luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do nghiên cứu đề tài
Những năm qua, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi rất lớn trên tất cả cáclĩnh vực Trong sự phát triển đó, ngành nông nghiệp nước ta đóng một phần không nhỏvào sự tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa đời sống của nhân dân phần nào thoát khỏicảnh đói nghèo, không chỉ tăng nhanh về giá trị mà còn thúc đẩy nền nông nghiệp pháttriển một cách bền vững, quan tâm đến môi trường sinh thái
Nông nghiệp nước ta đã và đang có những bước phát triển mới trên tất cả các lĩnhvực Các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay ra đời với mục đíchxóa bỏ cơ chế cũ tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo một hướng mới nhằmphù hợp với cơ chế thị trường hiện nay
Việt Nam từ ngàn xưa tới nay đã là một quốc gia gắn liền với việc sản xuất lúanước Hệ thống sản xuất lúa nước thường tồn tại ở những vùng trũng, quanh năm ngậpnước, hay số ngày ngập nước ngắn không đủ để trồng các loại cây khác Vì vậy đặt ravấn đề là phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xây dựng một hệ thống sảnxuất mới, nhằm phá thế độc canh cây lúa đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế và cảithiện môi trường sinh thái Nuôi cá trong ruộng lúa là mô hình canh tác nông nghiệpphát triển ở nước ta trong những năm 1960 – 1965
Nuôi cá nước ngọt trong ruộng lúa ngập nước là một mô hình không mới đối vớicác vùng đồng bằng Sông Cữu Long, sông Hồng và đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọncủa nhiều địa phương nhiều vùng Tuy nhiên, ở tỉnh Quảng Trị thì mô hình “lúa – cá” là
mô hình mới đang được quy hoạch phát triển trong quy hoạch chung về nuôi trồng thủysản của tỉnh Mô hình sản xuất nông nghiệp nói chung và mô hình “lúa – cá” nói riêngphát triển có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa thế độccanh cây lúa trong nông nghiệp, khai thác tốt các tiềm năng và lợi thế của vùng, tạoviệc làm, tăng thu nhập, tăng khối lượng sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và thúc đẩyxuất khẩu phát triển
Quảng Trị - dải đất eo thắt nhất của đất nước, là một tỉnh ven biển thuộc Bắc Trung
Bộ có địa hình phong phú và đa dạng: đồi núi, đồng bằng vên biển, biển và hải đảo
Trang 2Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 4.745,77 km2, dân số 608.967 người, từng là chiếntrường ác liệt trong những năm chống Mỹ và đã bị tàn phá nặng nề, là một tỉnh nghèotrong khu vực Sau gần 30 năm khôi phục và xây dựng, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị
đã có bước phát triển nhất định, trong đó có sự đóng góp của ngành thủy sản
Vĩnh Chấp là một xã thuộc huyện Vĩnh Linh, nơi có nhiều ruộng một vụ khôngchủ động nước, ruộng ô trũng thường xuyên bị ngập úng Số diện tích này lâu nay chỉđộc canh cây lúa, sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp, bấp bênh và rất thuận lợi choviệc chuyển sang thực hiện các mô hình sản xuất lúa kết hợp Trong những năm qua,một số hộ đã chủ động chuyển số diện tích này sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợpnuôi cá nước ngọt với trồng lúa (mô hình “lúa – cá”) đem lại hiệu quả kinh tế cao Đặcbiệt trong những năm trở lại đây, nhờ sự đầu tư hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức phichính phủ điển hình là dự án Chia Sẻ nên sản xuất của bà con đã đi vào ổn định hơntrước và năng suất, chất lượng được nâng cao rõ rệt hơn trước Vì vậy, việc đáng giáđúng thực trạng, chính xác hiệu quả kinh tế mô hình “lúa – cá” có ý nghĩa quan trọngđối với sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề nuôi cá nước ngọt ở ruộng lúa nóiriêng trên địa bàn xã Vĩnh Chấp
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“ Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình “lúa – cá” của các hộ nông dân được hỗ trợ bởi dự án Chia Sẻ ở xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận và thực tiễn về mô hình “lúa – cá”
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình “lúa – cá” của các nông hộ được hỗ trợbởi dự án Chia Sẻ trên địa bàn xã
- So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình độc canh cây lúa với mô hình “lúa – cá”
Trang 3- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và nhân rộng mô hình.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các nông hộ thực hiện mô hình “lúa – cá” trên địa bàn xã Vĩnh Chấp, huyện VĩnhLinh, tỉnh quảng Trị được hỗ trợ bởi dự án Chia Sẻ
+ So sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình “lúa – cá” và “lúa – lúa”
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đây là phương pháp chung để nhận thức bản chất của các hiện tượng tự nhiênkinh tế và xã hội Nó yêu cầu nghiên cứu các hiện tượng không phải trong trạng tháiriêng lẽ, cô lập mà trong mối liên hệ động bản chất của các hiện tượng; không phảitrong trạng thái tĩnh mà trong sự phát triển từ thấp tới cao, trong sự chuyển biến từ sốlượng sang chất lượng mới, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
1.5.2 Phương pháp thống kê kinh tế
a Điều tra thu thập số liệu:
- Số liệu thứ cấp: Thu thập tại UBND xã Vĩnh Chấp, Phòng Nông nghiệp huyệnVĩnh Linh, phòng Nông nghiệp thuộc sở Kế hoạch và đầu tư, Ban quản lí dự án Chia
Sẻ, các báo cáo, tạp chí, tài liệu, một số website có liên quan đến kết quả thu nhập
- Số liệu sơ cấp: Căn cứ vào tình hình sản xuất của xã cũng như của các thôn tôichọn ra 2 thôn của xã để tiến hành điều tra Đó là thôn Lai Bình và thôn Bắc Phú, mỗithôn 30 hộ, trong đó 15 hộ sản xuất lúa 2 vụ, 15 hộ áp dụng mô hình “lúa – cá”
Chọn mẫu điều tra: chọn ngẫu nhiên, tổng số mẫu là 60 hộ
Nội dung điều tra: Điều tra các thông tin liên quan phục vụ cho đề tài nghiên cứudựa trên các thông tin trong bảng hỏi, đó là về: thông tin về hộ điều tra (tuổi, kinh
Trang 4nghiệm, trình độ văn hóa, tổng số nhân khẩu, tổng số lao động nông nghiệp ); tìnhhình đất đai; chi phí đầu tư; năng suất; sản lượng; các khó khăn trở ngại của hộ cũngnhư nhu cầu, mong muốn của các hộ điều tra.
b Tổng hợp số liệu thống kê:
Để tổng hợp số liệu thống kê tôi đã sử dụng các phương pháp
- Sử dụng bảng biểu: Tổng hợp, phân tích, so sánh các chỉ tiêu cơ bản của sảnxuất nông nghiệp
- Phương pháp phân tổ thống kê: Được sử dụng chủ yếu để tổng hợp kết quả từthu thập thông tin số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp
c Phương pháp so sánh:
- So sánh chênh lệch các chỉ tiêu giữa hai mô hình trên địa bàn xã
- So sánh tính bền vững của hai mô hình, nhằm phát hiện ra những ưu điểm vànhược điểm, thuận lợi và khó khăn, làm cơ sở để đưa ra những giải pháp nhằm nângcao hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp nói chung và hiệu quả kinh tế của mô hình “lúa – cá” nói riêng
d Phương pháp chuyên gia:
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã trao đổi và tham khảo ý kiến của các cán
bộ chuyên môn, các hộ nông dân thực hiện mô hình ở xã Vĩnh Chấp và các xã khác,những người có liên quan và am hiểu sâu sắc về vấn đề nghiên cứu nhằm bổ sung vàhoàn thiện cho bài viết của tôi
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm và các mô hình sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm mô hình, mô hình sản xuất
Mô hình là những hình mẫu để làm đơn giản hệ thống, mô hình mang những tínhchất của hệ thống để giúp cho chúng ta nghiên cứu hệ thống một cách dễ dàng, nghiêncứu mô hình để chọn cách quản lí, điều hành hệ thống
Mô hình sản xuất là hình mẫu sản xuất, thể hiện sự kết hợp giữa các nguồn lực trongcác điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu về mặt sản phẩm và lợi ích về kinh tế
Mô hình là một công cụ nghiên cứu khoa học, giúp cho các nhà khoa học hiểubiết đánh giá và tối ưu hoá hệ thống Mô hình còn giúp chúng ta dự báo nghĩa lànghiên cứu hệ thống phức tạp trong các điều kiện mà chúng ta chưa thể quan sát haytạo ra được, không thể quan sát trong thế giới thực tại Mô hình còn được dùng đểđánh giá tác động của các biện pháp quản lí nguồn tự nhiên
1.1.1.2 Mô hình sản xuất nông nghiệp
Mô hình nông nghiệp là mô hình mô tả các hoạt động của hệ thống nông nghiệp.Nhờ đó mà chúng ta có thể mô tả các hoạt động sản xuất nông nghiệp tốt hơn, hoànthiện hơn
1.1.2 Giới thiệu về mô hình sản xuất “lúa – cá”
1.1.2.1 Mô tả về mô hình “lúa – cá”
Nuôi cá trong ruộng lúa có các hình thức nuôi sau:
+ Nuôi luân canh (lúa - cá): Là nuôi cá vào vụ Hè Thu, còn cấy lúa vào vụ ĐôngXuân và được thực hiện ở vùng ruộng trũng, canh tác bấp bênh vào vụ mùa
+ Nuôi xen canh (lúa - cá - lúa): vừa trồng lúa, vừa nuôi cá trong ruộng
+ Nuôi cá vụ 3: tiến hành sản xuất hai vụ lúa và nuôi thêm vụ cá vào mùa mưa
Trang 6Mô hình này là mô hình nông nghiệp phát triển bền vững về nhiều mặt: về kinh tếđảm bảo hiệu quả kinh tế lâu bền, tạo công ăn việc làm, không làm cạn kiệt nguồn tàinguyên.
Thữa đất để áp dụng mô hình: ruộng trũng, vùng trũng, lúa chỉ 1 vụ - 2 vụ, lúacấy hay sạ hàng là tốt nhất thuận tiện tưới tiêu, mức nước đủ sâu, mùa nước phải chủđộng, trong sạch giàu oxi, gần kênh rạch để tiện cấp thoát nước, ruộng ít phèn, ruộngnuôi rộng hay hẹp tuỳ theo gia đình Diện tích tối thiểu là 1000m2 (0.1 ha), gần nhà đểtiện chăm sóc và quản lí
- Kiến thiết ruộng nuôi cá: trong ruộng phải có mương chuông, bờ bao quanh.+ Mương bao: đào cách bờ 0.5m để tránh từ bờ lở xuống, diện tích mương baokhoảng 20% - 30% diện tích ruộng, đối với ruộng nuôi rộng nên xẽ thêm các mươngphụ (dạng xương cá) để cá lên ruộng dễ Mương bao có tác dụng giữ nước quanh năm,dồn cá khi thu hoạch
+ Bờ bao: bờ bao chắc chắn, giữ nước trong mùa lũ Chiều rộng mặt bờ 2 - 3m.+ Cống: mỗi ruộng nên có 1 - 2 cống (tuỳ theo ruộng lớn hay nhỏ) Cống đượclàm bằng xi măng, ống sần hay bọng dừa Tác dụng của cống đó là cấp thoát nước choruộng, thoát nước ra lúc sạ
- Chuấn bị ruộng cấy lúa: ruộng cấy lúa phải cải tạo kĩ hơn ruộng trồng lúa truyềnthống, vì ngoài việc trồng lúa còn ảnh hưởng tới việc thả cá, do vậy phải làm ruộng kĩ
để tạo độ pH hợp lí, diệt các mầm bệnh cho cá… Cần có các biện pháp hỗ trợ nhằmtăng thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá, cải tạo ruộng lúa (bón phân, bón vôi…)
- Mật độ thả cá: tuỳ theo từng chân ruộng khác nhau mà áp dụng mật độ thả cácho phù hợp Đối tượng chủ yếu là cá chép, còn lại thả các loại cá khác nhau như: cá
mè, cá rô phi đơn tính, cá lóc… để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên ở các tầng nướckhác nhau Thường thì 3 m2 /cá chép còn lại ghép các loại cá khác
1.1.2.2 Đặc điểm của cá nuôi ở ruộng, của cây lúa
a Đặc điểm của loài cá nuôi ở ruộng
- Cá rô phi: Là loài cá ăn tạp thức ăn chủ yếu gồm các tảo dạng sợi, các dạng
động thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng các loại côn trùng, động vật sống ở
Trang 7nước Ngoài ra chúng còn có khả năng ăn thức ăn bổ sung như: cám, bột ngô, các phếphẩm khác và thức ăn viên.
- Cá mè: Cá mè không ăn trực tiếp các loại phân hữu cơ như phân vịt, phân lợn,nhưng những loại phân này là thức ăn cho các loại thực vật phù du phát triển do vậy
nó có tác dụng gián tiếp tạo ra nguồn thức ăn cho cá Cá mè có 2 loại: cá mè trắng và
- Cá lóc: là loài cá ăn tạp, ăn các loài thức ăn như cá con, tôm, tép…
- Cá trê: cá trê thuộc loại cá ăn tạp, chúng ăn tất cả các loại cá con, tôm, tép, cácloại ấu trùng, các loại phân hữu cơ, phân chuồng, phân bắc… Do đặc điểm như vậynên nếu nuôi cá trê trong ruộng lúa thì cần bón nhiều phân chuồng
Vì vậy, người dân cần nắm rõ đặc điểm của từng loại cá để có mức đầu tư, mật
độ thả, cũng như thời gian thả phù hợp nhằm tăng hiệu quả của mô hình
b Đặc điểm của cây lúa
Cây lúa thuộc họ hoà thảo Graminêa bộ Graminaoef có nguồn gốc từ nhiều nơithuộc Đông Nam Á Cùng với lúa mì, lúa gạo là cây lương thực chính nuôi sống conngười được loài người trồng trọt và phát triển, nghề trồng lúa phát triển với nền vănminh của nhân loại
Từ ngàn xưa, nông dân Việt Nam đã là những người trồng lúa có kinh nghiệm vàtrong mỗi địa bàn sản xuất khác nhau, với những điều kiện khí hậu thổ nhưỡng khácnhau, người nông dân đã sáng tạo ra được những kinh nghiệm, kĩ thuật trồng lúa vớinhững nét độc đáo riêng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng Tuy hiện nay
có nhiều giống lúa khác nhau nhưng về cơ bản có những đặc điểm sau:
- Thời gian sinh trưởng của cây lúa: Thời gian sinh trưởng của cây lúa từ lúc nảymầm cho tới lúc chín thay đổi từ 90 - 180 ngày, nó phụ thuộc vào giống và điều kiệnngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng…
Trang 8- Các thời kì sinh trưởng phát triển:
+ Trong thời kì sinh trưởng dinh dưỡng: Từ lúc gieo cho đến khi làm đồng, câylúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như: lá, thân, rễ… quátrình phát triển của cây lúa trong thời kì này trải qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn mạ (từ đầu đến khi mạ có 5 lá thật)
- Giai đoạn đẻ nhánh (bắt đầu từ khi cây mạ có nhánh cho đến khi đạt được sốnhánh tối đa)
- Giai đoạn vươn tốt
Thời kì này dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào giống và điều kiện ngoại cảnh.+ Thời kì sinh trưởng sinh thực: Là thời kì phân hoá, cơ quan sinh sản, cây lúabắt đàu ra hoa, tập hợp thành bông lúa, bao gồm các quá trình: làm đồng, trổ bông vàhình thành hạt, thời kì này kéo dài trong khoảng 30 ngày, thời kì này quyết định số hoatrên một bông lúa, tiền đề cho việc quyết định số hạt trên tối đa
+ Thời kì chín: Bắt đầu từ khi phơi mào (chín sữa) đến khi hạt chín hoàn toàn,kéo dài trong vòng 30 ngày ở tất cả các giống lúa Trong thời kì này, nhiệt độ ôn hoà,
độ ẩm vừa phải, lượng nước vùa đủ, trời nắng là điều kiện thuận lợi cho việc tíchlượng tinh bột, lúa chín, hạt chắc
Như vậy, quá trình sinh trưởng của cây lúa được chia làm nhiều giai đoạn, mỗigiai đoạn đòi hỏi các yếu tố như chất dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng khác nhau Nắmđược các mối quan hệ này, chúng ta mới có thể có cơ sở xây dựng các kế hoạch sảnxuất, áp dụng các biện pháp kĩ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa.trong mô hình “lúa – cá” nắm được đặc điểm này để chọn thời gian cũng như mật độthả cá phù hợp
1.1.3 Các lợi ích từ phương pháp nuôi cá kết hợp
Cá và lúa sống chung nhau trong ruộng lúa không có sự cạnh tranh về thức ăn,ngược lại chúng có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau
Ruộng lúa cung cấp thức ăn cho cá: các loài cỏ dại, rơm rạ mục, thóc rụng, hạt
cỏ, sâu bọ, các loài động vật sống trong ruộng lúa…đều có thể là thức ăn cho các loài
cá Nhờ hệ thống thức ăn này, nông dân đã tiết kiệm được chi phí thức ăn cho cá
Trang 9Cá cải tạo điều kiện sống cho cây lúa: các loại chất thải của cá tích tụ có tác dụngnhư một phần phân bón làm tăng độ mùn, đội xốp cho ruộng lúa Cá thường xuyênkiếm thức ăn bằng cách sục bùn, làm cho ruộng lúa thoáng khí, tầng oxi hoá hoạt độngmạnh tạo điều cho cây lúa sinh trưởng phát triển tốt Cá ăn các loài sâu bọ, côn trùnglàm giảm dịch hại cho ruộng lúa Nuôi cá kết hợp trong ruộng lúa giúp người nông dângiảm được chi phí nhân công làm cỏ, giảm chí phí bảo vệ thực vật, giảm chi phí đầu tưthức ăn cho cá và kết quả sau cùng là tăng lợi nhuận/đồng vốn bỏ ra của nông dân.Tóm lại: nuôi cá kết hợp với trồng lúa mang lại nhiều lợi ích:
- Tạo công ăn việc làm, tăng tính chủ động cho người dân.
- Tăng nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, đa dạng hoá sản phẩm, cải thiệnđời sống người dân
- Khuyến khích chăn nuôi phát triển, cung cấp nguồn phân bón cho mô hình
- Cá sục bùn, diệt cỏ dại, có lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây lúa, tăngnăng suất lúa
- Tạo mối quan hệ sinh thái có lợi cho mọi sinh vật và giảm ô nhiễm môi trường
1.1.4 Điều kiện phát triển mô hình sản xuất lúa cá
Ruộng trũng là những chân ruộng luôn luôn ổn định mức nước, có khi ngập nướcvào mùa mưa Ở ruộng trũng có nhiều loài sinh vật sinh sống, nó cung cấp một nguồnthức ăn dồi dào cho cá, cụ thể bao gồm các động thực vật sau:
- Động vật nổi: Có khoảng 50 loài động vật nổi ở ruộng trũng, trong đó giáp xác
có 15 loài, nhuyễn thể có 19 loài, giun đốt có 24 loài, côn trùng 7 loài trưởng thành…
- Thực vật lớn đó là các loài rong, vào mùa nước lớn các loài này phát triểnmạnh Tuy nhiên khi cấy lúa nó sẽ bị người dân nhổ đi
- Động vật sống quanh gốc lúa và bụi thuỷ sinh: Đây là nhóm động vật chuyênsống bám dựa vào các động vật lớn và sống trong gốc lúa vào mùa cấy lúa Đây lànguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cho cá, nguồn thức ăn này càng phát triển nếu chúng tabiết đầu tư thêm nhiều phân bón hữu cơ cho ruộng lúa
- Thực vật thấp: Đó là các loại tảo, những loài này phát triển rất nhanh khi ruộngngập nước Đặc điểm nuôi cá ở ruộng lúa chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên Như vậy
Trang 10trong mô hình này cần chú ý tới đặc điểm này để có các biện pháp tăng thêm nguồnthức ăn cho cá.
1.2 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
Ngày nay, bất kì là sản xuất trên lĩnh vực nào thì hiệu quả kinh tế luôn được coitrọng và là mục tiêu phấn đấu được đặt lên hàng đầu của các doanh nghiệp
và phân tích kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí bỏ
ra và kết quả thu được
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan thể hiện trình độ tổ chứcquản lí, trình độ tổ chức sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiện nay, chỉ tiêu hiệu quả không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế mà phải baogồm hiệu quả về xã hội và môi trường Một doanh nghiệp làm ăn được coi là hiệu quảkhi các hoạt động sản xuất của nó tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội củatoàn vùng, nâng cao đời sống vật chất và bảo vệ môi trường sinh thái Đó không phải
là một việc dễ, đặc biệt là trong thời đại ngày nay thì doanh nghiệp nào làm ăn khôngmang lại hiệu quả kinh tế thì sẽ bị tẩy chay khỏi thương trường Điều đặc biệt hơn nữa
là khi chúng ta đã gia nhập WTO thì cuộc chiến đó sẽ càng trở nên gay gắt, quyết kiệthơn; kẻ yếu sẽ phải nhường chổ cho kẻ mạnh Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phảikhông ngừng đổi mới, cải thiện, và hoàn chỉnh mình
Trang 11Trong nông nghiệp thì đối tượng chủ yếu là cây trồng vật nuôi, do đó việc đánh giáchính xác hiệu quả kinh tế trong sản xuất là cơ sở để các đơn vị thực hiện các biện phápcanh tác hợp lí, lựa chọn các giống cây trồng phù hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng.Chính vì thế mà hiệu quả kinh tế được xem trọng và được đánh giá một cáchthường xuyên và chính xác, và đây được xem là tiêu chuẩn cao nhất của mọi lựa chọnkinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất
* Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): Toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụđược sáng tạo ra trong nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là 1 năm
GO =
n i
i
QiPi
0Trong đó:
Pi: đơn giá/sản phẩm
Qi: khối lượng sản phẩm thứ i
* Chi phí trung gian (IC): Là một bộ phận cấu thành của sản xuất bao gồm nhữngchi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (kể cả khấu hao) sản phẩm nông nghiệp Chiphí trung gian trong hoạt động sản xuất bao gồm chi phí vật chất trực tiếp và chi phídịch vụ thuê
Chi phí trung gian (IC) = chi phí vật chất + chi phí dịch vụ (mua hoặc thuê ngoài)
* Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng (VA): Là chỉ tiêu phản ánh những phầngiá trị do lao động sáng tạo ra trong một thời kì nhất định Đó chính là một bộ phậncủa giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian
VA = GO- IC
* VA/IC: (hiệu suất chi phí trung gian theo giá trị gia tăng) chỉ tiêu này mang tínhtổng hợp cho biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng giátrị gia tăng Đây là chỉ tiêu quan trọng để lựa chọn phương án đầu tư tốt nhất tronggiới hạn nguồn lực chi phí
* GO/IC: Chỉ tiêu cho biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được baonhiêu đồng giá trị sản xuất
Trang 12* VA/GO: Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng giá trị sản xuất ta tích luỹ được baonhiêu đồng giá trị gia tăng, đây là nguồn thu thực tế trong quá trình đầu tư sản xuất.
* GO/LĐ: Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp trên tổng số ngày công lao động trênmột đơn vị diện tích Cho biết một ngày công lao động tạo ra bao nhiêu giá trị sản xuất
* VA/LĐ: Giá trị gia tăng trên số ngày công lao động của một đơn vị diện tíchphản ánh được một ngày công lao động tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
* Các lượng tăng giảm giá trị tuyệt đối của các chỉ tiêu nghiên cứu
1.3 Giới thiệu dự án Chia Sẻ
Chương trình giảm nghèo "Chia Sẻ" Việt Nam - Thuỵ Điển là chương trình hợptác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Thuỵ Điển Chương trình bắtđầu năm 2003
Chương trình nhằm mục đích giảm nghèo ở Việt Nam bằng việc giúp đỡ nhữngngười nghèo xác định và bày tỏ nhu cầu phát triển của họ, hướng dẫn cho họ cácphương pháp để họ có thể tiếp cận dễ dàng hơn các nguồn lực cần thiết như: vốn, dịch
vụ khuyến nông, lâm… Đồng thời, dự án Chia Sẻ hỗ trợ các chính quyền và các đơn vịcung cấp dịch vụ tại địa phương để đáp ứng với những nhu cầu của người dân mộtcách chuyên nghiệp hơn, có trách nhiệm hơn và kịp thời hơn
1.3.1 Mục tiêu của dự án
Hai phía Việt Nam và Thuỵ Điển đã thống nhất về một mục đích chung là "Các
hộ nghèo có thể tiếp cận tốt với nguồn lực giảm nghèo" Dự kiến đạt được mục đíchnày, cùng với sự hỗ trợ của cấp Trung Ương, sẽ góp phần giảm tình trạng nghèo đói vàphát triển kinh tế bền vững tại địa phương Khi không còn nghèo đói và kinh tế pháttriển bền vững, Việt Nam sẽ có một xã hội công bằng và ổn định
1.3.2 Các hoạt động của dự án
- Xây dựng năng lực cho cộng đồng, hộ gia đình ở địa phương, các cơ quan chínhphủ tham gia, và hỗ trợ cho quá trình lập kế hoạch, quản lí và cấp vốn phát triển ở địaphương
- Tạo môi trường thuận lợi cho xoá đói giảm nghèo hiệu quả dựa trên dựa trêncác kế hoạch, các chính sách và thủ tục cấp xã, huyện, tỉnh, và cấp quốc gia
Trang 13- Đầu tư đa ngành và hỗ trợ từ Chính phủ, khu vực tư nhân và xã hội để đáp ứngnhu cầu cần được hỗ trợ ở địa phương.
- Phối hợp và hợp tác giữa các tổ chức Chính phủ, khu vực tư nhân, xã hội và cácnhà tài trợ
1.3.3 Các hỗ trợ của dự án đối với các hộ sản xuất theo mô hình "lúa - cá"
Dự án đã đầu tư nhiều lớp tập huấn kĩ thuật trong lĩnh vực trồng trọt và chănnuôi Đặc biệt là đầu tư cho hoạt động đào ao, cải tạo ruộng lúa để nhằm mục tiêu thựchiện việc kết hợp trồng lúa nuôi cá, mô hình “lúa - cá” Đây là hoạt động thực hiện phùhợp với sự thay đổi cơ cấu cây trồng từ những vùng đất trũng sản xuất lúa năng suấtthấp sang nuôi cá lúa kết hợp, thu được kết quả cao, và tạo được việc làm cho ngườilao động
Dự án đã đầu tư 313,1 triệu đồng cho 84 hộ đào ao, cải tạo ruộng nuôi cá, và hổtrợ đầu tư giống cá cho 60 hộ
Sau khi được đầu tư về kĩ thuật nuôi cá và được tham quan mô hình nuôi cá kếthợp trồng lúa, hay kết hợp nuôi lợn nhiều hộ đã áp dụng tốt mô hình này và đã pháthuy được hiệu quả, tạo được thu nhập cao
1.4 Cơ sở thực tiễn
Tình hình thực hiện mô hình “lúa - cá” ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của FAO (2000) cho rằng, trên thế giới nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là mô hình nuôi cá trong ruộng lúa ngày càng có nhiều nghiên cứu và phát triển ở nhiều nơi ở Châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam Hiện nay, nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, hỗ trợ giúp
đỡ nhân dân nhằm mục đích là phát triển nông nghiệp, tận dụng được các nguồn lực tự nhiên của vùng và của địa phương Được sự giúp đỡ và quy hoạch của các cấp chính quyền và địa phương nhiều huyện trên cả nước đã đưa vào áp dụng
mô hình lúa cá trên những vùng ruộng chiêm trũng, canh tác vụ mùa bấp bênh.
Điển hình có các hộ nông dân huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế Từ 89 hộ
tham gia với diện tích thả nuôi 60 ha ban đầu, đến nay toàn huyện có gần 200 hộ ở 7
xã trên địa bàn tham gia, cho lãi từ 30 đến 40 triệu đồng/năm/hộ, cao gấp 5 đến 6 lần
Trang 14so với trồng lúa đơn thuần Hoặc các hộ nông dân ở huyện Yên Mô với 1.250 ha ruộngtrũng và gần 1.000 ha mặt nước ao, hồ, Yên Mô có nhiều tiềm năng để phát triển nghềnuôi cá Từ năm 2004, huyện đã có chủ trương chuyển diện tích ruộng trũng cấy lúakém hiệu quả sang cấy lúa kết hợp với nuôi cá, bước đầu xây dựng mô hình ở xã YênThắng, sau đó nhân rộng ra các xã đồng chiêm trũng trên địa bàn huyện Qua 5 nămthực hiện chuyển đổi, lợi ích từ cấy lúa và nuôi cá kết hợp là rất lớn Giá trị thu nhậptrên một đơn vị diện tích cao gấp 1,5 lần so với chuyên canh lúa trong khi chi phí sảnxuất giảm rõ rệt Nhờ phát triển các trang trại “lúa - cá” mà đời sống của nhiều hộnông dân trong huyện được cải thiện đáng kể.
Ông cha ta đã có câu: “tấc đất, tấc vàng”, cho đến hôm nay câu nói đó vẫn cònnguyên giá trị Khoa học này càng phát triển, trình độ con người ngày một nâng cao,
dù đất có bạc màu, có khô cằn mấy đi chăng nữa thì con người sẽ tìm ra các biện pháp
và cách thức cải tạo đất cũng như các biện pháp thâm canh để dựa vào đất tìm ra cáchphục vụ đới sống con người; đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 15Chương II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH LÚA – CÁ CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN ĐƯỢC HỔ TRỢ BỞI DỰ ÁN CHIA SẼ Ở
XÃ VĨNH CHẤP - HUYỆN VĨNH LINH - TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Vĩnh Chấp
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Chấp là một xã nằm ở phía Tây Bắc huyện Vĩnh Linh, cách trung tâm thịtrấn huyện Vĩnh Linh khoảng 8 km về phía Tây Bắc Xã có vị trí địa lý như sau:
Phía Đông giáp xã Vĩnh Tú
Phía Tây giáp xã Vĩnh Khê
Phía Nam giáp xã Vĩnh Long
Phía Bắc giáp xã Sen Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình
2.1.1.2 Địa hình
Xã Vĩnh Chấp có 2 dạng địa hình chính
+ Địa hình vùng gò đồi với những đồi núi, núi hình bát úp trải dọc địa giới phíaTây của xã, có độ dốc thấp dần từ Tây sang Đông Đây là vùng địa hình đặc trưng chovùng gò đồi của huỵên thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp và phát triển cây côngnghiệp lâu năm như cao su, hồ tiêu
+ Địa hình đồng bằng chạy dọc trục đường Quốc lộ 1A nằm ở phía Đông của xã
và dọc theo các khe suối Đây là khu vực tập trung dân cư và sản xuất nông nghiệp
Trang 16* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng +24,60C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng
1 dao động từ 18-200C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 dao động từ 32-350C
Nhiệt độ trung bình thấp nhất (mùa lạnh) 18,90C
Nhiệt độ trung bình cao nhất (mùa nóng) 29,10C
Ở đây không hoặc ít có sự chênh lệch về nhiệt độ theo độ cao chỉ có sự chênhlệch nhiệt độ theo mùa Trong thời gian chuyển tiếp từ nóng sang lạnh và ngược lại cóhoạt động của gió chuyển mùa từ bắc bán cầu gây ra mưa phùn Mức biên đới nhiệt độ
từ các tháng cuối mùa nóng sang đầu mùa lạnh khoảng 40C, sau đó giảm ít đi Trongmùa lạnh có nhiệt độ <150C thường gây ảnh hưởng không tốt đến cây trồng
* Chế độ mưa
Hàng năm xã Vĩnh Chấp nhận được một lượng mưa trung bình khoảng 2325mm.Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều, phần lớn tập trung từ tháng 9 đến tháng 12chiếm khoảng 64 - 70% tổng lượng mưa hàng năm Số ngày mưa trong năm là 146ngày Cường độ mưa tương đối lớn, cường độ mưa trong 24 giờ lớn nhất khoảng419,5mm, trong khi đó lớp thực vật che phủ không còn nhiều nên hiện tượng xói mònxảy ra mạnh
* Độ ẩm không khí
Xã Vĩnh Chấp nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung mùa mưa là mùa lạnh , mùanóng là mùa khô Thời kỳ ẩm ướt nhất xảy ra vào khoảng tháng 2, tháng 3 Độ ẩmkhông khí trung bình trong năm 83%, trong các tháng mùa hạ độ ẩm tương đối trungbình từ 78-85% nhưng có thời điểm xuống đến 27-41% (từ tháng 4 đến tháng 8).Lượng bốc hơi trung bình năm tại xã Vĩnh Chấp vào khoảng 1000-1200mm,lượng bay hơi lớn nhất 24 giờ khoảng 22mm và thường xảy ra vào mùa hạ, trongnhững ngày có gió tây nam khô nóng mạnh Trong các tháng mùa đông lượng baylượng bay hơi thường nhỏ, ngược lại mùa hè (tháng 5- tháng 9) lượng bay hơi chiếm70-75% tổng lượng bay hơi cả năm
* Bão lụt
Sự khắc nghiệt của chế độ khí hậu ở Quảng Trị nói chung và xã Vĩnh Chấp nóiriêng càng trở nên khắc nghiệt hơn khi bên cạnh thời kỳ khô hạn gay gắt lại đến thời
Trang 17kỳ chịu ảnh hưởng của bão lụt nặng nề Bão lụt thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 11( chủ yếu tập tung từ tháng 8 đến tháng 10) Mùa bão thường là mùa mưa, khi có bãomưa càng lớn, nước từ thượng nguồn các con sông suối đổ về đồng thời nước biểndâng lên gây lụt lội.
2.1.1.4 Nguồn tài nguyên nước
* Nước ngầm
Mặc dù chưa có tài liệu điều tra chính thức nhưng qua khảo sát thăm dò sơ bộ xãVĩnh Chấp có nguồn nước ngầm tương đối dồi dào và chất lượng tốt, có thể đáp ứngcho nhu cầu sinh hoạt và bổ sung một phần cho sản xuất
2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên khác
* Tài nguyên đất
Vĩnh Chấp có tổng diện tích tự nhiên: 5.529,97 ha (theo số liệu thống kê năm2007) Đất đã sử dụng: 20.445,39 ha chiếm 58,93% hiện còn 14.244,01 ha đất chưa sửdụng chiếm 41,06%
Trên địa bàn xã Vĩnh Chấp có một số nhóm đất chính như sau:
- Nhóm đất sỏi vàng: Đây là nhóm đất phổ biến và chiếm chủ yếu diện tích của
xã (3/4 tổng diện tích tự nhiên của toàn xã) Loại đất này rất thích hợp cho việc trồngcây công nghiệp như cau su, hồ tiêu…
- Nhóm đất phù sa được bồi đắp hàng năm chiếm diện tích nhỏ, chủ yếu tập trung
ở dọc 2 con sông (sông Trường Lương và sông Bắc phú) Đây là loại đất thích hợp choviệc trồng lúa nước
Trang 18* Tài nguyên rừng và thảm thực vật.
Do đặc trưng của khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, địa hình phức tạp lại chịu tácđộng lâu đời của con người nên thảm thực vật ở Vĩnh Chấp rất phong phú và đa dạng.Thảm thực vật rừng trồng chủ yếu có các loại cây: Bạch đàn, keo lá tràm, phi lao,thông, còn trong hệ thống cây trồng chủ yếu là cây công nghiệp, cây lương thực
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2007 thì Vĩnh Chấp có 40,61ha rừng tự nhiênphân bố ở vùng Chấp Đông
* Tài nguyên nhân văn
Vĩnh Chấp là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng, nhân dân cần cù chịu khótrong đấu tranh bảo vệ tổ quốc cũng như xây dựng tổ quốc trong thời kỳ đổi mới.Trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, Vĩnh Chấp đều
là vùng chiến khu cách mạnh, đặc biệt trong chiến tranh chống Mỹ nhiều người concủa quê hương Vĩnh Chấp đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc Mặc dù bị chiến tranh tànphá nặng nề song nhân dân Vĩnh Chấp vẫn kiên cường bất khuất, năng động sáng tạotrong công cuộc xây dựng quê hương sau chiến tranh ngày càng giàu đẹp
2.1.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi
Vĩnh Chấp có vị trí thuận lợi trong giao lưu pháp triển kinh tế, xã hội, có hệ thốnggiao thông đường bộ, đường sắt thuận lợi cho sự phát triển các ngành sản xuất và tiêuthụ thành phẩm Đường quốc lộ 1A chạy qua trung tâm xã là điều kiện thuận lợi để tiêuthụ thành phẩm, phát triển các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương… Bên cạnh
đó, với nguồn tài nguyên đất, nước, rừng cùng điều kiện khí hậu nơi đây là môi trườngtốt cho các loại động thực vật sinh sống và phát triển Chính vị trí địa lý này tạo cho xãVĩnh Chấp có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ với các địaphương khác và tham gia giao lưu hội nhập với khu vực và thế giới
Vĩnh Chấp, một mảnh đất anh hùng trong chiến tranh giữ nước nay lại anh hùngtrong lao động sản xuất, người dân Vĩnh Chấp có truyền thống cách mạng, một lòngson sắt với Đảng, quyết tâm xây dựng quê hương giàu về kinh tế, mạnh về an ninhquốc phòng, ổn định về chính trị, đẹp về cảnh quan môi trường, phát huy nội lực và
Trang 19tiềm năng của đất đai, khoáng sản thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đời sống người dânngày một nâng cao.
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của Vĩnh Chấp
Xã Vĩnh Chấp cách thị trấn Hồ Xá 8 km về phía Tây Bắc Thực trạng phát triểnkinh tế của xã nằm ở mức trung bình của toàn huyện, là xã có nền kinh tế nông - lâmnghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế xã Vĩnh Chấp năm 2009
ngành thương mại, dịch vụ
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế xã Vĩnh Chấp năm 2009
Trang 20Xác định rõ mô hình kinh tế của địa phương mang tính đang dạng và tổng hợp,Đảng bộ xã đã tập trung lãnh đạo, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, đề ranhiều biện pháp cụ thể sát với tình hình thực tế ở địa phương, khuyến khích tạo mọiđiều kiện thuận lợi để nhân dân sản xuất nông nghiệp kết hợp với chăn nuôi làm chovườn và các ngành nghề khác Tuy tốc độ phát triển còn chậm nhưng đời sống ngườidân đến nay cơ bản ổn định và có hướng đi lên rõ rệt Cụ thể năm 2003 bình quân thunhập đầu người mới chỉ đạt ở mức 4.000.000 đ/người/năm đến năm 2007 mức thunhập bình quân đầu người đạt 6.000.000 đ/người/năm, năm 2009 là 8.100.000đ/người/năm Mục tiêu bình quân thu nhập đầu người trong năm 2010 của xã là9.400.000 đ/người/năm
* Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây nền kinh tế của xã Vĩnh Chấp đã có nhiều đổi mới, đờisống kinh tế - văn hóa - xã hội của nhân dân từng bước ổn định có phần được cải thiện
Cơ sở hạ tầng, đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm xá và các công trình vănhóa phúc lợi được xây mới, nâng cấp phục vụ cho phát triển kinh tế dân sinh Sảnlượng lương thực quy ra thóc đạt 1.652 tấn, đạt 87% so với kế hoạch Bình quân thunhập đầu người đạt 8.100.000 đ/người/năm, đạt 115,7% kế hoạch Tổng giá trị sảnxuất đạt 15.810,5 triệu đồng, đạt 112,9% so với kế hoạch
- Ngành nông nghiệp, công nghiệp đạt 13.473,3 triệu đồng đạt 112,5% so với kế hoạch
- Ngành dịch vụ đạt 1.749,2 triệu đồng, đạt 117,3% so với kế hoạch
- Ngành xây dựng đạt 685 triệu đồng, đạt 109,5% so với kế hoạch
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế xã đang có sự phát triển theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng ngànhtiểu thủ công nghiệp dịch vụ mà vẫn giữ vững sản lượng ngành nông nghiệp nhằm ổnđịnh an ninh lương thực của địa phương
2.1.2.1 Thực trạng phát triển các ngành sản xuất
* Sản xuất nông nghiệp
Qua bảng số liệu trên ta thấy lúa là cây trồng chính của xã Vĩnh Chấp Diện tíchtrồng lúa rất lớn song hiệu quả mang lại không cao, một mặt vì bà con ở đây đầu tưchăm sóc chưa cao, mặt khác vì chất đất ở đây là đất pha cát, do đó khi trời không mưathì đất khô hạn, trời vừa mưa thì đất đã ngập úng nước
Trang 21Trong năm 2009, diện tích gieo trồng lúa cả năm của xã Vĩnh Chấp đạt 417 ha, giảm
5 ha so với năm 2008, năng suất lúa chỉ đạt 86,2% kế hoạch và bằng 99% so với năm
2008 Điều này là do vụ Đông - Xuân lúc lúa trổ gặp mưa lớn, vụ Hè - Thu do ảnh hưởngcủa áp thấp nhiệt đới và bảo gây ngập úng trên diện rộng nên năng suất lúa thấp
Điều này đặt ra suy nghĩ cho người dân nơi đây cần tìm cách nào để khắc phụcnhững khó khăn này
Bảng 1: Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính ở xã Vĩnh Chấp
Trang 22* Chăn nuôi:
Tình hình dịch bệnh ở gia súc, gia cầm trên địa bàn xã tuy có nhiều diễn biếnphức tạp nhưng do thực hịên tốt kế hoạch tổ chức tiêm phòng định kỳ, tiêm phòng lởmồm long móng cho gia súc, tiêm phòng H5N1 cho gia cầm trên đàn gia súc, gia cầm
ổn định cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó để nâng cao đời sống, các trang trạinuôi lợn, nuôi cá nước ngọt ngày càng mở rộng và phát triển Hiện tại trên địa bàn xã có
4 mô hình chăn nuôi lợn trang trại trên 100 con; 12 mô hình chăn nuôi từ 30-100 con
Bảng 2: Tình hình chăn nuôi của xã năm 2009
Tổng số ĐVT Kế hoạch Thực hiện % thực hiện kế
* Về lâm nghiệp
Công tác trồng mới, chăm sóc rừng đạt và vượt mức kế hoạch đã đặt ra với diệntích đất trồng rừng năm 2009 là 47,00 ha
Xã đã kiện toàn ban lâm nghiệp và ban phòng chống cháy rừng, tiếp tục chăm sóc
và bảo vệ tốt rừng trồng, triển khai và thực hiện tốt kế hoạch phòng chống cháy rừngnên không có thiệt hại do cháy rừng
* Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trang 23Các ngành nghề đã có trên địa bàn được duy trì và tiếp tục phát triển ổn định Các
hộ gia đình sản xuất mặt hàng này với mục đích phục vụ cho tiêu dùng cá nhân Giá trịthu được từ ngành nghề dịch vụ đạt 14,8% tổng thu nhập, tăng 4,8% so với năm 2008đạt 96% kế hoạch
* Ngành thương mại dịch vụ
Tiếp tục động viên tạo điều kiện cho các hộ, nhóm hộ đầu tư mở mang sản suấtngành nghề, dịch vụ thông qua các chương trình vay vốn giải quyết việc làm, xóa đóigiảm nghèo để đầu tư phát triển Thương mại, dịch vụ chủ yếu tập trung vào các hoạtđộng bán lẻ và các dịch vụ nhỏ của tư nhân phục vụ các mặt hàng thiết yếu cho ngườidân trong xã
Nhìn chung, các hộ kinh doanh dịch vụ đều cho thu nhập khá, chấp hành tốtchính sách pháp luật trong kinh doanh, có chiều hướng phát triển tương đối ổn định,tạo điều kiện và giải quyết việc làm cho lao động trong xã ngày càng nhiều
2.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
* Dân số, lao động
Toàn xã có 4.849 khẩu với 1.244 hộ Tỷ lệ phát triển dân số của xã Vĩnh Chấp là0,47% được thể hiện ở bảng 02
Bảng 3: Tình hình biến động dân số của xã Vĩnh Chấp
(Nguồn: Theo niên giám thống kê năm 2009 của xã Vĩnh Chấp)
* Việc làm thu nhập
Do thực hiện tốt công tác xã hội, các chính sách đền ơn đáp nghĩa, cùng với sựđồng lòng của các cấp lãnh đạo và nhân dân mong muốn thoát nghèo, các chính sáchgiải quyết việc làm đã và đang đi vào cuộc sống với những hiệu quả nhất định
Năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 23,27% xuống còn 18,85%, giảm so với năm
2008 là 4,42%, đây là sự nổ lực phấn đấu của các cấp chính quyền và nhân dân trong xã
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Trang 24Vĩnh Chấp có 100% số dân sống ở nông thôn Toàn xã hiện có 11 thôn và 2 cụmvới tổng diện tích đất ở 27,14 ha, bình quân đất ở 218,17 m2/hộ.
Những năm qua, xã được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, được sự giúp đỡ củanhiều tổ chức trong và ngoài nước đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông qua các dự
án hỗ trợ đã giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt
* Hệ thống thủy lợi
Hệ thống kênh mương đang trong giai đoạn cần tu sửa Dự kiến đến năm 2010,tiếp tục thực hiện bê tông hóa kênh mương khoảng 5 – 6 km, cung cấp đê đập, xâydựng lại đập Hà - Bình An với số vốn 1,7 tỷ đồng
* Giáo dục đào tạo
Vị trí, vai trò, nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được cấp ủy,chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và nhân dân nhận thức đầy đủ và cótrách nhiệm hơn trong chiến lược phát triển con người
Giai đoạn năm 2007 - 2010 đã xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn Quốcgia, trong đó chủ yếu là xây dựng cơ sở vật chất trường học, các chỉ tiêu về dạy và học
về cơ bản đã đạt chuẩn Bên cạnh đó, xã đang tiến hành xây dựng 01 nhà đa chức nănggồm 04 phòng học, 04 phòng cho trường tiểu học, 02 phòng học mầm non
Trang 25* Cơ sở y tế
Trạm y tế xã có 01 nhà kiên cố với 4 phòng và 01 bán kiên cố, 06 phòng, tổng sốgiường bệnh 07 giường với 01 đội ngũ bác sỹ, 02 y sĩ, 01 nữ hộ sinh và 01 dược tá.Trang thiết bị y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong xã tương đốiđầy đủ Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt 100%, tổ chức cho trẻ từ 6 - 36tháng tuổi uống Vitamin A đạt 100%, tổ chức tiêm vacxin cho trẻ đạt 100% Số hộ giađình sử dụng muối iốt 100%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 22%
* Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
Đẩy mạnh mọi hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao phong phú, đa dạngchào mừng ngày lễ lớn của quê hương Phong trào xây dựng làng văn hóa, thôn vănhóa đang được triển khai và mang lại nhiều hiệu quả tích cực
Toàn xã có 11/11 thôn xây dựng nhà văn hóa kiên cố, sân chơi thể thao đạt tiêuchuẩn
Về thể dục thể thao: Thường xuyên được Đảng và Chính quyền quan tâm, nhândân đồng tình ủng hộ, tạo ra các phong trào thường xuyên liên tục Tích cực tham giacác phong trào do Huyện tổ chức Đồng thời, góp phần nâng cao tinh thần đoàn kếthữu nghị giữa các thôn xóm và các xã bạn
* Bưu chính viễn thông
Hiện tại, xã có một điểm Bưu điện văn hóa xây dựng kiên cố, hệ thống thông tinliên lạc bằng điện thoại đã thâm nhập và đang ngày càng phát triển trên địa bàn đãphần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân
* An ninh - quốc phòng
Tăng cường công tác quản lý an ninh quốc phòng, làm tốt công tác tuyên truyềnpháp luật Tuyên truyền và tổ chức huấn luyện quân sự đạt tiêu chuẩn và kết quả cao.Xây dựng đội ngũ công an và lực lượng quân đủ mạnh để đảm bảo thực hiện nhiệm vụtrong tình hình mới
Phát động phong trào toàn dân tố giác tội phạm và tố giác những đối tượng cóhành vi vi phạm pháp luật Không để xảy ra các vụ trọng án và giảm tối đa các vụ pháhoại tài sản tập thể và tài sản riêng của công dân củng cố mạng lưới an ninh vữngchắc từ xã đến cơ sở và đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc
Trang 26Thực hiện tốt công tác động viên, tuyển quân Quản lý quân dự bị động viên vàhuấn luyện quân sự, giáo dục chính trị cho lực lượng dân quân tự vệ bảo đảm yêu cầutrong tình hình mới.
2.1.2.4 Đánh giá chung về thực trạng kinh tế - xã hội
- Với nguồn nhân lực dồi dào lực lượng lao động trẻ đầy nhiệt huyết sẽ là điều
kiện thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã trong những năm tới
- Đường giao thông một số nơi đã xuống cấp cần tu sửa, nâng cấp để phục vụ nhucầu đi lại, giao lưu buôn bán của nhân dân
- Cơ sở hạ tầng trên địa bàn dân cư phát triển chưa thực sự đồng bộ, hoàn chỉnh,cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa để xây dựng khu dân cư nông thôn phát triểntheo đúng hướng
- Số hộ nghèo còn chiếm tỷ lệ cao điều này ảnh hưởng lớn đến quá trình pháttriển đi lên của xã
- Để đảm bảo cho mục đích phát triển nông nghiệp, cần thiết phải dựa vào khảnăng thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng cây trồng trên diện tích đất canh tácnông nghiệp, đồng thời mở thêm những hướng sản xuất mới trên cơ sở diện tích đấthiện có Đặc biệt, ưu tiên khuyến khích các hộ nông dân thực hiện nhân rộng mô hìnhsản xuất nông nghiệp có giá trị thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm
2.2 Tiến trình thực hiện mô hình “lúa - cá” trên địa bàn xã
Điều kiện tự nhiên ở xã Vĩnh Chấp là cơ sở cho việc phát triển một nền nôngnghiệp ổn định và bền vững Trong những năm qua, nền kinh tế nói chung và nôngnghiệp nói riêng đã có những bước phát triển vững chắc đưa đời sống người dân từngbước được cải thiện Để đạt được điều đó thì phải áp dụng nhiều mô hình kinh tế phùhợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như: mô hình thâm canh lạc, trồng cao sutiểu điền, chăn nuôi lợn theo hướng trang trại bán công nghiệp và đặc biệt là mô hình
“lúa – cá” mang lại giá trị kinh tế rất lớn
Sau khi thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa, với điều kiện tự nhiên thuận lợi,diện tích canh tác của các hộ trên từng thửa ruộng rộng, có điều kiện để thâm canh,tăng năng suất, đặc biệt là chủ động về nguồn nước tưới từ đập Bảo Đài cho nhữngcánh đồng lúa vừa thuận lợi cho nuôi cá nước ngọt, mặt khác trên địa bàn xã đã chủ
Trang 27động được con giống, nhân dân có tay nghề, kinh nghiệm trồng lúa và chăn nuôi cánước ngọt nên nhân dân đã đưa mô hình “lúa - cá” ứng dụng vào thực tiễn.
Từ năm 1998, chính quyền xã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậtnuôi để tận dụng những lợi thế sẵn có trên địa bàn, đồng thời giúp cho nhân dân thoátkhỏi cái đói, cái nghèo, vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm tòi, xã đã đưa ra mô hình “lúa - cá” vào ápdụng trong thực tiễn, phát triển theo công thức xen canh như một lúa - một cá và mộtlúa - hai cá Đầu năm 1998, đơn vị Lai Bình được chọn làm mô hình điểm triển khaithực hiện mô hình “lúa - cá” trên khoảng diện tích 3 ha
Sau gần 2 năm, mô hình “lúa - cá” đã đem lại hiệu quả hết sức khả quan, thunhập từ 30 - 70 triệu đồng/ha/năm Từ đó cho đến nay, mô hình này được người dântrong xã hưởng ứng và tiếp tục nhân rộng với diện tích trên 40,5 ha của gần 100 hộdân tham gia
Đi đôi với mô hình “lúa - cá”, các mô hình khác như nuôi cá bột sang cá hương(thời gian một tháng), nuôi cá hương thành cá giống (thời gian từ 2,5 - 3 tháng), nuôi
cá thịt (gần 6 tháng) mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Tuy chỉ thả cá vớimật độ thấp và chi phí thức ăn không nhiều nhưng thu nhập gần như tăng gấp đôi sovới mô hình độc canh cây lúa, từ đó mô hình được nhân rộng và ngày càng được bàcon hưởng ứng và phát triển cho tới ngày nay
Bảng số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn về tình hình thực hiện mô hình "lúa cá" ở xã Vĩnh Chấp
-Bảng 4: Tình hình thực hiện mô hình “lúa - cá” ở xã Vĩnh Chấp
hộ
Diện tích (ha)
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế năm 2009, xã Vĩnh Chấp)
Qua bảng số liệu ta thấy năm 2008 có thêm hai hộ áp dụng mô hình nhưng diệntích áp dụng mô hình của toàn xã lại giảm là do lũ lụt xảy ra làm phá vỡ đê kè của
Trang 28ruộng nuôi, trong khi đó nguồn kinh phí sửa chữa lại không có đủ Do vậy diện tíchnuôi cá trong ruộng lúa có giảm Từ đây, đặt ra cho các cấp chính quyền hướng đi giảiquyết vấn đề này trong thời gian tới.
2.3 Năng lực sản xuất của các nông hộ
Năng lực sản xuất nói một cách cụ thể bao gồm các yếu tố: lao động, đất đai, tưliệu sản xuất, vốn… Các yếu tố này quan hệ hữu cơ với nhau, mỗi một yếu tố tạo nênmột mắt xích quan trọng tạo ra năng lực sản xuất của các nông hộ Trong sản xuất thìngười dân phải biết kết hợp hài hoà và cân đối các yếu tố trong năng lực sản xuất, đặcbiệt là chú ý đến các đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi để tiến hành tác độngmột cách thích hợp và kịp thời nhằm mang lại năng suất cao
2.3.1 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua công cụ lao độngtác động đến đối tượng lao động nhằm biến chúng thành của cải vật chất cần thiết phục
vụ cho nhu cầu của mình
Việc cân đối lại cơ cấu lao động trong nền kinh tế quốc dân nói chung và nền sảnxuất nông nghiệp nói riêng đang là một nhu cầu cấp thiết hiện nay, nhằm khai thác cáctiềm năng nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi, đưa nôngnghiệp nước ta ngày càng phát triển bền vững
Vĩnh Chấp là một xã thuần nông, người dân ở đây sống chủ yếu dựa vào nôngnghiệp, với 90,75% số hộ làm nông nghiệp Con số này không cao so với đa phần cácvùng nông thôn nước ta, tuy nhiên nó là quá cao so với xu thế CNH – HĐH nôngnghiệp nông thôn trên thế giới và khu vực Điều này đặt ra vấn đề là giải quyết việclàm cho các lao động ở nông thôn đang là một bài toán chưa có lời giải
Bảng 5 phản ánh tình hình nhân khẩu, lao động của các nông hộ được điều tra ở
xã Vĩnh Chấp
Trang 29Bảng 5: Tình hình nhân khẩu, lao động của các nông hộ ở hai thôn Lai bình
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)
Với tổng số hộ điều tra là 60 hộ, bình quân NK/hộ là 4,32 NK, đây là con số khácao có thể là do việc chọn mẫu điều tra đa phần là những nhà thuần nông và có nhiềuthế hệ cùng chung sống với nhau Đây đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho việcphát triển nông nghiệp do nguồn nhân khẩu trong gia đình cao Bởi vì hoạt động nôngnghiệp không cần phải kĩ thuật nhiều nên nếu có sức khỏe thì ai cũng có thể làm được
Do đó, đỡ một khoản chi phí thuê ngoài khi mùa vụ tới với tư tưởng lấy công làm lãi.Tuy nhiên nhiều nhân khẩu kéo theo nhiều vấn đề như nghèo đói, thất học sớm Quabảng ta thấy thôn Lai Bình chỉ tiêu này đạt rất cao 4,30 NK/hộ
Bình quân LĐ/hộ ở xã Vĩnh Chấp đạt 3,22 lao động, đây là lực lượng chủ yếu tạo
ra của cải vật chất, nuôi sống gia đình Như vậy, bình quân LĐ/hộ ở xã Vĩnh Chấp khácao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế Thôn Lai Bình, chỉ tiêu này cũngcao hơn thôn Bắc Phú, cụ thể là thôn Lai Bình đạt 3,40 LLĐ/hộ, thôn Bắc Phú đạt 3,03LĐ/hộ
Bình quân LĐNN/hộ đạt 2,52 LĐ, so với chỉ tiêu bình quân LĐ/hộ là 3,22 LĐ,chứng tỏ lao động nông nghiệp ở xã Vĩnh Chấp rất cao, lao động phi nông nghiệpchiếm tỷ lệ còn thấp Chỉ tiêu này thì thôn Lai Bình thấp hơn thôn Bắc Phú
Chỉ tiêu bình quân NK/LĐ cho chúng ta biết số người ăn theo trên một lao động
Ở xã Vĩnh Chấp chỉ tiêu này đạt được là 1,34 NK Như vậy, khó khăn trong việc tíchlũy, có gia đình không đủ để nuôi sống gia đình vì có hộ số người ăn theo lớn Vì thế,
họ phải sống nghèo đói, con cái phải nghỉ học giữa chừng, nếu chỉ dựa vào sản xuấtnông nghiệp thì liệu có khắc phục được tình hình
Trang 30Do vậy, việc tăng cường các lớp tập huấn, đưa sách báo tới tận người dân là mộtviệc làm mà UBND xã cần chú ý hơn nữa Tuổi của chủ hộ cũng phần nào ảnh hưởngtới năng suất lao động, điều đó thể hiện ở khả năng, sự sáng tạo trong hoạt động sảnxuất, tuổi cao thường chín chắn hơn, kinh nghiệm hơn, ngược lại tuổi trẻ thì quyết tâm
và đầy nhiệt huyết với công việc Tuổi bình quân của chủ hộ xã Vĩnh Chấp là 44,38tuổi Ở độ tuổi này họ có thể tham gia vào mọi hoạt động của sản xuất nông nghiệp vớinhững kinh nghiệm lâu năm, nắm được những quy luật tự nhiên để tìm ra phương thứcsản xuất phù hợp
2.3.2 Đất đai
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặcbiệt và không thể thây thế được Thử hỏi, nếu không có đất thì mọi hoạt động sản xuấtcủa con người có tồn tại?
Qua số liệu ở bảng 6 cho thấy rõ hơn về tình hình sử dụng đất đai của các nông
Diện tích (sào)
Cơ cấu (%)
Diện tích (sào)
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2010)
Diện tích đất nông nghiệp bình quân mỗi thôn điều tra là 558 sào, trong đó bìnhquân diện tích đất nông nghiệp ở thôn Lai Bình là 554 sào, ở thôn Bắc Phú là 562 sào
Sở dĩ đất nông nghiệp ở thôn Lai Bình thấp hơn thôn Bắc Phú là do những năm gần
Trang 31đây một số khu đất được quy hoạch để xây dựng nhà ở, đường giao thông do vậy làmcho diện tích đất nông nghiệp ở giảm xuống.
Diện tích đất canh tác của các hộ điều tra bình quân 2 thôn là 425 sào (tương đương7,08 sào/hộ) Đây là một con số khá cao, bởi vì điều tra các hộ gia đình thuần nông đồngthời có nhiều hộ thuê ruộng, hoặc đấu thầu thêm để làm, do vậy đẩy con số này lên cao.Với diện tích này thì các nông hộ đủ tiêu chuẩn để áp dụng mô hình “lúa – cá”
Diện tích đất màu ở đây thấp, các thôn có diện tích đất màu xấp xỉ nhau Đây làmột bất lợi đối với ngành chăn nuôi, như thế sẽ hạn chế nguồn cung cấp thức ăn chochăn nuôi như: sắn, ngô, khoai
Đất vườn bình quân một thôn là 93 sào, hay 3,10 sào/hộ
Đất NTTS ở đây rất thấp, do là xã vùng giữa nên diện tích mặt nước ao hồ rất hạnchế, chỉ có một số ít hộ đào ao nuôi cá hoặc là ươm giống để bán, đây là một nguồnthu nhập không phải là nhỏ Trong xã thì diện tích nuôi trồng thủy sản của thôn LaiBình là cao nhất cũng chỉ có 42 sào chiếm 7,58% diện tích đất nông nghiệp
Bình quân đất nông nghiệp trên một nhân khẩu của 2 thôn Lai Bình và Bắc Phúlà: 4,29 sào; 4,32 sào Như vậy chỉ tiêu này ở một xã vùng giữa như Vĩnh Chấp là khácao Đây là điều kiện tốt để phát triển mở rộng sản xuất
Bình quân đất canh tác trên một lao động nông nghiệp của các nông hộ xã VĩnhChấp là 5,69 sào Đây là một diện tích khá lớn từ khi có nghị định 64/CP về chuyểnđổi đất đai, chia ruộng đất về tận hộ nông dân, chia tập trung do vậy thuận lợi cho việcchăm sóc và thu hoạch
Nhìn chung các nông hộ xã Vĩnh Chấp có điều kiện đất đai thuận lợi cho việcphát triển nông nghiệp đặc biệt là mô hình “lúa – cá” Với quy mô đất như vậy chắchẳn bộ mặt nông nghiệp của xã sẽ thay đổi từng ngày
Trang 322.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình “lúa – cá” của các nông hộ xã Vĩnh Chấp
Đất nước đang từng ngày đổi mới, đời sống người dân ngày càng được nâng cao,đối với người nông dân thì tài sản quý giá nhất là ruộng đất Họ đã làm nên những điều
kì diệu trên chính mảnh đất của mình để có thể nuôi sống mình và gia đình Nhiềungười đã làm giàu nhanh chóng vì biết cách làm ăn, tận dụng sáng tạo những nguồnlực của mình Mô hình “lúa – cá” được áp dụng trên những chân ruộng trũng có nguồnnước chủ động, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao vượt xa mô hình “lúa – lúa” cũ
2.4.1 Quy mô, cơ cấu diện tích trong mô hình “lúa - cá” của các nông hộ
Hiện nay, ở xã Vĩnh Chấp nói riêng và nhiều xã trên địa bàn huyện Vĩnh Linhphong trào nuôi cá trong ruộng lúa với công thức gieo một vụ lúa Đông Xuân và nuôimột vụ cá đang phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân trênđịa bàn huyện Bảng 7 cho ta thấy rõ hơn về quy mô, cơ cấu của mô hình “lúa – cá”của các nông hộ trên địa bàn xã Vĩnh Chấp
Với lợi thế là một xã có nhiều diện tích đất canh tác là ruộng trũng, có nguồnnước dồi dào, xã Vĩnh Chấp có quy mô diện tích đất “lúa – cá” khá cao Bình quânmỗi hộ 7,56 sào chiếm 49,78% so với diện tích có khả năng trồng lúa của các nông hộ.Thôn Lai Bình có quy mô diện tích đất lúa cá so với đất có khả năng trồng lúa bìnhquân trên hộ lớn nhất đạt được 51,93% Đây cũng là điều dễ hiểu vì diện tích đất cókhả năng trồng lúa ở thôn Lai Bình tuy thấp hơn thôn Bắc Phú nhưng nhờ sự hỗ trợ vềmặt kĩ thuật của dự án, đồng thời tham quan một số mô hình “lúa – cá” ở huyện HảiLăng và các nơi khác trong tỉnh, người dân ở đây đã có nhiều cố gắng trong công tácđào đắp quy hoạch các vùng ruộng trũng hoặc các vùng sản xuất lúa vụ mùa bấp bênhsang sản xuất theo mô hình “lúa – cá” Thôn Bắc Phú tuy diện tích đất áp dụng môhình “lúa – cá” tuy chưa cao nhưng chiếm con số cũng không nhỏ 47,53%, điều nàythể hiện sự cố gắng và đầu tư lớn của người dân nơi đây
Nói chung, chênh lệch giữa tỷ lệ phần trăm đất canh tác thực hiện mô hình “lúa –cá” so với diện tích đất có khả năng trồng lúa của 2 thôn không đáng kể lắm, thôn LaiBình là 51,93%; thôn Bắc Phú là 47,53% Nếu như các công tác quy hoạch, đường sá
Trang 33và đê mương thủy lợi tốt thì chắc chắn quy mô diện tích đất “lúa – cá” trong tương lai
sẽ tăng lên nữa
Năng suất cây trồng và vật nuôi là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ đầu
tư thâm canh của các hộ gia đình Các nông hộ xã Vĩnh Chấp khi thực hiện mô hình
“lúa – cá” thì chỉ gieo vụ Đông Xuân và sau khi thu hoạch đầu tư chăm sóc để thu lúachét, vừa tạo được nguồn thức ăn cho cá Năng suất lúa vụ Đông Xuân bình quân trên
hộ ở xã Vĩnh Chấp là 2,29 tạ/sào Đây là kết quả không cao so với các vùng sản xuấtlúa như xã Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy; nhưng lại là con số khá cao ở xã VĩnhChấp, bởi vì do chất đất ở đây là đất cát pha, nghèo chất dinh dưỡng Để đạt được kếtquả như vậy cũng đã thể hiện được mức đầu tư của các nông hộ ở đây khá lớn, sửdụng nguồn giống có năng suất cao, cùng với sự chăm sóc tốt và công tác thủy lợi đảmbảo Cụ thể: Thôn Bắc Phú và thôn Lai Bình cả hai đều đạt được năng suất xấp xỉ nhau
là 2,29 tạ/sào, 2,3 tạ/sào
Năng suất cá trong một năm của các nông hộ trên địa bàn các thôn điều tra đềucòn thấp chỉ mới đạt 1,15 tạ/sào với sản lượng là 129,1 tạ Tuy nhiên do giá cả của cáruộng hiện nay khá cao, đặc biệt là cá Chép, cá Trắm, cá Lóc nên cũng đem lạinguồn thu nhập đáng kể cho người dân Thôn Lai bình có năng suất cá bình quân hộđạt được 1,13 tạ/sào với sản lượng là 133,7 tạ Thôn Bắc Phú có năng suất bình quân
hộ là 1,17 tạ/sào, con số này cũng không quá cao so với thôn Lai Bình
Tổng thu từ cá và lúa tỉ lệ thuận với năng suất và sản lượng đạt được Thôn Laibình có tổng thu từ cá và lúa bình quân hộ trong mô hình “lúa – cá” là lớn nhất 33,15triệu đồng, trong đó: tổng thu từ lúa chiếm 32,77%, cá chiếm 67,23% Thôn Bắc Phú
có có tổng thu bình quân trên hộ đạt 20,65 triệu đồng, tổng thu từ lúa là 9,48 triệuđồng chiếm 32,29%, còn lại cá chiếm 67,71%
Qua cơ cấu tổng thu của các hộ nông dân xã Vĩnh Chấp thì tổng thu từ cá chiếm
ưu thế, tuy nhiên nguồn thu từ lúa cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngườidân Mặc dù vậy kết quả mang lại vẫn chưa thỏa đáng, do vậy đặt ra cho các cấp chínhquyền cần chú trọng đầu tư phát triển để khai thác tối ưu nguồn lực của mình
Trang 34tố chi phí trung gian thì chi phí đầu tư thường có quan hệ thuận với kết quả sản xuất; làđiều kiện quyết định đến giá trị gia tăng và thu nhập.
Qua số liệu ở bảng 8 cho ta thấy rõ hơn về mức đầu tư chi phí trong mô hình “lúa– cá” của các hộ ở xã Vĩnh Chấp
Trước hết phải kể đến chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật trong mô hình “lúa – cá”,trong mô hình này thì thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hầu như không cần thiết Bởi vìviệc nuôi cá trong ruộng đã góp phần diệt cỏ dại, sâu bọ; sục bùn cho lúa đạt năng suấtcao Đồng thời việc nuôi các loại cá như cá chép, cá rô phi, cá trê phi thì thức ăn chủyếu là phân chuồng, chính vì vậy các bã mùn hữu cơ phân hủy làm cho đất đai màu
mỡ thêm Do vậy, nếu áp dụng mô hình này thì các hộ nông dân đỡ một khoản chi phí,đây là một đặc điểm rất riêng biệt mà giá trị tiềm ẩn của nó mang lại không thể lượng
Trang 35hóa được Bên cạnh đó, lợi ích về mặt môi trường của việc không dùng thuốc bảo vệthực vật mang lại rất lớn, nó góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sạch, bền vững.Trong cơ cấu tổng chi phí của các nông hộ thì chi phí về cá giống chiếm tỷ lệ gầnnhư cao nhất Bình quân mỗi năm các nông hộ chi 475,71 nghìn đồng tiền cá giốngcho một sào, chiếm 26,95% trong tổng chi phí Cá giống phải khỏe mạnh, có nguồngốc rõ ràng được mua được mua tại các trạm giống có uy tín Tuy nhiên do các hộchưa đầu tư cao về thức ăn (chỉ 500 nghìn đồng/sào), hầu như chỉ cho cá ăn cám, bộtsắn vào giai đoạn đầu mới mua về, đến sau khoảng một tháng thì hầu như chỉ cho ăn
cỏ và bón phân chuồng, không đầu tư thêm thức ăn công nghiệp cho cá nên quá trìnhsinh trưởng và phát triển của cá còn chậm, đến khi thu hoạch thì cá chưa đủ lớn dẫn tớinăng suất thấp Mặt khác, mật độ nuôi của cá ruộng trung bình là 3 con/m2 ruộng đốivới cá chép, sau đó ghép cùng các loại cá khác
Muốn đạt kết quả cao hơn thì các hộ nuôi cần đầu tư thêm chi phí cho mua giống,
để đạt được mật độ thích hợp, tận dụng các tiềm năng vốn có trong ruộng lúa Cũng cóthể các hộ khó khăn trong nguồn giống, mô hình được nhân rộng ra trên địa bàn huyệntrong những năm gần đây mà nguồn giống có hạn Ở xã rất ít hộ có khả năng cung cấpnguồn giống vì diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản rất ít, có một số hộ áp dụng môhình này đã đào ao ươm cá giống phục vụ cho gia đình mình và có bán cá giống nhưngvới số lượng rất nhỏ Vì vậy, nhiều hộ muốn nuôi ở mật độ cao cũng gặp nhiều khókhăn trong việc tìm nguồn cung cấp Tuy nhiên phải tùy theo diện tích cũng như loại
cá mà thả với mật độ thích hợp để mang lại hiệu quả cao nhất Qua bảng 8 ta thấy thônLai Bình đầu tư tiền cá giống rất lớn 488,51 nghìn đồng/sào chiếm 31,94% trong tổngchi phí trung gian và thôn Bắc Phú là 462,92 nghìn đồng/sào chiếm 23,99%
Qua điều tra cho thấy người dân xã Vĩnh Chấp đầu tư thức ăn cho cá còn rất hạnchế, đặc biệt là thức ăn tinh Một đặc điểm nuôi cá trong ruộng lúa là cá có thể tậndụng được nguồn thức ăn có sẵn trong ruộng lúa như cỏ, thóc vãi sau khi thu hoạch,các vi sinh vật trong đất Người dân ở đây đã biết tận dụng bờ mương rộng làm chuồngnuôi lợn, nuôi vịt để lấy phân chuồng cho vụ cá Đây là một ưu điểm vượt trội của các
hộ nông dân ở đây so với các xã khác trong huyện, chính vì vậy mà chi phí thức ăncho cá giảm xuống rất nhiều, bình quân chung về chi phí thức ăn cho cá ở xã Vĩnh
Trang 36Chấp là 500 nghìn đồng/sào Tuy nhiên một hạn chế của người nuôi cá ở đây ít đầu tưthức ăn công nghiệp, họ thường xay cám, gạo và các phế phẩm nông nghiệp như rơm,
rạ sau khi thu hoạch lúa làm thức ăn cho cá Nhiều hộ hầu như sử dụng hoàn toànnguồn thức ăn tự nhiên do vậy hiệu quả đem lại chưa cao Do vậy, các hộ dân nên đầu
tư thêm nguồn thức ăn cho cá đặc biệt là thức ăn tinh giúp cá mau lớn, khỏe mạnh, thịtthơm ngon nhằm tăng năng suất và chất lượng cá
Qua số liệu ở bảng 8 ta thấy tổng chi phí phân bón cho một sào trong một vụ khácao Phân lân NPK chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí phân bón, bình quân mộtsào các nông hộ bón 25 kg phân lân, tương đương 112,5 nghìn đồng/sào, chiếm6,37% Thôn lai bình tỷ lệ bón phân lân chiếm 7,53%, thôn Bắc Phú thấp hơn 5,83%.Riêng Kali mặc dù chỉ bón 6 kg/sào nhưng do giá kali khá cao (tại thời điểm điềutra giá kali là 11000 đồng/kg) do vậy đẩy chi phí lên cao Cụ thể là ở thôn Lai Bình chiphí cho Kali chiếm 3,42%, ở thôn Bắc Phú là 4,21% Bón Kali giúp hạt lúa chắc, đểnâng cao năng suất của lúa người dân thường bón Kali lúa làm đồng
Tiếp theo đó là phân đạm, đạm giúp cho cây có khả năng tạo chất diệp lục, tinhbột Đạm dùng trong bón lót, bón thúc, bón đồng Bình quân mỗi sào các hộ nông dân
xã Vĩnh Chấp đầu tư 52,65 nghìn đồng chiếm 2,98% tổng chi phí trung gian, trong đókhông có sự chênh lệch lớn giữa chi phí bón phân đạm giữa các thôn Phân đạm giúpcho các động thực vật phù du phát triển tạo nguồn thức ăn cho cá
Chi phí làm đất cũng là một khoản chi phí đáng kể đối với các hộ nông dân trong
mô hình này Bình quân mỗi hộ chi 223,35 nghìn đồng cho mỗi sào, chiếm 12,65%trong tổng chi phí Qua bảng ta thấy một điều đó là chi phí của thôn Bắc Phú là 296,7nghìn đồng/sào so với thôn Lai Bình là 150 nghìn đồng/sào cao hơn nhiều Bởi vì ởthôn Bắc Phú, công việc làm đất vẫn còn phụ thuộc cách làm thủ công do đó tốn nhiềucông sức con người, làm chi phí cao hơn Còn thôn Lai Bình có sử dụng máy móc nêntiết kiệm được thời gian cũng như chi phí, đồng thời đất được tơi xốp làm năng suấtlúa được nâng cao hơn
Chi phí thu hoạch cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể, 3,39% Do vào thời điểm mùa
vụ gấp rút, nhân lực lao động không đủ, chính vì thế có hộ phải thuê lao động để gặt