luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng, nó không chỉ là cây trồng lợi thếcủa vùng Tây Nguyên mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1857, mãi đến đầu thế kỷ
XX mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp Trải quanhiều hình thức tổ chức sản xuất từ các đồn điền cà phê đến các nông trườngquốc doanh cà phê Với một thời gian không dài chỉ trong vòng 26 năm, trongmột phần tư thế kỷ, kể từ sau năm 1975 ngành cà phê Việt Nam đã có nhữngbước phát triển vượt bậc với tốc độ kỷ lục so với nhiều nước trồng cà phê kháctrên thế giới
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam đã có diện tích trồng cà phê trên500.000 ha với sản lượng cà phê xuất khẩu hàng năm trên dưới 900.000 tấn vớikim ngạch xấp xỉ trên dưới 1,5 tỷ USD Việt Nam là một nước sản xuất, xuấtkhẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới và là nước xuất khẩu cà phê Robusta số 1 thếgiới Hiện nay Cà phê Việt Nam đang được xuất khẩu sang 88 quốc gia vàvùng lãnh thổ, trên các châu lục Nó không những mang lại hiệu quả kinh tếcao mà còn mang lại hiệu quả xã hội và cải thiện môi trường sinh thái rất lớn.Đóng góp vào kết quả trên phải kể đến vai trò tích cực của vùng kinh tế TâyNguyên
Tây Nguyên với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500
m đến 600 m so với mặt biển, là vùng đất rất phù hợp với những cây côngnghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm trong đó cà phê được xem là câycông nghiệp quan trọng giữ vị trí số một với tổng diện tích khoảng 470.000 ha,chiếm 92,79% diện tích trồng cà phê của cả nước Điều đó đã góp phần khaithác tiềm năng đất đai, lao động và khí hậu ở cao nguyên và miền núi, tạo nêncông ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu nông dân
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh thuộc khu vực của Tây Nguyên nơi đâyđóng góp một sản luợng cà phê rất lớn cho toàn khu vực Tây Nguyên cũng như
Trang 2của cả nước Cà phê được trồng ở Đắk Lắk từ rất lâu nhưng đến năm 1986,xuất phát từ chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và chínhquyền Đắk Lắk mới có chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển và thâmcanh cây cà phê Thực hiện chủ trương của Tỉnh, từ giữa những năm 80 của thế
kỷ XX các đơn vị làm công tác xuất nhập khẩu đã tìm đến từng hộ nông dânvới hình thức đầu tư ứng trước, nghĩa là “quốc doanh” ứng trước cho nông dânmáy cày, phân bón, có cả lương thực và thu hồi vốn sau khi có cà phê nhân,nông trường quốc doanh thì vận động bà con vào làm công nhân nhận khoántrồng và chăm sóc cà phê
Từ đó Đắk Lắk hình thành nhiều vùng chuyên canh cây cà phê, có đơn
vị phấn đấu chỉ tiêu trong một mùa mưa trồng một nghìn ha như Công ty càphê Phước An, Thắng Lợi, Ea Tiêu, Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt - Đức Bêncạnh đó, Đắk Lắk còn liên doanh trồng cà phê với nước ngoài, cụ thể là Liêndoanh Việt-Xô, Việt - Đức Vùng chuyên canh cà phê chiếm 86% diện tích sảnxuất nông nghiệp và 89% sản lượng cà phê trong toàn Tỉnh Hiện nay, tỉnh ĐắkLắk có 8 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê do Tỉnh quản lý đang thựchiện các loại khoán trên với tổng diện tích khoảng 6.770 ha
Cùng chung với sự phát triển trong hoạt động sản xuất cà phê trên địabàn Tỉnh, Công ty cà phê Phước An đã có những bước thay đổi trong cách thứcquản lý sản xuất theo từng giai đoạn lịch sử, từ quản lý theo lối hành chính baocấp, chuyển sang khoán đến hộ gia đình trong giai đoạn hiện nay Điều đó đãgóp phần vào việc xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nguời dân vùng núi.Hình thành và phát triển từ những năm 1977, mô hình cà phê khoán đến các hộđang được sự quan tâm và đầu tư của công ty cũng như các hộ dân
Tuy nhiên, trước tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay,Thị trường cà phê trên thế giới trong những năm vừa qua thường chao đảo,không ổn định nhất là về giá cả Tổ chức cà phê thế giới (ICO) do không còn giữđược hạn ngạch xuất nhập khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên cónhững giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng có so với vài chục năm trở lại
Trang 3đây Tình trạng này đã dẫn đến hậu quả là nhiều nước phải hủy bỏ bớt diện tích
cà phê, hoặc không tiếp tục chăm sóc vì kinh doanh không còn thấy có hiệu quả.Bên cạnh đó trong nước mô hình sản xuất cà phê theo lối tự quản lý của hộ đangchiếm một vị trí mạnh (gần 80% diện tích cà phê của cả nước do các hộ tự quảnlý), ngược lại mô hình khoán chỉ chiếm khoảng gần (20% diện tích trồng càphê) do công ty và hộ nhận khoán hợp tác cùng quản lý
Chính những biến động và khó khăn đó sẽ làm cho hoạt động sản xuất
cà phê cũng như sự tồn tại của các hình thức khoán ở công ty cà phê Phước Annói riêng mà cụ thể là những người dân nhận khoán của công ty ít nhiều sẽ bịảnh hưởng Vì thế chúng tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu, đánh giá kết quả đầu tư vàhiệu quả sản xuất cà phê khoán tới hộ dân tại công ty cà phê Phước An là rấtcần thiết Để từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm phát triển hình thứcnhận khoán tới hộ một cách hiệu quả và bền vững
Xuất phát từ những lý do trên trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại
công ty cà phê Phước An thuộc Huyện Krông Pắk, Tỉnh Đắk Lắk tôi đã chọn
đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê của các hộ nhận khoán thuộc Công ty cà phê Phước An, Huyện Krông Pắk, Tỉnh Đắk Lắk ” để làm
khoá luận tốt nghiệp của mình
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng, tiềm năng để phát triển cà phê theo phương thứckhoán tới hộ thuộc công ty cà phê Phước An
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê của các hộ gia đìnhnhận khoán ở công ty cà phê Phước An
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất cà phê trên địa bàn công ty cà phê Phước An
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp
- Phương pháp điều tra phỏng vấn thu thập số liệu và thông tin cần thiếtphục vụ cho việc nghiên cứu
Trang 4- Các phương pháp phân tích để đánh giá thực trạng và tìm ra nguyênnhân của các vấn đề.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng và nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những vấn đềkinh tế, kỹ thuật trong mối quan hệ với các vấn đề tổ chức quản lý hiệu quả sảnxuất cà phê của các hộ nhận khoán
b) Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu nên đề
tài chỉ tập trung phản ánh tình hình sản xuất cà phê tại hai đội đại diện cho 2hình thức khoán khác nhau: (có đầu tư – không có đầu tư của công ty), đồngthời là hai đội có diện tích cà phê lớn nhất trong công ty cà phê Phước An,huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk
Về thời gian: Qua khảo sát thực tế tại công ty Phước An, chúng tôi chỉ
tiến hành đánh giá, phân tích thực trạng sản xuất cà phê của hộ trong năm2009
Do hạn chế về thời gian thực tập cũng như khả năng của bản thân nên đềtài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp
ý và giúp đỡ của quý Thầy, Cô giáo cùng bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành cà phê
1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển cây cà phê trên Thế giới
Lịch sử về cà phê thực sự cũng đa dạng như cách pha chế nó
Một truyền thuyết kể rằng: Một người chăn dê nhận thấy rằng đàn giasúc của mình trở nên nghịch ngợm hơn bình thường sau khi ăn những quả màu
đỏ từ bụi cây cà phê dại Không lâu sau những thầy tu bắt đầu đun nhữngnhững hạt này và sử dụng chất lỏng này để thức suốt đêm trong các lễ hội Câu chuyện khác lại kể về một thầy tu Đạo Hồi - người đã bị kết tội bởi
kẻ thù của mình Hình phạt là phải đi lang thang trong sa mạc và cuối cùng làchết đói Trong cơn mê sảng, chàng trai trẻ đã nghe thấy âm thanh hướng dẫnmình ăn những quả từ cây cà phê gần đó Anh ta đã sống sót, khoẻ mạnh vàquay lại với cộng đồng của mình, công bố rộng rãi kinh nghiệm về công thức Ban đầu, các bộ lạc phía đông châu Phi đã nghiền quả cà phê sau đótrộn lẫn với mỡ động vật, vê lại thành những viên nhỏ Sau đó vào khoảng năm
1000 sau Công Nguyên, người Ethiopia đã pha chế một loại rượu từ những hạt
cà phê bằng cách lên men những hạt cà phê khô trong nước Cây cà phê cũng
đã mọc tự nhiên ở bán đảo Ai Cập và từ đó trong suốt thế kỷ XI, cà phê đãđược phát triển thành một dạng đồ uống nóng
Cà phê cũng đã du nhập vào Châu Âu trong khoản thời gian này thôngqua thành phố Venice và đến châu Mỹ La Tinh sau đó nhiều thập kỷ, khi mộtngười Pháp mua một cành cà phê mang đến Martinique Brazin đã nổi lên nhưmột nơi sản xuất cà phê đứng đầu trên thế giới và là danh hiệu đó vẫn còn đếnhôm nay
Trang 61.1.1.2 Qúa trình ra đời và phát triển cây cà phê ở Việt Nam
Cà phê được đưa vào trồng ở Việt Nam từ năm 1857, trước hết là ở một
số nhà thờ tại Hà Nam, Quảng Bình, Kontum Tới đầu thế kỷ XX trở đi thìcây cà phê mới được trồng trên quy mô tương đối lớn của các chủ đồn điềnngười Pháp với tổng diện tích không quá vài ngàn hecta
Sau cách mạng tháng Tám, diện tích cà phê ở miền Bắc được phát triểnthêm tại một số nông trường quốc doanh và thời kỳ có diện tích cao nhất là trên10.000 ha vào năm 1963 – 1964 Cà phê trồng ở miền Bắc trong những năm
trước đây chủ yếu là cà phê chè (Coffea arabica), năng suất thường đạt từ 400
-600 kg/ha, có một số điển hình thâm canh tốt đã đạt trên 1 tấn/ha Ở miền Namtrước ngày giải phóng, vào năm 1975 diện tích cà phê có khoảng 10.000 ha.Diện tích trồng cà phê ở miềm Nam trong thời kỳ này chủ yếu là giống cà phê
vối (Canephora robusta) Năng suất cà phê vối trong thời kỳ này thường đạt
trên dưới 1 tấn/ha
Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây nguyênnhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên xô cũ,CHDC Đức, Bungary, Tiệp khắc và Ba lan, đến năm 1990 đã có 119.300 ha
Ngày nay trong cơ chế quản lý mới, được áp dụng đồng bộ các tiến bộ
kỹ thuật cho nên năng suất đã tăng lên rất nhanh Đến nay, diện tích cà phê trên
cả nước 521.000 ha và sản lượng khoảng trên 900.000 tấn và Việt Nam trởthành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới Cà phê trồng ở nước ta
có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diện tích, cà phê chè (Arabica)10% và cà phê mít (Excelsa) 1%
1.1.2 Vị trí, giá trị kinh tế của cây cà phê
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở vùng nôngthôn và miền núi cao nguyên Nên việc phát triển ngành nông nghiệp để tạocông ăn việc làm cho người lao động ở nhưng khu vực đó là vấn đề hết sức có
ý nghĩa
Trang 7Cây cà phê được xem là cây công nghiệp lâu năm không những có giátrị về mặt kinh tế mà còn có tác dụng rất lờn về nhiều mặt của xã hội và tạocông ăn việc làm ổn định, đặc biệt góp phần vào việc giảm tình trạng du canh,
du cư ở những miền núi cao nguyên Sản phẩm cà phê chủ yếu là hạt, ViệtNam vẫn chủ yếu xuất khẩu sang các nước phát triển cà phê dưới dạng cà phênhân thô chưa qua chế biến Tuy vậy, cà phê lại là nguồn xuất khẩu quan trọngđóng góp một tỷ trọng không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Cà phê hiện nay là nguồn thu nhập chính trong đời sống của đa số hộ đồng bàocác dân tộc ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng, là mặt hàng chiếmtới trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đắk Lắk mỗi năm Chúng ta đãxây dựng được những thương hiệu nổi tiếng như Trung Nguyên, Cà phêMoment, cà phê Buôn Ma Thuột
Được biết Ngành sản xuất cà phê Việt Nam là nguồn thu nhập quantrọng của 600 nghìn lao động và hơn 1 triệu người sống nhờ vào các hoạt độngsản xuất kinh doanh có liên quan đến cây cà phê
1.1.3 Tác dụng của cây cà phê đối với chương trình xoá đói giảm nghèo nông thôn cao nguyên và miền núi
Khi nói đến vị trí của cây cà phê trong cơ cấu cây trồng ở miền núi cũngnhư ở các khu vực khác thì thường nêu lên những giá trị kinh tế mà nó đem lạinhư: Góp phần định canh định cư cho đồng bào dân tộc ít người, tạo công ănviệc làm, làm giàu cho kinh tế hộ, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môitrường tạo cảnh quan xanh đẹp… và thực tế ở một số nơi đã thoát nghèo và làmgiàu từ chính cây cà phê đem lại
Tuy nhiên không phải nơi nào, vùng đất nào, cũng có thể lấy cà phê làmcây trồng chính để mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn Người ta thường
ví Cà phê là cây của “người giàu”, nghĩa là khâu chăm sóc kỹ thuật rất quantrọng Nó đòi hỏi người trồng phải có đủ vốn đầu tư cộng thêm những hiểu biết
về kỹ thuật, chăm sóc thu hoạch phải đầy đủ có như thế mới phát huy hiệu quảcủa nó đem lại Chính vì thế mà có những hộ nông dân nghèo không có đủ vốn
Trang 8thì tác dụng cà phê đem lại là điều ngược lại Do đó để phát triển tốt cà phê, rõràng về phía Nhà nước cần phải có một chương trình đồng bộ, hoàn chỉnh chonông dân từ sản xuất đến chế biến, đến tiêu thụ sản phẩm Hiện nay vai trò cáccông ty, doanh nghiệp cà phê đóng một vị trí quan trọng, chính những đơn vịnày sẽ là cầu nối giúp người nông dân phát triển kinh tế
1.1.4 Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế
1.1.4.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiệncác mục hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đótrong những điều kiện nhất định Nói cách khác, kết quả mà chủ thể nhận đượctheo hướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí bỏ ra baonhiêu thì có lời bấy nhiêu Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá cácphương án hành động và được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau
Hiệu quả tổng hợp là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện nhiềumục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chiphí để có được những kết quả đó
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vịchi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụthể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp
Hiệu quả phân bổ là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chithêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đếncác yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là phần thu thêm trên mộtđơn vị đầu tư thêm đạt được chỉ khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ làtối đa, có nghĩa là cả yếu tố giá trị và hiện vật tính đến khi xem xét việc sửdụng các nguồn lực trong nông nghiệp Vậy muốn đạt được hiệu quả kinh tế thìphải đạt đồng thời cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ
Trang 9Sơ đồ minh họa cho khái niệm hiệu quả kinh tế:
Giả sử có 4 nông trại sản xuất nông nghiệp là A, B, C, D quá trình sảnxuất chỉ sử dụng 2 yếu tố đầu vào là X1 ,X2 để cùng sản xuất ra một mức sảnlượng Q0
Trong đó: Q0 - Là sản lượng đầu ra
A B
0 X1
P1
Sơ đồ 1: Hiệu quả kinh tế, Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả phân bổ
Từ sơ đồ trên ta thấy:
TE=OC/OD Hiệu quả kỹ thuật
TINE=CD/OD Phi hiệu quả kỹ thuật
AE=OR/OC Hiệu quả phân bổ
AINE=RC/OC Phi hiệu quả phân bổ
Vậy ta có: EE = OR/OD = OC/OD* OR/OC=TE*AE
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật *Hiệu quả phân bổ
Qua kết quả trên cho được thì trang trại A đạt hiệu quả kinh tế, trang trại
B, C đạt hiệu quả kỹ thuật còn trang trại D không đạt hiệu quả vì cùng một mứcsản lượng là Q0 giống trang trại C, nhưng trang trại D còn phải lãng phí thêmmột khoảng là DC mới đạt mức sản lượng giống trang trại C
Trang 101.1.4.2 Ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế
Bản chất của việc phân tích hiệu quả là so sánh giữa chi phí và kết quảtheo những mục tiêu nhất định được biểu hiện dưới dạng hiện vật Đó là sốlượng, chất lượng của những sản phẩm dịch vụ đầu vào và đầu ra Những sảnphẩm này không thể so sánh trực tiếp với nhau nên những chi phí, lợi ích cầnđược tính ra giá trị tương đương Muốn vậy phải thông qua giá cả, là nhân tốquyết định trong tính toán hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong việc sử dụng hai yếu tố cơbản trong sản xuất kinh doanh đó là yếu tố nguồn lực và giá trị trong việc sửdụng các yếu tố nguồn lực
Yếu tố nguồn lực (yếu tố đầu vào): Chi phí trung gian, lao động sống,khấu hao tài sản, thuế
Yếu tố giá trị (yếu tố đầu ra ): Số lượng, giá trị sản phẩm, giá trị sảnxuất, thu nhập, lợi nhuận, giá trị gia tăng…
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối vàtuyệt đối giữa lượng kết quả thu được với lượng chi phí bỏ ra Vì thế, việc xácđịnh các yếu tố đầu vào trong đánh giá hiệu quả kinh tế là gặp phải những khókhăn bởi nhưng yếu tố tư liệu sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất vànhững yếu tố phi vật chất như chính sách môi trường, công nghệ, nó đòi hỏiphải toàn diện
Do đó có thể nói trên bình diện xã hội, thước đo của hiệu quả là mức độtối đa hoá trên một đơn vị hao phí lao động xã hội tối thiểu Chỉ khi nào việc sửdụng các yếu tố nguồn lực đạt được cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quảphân bổ mới đạt được hiệu quả kinh tế trong sản xuất
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê ở nước ta
Việt Nam được chia thành hai vùng khí hậu phù hợp cho sản xuất cà phê.Vùng Tây Nguyên và tỉnh Đồng Nai có đất đỏ bazan, rất thuận lợi để trồng càphê vối và các tỉnh miền Bắc, với độ cao phù hợp (khoảng 600-800m) phù hợp
Trang 11với cà phê chè Việt Nam trồng hai loại cà phê chính: cà phê vối và cà phê chè,trong đó diện tích cà phê vối chiếm tới hơn 95% tổng diện tích gieo trồng
Cà phê chủ yếu được trồng ở các vùng đồi núi phía Bắc và Tây Nguyên.Diện tích cà phê tập trung nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên, tại các tỉnh như ĐắkLắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và chủ yếu là cà phê vối Diệntích cà phê của khu vực này chiếm tới 72% tổng diện tích cả nước và sản lượngcũng chiếm khoảng 92% tổng sản lượng cả nước Cà phê chè trồng chủ yếu ởvùng Nam Trung Bộ, vùng núi phía Bắc do các vùng này ở vùng cao hơn,nhưng với diện tích và sản lượng rất khiêm tốn, tập trung nhiều ở các tỉnhQuảng Trị, Sơn La và Điện Biên
Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và cácnăm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là48,5%, 45,8% và 33%) Tăng trưởng cà phê Việt Nam những năm đầu thậpniên 90 chủ yếu dựa trên tăng diện tích Sau đó, tăng năng suất trở thành yếu tốchính đóng góp cho tăng trưởng sản lượng cà phê ở Việt Nam Cùng với xuhướng đó, cà phê dần trở thành mặt hàng nông sản quan trọng của Việt Namtrong thập kỷ 90 chỉ trong vòng 7 năm, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu
cà phê đứng thứ 2, sau Brazin với diện tích cà phê lên tới 520.000 ha đạt mứcsản lượng 900.000 tấn
Trong 10 năm trở lại đây Ngành cà phê đã có những bước phát triểnnhanh chóng đưa sản lượng cà phê tăng lên hàng trăm lần Hội nhập kinh tếquốc tế đã tạo ra những cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp nước ta phát huy lợithế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để phát triển sản phẩm có tính cạnh tranhcao như cà phê
Xem xét diễn biến tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam qua các niên vụ2005/2006 - 2007/2008 gần đây có thể thấy được sự tăng trưởng nhanh chóng
cả về sản lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu bên cạnh sự biến động về giá cả
Trong niên vụ 2005/2006 cả nước xuất khẩu 775.458 tấn (12,9 triệubao), giảm 7,3% so với năm trước và tăng 35% về trị giá xuất khẩu với kim
Trang 12ngạch xuất khẩu đạt 1,40 tỷ USD Sở dĩ sản lượng cà phê giảm xuống là do càphê mất mùa vì thời tiết khô hạn kéo dài, cây cà phê sinh trưởng và phát dụckhó khăn Tiếp đến niên vụ 2006/2007, sản lượng xuất khẩu tăng 74% so vớiniên vụ 2005/2006, đạt 1.200.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước
Niên vụ 2007/2008
Niên vụ 2008/2009
cà phê thế giới tăng cao nên giá bán cà phê trong nước đạt mức bình quân29.000-30.000đ/kg, có thời điểm đạt gần 40.000đ/kg Với mức giá này, ngườisản xuất bù đắp được chi phí và sản xuất có lãi Điều đáng chú ý là trong niên
vụ này các doanh nghiệp đã phối hợp với nhau khá tốt, bán rải đều cà phê trongsuốt niên vụ nên không để xảy ra tình trạng đầu vụ bán và giao hàng ồ ạt gâytác động xấu tới thị trường, tránh tình trạng bị khách hàng ép giá
Mặc dù chịu ảnh hưởng của sản lượng thế giới tăng, cộng thêm tác độngxấu của thị trường tài chính thế giới và suy thoái của nền kinh tế Mỹ Tuy vậyniên vụ 2008/2009 vẫn xuất khẩu được 954.000 tấn, đạt kim ngạch 1,95 tỷUSD (giảm 22,4% về lượng, nhưng tăng 2,1% về giá trị so với cùng kỳ năm2007) Tính trung bình cả năm 2008, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt
Trang 132.044 USD/tấn, tăng 31% so với năm 2007, trong đó có lúc lên đỉnh điểm là2.240 USD/tấn
Tuy nhiên, điều đáng buồn là giá cà phê xuất khẩu lại liên tục rớt mạnh,đặc biệt là từ cuối quý I đầu quý II giá tụt thê thảm khiến mức giá trung bìnhxuất khẩu của 11 tháng giảm khoảng 350 USD/tấn so với cùng kỳ Nguyênnhân giá cà phê xuống thấp, ngoài tác động của khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu, yếu tố đầu cơ của các quỹ đầu tư, còn nguyên nhân quantrọng là trong thời gian 8 tháng đầu vụ 2008/2009 các nước xuất khẩu cà phê
đã xuất 65,7 triệu bao so với 63,8 triệu bao cùng kỳ vụ trước Chính vì đượccung cấp dồi dào, lượng dự trữ của các nhà rang xay đã đủ nên giá cà phêkhông giữ được ở mức cao
Theo Vicofa, qua diễn biến giá cả của vụ 2008/2009 cũng lộ ra nhữngđiểm yếu của ngành cà phê Việt Nam, đặc biệt là chúng ta chưa có chiến lượcchủ động trong khâu tiêu thụ sản phẩm “Vào đầu vụ chúng ta đã xuất ra mộtlượng khá lớn cà phê nên không giữ được giá Việc xuất khẩu chưa có sự điềuhành thống nhất trong khi nông dân cần tiền để trang trải cho các nhu cầu vềđời sống và sản xuất”
Nhìn lại tình hình Ngành cà phê Việt Nam những năm qua chúng ta thấy
rõ sự phát triển đạt tốc độ rất cao đáng ca ngợi, tự hào và thị trường xuất khẩu
cà phê Việt Nam ra thế giới ngày càng mở rộng Hiện nay, cả nước có khoảng520.000 ha cà phê (riêng các tỉnh Tây Nguyên chiếm 90% diện tích) Hiệp hội
Cà phê - Ca cao Việt Nam dự báo, xuất khẩu cà phê Việt Nam trong năm 2009ước đạt 980.000 tấn với giá trung bình khoảng 1.800 USD/Tấn, tương đươngvới kim ngạch khoảng 1,764 tỷ USD, giảm 8,6% về lượng và giảm 17,4% vềtrị giá so với năm 2008 Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam ngày càng
mở rộng, ngoài các nước ở châu Âu và Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam còn xuấtkhẩu sang vùng Trung Cận Đông, châu Phi, một số nước trong Hiệp hộiASEAN và vùng Trung Mỹ Trong đó phải kể đến 10 nước nhập khẩu hàngđầu cà phê Việt Nam gồm: Bỉ, Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia, Ba Lan,
Trang 14Pháp, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản Trong nhóm 10 nước này chiếm thị phần rấtlớn khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, trong 10 tháng đầu năm
2009 xuất khẩu cà phê của cả nước đạt 942.000 tấn với kim ngạch 1,39 tỷUSD, tăng 17,4% về lượng nhưng vẫn giảm 17,1% về trị giá so với cùng kỳ
năm 2008 Những số liệu cho thấy nếu như năm 2008, Hoa Kỳ - thị trường giữ
vị trí quán quân về thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam, thì sang năm
2009 và cụ thể là 10 tháng đầu năm 2009 đã nhường vị trí này cho thị trường
Bỉ và đứng thứ 3 về thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Trong 10 tháng đầu năm 2009, Bỉ là thị trường dẫn đầu nhập khẩu càphê của Việt Nam, với lượng nhập 123.786 tấn, trị giá 179.020 nghìn USD,tăng 171,32% về lượng và tăng 85,56% về trị giá so với cùng kỳ năm trước;tiếp đến là thị trường Đức, với lượng nhập 105.429 tấn, trị giá 156.409 nghìnUSD, tăng 3,92% về lượng, nhưng giảm 27,20% về trị giá; đứng thứ 3 là thịtrường Mỹ, với lượng nhập 97.477 tấn, trị giá 147.828 nghìn USD, tăng24,07% về lượng và giảm 9,55% về trị giá Đứng thứ 4 là thị trường Ialia vớilượng nhập 86.754 tấn, trị giá 129.447 nghìn USD, tăng 40,60% về lượng vàgiảm 0,26% về trị giá Tiếp đến là các thị trường như Tây Ban Nha, Pháp,Philippine, Malaxia, Trung Quốc,
Đáng chú ý trong 10 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu cà phê của ViệtNam sang thị trường Ấn Độ tăng mạnh, tăng 259,51% về lượng và 153,40% vềtrị giá, với lượng xuất 12.094 tấn, trị giá 17.003 nghìn USD
Tuy nước ta có sản lượng xuất khẩu cà phê là lớn và có thị trường xuất
khẩu khá rộng trên thế giới, nhưng cà phê Việt Nam xuất khẩu mới chỉ ở dạngxuất khẩu thô Xuất khẩu cà phê thô chưa tinh chế chiếm tới 95% trong tổngsản lượng xuất khẩu, do đó giá trị đem lại là không cao
Trang 15Bảng 2: Thị trường xuất khẩu cà phê trong tháng 10 và 10 tháng năm 2009
Nước
(%) Lượng
(Tấn)
Trị giá (Tỷ USD)
Lượng (Tấn)
Trị giá (Tỷ USD)
Vì vậy mà ngành cà phê cần phải có biện pháp nhằm nâng cao sản xuất
cà phê tinh chế và xây dựng cho cà phê những thương hiệu vững chắc để có thểđứng vững và cạnh tranh lâu dài trên thị trường thế giới
1.2.2 Tình hình sản xuất cà phê trên địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê ở tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nguồn tài nguyên đất khádồi dào, trong đó có 311.000 héc-ta đất đỏ Bazan, chiếm 55,6% tổng diện tíchđất đỏ bazan toàn Tây Nguyên, điều kiện sinh thái khá thuận lợi cho phát triểncác loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu Nhận thức được những tiềm năng, lợi thế đó từ sau ngày giải phóng, tỉnh Đắk
Trang 16Lắk luôn chú trọng đến việc phát triển nhanh cây cà phê cả về quy mô, sốlượng cũng như chất lượng và xác định đây là cây công nghiệp chủ lực của địaphương Số liệu điều tra được thể hiện qua bảng 3 như sau:
Bảng 3: Diện tích và sản lượng thu hoạch cà phê của toàn Tỉnh
(2003/2004)
Niên vụ (2006/2007)
Niên vụ (2008/2009)
Qua biểu đồ cho ta thấy được nếu trong niên vụ 2003/2004 toàn Tỉnh chỉ
có 165.500 ha, thì đến sau 2 năm tiếp theo là niên vụ 2006/2007 diện tích đãtăng lên thêm 13.000 ha tương đương với diện tích là 178.900 ha Sự tăng lênquá nhanh về diện tích không chỉ dừng lại ở con số đó mà kết qủa là đến niên
vụ 2008/2009 diện tích trồng cà phê của tỉnh là 178.196 ha, bình quân mỗi nămtăng 2.400 ha
Trang 17Biểu đồ 1: Biểu đồ diện tích và sản lượng cà phê tỉnh Đắk Lắk qua các
niên vụ (2003/2004, 2006/2007, 2008/2009)
Đồng thời sản lượng cũng có phần tăng lên, nếu trong niên vụ2003/2004 là 284.000 tấn tiếp đến đầu năm 2006 giá cà phê thế giới tăng khánhanh cùng với thời tiết khá thuận lợi, mưa đều, không xảy ra hạn hán và sâubệnh Nên năng suất và sản lượng cà phê của Đắk Lắk tính hết niên vụ
2006/2007 tăng lên thành 450.000 tấn, đây được coi là niên vụ đạt cao nhất
của Đắk Lắk Với giá thành sản xuất khoảng 10.000 đồng/kg cà phê nhân thìđây được đánh giá là vụ cà phê người nông dân thu lợi nhuận cao nhất kể từ
năm 1998 trở lại đây Và niên vụ 2008/2009 vừa rồi sản lượng thu được
415.494 tấn nhưng lại là vụ cà phê giá bán thấp nhất, chỉ trên dưới 25.000đồng/kg, thấp hơn niên vụ trước 22% Sản lượng xuất khẩu đạt 326.738 tấn,tăng 6% nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt gần 500 triệu USD, giảm hơn 21%
so với niên vụ trước
Cùng với tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuậtthâm canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán, đã làm năng suất vàsản lượng cà phê tăng mạnh Trước năm 1990, năng suất bình quân cà phê kinhdoanh chỉ đạt 8 tạ - 9 tạ nhân/ha/năm, đến năm 1994 năng suất đạt 18,5 tạ/ha
Trang 18Những năm qua năng suất bình quân đạt 25 tạ - 28 tạ/ha/năm; cá biệt ở một sốvùng sản xuất đã cho năng suất bình quân đạt 35 tạ - 40 tạ/ha, vườn cà phê củamột số hộ gia đình đạt trên 50 tạ/ha Hàng năm, sản lượng cà phê nhân củaTỉnh bình quân đạt 430.000 tấn; cà phê qua chế biến rang xay đạt trên 15.000tấn và cà phê hòa tan trên 1.000 tấn Hơn 90% sản lượng cà phê ở Đắk Lắkdành cho xuất khẩu tới 56 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu đạthơn 600 triệu USD/năm, chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu và đónggóp hơn 40% GDP của Tỉnh, tạo việc làm ổn định cho 400 nghìn lao động.Chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là trên 33 thị trường truyền thống, trong đó có 10nước có kim ngạch nhập khẩu trên 10 triệu USD, chiếm 70% tổng số lượng càphê xuất khẩu của tỉnh (tương đương với 228451 tấn) như: Nhật Bản trên 65,3triệu USD, Đức 59,9 triệu USD, Italia 48,2 triệu USD,
Sản xuất cà phê bền vững, cho chất lượng cao đang là mục tiêu mà cácdoanh nghiệp và nhóm hộ nông dân ở Đắk Lắk hướng tới Trong tổng số 30doanh nghiệp sản xuất cà phê trên địa bàn Đắk Lắk, hiện có 5 doanh nghiệp sảnxuất được cấp chứng chỉ “Sản xuất cà phê bền vững và có trách nhiệm” theo bộtiêu chuẩn UTZ, gồm các công ty cà phê: Ea Pốk, Thắng Lợi, Tháng Mười vàKrông Ana, đặc biệt là công ty cà phê Phước An Ngoài việc đẩy mạnh xuấtkhẩu, các doanh nghiệp cà phê của Đắk Lắk còn chú trọng đến việc mở rộng thịtrường tiêu thụ cà phê nội địa, theo tính toán của các doanh nghiệp thì trongniên vụ vừa qua, tổng số lượng cà phê tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệptỉnh Đắk Lắk đạt 77.662 tấn, tăng 61% so với niên vụ trước và chiếm khoảng18,7% tổng sản lượng cà phê nhân của tỉnh Cũng trong niên vụ qua, các doanhnghiệp của tỉnh Đắk Lắk đã nhập khoảng 40 - 50 ngàn tấn cà phê của các tỉnhlân cận như Lâm Đồng, Đắk Nông và Gia Lai để chế biến
Sự phát triển nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng cà phê đã đem lạilợi ích to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và người trồng cà phê
Từ kết quả và thực tiễn trên, nhằm hướng tới phát triển cà phê bền vững trongthời kỳ mới, Tỉnh ủy Đắk Lắk vừa ban hành Nghị quyết chuyên đề về phát
Trang 19triển cà phê bền vững đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêuphát triển cà phê theo tiêu chí của thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột: ổn định
về năng suất, sản lượng, chất lượng, phát triển cà phê phải gắn chặt với pháttriển kinh tế, văn hóa - xã hội, du lịch, bảo vệ môi trường
1.2.2.2 Tình hình sản xuất cà phê tại huyện Krông Pắk – Đắk Lắk
Krông Pắk là 1 trong 12 huyện của tỉnh Đắck Lắk, trung tâm huyện làThị trấn Phước An Hiện tại, huyện đang xây dựng khu công nghiệp phía ĐôngNam Thị trấn Phước An Được hưởng thế mạnh mà thiên nhiên đem tặng chokhu vục Đắk lắk, vì vậy mà huyện Krông Pắk được nằm giữa hai cao nguyênBuôn Ma Thuột và M’Đrắk, địa hình thoải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,
có đồng bằng phù sa tốt để phát triển cây cà phê và nhiều lợi cây công nghiệpkhác Kinh tế Huyện chủ yếu là: trồng cây cà phê, hồ tiêu, cao su, đậu tương,điều, lúa, cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản Huyện cótuyến giao thông chính là quốc lộ 21 chạy qua
Krông Pắk có lịch sử trồng cà phê từ những năm đầu thế kỷ XX Năm
1922 đã lập nhiều đồn điền cà phê tại Huyện, điển hình là đồn điền CaDa dongười Pháp xây dựng, đây là một trong những nơi đầu tiên được du nhập cây càphê với diện tích 4.000 ha cà phê kinh doanh Sau giải phóng 1954, số diện tích
cà phê đó được giao lại theo quyết định số 109/QĐ-UB về việc thành lập Nôngtrường quốc doanh địa phương, lấy tên là Nông trường Phước An huyện KrôngPắk (hiện nay là Công ty cà phê Phước An) Đến nay cây cà phê vẫn chiếm một
vị thế quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông trườngquốc doanh
Huyện Krông Pắk hôm nay đã phát triển theo chiều hướng đi lên Hainăm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của Krông Pắk luôn đứng trong nhómdẫn đầu của Tỉnh Năm 2007, thu ngân sách của huyện đạt gần 100 tỷ đồng.Thu nhập bình quân đạt gần 11 triệu đồng/người/năm Kinh tế Krông Pắk đangđược đánh giá là phát triển nhanh theo hướng bền vững, đa dạng
Trang 20Hiện nay, tổng diện tích cà phê của huyện Krông Pắk khoảng trên 18.195
ha cho tổng sản lượng trên 45.200 tấn, là địa phương thuộc diện có diện tích càphê, sản lượng cà phê lớn nhất của tỉnh Đắk Lắk Mỗi mùa thu hoạch cà phê,nhất là khi được mùa, được giá đối với người dân nơi đây như là dịp lễ hội Chỉ
ở một thị trấn như thị trần Phước An diện tích cà phê đã lên tới trên 3.800 ha,trong đó khoảng 1.400 ha là cà phê nhân dân, diện tích còn lại chủ yếu thuộcCông ty cà phê Phước An quản lý, số ít diện tích thuộc Nông trường khác
Có thể nói niềm vui không chỉ đến với những công nhân làm cà phê,những gia đình có diện tích gieo trồng, đối với mỗi người dân lao động nơi đâykhi mùa thu hoạch cà phê đến họ lại có thêm công ăn việc làm, có thêm thunhập, mỗi ngày công lao động thu hái cà phê lên đến cả trăm nghìn đồng Càphê vừa mang ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt xã hội, góp phần làm thayđổi đời sống tạo sự ổn định cho nhiều người dân ở địa phương
1.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CÀ PHÊ PHƯỚC AN, HUYỆN KRÔNG PẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty cà phê Phước An được xây dựng và phát triển trên vùng đấtCADA Với cao nguyên đất đỏ Bazan rộng lớn và khí hậu đặc trưng phù hợpcho cây cà phê phát triển Công ty cà phê Phước An tiền thân là Nông trường
cà phê Phước An thành lập năm 1977 là Doanh nghiệp nhà nước được thànhlập theo quyết định số 649/QĐ-UB ngày 27/10/1992 của UBND Tỉnh Đắk Lắk,Quyết định đổi tên doanh nghiệp số 1044/QĐ-UB ngày 05/6/1996 của UBNDTỉnh Đắk Lắk
Trong hơn 30 năm qua, Công ty luôn được sự quan tâm của lãnh đạoTỉnh ủy, UBND Tỉnh Đắk Lắk và các ban ngành liên quan, cùng với sự nỗ lực
và quyết tâm của toàn thể CBCNV của công ty đã không ngừng vươn lên phấnđấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đạt kết quả cao trong kinh doanh, gópphần vào sự nghiệp phát triển của toàn Tỉnh
Trang 21Năm 2009 với hệ thống dây chuyền chế biến hạt cà phê theo công nghệ
chế biến ướt hiện đại được lắp đặt, đạt công suất khoảng 40.000 tấn cà phê nhân/ năm Hiện tại công ty đang áp dụng nhiều biện pháp thâm canh tiến bộ, sản xuất
thân thiện với môi trường nhằm tạo ra sản phẩm an toàn, cải thiện đáng kể chất
lượng sản phẩm cà phê CADA Coffee là thương hiệu chính thức đầu tiên của
những người trực tiếp trồng, sản xuất với hương vị đặc biệt của CADA tạo nênnét đặc trưng của “Cà phê Buôn Ma Thuột – Cà phê Việt Nam” Với nhữngthành công và bước đi ngày càng vững chắc, Phuoc An Coffee vươn lên tầm cao,khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế
Những thông tin cơ bản về công ty
- Tên gọi: Công ty cà phê Phước An
- Tên giao dịch quốc tế: Phươc An Coffee Company
- Tên viết tắt: PhươcAnCoffee
- Cơ quan chủ quản: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Điện thoại: 0500.521.665 - Fax: 0500.521.246
- Email: pacofeeco@dng.vnn.vn - Website: phuocancofee.com.vn
1.3.2 Chức năng – Nhiệm vụ – Cơ cấu tổ chức của công ty
Trang 221.3.2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty
Sơ đồ bộ máy của quản lý của công ty được sắp xếp theo kiểu hổn hợptrực tuyến – chức năng
PHÒNGQUẢN
LÝ SẢNXUẤT
PHÒNGXUẤTNHẬPKHẨU
PHÒNGTÀICHÍNH
KẾ TOÁN
CÁC ĐỘI SẢN XUẤT VPĐD tại
TPHCMNHÀ MÁY CHẾ BIẾN
Trang 23+ Chịu trách nhiệm theo pháp luật trước giám đốc đối với các nhiệm vụcủa giám đốc và công ty giao phó.
- Phía công ty: Công ty nhận trách nhiệm tưới nước hỗ trợ xây dựng cơ
sở vật chất như giao thông, thuỷ lợi, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu, cho vay phân
Trang 24bón đối với hình thức khoán có đầu tư và mở các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ
thuật trồng cà phê theo từng thời kỳ Đồng thời công ty còn ký kết hợp đồng
với các đơn vị quân đội, lực lượng dân quân, bảo vệ trên địa bàn tham gia tuầntra, bảo vệ, nhất là những lô, đội cà phê ở xa khu dân cư để cà phê chín đềumới tổ chức thu hoạch Bên cạnh đó, thông qua sổ khoán hàng năm qua từngniên vụ sẽ có mức giao nộp sản lượng khoán khác nhau, tương đương với từngdiện tích theo từng số năm trồng khác nhau và hình thức khoán khác nhau.Ngoài ra công ty phải đảm bảo hoàn thành việc thanh toán bảo hiểm đầy đủhàng tháng cho những công nhân đã đến tuổi nghỉ hưu
- Về phía công nhân (người nhận khoán ): Sẽ phải tuân thủ kỹ thuậtchăm sóc và thu hái theo quy định hợp đồng trong sổ khoán Ngoài ra các hộgia đình phải đóng 2% phí bảo vệ vườn cây, 1% Quỹ phúc lợi địa phương vànộp bảo hiểm
Về sản lượng giao khoán
+ Đối với hình thức khoán có đầu tư: Với mức sản lượng nộp khoán caohơn hộ khoán không đầu tư Đặc biệt các hộ gia đình phải nộp toàn bộ sảnlượng tươi thu hoạch cho công ty bao gồm cả sản lượng vượt khoán Việcthanh toán sản lượng vượt khoán sẽ tính theo giá thời điểm mà hộ muốn nhận,còn nếu hộ chưa muốn thanh toán bằng tiền tại thời điểm đó thì các hộ sẽ đượcnhận một phiếu biên lai có ghi sản lượng vượt khoán của hộ và sau đó lúc nào
hộ muồn thanh toán thì hộ dùng phiếu đó để thanh toán theo giá mà tại thờiđiểm hộ muốn lấy
+ Đối với hình thức khoán không đầu tư: Các hộ gia đình chỉ phải nộpđúng sản lượng giao khoán của công ty theo sản phẩm tươi Số sản lượng vượtkhoán hộ được quyền mang về nếu hộ muốn, còn không hộ sẽ được thanh toánnhư những hộ khoán có đầu tư
Hiện tại năm 2009 công ty cà phê Phước An có tổng diện tích càc phêkhoảng trên 847 ha với 920 hộ nhận khoán Gồm 8 đội sản xuất của hai cở sởđại diện cho 2 hình thức khoán khác nhau:
Trang 25- Cơ sở 1 tại Phước An ( hình thức khoán không đầu tư ): Gồm 5 đội với
số hộ nhận khoán là 381 hộ
- Cơ sở 2 tại An Thuận (hình thức khoán có đầu tư ): Gồm 3 đội với số
hộ nhận khoán là 539 hộ
Bảng 4: Diện tích của các đội nhận khoán
AN THUẬN (Khoán có đầu tư ) PHƯỚC AN (Khoán không đầu tư)
Nguồn: Phòng quản lý sản xuất
Diện tích của hai hình thức khoán tương đương nhau Tại An Thuận cótổng diện tích là 407 ha, Phước An có tổng diện tích là 440 ha Số diện tíchtương đương nhau nhưng số hộ nhận khoán có sự chênh lệch, ở Phước An vớitổng số hộ nhận khoán 539 hộ còn tại An Thuận tổng số hộ nhận khoán chỉ là
381 hộ ít hơn Phước An 158 hộ Do Phước An được thành lập từ lâu nên dân
cư ở vùng này từ các tỉnh ở khu vực phía Bắc vào làm ăn kinh tế tương đốinhiều
Tuy vậy, sản lượng mà cả hai hình thức khoán đem lại cho công ty thìngược lại với số diện tích và số hộ nhận khoán Trong niên vụ vừa qua2008/2009 tại An Thuận đóng góp với tổng sản lượng 7.206.247 tấn bao gồmsản lượng khoán 3.558.477 tấn và vượt khoán 3.647.770 tấn Còn tại Phước Anđạt là 1.498.294 tấn bao gồm sản lượng khoán 1.296.331 tấn và vượt 201.963tấn
Năm vừa qua tại cơ sở Phước An sản lượng đạt được thấp hơn nhiều so
với cơ sở An Thuận là 5.909.916 tấn Lý do để giải thích cho sự chênh lệch đó
là số diện tích cà trồng năm 1978, 1980 tập trung nhiều nhất ở tại Phước An,với tuổi cây 29 năm đến 30 năm nên sản lượng cho lại rất thấp Do đó hiện nay,
Trang 26diện tích cà phê trong giai đoạn kinh doanh của công ty đã có phần giảm chỉcòn khoảng dưới 847 ha so với lúc mới thành lập
Bảng 5: Sản lượng cà phê của các đội niên vụ 2008/2009
Nguồn phòng quản lý sản xuất
Hiện nayđể khắc phục những vườn cây cà phê già cỗi có độ tuổi 30 nămkém hiệu quả công ty đã chuyển sang trồng những cây trồng có hiệu quả kinh
tế hơn như sầu riêng, điều, ca cao, Công ty cà phê Phước An vừa đầu tư 6,4
tỷ đồng trồng 121.000 cây sầu riêng giống cơm vàng hạt lép trên diện tích1.000 ha
1.3.4 Những thuận lợi và khó khăn của công ty
1.3.4.1 Thuận lợi
- Sự lãnh đạo trực tiếp, chỉ đạo sâu sắc của lãnh đạo Ngành và các Banchuyên môn tổng công ty cà phê Phước An, sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBNDtỉnh Đắk Lắk đã đồng tình ủng hộ giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi
- Trong những năm gần đây với những cố gắng chuyển giao kỹ thuật,nâng cao đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, sự cố gắng trong việc nhậnkhoán vườn cây của các hộ gia đình được thực hiện một cách hợp lý và đúngquy trình
1.3.4.2 Khó khăn
Trang 27- Thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nhiều giữa vụ, nắng hạn kéo dàichẳng hạn như niên vụ 2005/2006 vừa qua.
- Giá xăng dầu, phân bón và một số vật tư tăng đột biến đến giá thànhlàm giá thành tăng cao trong những năm trở lại đây
- Tỷ lệ vốn vay ngân hàng lớn, lãi suất cao ảnh hưởng lớn đến kế hoạchsản xuất kinh doanh của công ty và của hộ nhận khoán
- Diện tích cà phê của công ty trong độ tuổi từ 26 -30 năm chiếm tươngđối khiến cho sản lượng thu hoạch thấp và chi phí đầu tư của hộ cao
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp thống kê kinh tế
1.4.1.1 Điều tra thu thập số liệu
* Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập từ các nguồn số liệu ở các phòng banliên quan đến nội dung của đề tài thuộc công ty cà phê Phước An, tư liệu trêncác sách báo, tạp chí, mạng Internet…
* Nguồn số liệu sơ cấp: Là nguồn số liệu do bản thân điều tra thu thập được
từ hai đội nhận khoán của công ty cà phê Phước An trong thời gian thực tập
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏngvấn trực tiếp hộ gia đình theo bảng câu hỏi điều tra và chuẩn bị trước, kết hợpvới quan sát hiện trạng để thu thập thông tin
Nội dung phiếu điều tra bao gồm:
- Thông tin chung về chủ hộ
- Thông tin về vốn đầu tư và tư liệu sản xuất
- Thông tin về tình hình đất đai
- Thông tin về chi phí trồng cây cà phê
- Thông tin về kết quả sản xuất cà phê
- Thông tin về thị trường
* Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo ý kiến chuyên môn của các cán bộ
kỹ thuật của công ty và một số chủ hộ nhận khoán có trình độ văn hoá cao và
có kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động sản xuất cà phê
Trang 281.4.1.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phương pháp nghiên cứu này nhằmmục đích xác định mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến kết quả sản xuấtcủa hộ
- Phương pháp hàm sản xuất: Phương pháp này được sử dụng để phântích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất chính đến giá trị gia tăng được trên 1 hađất trồng cà phê của các hộ điều tra nhận khoán cà phê của công ty
Hàm sản xuất sử dụng trong đề tài này là hàm Cobb-Douglas có dạng:
Y = A.X1α1.X2α2.X3α3X4α4.eβDD
Hay: LnY = lnA+α1lnX1+α2lnX2+α3lnX3+α4lnX4+βDD
Trong đó:
Y: Là giá trị gia tăng trên một ha đất trồng cà phê ( triệu đồng/ha )
X1: Chi phí phân bón và thuốc BVTV đầu tư trên một ha cà phê (triệu đồng/ha)
X2: Số ngày công đầu tư trên một ha cà phê (công/ha )
X3: Chi phí tưới nước (triệu đồng/ha )
X4: Kinh nghiệm sản xuất cà phê của chủ hộ (năm )
D: Biến giả định (hình thức khoán)
D = 1: khoán có đầu tư
D = 0: khoán không đầu tư
A: Là hằng số đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ngoài mô hình đếngiá trị gia tăng được tính trên một ha đất trồng cà phê
Trang 29- Tổng chi phí sản xuất (TC): Là toàn bộ những chi phí bằng tiền hoặcvật chất của hộ.
- Chí phí trung gian (IC): Là bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất baogồm: chi phí vật chất và chi phí dịch vụ ( thuê, mua ngoài )
- Giá trị gia tăng (VA): Là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chiphí trung gian của hoạt động sản xuất kinh doanh
VA = GO – IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý bao gồm cả cônglao động của gia đình tham gia sản xuất
MI = VA – khấu hao TSCĐ – thuế
- Lợi nhuận (LN): Là phần thu nhập hỗn hợp còn lại sau khi đã trừ đicác khoản chi phí lao động của gia đình và chi phí hiện vật của hộ
- Chỉ tiêu (GO/IC): Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí trunggian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
- Chỉ tiêu (VA/IC): Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chí phí trung gian
bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
- Chỉ tiêu (LN/IC): Chi tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trung gian
bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Chỉ tiêu (LN/TC): Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thìthu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
b) Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê qua chỉ tiêu NPV, IRR
Để đánh giá đầy đủ qui mô lãi của cả thời kì kinh tế cho cây cà phê là 30năm trong phân tích tài chính thường sử dụng chi tiêu thu nhập thuần, đượctính chuyển về mặt bằng hiện tại kí hiệu là NPV (Net Present Value )
- Giá trị hiện tại thu nhập thuần (NPV) phản ánh quy mô lãi của dự án ởmặt bằng hiện tại
Công thức được xác định như sau :
Trang 30r
C r
n : Chu kỳ kinh tế của cây cà phê
r: Tỷ suất chiết khấu được chọn
- Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ hay nội hoàn (IRR): Phản ánh mức lãi suất mà
dự án có thể đạt được Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà tại đó có giátrị NPV= 0
Trang 31CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CÀ PHÊ CỦA CÁC HỘ NHẬN KHOÁN THUỘC CÔNG TY CÀ PHÊ PHƯỚC AN, HUYỆN KRÔNG PẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ NHẬN KHOÁN ĐƯỢC ĐIỀU TRA TẠI CÔNG TY
2.1.1 Đặc trưng cơ bản của các hộ nhận khoán được điều tra
Tại công ty cà phê Phước An, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk chúng tôi
đã tiến hành điều tra 80 hộ gia đình nhận khoán, trong đó có 66 hộ diện tích càphê đã đưa vào khai thác Từ năm 1977 khi nông trường cà phê Phước An chưađổi tên thành Công ty cà phê Phước An các hình thức khoán tới hộ bắt đầuđược triển khai với qui mô còn khá khiêm tốn Nhưng kể từ năm 1994 trở lạiđây, các hộ gia đình nhận biết được giá trị mang lại từ cây cà phê nên nhiều hộ
đã tiến hành nhận khoán cà phê của công ty khá nhiều Phần lớn số diện tích càphê trồng năm 1978, 1980 chất lượng vườn cây thấp số lượng hộ nhận khoán ítnên kết quả điều tra không thể phản ánh được thực tế hoạt động trồng cà phêcủa các hộ, đồng thời đa số diện tích chủ yếu là người dân tộc Êđê nên kinhnghiệm chưa cao
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành điều tra những hộ gia đình nhận khoán cóvườn cây thu hoạch từ năm 1994 trở lại đây, để đảm bảo được số lượng điều tra
là 80 hộ Bên cạnh do được tiến hành nhận khoán sau nên nhìn chung các hộgia đình có ý thức trong việc đầu tư, chăm sóc để đảm bảo chất lượng vườn câytrong cả quá trình sản xuất Cụ thể gồm 2 đội:
- Đội 10: Với 40 hộ nhận khoán có đầu tư đại diện cho 381 hộ thuộc cơ
Trang 32chênh lệch nhau không nhiều lắm Cụ thể ở Phước An có tổng số nhân khẩu là
194 nhân khẩu bình quân nhân khẩu/hộ là 4,85 người Còn ở An Thuận có tổng
số nhân khẩu là 197 nhân khẩu, bình quân nhân khẩu /hộ là 4,83 người
Bảng 6: Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra
- BQ nhân khẩu/hộ Khẩu/hộ 4,93 4,85 489
3 Độ tuổi TB của chủ hộ Năm 42,53 41,88 41,88
Nguồn số liêu điều tra 2009
Ngoài yếu tố về nhân khẩu thì các yếu tố độ tuổi trung bình, trình độ vănhoá và kinh nghiệm sản xuất cũng không kém phần quan trọng đối với các chủ
hộ Theo kết quả điều tra cho thấy độ tuổi và trình độ văn hoá của các chủ hộnhận khoán tương đối tốt để có thể tiếp cận và vận dụng kỹ thuật, máy móchiện đại trong việc trồng mới, chăm sóc cũng như thu hoạch quả Nếu nhìn trên
Trang 33góc độ bình quân chung của cả hai hình thức khoán thì chủ hộ có độ tuổi trungbình là 41,88 tuổi và trình độ văn hoá trung bình chủ hộ hết lớp 9,25.
Còn xét từng hình thức riêng thì có phần chênh lệch nhau, riêng ở AnThuận có độ tuổi bình quân cao hơn Phước An 42,53 năm, ngược lại ở Phước
An lại có trình độ văn hoá cao hơn ở An Thuận với văn hoá bình quân học đếnlớp 9,25 Bên cạnh đó, cây cà phê là cây đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc không chỉdừng lại ở khía cạnh lý thuyết mà còn được thể hiện ở thực tiễn hàng ngày Do
đó vấn đề về kinh nghiệm được đúc rút qua các năm trồng, chăm sóc, thu hoạchcủa các chủ hộ cũng là khá là quan trọng Theo số liệu bình quân chung chủ hộ
có kinh nghiệm 10,68 năm Trong đó ở Phước An tính bình quân mỗi chủ hộ là10,69 năm, ở An Thuận là 9,7 năm Với mức kinh nghiệm này thì nhìn mộtcách tổng quát vẫn còn hơi thấp
Ngoài những tiêu chí được trình bày trên, trong đề tài này chúng tôi đưathêm hai tiêu chí nữa đó là giới tính và công tác tham gia tập huấn kỹ thuật Sỡ
dĩ đưa thêm vào là vì theo nhìn nhận chủ quan nam giới làm chủ luôn có nhữngquyết định trong việc mở rộng diện tích, hay áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật một cách mạnh dạn hơn nữ giới
Qua số liệu điều tra thì bình quân chung cho cả hai hình thức khoán sốlượng nam giới làm chủ chiếm 60% còn lại là nữ giới, riêng An Thuận namgiới làm chủ chiếm 67,5% một con số khá cao Điều đó cho thấy được phầnnào trong quyết định ở vùng này có thể có phần dễ dàng hơn so với vùngPhước An Vì ta luôn hiểu rằng quyết định của người phụ nữ vẫn luôn thiên vềnhững quyết định mang tính chắc chắn về khả năng sinh lợi cho nông hộ
Cũng theo kết quả điều tra có tới 61,25% bình quân chung cho cả haihình thức khoán là các chủ hộ có tham gia tập huấn, tuy nhiên giữa hai hìnhthức khoán vấn đề tập huấn có sự chênh lệch nhau đáng kể Tại An Thuận vì lànhững hộ có sự đầu tư của công ty trong việc cung cấp phân bón vật tư, chế độtưới nước nên có tới 30 hộ trong tổng số 40 hộ nhận khoán là có tham gia tậphuấn chiếm tỷ lệ khá cao với 75%, ở Phước An chiếm 47,5% Qua đây cho
Trang 34thấy được công tác tập huấn cho người dân nhận khoán của công ty khá bài bản
và luôn được xem là công việc có tính chất thường xuyên Ngoài ra trong quátrình điều tra cho biêt được phần lớn các hộ nhận khoán đều nộp bảo hiểmtrong thời gian nhận khoán ở công ty Phước An nên đều là làm công nhân càphê để được hưởng lương sau khi đến tuổi nghỉ hưu Đặc biệt là hình thứckhoán không đầu tư 100% các hộ nhận khoán đều là công nhân của công tyPhước An
Nhìn chung, các hộ được điều tra cho hai hình thức khoán đều có khảnăng và năng lực rất lớn trong sản xuất cà phê Đây là một thuận lợi lớn để gópphần vào quá trình đi lên của công ty cà phê Phước An trong hoạt động sảnxuất và chế biến ướt sản phẩm
2.1.2 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê của các hộ điều tra
Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thaythế được Trong trồng trọt đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng laođộng, như vậy đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến với quá trình phát triển và sinhtrưởng cuả cây trồng, giá trị sản xuất được tạo ra ngày một lớn nếu chúng tabiết hợp lí nguồn đất đai
Quy mô diện tích cây cà phê có ý nghĩa hết sức quan trọng, nếu diệntích tương đối lớn sẽ làm giảm được các khoản chí phí đầu tư như chi phí trồngmới, tiết kiệm được lao động làm cho năng suất lao động tăng lên đồng thời sẽlàm giảm chi phí quản lý cho các hộ gia đình
Qua số liệu điều tra cho thấy tổng diện tích của các hộ nhận khoán ở haihình thức có sự chênh lệch nhưng không đáng kể, ta thấy rằng diện tích tựnhiên của các hộ ở An Thuận là nhiều nhất bình quân mỗi hộ là 2,17 ha, cònPhước An với diện tích tự nhiên là 2,09 ha bình quân chung cả hai hình thứckhoán là 2,13 ha Nhìn chung quy mô diện tích tự nhiên của các hộ cũng tươngđối lớn
Còn đối với diện tích trồng cà phê với tổng số cả hai hình thức khoán là170,01 ha cho 80 hộ chiếm tổng bình quân chung mỗi hộ có 1,20 ha Trong đó,
Trang 35An Thuận bình quân mỗi hộ có 1,17 ha diện tích trồng cà phê với 0,21 ha diệntích cà phê thời kỳ KTCB và 0,97 ha diện tích cà phê trong thời kinh doanh.Còn Phước An bình quân mỗi hộ có 1,23 ha diện tích trồng cà phê gồm 0,21 habình quân chung cả hai hình thức khoán diện tích thời kỳ KTCB và 1,02 hadiện tích cà phê đã đưa vào hái quả.
Bảng 7: Diện tích trồng cà phê của các hộ điều tra
- Diện tích thời kỳ kinh doanh Ha 0,97 1,02 0,99
Nguồn số liệu điều tra 2009
Như vậy Phước An vẫn có diện tích cà trong thời kỳ kinh doanh khá caohơn so với An Thuận Phần lớn diện tích cà phê cho kinh doanh của cả hai hìnhthức khoán đều trồng từ những năm 1994 trở lại đây, còn số diện tích trồng mớichỉ được trồng từ năm 2006 trở lại đây do một số hộ trồng lại từ những vườn càphê được thay thế từ vườn cây đã quá già Bên cạnh còn do chủ trương quyhoạch của tỉnh Đắk Lắk là ổn định số diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh không
để các hộ dân trồng một cách tự phát như những năm trước đây Vì vậy diệntích trồng mới ở công ty cà phê Phước An không nhiều
2.1.3 Tình hình lao động của các hộ điều tra
Các hộ trồng cà phê đều là những công nhân làm cà phê cho công ty càphê Phước An nên 98,75% nghề nghiệp chính của các hộ là công nhân, do đóphần lớn họ đều sử dụng lao động gia đình là chính Còn lao động thuê ngoàilàm việc mang tính chất thời vụ chủ yếu vào dịp bón phân và thu hoạch quảtrong các tháng 4, tháng 9 và tháng 10 dương lịch Thành phần tham gia laođộng thêm khá lớn, tập trung ở các tỉnh xa đến, với các độ tuổi khác nhau
Trang 36Ngoài ra các hộ còn tự đổi công cho nhau, tuy nhiên cách đổi công này khôngphổ biến
Với tổng số 80 hộ được điều tra thì lao động tính bình quân chung chomỗi hộ của cả hai hình thức khoán 9,74 lao động, bình quân chung/ha là 8,12lao động Với lao động gia đình bình quân chung/hộ là 2,03 lao động chủ yếu
là bố mẹ làm, còn con cái đi học và đi làm ăn nơi khác, nên số lượng không caonhư những nơi khác
Bình quân chung/ha là 1,69 lao động và lao động thuê ngoài chủ yếu làlao động thời vụ chiếm bình quân chung/hộ là 7,71 lao động, bình quân chung/
ha lao động thuê là 6,43 lao động Phần lớn số lao động này được các hộ thuêvào dịp thu hoạch cà phê là chủ yếu, thời gian thuê chỉ khoảng 1 – 2 tháng Nếutính bình quân trên hộ thì số lao động gia đình tham gia vào quá trình hoạtđộng sản xuất cà phê của mỗi hình thức khoán là ở mức khá cao, lần lượt AnThuận có lao động gia đình bình quân/hộ là 2,05 lao động và Phước An 2,00lao động cho một hộ
Theo đánh giá khách quan thì những người dân địa phương chủ yếu lànhững gia đình đi vào làm kinh tế mới từ các tỉnh phía Bắc, nên bản chất laođộng cần cù, khả năng lao động khá tốt
Nói chung các hộ gia đình nhận khoán có lượng lao động tương đối dồidào, hầu như các hộ tận dụng nguồn lao động chính của gia đình điều này sẽgiảm bớt một phần nào đó trong khoản chi phí thuê nhân công
Tình hình lao động của các hộ nhận khoán được thể hiện qua bảng 8 sau:
Trang 37Bảng 8: Tình hình lao động của các hộ nhận khoán được điều tra
Trang 382.1.4 Tình hình sử dụng vốn của các hộ gia đình nhận khoán
Đối với sản xuất thì vấn đề về vốn là rất quan trọng, đặc biệt trongngành trồng trọt thì đối với cây công nghiệp lâu năm vấn đề về đầu tư luôn cầnmột khoản vốn khá lớn mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất Cây cà phê làmột cây công nghiệp dài ngày, thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài 3 - 4 năm Dovậy, quá trình huy động vốn và sử dụng vốn trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến kết quả của cả quá trình kinh doanh cây cà phê Hầu như các hộnhận khoán sử dụng vốn của gia đình là chủ yếu, nguồn vốn vay còn khá khiêmtốn
Qua số liệu điều tra từ bảng 9, cho thấy được vốn bình quân chung/hộ là28,97 triệu đồng và vốn bình quân chung/ha là 24,16 triệu đồng Nhìn chungmức vốn này ở mức vừa phải Riêng ở An Thuận với tổng số vốn trên hộ là26,02 triệu đồng (trong đó mức vốn tự có 18,89 triệu đồng và vốn vay 7,13triệu đồng Còn những hộ khoán không đầu tư ở Phước An thì với tổng vốntrên hộ là 31,91 triệu đồng (trong đó gồm 24,66 triệu đồng là nguồn vốn do tựgia đình có còn lại 7,25 triệu đồng là nguồn vốn hộ đi vay)
Ta thấy ở các hộ nhận khoán không đầu tư chiếm mức vốn cao hơnnhiều so với các hộ khoán có đầu tư, song vốn vay thì cả hai hình thức khoáncòn quá thấp vì các hộ gia đình vẫn còn mang tâm lý “ngại’’vay vốn và chỉ sửdụng nguồn vốn tự có là chính Tuy nhiên do diện tích cà phê của các hộ nhậnkhoán không giống nhau nên mức đầu tư của các hộ có thể sẽ không giốngnhau Vì vậy chỉ tiêu vốn bình quân trên ha sẽ phản ánh khá chính xác có ýnghĩa hơn Được biết, bình quân trên ha của các hộ thuộc vùng Phước An là25,96 triệu đồng, An Thuận là 22,28 triệu đồng Qua thực tế cho thấy năm
2009 vừa rồi các hộ nhận khoán cà phê của công ty cà phê Phước An đầu tưvẫn chưa đúng định mức kỹ thuật đưa ra
Trang 39Bảng 9: Quy mô vốn của các hộ nhận khoán được điều tra
ĐVT: Triệu đồng
Hình Thức khoán
Vốn BQ/hộ
Vốn BQ/ha