiệp hội sản xuất lúa Tám xoan đặc sản và những hộ không tham gia Hiệp hội
- Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh điều kiện, tình hình, kết quả và hiệu quả kinh
tế giữa các tiêu thức đã được phân tổ như giữa các giống lúa, giữa các Vùng… đồng thời đánh giá động thái phát triển của hiện tượng, sự vật theo thời gian và không gian
- Phương pháp phân tổ thống kê
Căn cứ vào đặc điểm và điều kiện sản xuất của các nông hộ, tôi tiến hành chia thành 2 vùng để nghiên cứu, đánh giá Vùng 1 (vùng đất cao) và vùng 2 (vùng đất vàn) Đây là 2 vùng đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau của huyện
Vùng 1 – Vùng đất cao với diện tích chiếm 34,4% nằm ở phía Đông – Bắc của huyện giáp với 2 huyện Giao Thủy và Trực Ninh đây là vùng đất có tính chất ít chua, độ mùn thấp, lân nghèo, thành phần cơ giới nhẹ, độ dày canh tác đất trong vùng từ 15 cm- 25 cm
Vùng 2 – Vùng đất vàn là vùng đất chiếm tỷ lệ cao nhất của huyện với 56,3% diện tích (trong đó khoảng 50% diện tích đất trồng lúa), đất có độ cao từ 0,5 – 0,7 m so với mặt nước biển, độ PH của đất thấp (PH = 5,5-6,0), đất vùng này giàu chất dinh dưỡng, độ mùn khá, tầng canh tác dày tới 70cm, với thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt đến thịt nặng
Trang 17- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo ý kiến của cán bộ huyện, xã, các đội trưởng sản xuất, nông dân, kỹ sư từ Viện nghiên cứu, các đại lý cung cấp vật tư nông nghiệp, những người bán buôn, bán lẻ sản phẩm lúa gạo, những người am hiểu, có kinh nghiệm trong sản xuất trên địa bàn huyện
Để thực hiện đề tài này tôi đã lựa chọn một số chỉ tiêu nghiên cứu sau:
- Tổng sản lượng thu hoạch: Chỉ tiêu này phản ánh sản lượng lúa thu được của các nhóm hộ điều tra
- Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ hữu ích, trực tiếp do lao động sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định
Trong nông nghiệp, GO thường được tính theo công thức sau:
GO = Qi * PiQi: Lượng sản phẩm loại i được sản xuất ra
Pi: Giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian trên đơn vị diện tích (IC): Là bao gồm những khoản chi phí vật chất và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp
- Giá trị gia tăng (VA): Là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó:
VA = GO - IC
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa thơm trên thế giới
1.2.1.1 Các loại lúa gạo đặc sản ở Việt Nam và trên Thế Giới
Gạo đặc sản là loại gạo không thuộc nhóm gạo thông thường, không những có
Trang 18hình dạng, kích thích hạt gạo và hàm lượng amyloza khác nhau, mà còn có nội nhũ với màu sắc không giống nhau và hương thơm đặc biệt Những loại lúa đặc sản có một hay nhiều tính chất riêng biệt, khác với loại lúa thường Năng suất và giá cả của lúa đặc sản thường có khuynh hướng trái ngược nhau, nghĩa là năng suất thấp gấp 2 - 3 lần, nhưng giá lại cao hơn gấp 2 - 4 lần tùy theo loại lúa, không gian và thời gian.
Theo Trần Văn Đạt (2005) một số loại gạo đặc sản có mặt trên thị trường gồm có gạo thơm, gạo nếp, gạo có màu, gạo dinh dưỡng, gạo lúa dại…
Lúa thơm
Lúa thơm thường được trồng ở Châu Á và Châu Phi, chủ yếu ở Ấn Độ, Pakistan
và Nepal Lúa thơm không những có hương thơm tỏa ra xung quanh khi nấu, mà còn có hương thơm từ cây lúa ở ngoài đồng, trên hạt lúa và trên hạt gạo Ở Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh, những làng nào trồng nhiều lúa thơm lấy làm hãnh diện với loại lúa này và còn nổi tiếng cả xứ, cả vùng như Nàng thơm chợ Đào ở miền Nam Việt Nam và Tám thơm ở miền Bắc Việt Nam
Tuy nhiên, ở những nước mà gạo không phải là lương thực chính, hương thơm quá nồng có thể làm cho những người xung quanh cảm thấy khó chịu Do đó, trên thị trường thế giới chỉ có ít giống lúa thơm được ưa chuộng, phổ biến nhất là Basmati của
Ấn Độ và Pakistan, Khao Dawk Mali 105 và Jasmine 85 của Thái Lan Ở Ấn Độ và Pakistan có hàng trăm giống lúa thơm địa phương
Trung quốc có Bắc thơm, Quế hương chime, Quá dạ hương và Chi ưu hương (Lê Vĩnh Thảo 2005)
Lúa nếp
Lúa nếp có thể là tổ tiên lâu đời của các loại giống lúa tẻ trồng hiện nay trên thế giới vì lúa nếp có thể thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu khắc nghiệt như lạnh, khô hạn Lúa nếp còn chiếm ưu thế ở các vùng núi Đông Nam Á
Lúa có hạt gạo màu
Gạo màu là do số lượng lớn của chất anthocyanin tích tụ trong những lớp khác nhau của biểu bì, vỏ hạt Ở Trung Quốc, hàng năm sản xuất khoảng 400.000ha lúa có gạo màu Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, hạt gạo đỏ chứa hàm lượng sắt và kẽm cao,
Trang 19trong khi gạo tím có rất nhiều nguyên tố vi lượng như đồng, canxi, magie và các loại vitamin Gạo màu thường được dùng trong những ngày lễ hội và trong chế biến Trong các loại gạo màu phổ biến nhất là gạo đỏ và gạo cẩm…(Trần Văn Đạt 2005).
Lúa có gạo mềm
Loại gạo mềm (soft rice) là gạo indica có hàm lượng amyloza thấp (thường
khoảng từ 5-8 %) Tuy nhiên, hầu hết gạo mềm có độ hóa hồ cao Loại lúa này thường được trồng ở tỉnh Vân Nam, Trung quốc có độ cao từ 800- 1000m trên mặt biển Các loại lúa này thường được dùng để sản xuất cơm nấu sẵn rất ngon Cơm luôn mềm Các giống nổi tiếng như Haomin, Haopi…
Gạo dinh dưỡng
Gạo cung cấp nhiều năng lượng qua tinh bột và protein Tuy nhiên, kỹ thuật xay xát làm mất đi rất nhiều các Vitamin và chất khoáng cần thiết cho con người, cho nên những dân tộc lấy lúa gạo làm thức ăn chính thường mắc phải những chứng bệnh thiếu dinh dưỡng, đặc biệt thiếu các chất khoáng và vitamin thiết yếu Các nhà khoa học đang
cố gắng tạo ra loại gạo có pha thêm các chất dinh dưỡng cần thiết như việc tạo ra các giống lúa có nhiều protein, sắt, kẽm…
Gạo lúa dại (đại ma)
Gạo lúa dại thường có giá cao, đặc biệt ở thị trường của các nước phát triển Lúa dại cũng là thức ăn bổ sung cho gia đình nghèo sống ở lưu vực ven sông Ở châu thổ Đồng bằng sông Cửu long, nhân dân thường gặt lúa dại để làm thức ăn Ở Ấn Độ, lúa dại được dùng làm thức ăn trong các Lễ hội đặc biệt Lúa dại thường chín không đều, hạt dễ rụng nên được nông dân gặt cẩn thận bằng tay với dụng cụ địa phương Hạt lúa dại nhỏ, thon, dài trông rất hấp dẫn và gạo được dùng trong các buổi lễ thiêng liêng
1.2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa thơm của các nước trên thế giới
Lúa thơm được trồng ở nhiều nước trên thế giới, chủ yếu là ở châu Á như Ấn
Độ, Pakistan, Thái lan, Afganistan, Miến Điện và Việt Nam
Theo tác giả Shobha, ở Ấn độ hiện có hàng trăm giống lúa thơm được trồng và tiêu thụ, tuy nhiên chỉ có một giống được dùng cho xuất khẩu, đó là giống Basmati Giống lúa Basmati ở Ấn độ chủ yếu được gieo trồng tại tỉnh Punjab với diện tích khoảng
Trang 200,7 đến 0,8 triệu ha và năng suất từ 1,0 đến 2,0 tấn/ ha.
Các giống lúa thơm ở Pakistan cũng được trồng chủ yếu ở Punjab, trong đó diện tích gieo trồng lúa Basmati chiếm 80% tổng diện tích lúa ở Punjab
Ở Thái Lan, khoảng 77 giống lúa thơm đang được gieo trồng, trong đó có hai giống chủ lực là khao Dawk Mali 105 và RD - 15 Khao Dawl Mali 105 là giống lúa cảm quang với ánh sáng ngày ngắn và có chiều cao cây từ 140- 150cm, hạt dài, hàm lượng amyloza từ 12-19% Giống lúa RD-15 là giống đột biến từ giống Khao Dawk Mali 105 Giống lúa RD - 15 có hương thơm, hàm lượng amyloza và chất lượng cơm tương
tự như giống lúa bố mẹ, nhưng có chiều cây cao thấp hơn, phản ứng ánh sáng yếu hơn Diện tích gieo trồng của giống lúa Khao Dawl Mali105 ở Thái Lan khoảng 1,7 triệu ha và năng suất trung bình đạt 2,1 tấn/ha
Giống lúa Koshikihari là một giống lúa chất lượng cổ truyền ở Nhật, diện tích gieo trồng giống này chiếm khoảng 30% tổng diện tích trồng lúa ở nước này Giống lúa Koshikihari có năng suất bình quân 5,5 - 6 tấn/ha, hạt dài, hàm lượng amyloza 17% - 18% , độ hóa hồ thấp, không thơm, không dính, chất lượng dinh dưỡng cao và có vị ngon đặc biệt
Nhu cầu tiêu thụ lúa thơm trên thế giới ngày càng tăng nhưng do năng suất các giống lúa thơm thấp nên cung không đủ cầu, người nông dân Châu Á đang nỗ lực hết sức
để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ một số loại gạo chất lượng cao Thái Lan đang tìm cách tăng năng suất loại gạo nổi tiếng khao Dawk Mali 105, trong khi đó Ấn Độ và Pakistan nhận được ngày càng nhiều đơn đặt hàng đối với gạo Basmati hạt dài từ Mỹ, Trung Đông và nhất là cộng đồng Châu Âu
Thị trường gạo thơm có thể chia làm hai loại (dẫn theo Lê Vĩnh Thảo 2005)
Thị trường có nhu cầu lúa thơm trong bữa ăn hàng ngày ở các nước trong khu vực Trung Đông Mỗi năm thị trường này nhập gạo Basmati từ Pakistan khoảng 300-
400 nghìn tấn, từ Ấn Độ khoảng 100 nghìn tấn, còn lại nhập gạo Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan với số lượng khoảng 800 nghìn tấn
Thị trường tiêu dùng lúa thơm như món hàng cao cấp, phục vụ cho du lịch Phần lớn gạo Thái Lan đang chiếm lĩnh trong thị trường này Năm 1993, Thái Lan xuất khẩu khoảng 149 nghìn tấn Khao Dawk Mali 105, năm 1995 là 702 nghìn tấn và năm 1997 là
Trang 21823 nghìn tấn Hàng năm Thái Lan xuất khẩu khoảng 46% lượng gạo thơm sản xuất ra Năm 1999 Thái Lan xuất khẩu 5,1 triệu tấn gạo, trong đó gạo thơm chiếm 25% thị phần với giá bình quân 750-760 USD/tấn.
Theo thống kê của Tổ Chức Lương Thực và nông nghiệp Quốc tế, trong tổng lượng gạo xuất khẩu bình quân hàng năm trong giai đoạn 1994-1996 là 15,26 triệu tấn thì có 1,35 triệu tấn (chiếm 8,9%) gạo thơm và 0,12 triệu tấn gạo nếp (chiếm 0,8%) Nhìn chung thị trường gạo thơm trên thế giới chiếm một tỷ lệ khoảng hơn 10% tổng lượng gạo xuất khẩu (FAO 2007)
Trong giai đoạn 2003-2005 lượng gạo thơm xuất khẩu đã tăng hơn hai lần, đạt 3,32 triệu tấn (chiếm 12,4%) và gạo nếp 0,24 triệu tấn (chiếm 0,9%) trong tổng số lượng gạo xuất khẩu là 26,8 triệu tấn
Bảng 1: Tình hình xuất khẩu các loại gạo của thế giới giai đoạn 1994-1996 và
2003-2005
( triệu tấn) Tỷ lệ (%)
2003-2005 ( triệu tấn) Tỷ lệ(%)
1.2.2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam với trên 85 triệu người, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, sức ép về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lương thực ngày càng lớn vì thế phát triển lúa gạo càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo an ninh lương thực
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Việt Nam cũng là cái nôi hình thành cây lúa nước Đã từ lâu cây lúa nước đã trở thành cây lương thực chủ yếu có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế
xã hội nước ta Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình
Trang 22thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu
để nuôi sống mấy chục triệu người dân
Trước năm 1975, diện tích trồng lúa của cả hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 triệu tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân của cả hai miền là 13 tạ/ha Khoảng 2 thập kỷ sau vào những năm
60 của thế kỷ XIX miền Bắc có phong trào phấn đấu giành được 5 tấn/ha/năm Cho đến năm 1975 đã đạt được mục tiêu này năng suất đạt 51,4 tạ/ha/năm
Sau năm 1975, đất nước đã thống nhất cùng với việc củng cố HTX bậc cao ở miền Bắc, nông dân miền Nam cũng được cấp ruộng đất thực hiện tập thể hoá nông nghiệp dưới hai hình thức tập đoàn sản xuất và HTX Tình hình sản xuất lúa ở nước ta
có liên quan chặt chẽ với vấn đề ruộng đất và HTX nông nghiệp Có thể thấy rõ tình hình sản xuất lúa của nước ta qua bảng 2
Từ năm 1975-1990 sản lượng lúa tăng 65,2% thấp hơn một chút so với sản lượng tăng lương thực Nguyên nhân tăng chủ yếu là do thâm canh tăng vụ tăng năng suất Tuy nhiên sản lượng lúa tăng chậm và không ổn định đặc biệt trong những năm 1975-1980 năng suất giảm từ 21,2 tạ/ha xuống còn 20,8 tạ/ha hàng năm phải nhập khẩu
1200 tấn lương thực và sau đó năng suất lại tiếp tục tăng Nguyên nhân của tình trạng trên là do những sai sót của mô hình hợp tác hoá nông nghiệp từ việc tổ chức quản lý đến phân phối sản phẩm Tuy nhiên một số địa phương đã tìm được lối thoát bằng hình thức khoán hộ gia đình, cho xã viên mượn đất sản xuất đã làm cho năng suất không ngừng tăng lên từ 11.674 nghìn tấn lên đến 19.225 nghìn tấn
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa Việt Nam giai đoạn 1975-2002
Trang 23(Nguồn:Giáo trình cây lương thực, trường ĐH Nông Lâm Huế,NXB Nông Nghiệp)
Sau năm 1990 đến nay, đây là thời kỳ sản xuất lúa phát triển ổn định Trong khoảng thời gian đó tốc độ tăng trưởng sản lượng lúa cả năm trong khoảng 2,1% - 8,9% Bình quân mỗi năm sản lượng lúa đạt 4,25% Năm 2002 diện tích lúa tăng lên 907.000 ha, năng suất tăng 5,7 tạ/ha, sản lượng 7.738,600 tấn Để đạt được thành tựu nói trên có thể nói rằng sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước đã đề ra nhiều chính sách hợp lý trong việc phát triển nông nghiệp, áp dụng nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa Vì vậy trong vòng mấy năm qua nước ta không chỉ đảm bảo an toàn lương thực cho hơn 84 triệu dân mà còn hàng năm suất khẩu trên 43 triệu tấn gạo Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Đó là một thành tích làm kinh ngạc nhiều nhiều nước trên thế giới
Trong vòng hai năm trở lại đây diện tích trồng lúa đã giảm do một số diện tích trồng lúa chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản và một số cây trồng khác như rau, ngô, lạc… mặc dù vậy năng suất và sản lượng lúa vẫn tăng đáng kể Trong vòng mấy năm qua Việt Nam đã sử dụng bộ giống mới đặc biệt là lúa lai và lúa chất lượng cao đã góp phần tăng năng suất đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Trên cơ sở đó xây dựng vùng lúa chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu và giảm bớt diện tích trồng lúa bấp bênh sang trồng các cây khác
1.2.2.2 Một vài đặc điểm của lúa thơm ở Việt Nam và sản xuất lúa Tám tại
Trang 24Nam Định
- Một vài đặc điểm của lúa thơm tại Việt Nam
Lúa thơm là hợp phần quan trọng của lúa địa phương, có vị trí ngày càng gia tăng trong sản xuất và thị trường lúa gạo trong nước và quốc tế
Ở Việt Nam, lúa thơm được trồng ở cả miền Nam và miền Bắc Lúa thơm ở miền Nam có Nàng thơm Chợ Đào, ở miền Bắc có lúa Tám, lúa Dự, lúa Di, miền Trung có lúa Gié (hoặc De) như Gié An Cựu Trên thị trường gạo thơm ở miền Nam ngoài giống lúa Nàng thơm Chợ Đào còn có các giống Basmati (Ấn Độ, Pakistan), Khao Dawk Mali 105 (Thái Lan) Hầu hết các giống lúa thơm ở miền Nam có dạng hạt dài, thon dài thuộc loại
hình Indica Nổi tiếng nhất vẫn là Nàng thơm chợ Đào (Long An), với hạt gạo có vết đục
mà nông dân còn gọi là hạt lựu Hạn chế của nó trên thương trường quốc tế là tính bạc bụng (Lê Vĩnh Thảo 2005)
Khối lượng 1000 hạt của các giống Nàng thơm biến thiên 19-27g, trung bình 22g, thuộc nhóm bông nhỏ Nàng thơm Chợ Đào có khả năng thu hoạch 2-3 tấn/ha Nông dân
có kinh nghiệm làm giảm sinh khối bằng cách cấy muộn nhằm giảm chiều cao cây lúa, hạn chế sự đổ ngã và thu hoạch năng suất cao hơn
Ở miền Bắc lúa Tám được xếp trong số 3 loại lúa thơm nổi tiếng trên thế giới sau (Basmati của Ấn Độ và Khao Dawk Mali của Thái Lan) Lúa Tám thường là những giống lúa mùa chính vụ Các giống lúa Tám hiện còn là gieo trồng là Tám xoan, Tám ấp bẹ, Tám Xuân Đài, Tám tiêu, Tám thơm, Tám cổ ngỗng
- Sản xuất lúa Tám tại Nam Định
Diện tích lúa Tám của Nam Định trong vòng 8 năm qua 2000- 2007 tuy vẫn tăng nhưng không đều chủ yếu do thị trường tiêu thụ không ổn định, từ năm 2003- 2007 diện tích lúa Tám khá ổn định ở mức 14 - 15 ngàn ha Năng suất lúa Tám trung bình thường biến động trong mức 30-32 tạ/ha (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Định, 2008)
Trang 25Bảng 3: Tình hình sản xuất lúa Tám tại Nam Định
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng xuất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Mặc dù, Hải Hậu là “cái nôi” trồng lúa Tám, đặc biệt là Tám xoan nhưng sau nhiều năm trồng, giống dần bị thoái hóa và người dân sử dụng nhiều phân hóa học, nhiều thuốc trừ sâu và không sử dụng các biện pháp phơi và bảo quản truyền thống Do vậy, chất lượng gạo Tám bị ảnh hưởng Nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời thì việc tiêu thụ gạo Tám Hải Hậu sẽ gặp nhiều khó khăn
Hiện nay, trên thị trường thành phố ngày càng có nhiều sản phẩm chất lượng cao như gạo Nàng thơm, gạo Thái Lan…trong khi sản phẩm lúa Tám là sản phẩm mang đặc tính địa phương riêng của Hải Hậu đang mất đi lòng tin của người tiêu dùng và thị phần trên thị trường các thành phố ngày càng bị thu hẹp lại
Trong điều kiện hiện nay, giải pháp mang tính cấp thiết nhất là phải cải thiện chất lượng gạo nhằm giữ và lấy lại vị trí của gạo Tám Hải Hậu nói chung và của Tám xoan đặc sản nói riêng trên thị trường, đồng thời có thể đưa những giải pháp trong công
Trang 26tác tổ chức bảo quản chế biến để gạo Tám Hải Hậu không bị ảnh hưởng của các loại gạo của các địa phương khác Có thể cho rằng đó là giải pháp cần thiết mang tính lâu dài không chỉ cho người nông dân mà cho chính Hải Hậu - một vùng đất nổi tiếng về các sản phẩm gạo Tám đặc biệt là gạo Tám xoan đặc sản.
Sản xuất lúa Tám tại Hải Hậu không ổn định, trong những năm 1995- 1998, diện tích gieo trồng lúa Tám của huyện chiếm tỷ lệ thấp, nhưng từ năm 1999-2002 tỷ lệ diện tích gieo trồng liên tục tăng do nhu cầu của thị trường, khi đời sống của người dân nhất
là người dân trong thành phố được tăng lên thì thị trường lúa Tám được mở rộng
Bảng 4: Diện tích và cơ cấu lúa Tám tại huyện Hải Hậu
(ha)
Tỷ lệ diện tích (%)
Năng suất (tạ/ha)
(Nguồn : Phòng thống kê huyện Hải Hậu cung cấp năm 2009)
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa Tám thấp hơn so với những giống lúa mới, đồng thời sản phẩm lúa Tám hiện nay không còn được thị trường tin tưởng nữa do mất đi những đặc tính về chất lượng như trước đây, vì thế sản xuất lúa Tám như hiện nay có những vấn đề như: giống đã bị lẫn và thoái hóa, năng suất lúa không cao, khó bố trí lịch canh tác vì thời gian sinh trưởng dài, do chất lượng lúa giảm nên giá lúa Tám có phần giảm, các khâu bảo quản và chế biến của người nông dân không được tốt
1.2.2.4 Một số đặc điểm chính của các giống lúa Tám được người dân
Thích hợp với đất trũng, phèn mặn
Trang 27Gạo cứng hơn, không thơm bằng Tám xoan
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy hiện nay nhu cầu của thị trường về lúa chất lượng cao ngày càng tăng khi diện tích, năng suất và sản lượng các giống lúa thơm chất lượng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng tăng chậm Hiện nay tại Việt Nam nhiều giống lúa cao sản có năng suất cao, lúa thơm chất lượng và năng suất được đưa vào sản xuất Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định là địa danh nổi tiếng với các giống lúa Tám thơm và gạo Tám xoan đặc sản được tiêu thụ nhiều vùng trong cả nước, nhưng hiện nay lúa Tám xoan đặc sản đang phải đối mặt với những vấn đề như năng suất và chất lượng bị suy giảm do nhiều nguyên nhân, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, người tiêu dùng mất lòng tin với gạo Tám xoan đặc sản Vì vậy việc nghiên cứu phát hiện nguyên nhân, đánh giá khả năng, khuyến cáo các giải pháp nhằm nâng cao năng xuất, giá thành và hiệu quả sản xuất lúa Tám xoan đặc sản tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nói riêng và tại Việt Nam nói chung có ý nghĩa rất cần thiết
1.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Hải Hậu là một huyện nằm ở khu vực phía Nam của tỉnh Nam Định, có tọa độ địa lý vào khoảng 2007’vĩ độ Bắc và 106015’kinh độ Đông Phía Đông của huyện giáp
Trang 28với biển Đông, phía Bắc giáp huyện Trực Ninh và huyện Xuân Trường, phía Tây Nam giáp huyện Nghĩa Hưng, phía Tây giáp huyện Trực Ninh Huyện Hải Hậu cách thủ đô
Hà Nội 130km và Hải Hậu là huyện được hình thành và bồi đắp bởi hệ thống phù sa sông Thái Bình, đất đai bằng phẳng có điều kiện đặc trưng của vùng có điều kiện sinh thái ven biển trong những hệ thống sản xuất nông nghiệp của Đồng bằng Sông Hồng
1.3.1.2 Thời tiết, khí hậu, thủy văn
Huyện Hải hậu là một vùng đặc trưng cho kiểu vùng sinh thái ven biển của Đồng bằng Sông Hồng, do vậy có đặc điểm khí hậu gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau: Thời tiết vào mùa này chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc, mưa phùn, thiếu ánh sáng và ẩm ướt
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 9: Mùa này chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam, nhiệt độ nóng, mưa nhiều và có bão
Nhìn chung khí hậu của huyện thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp, là một vùng ven biển với hệ thống ruộng canh tác chủ yếu là vàn cao và vàn thấp, chỉ có một số diện tích bị nhiễm mặn, vì vậy rất thuận lợi cho sự phát triển đặc biệt là các loại cây trồng Với đặc điểm này, Huyện Hải hậu có điều kiện thâm canh, tăng vụ với điều kiện được bố trí các loại cây trồng thích hợp cho từng hệ thống canh tác
Tuy nhiên, do vị trí ven biển nên huyện Hải Hậu cũng gặp không ít khó khăn trong phát triển sản xuất
- Thời tiết biến động thất thường, thiên tai năm xảy ra sớm, năm xảy ra muộn, vì vậy khó khăn cho việc phòng chống, nhất là việc bố trí thời vụ sản xuất thích hợp, đặc biệt là cây lúa Tám xoan đặc sản - một cây truyền thống của địa phương
- Vào mùa mưa hệ thống nước biển theo đường sông dâng cao, gây khó khăn cho việc tưới tiêu của người nông dân
Với những điều kiện như vậy, huyện Hải hậu có điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp, tuy nhiên để hạn chế ảnh hưởng của những biến động về thời tiết, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp thì cần bố trí hệ thống và cơ cấu cây trồng phù hợp
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Hải Hậu là 226,2 km2, được phù sa sông bồi đắp trên thềm cát biển, vì vậy nó có độ dốc thoải dần từ phía Bắc xuống phía Nam,
Trang 29từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Huyện có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh với hệ thống sông xương cá đã tạo nên hệ thống tưới tiêu hoàn toàn bằng trọng lực với 90% diện tích được tưới bằng thủy triều và 10% diện tích đồng cao tưới kết hợp Với hệ thống thủy lợi như vậy, sản xuất nông nghiệp của huyện có được điều kiện để sản xuất thâm canh và phát triển đa dạng hóa cây trồng theo mùa vụ
1.3.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.2.1 Tình hình đất đai của huyện
Diện tích đất nông nghiệp của huyện được tích tụ và bồi đắp của hệ thống sông Thái Bình nên đất đai của huyện được phân chia thành nhiều vùng khác nhau tùy theo thời gian tích tụ của phù sa và vị trí của vùng nằm trong vùng ảnh hưởng của hệ thống sông và biển Tuy vậy, nhìn chung đất đai của huyện Hải Hậu có thành phần cơ giới trung bình (chiếm 70% diện tích) và với 91,4% diện tích là vùng đất giàu chất dinh dưỡng, với điều kiện như vậy đã giúp cho nông nghiệp của huyện phát triển
Tình hình đất đai của huyện Hải Hậu được thể hiện qua bảng sau
Trang 30Bảng 6: Tình hình đất đai của huyện Hải Hậu từ năm 2007-2009
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tốc độ phát triển(%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Đất NN/hộ NN (sào) 8,2 8,2 8,2 100,2 99,4 99,8Đất NN/ khẩu NN (sào) 1,5 1,5 1,5 100,0 98,7 99,3Đất NN/ LD NN (sào) 2,8 2,8 2,8 101,1 101,4 101,3Đất canh tác/ hộ NN (sào) 6,4 6,4 6,0 100,3 93.5 96,8Đất canh tác/ khẩu NN (sào) 1,2 1,2 1,2 100,0 99,2 99,6Đất canh tác/ LD NN (sào) 2,1 2,2 2,3 105,2 104,5 104,8
(Nguồn: Phòng địa chính huyện Hải Hậu năm 2009)
Trang 31Nhìn chung đất đai của huyện Hải Hậu có thành phần cơ giới trung bình
( chiếm 70% diện tích) và với 91,4% diện tích là vùng đất giàu chất dinh dưỡng, với điều kiện như vậy đã hình thành lên những hệ thống sản xuất khác nhau phụ thuộc vào khả năng và đặc điểm đất đai của từng vùng Sản xuất nông nghiệp được chia là 3 vùng nhưng do điều kiện vùng 3 là vùng đất thấp nhiễm mặn không trồng được Tám xoan vì vậy tôi chỉ nghiên cứu 2 vùng đất chính:
Vùng 1 – Vùng đất cao với diện tích chiếm 34,4% nằm ở phía Đông – Bắc của huyện giáp với 2 huyện Giao Thủy và Trực Ninh đây là vùng đất có tính chất ít chua, độ mùn thấp, lân nghèo, thành phần cơ giới nhẹ, độ dày canh tác đất trong vùng từ 15 cm- 25cm Vì vậy vùng này phù hợp cho việc phát triển các giống cây trồng cao sản
Vùng 2 – Vùng đất vàn là vùng đất chiếm tỷ lệ cao nhất của huyện với 56,3% diện tích (trong đó khoảng 50% diện tích đất trồng lúa), đất có độ cao từ 0,5 – 0,7 m so với mặt nước biển, độ PH của đất thấp (PH = 5,5-6,0), đất vùng này giầu chất dinh dưỡng, độ mùn khá, tầng canh tác dày tới 70cm, với thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt đến thịt nặng Với đặc điểm đất đai như vậy cùng với đặc điểm kinh tế- xã hội của vùng cùng với trình độ thâm canh của người dân khá tốt, nhu cầu lương thực của họ đã được đáp ứng đủ, nghề phụ của người dân hầu như rất ít
Tình hình lao động năm 2009 đang làm việc trong các ngành kinh tế được thể hiện trong bảng 7
Trong vài năm gần đây, huyện đã có những chính sách thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty và doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, nhằm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động trong huyện
Trang 32Bảng 7: Tình hình lao động huyện Hải Hậu năm 2009
(phân theo ngành kinh tế)
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Hải Hậu, năm 2009)
Qua bảng trên ta thấy lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao (77,7%),
đó là lao động trong sản xuất CN- TTCN- XD chiếm 13,6% Không chỉ dừng lại ở việc phát triển nông nghiệp, huyện cũng đã khai thác thế mạnh của một huyện ven biển với nghề muối và nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản Hiện nay, toàn huyện có 550ha diện tích muối với sản lượng 60.000 tấn muối/năm tạo công ăn việc làm cho 10.000 lao động, 12 xã ven biển đã khoanh vùng nuôi trồng thủy sản như tôm sú, tôm he sản lượng hàng năm đạt 1200-1300 tấn thủy sản góp phần tạo thêm nhiều công ăn việc làm nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình
Hoạt động tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch vụ cũng phát triển mạnh như nghề chế biến muối Iot, nước mắm, nghề chế biến đồ gỗ cao cấp, dệt chiếu, chế biến lúa gạo… Hệ thống thương mại phục vụ đời sống như cung ứng vật tư, hàng tiêu dùng, dịch
vụ vận chuyển phát triển mạnh đáp ứng được những nhu cầu của người dân
1.3.2.2 Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương
Dân số huyện Hải Hậu được thể hiện trong bảng 8:
Bảng 8: Tình hình dân số huyện Hải Hậu từ năm 2007-2009
( phân theo giới tính- thành thị- nông thôn)
Trang 33Số lượng
Cơ cấu(%)
Số lượng
Cơcấu(%) 2008/2007 2009/2008 Bình
quân Tổng
thôn
260.975 90,5 262.066 90,0 259.608 88,3 100,4 99,1 99,7
( Nguồn: Phòng thống kê huyện Hải Hậu, năm 2009)
Năm 2007 toàn huyện có 288.368 nhân khẩu, năm 2008 tăng lên 291.213 nhân khẩu, tăng lên 1%, năm 2009 số nhân khẩu toàn huyện là 294.125 nhân khẩu, tăng 1% so với năm 2008 Bình quân mỗi năm dân số huyện Hải Hậu tăng lên 1% Phân theo giới tính: Năm 2009 nam chiếm 49,2%, nữ giới chiếm 50,8%
Dân số có sự dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị: Năm 2007 dân số thành thị là 27.411 người chiếm 9,5%, năm 2009 dân số thành thị tăng lên 34.517 chiếm 11,7% (tăng 7.106 người so với năm 2007) Bình quân dân số thành thị tăng 12,2%
Sự chuyển dịch dân số phần lớn do huyện Hải Hậu quy hoạch lại đất đai của các xã
để mở rộng thị trấn.
1.3.2.3 Cơ sở vật chất hạ tầng
Vấn đề cơ sở hạ tầng nông thôn và lĩnh vực đời sống văn hóa của người dân ngày càng được nâng cao, hiện nay với 90% đường trong huyện, xã, xóm đã được trải nhựa, 99,9% số nhà mái ngói, mái bằng, toàn huyện có 85 trường học được xây dựng kiên cố với 1550 lớp học Huyện Hải Hậu là một trong những địa phương đạt mức phổ cập giáo dục tốt nhất tỉnh Ngoài ra, đời sống văn hóa của người dân cũng được cải thiện với 95% số hộ có phương tiện nghe nhìn, 95% số hộ dùng nước sạch, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được chú trọng với 15,3 bác sĩ/ vạn dân
Trang 34vào năm 2006 Những chỉ tiêu trên đã phản ánh khá đầy đủ sự thay đổi trong đời sống kinh tế- xã hội của huyện và đó là điều kiện cho sự phát triển một cách toàn diện hơn nữa đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần của người dân nơi đây.