luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Hiện nay, Việt Namvẫn là một nước nông nghiệp Năm 2009, nông nghiệp Việt Nam tuy nằm sâu trongkhủng hoảng toàn diện của nền kinh tế thế giới nhưng vẫn có những bước phát triểnvững chắc Khi toàn bộ nền kinh tế phải nhập siêu trong bối cảnh khủng hoảng thìnông nghiệp lại xuất siêu Nông nghiệp nước ta ngày càng khẳng định được vị thếkhông thể thay thế được của nền kinh tế Tuy đạt được những thành tựu đáng kểnhưng dự báo trong những năm tới nông nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khókhăn và thách thức Nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích song song với việcchú trọng về chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp là định hướng quan trọngtrong việc phát triển nông nghiệp nước ta hiện nay Đây cũng là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm mà ngành nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình
đã xác định, trong đó “điểm nhấn” là việc xây dựng và triển khai thực hiện đề ánnâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp giaiđoạn 2007-2010 Theo đó phấn đấu đến năm 2010 có khoảng 9500 ha (chiếm 15%diện tích đất nông nghiệp) đạt giá trị trên 50 triệu đồng/ha/năm
Trước kia, cây khoai lang được xem là cây trồng của người nghèo Khi ởnhiều địa phương khoai lang không còn giữ được vị trí đó, một loại cây trồng khác
đã thay thế xứng đáng và hơn thế nó trở thành “cây xóa đói, giảm nghèo và làmgiàu của nhiều hộ nông dân”, đó chính là cây ngô lai Các giống ngô lai có dạngcây đồng đều, khả năng cho năng suất cao, song cũng đòi hỏi thâm canh cao Sảnphẩm từ thân, lá, hạt, lõi dạng tươi và dạng khô đều có thể sử dụng được Cung cấpnguồn lương thực thiết yếu thứ hai (sau lúa) cho con người (đặc biệt là người dânmiền núi); là thành phần chính trong thức ăn chăn nuôi; cung cấp nguyên liệu chocác ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến như: công nghiệp chế biếnthức ăn chăn nuôi, công nghiệp sản xuất bánh kẹo…; sản xuất thực phẩm chứcnăng; tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân…Với vai trò quan trọngnhư vậy, cây ngô trở thành một trong những cây trồng chính, phổ biến của người
Trang 2nông dân nước ta hiện nay, đặc biệt là những vùng núi - rẻo cao, thiếu ruộng nước,thời tiết đặc thù.
Theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích trồngngô tại Việt Nam vào khoảng 1,1 triệu ha, năng suất bình quân chưa đạt 4 tấn/vụ/ha(năm 2008) Những hao tổn, thất thoát sau thu hoạch cộng với tình trạng ngô không
ra bắp hoặc ra bắp nhưng không ra hạt diễn ra trong 3 năm trở lại đây khiến sảnlượng ngô Việt Nam chỉ giữ mức chưa đến 4 triệu tấn, trong khi đó nhu cầu củangành chăn nuôi đã lên tới 5,5 triệu tấn Vậy mỗi năm nước ta phải bỏ ra nửa tỷ
USD để nhập khẩu ngô hạt làm nguyên liệu cho ngành chăn nuôi (Nguồn: báo
“khoa học và phát triển”, 15/10/2008) Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mở rộng
quy mô, tăng năng suất và chất lượng ngô ở nước ta trong thời gian tới, đáp ứngnhu cầu của thị trường trong nước giảm nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu
Huyện Tuyên Hóa nói chung và xã Kim Hóa nói riêng thuộc vùng núi rẻocao của tỉnh Quảng Bình có truyền thống và tiềm năng để phát triển nông nghiệp.Thu nhập của người dân nơi đây chủ yếu từ trồng trọt và chăn nuôi Trong nhữngnăm gần đây, chủ trương của huyện nói chung và các xã nói riêng trong đó có xãKim Hóa là: “Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngànhchính” Với một trong các nghịch lý của ngành chăn nuôi là giá thức ăn chăn nuôicao còn giá thành sản phẩm thấp thì việc chủ động nguồn thức ăn cho chăn nuôi làhết sức cần thiết Ngoài cây lúa, cây lạc thì trong những năm qua xã đã chú trọngphát triển cây ngô lai với mục đích chủ yếu là cung cấp thức ăn cho ngành chănnuôi và là nguồn lương thực nuôi sống con người Chính vì vậy mà hiệu quả kinh
tế trong sản xuất ngô đã được người nông dân ở đây hết sức coi trọng Tuy nhiênhoạt động sản xuất ngô của địa phương còn gặp nhiều khó khăn như thiên tai, dịchbệnh, trình độ canh tác lạc hậu, tùy tiện… Ngoài sản xuất ngô, trên địa bàn còn cómột số loại cây trồng khác như lạc, đậu, lúa… Giá trị kinh tế của mỗi loại câytrồng đem lại là khác nhau nên người dân phải xem xét nên đầu tư cho loại câytrồng nào phù hợp nhất và có hiệu quả nhất Nhìn vào kết quả sản xuất trongnhững năm gần đây cho thấy, quy mô sản xuất ngô có xu hướng giảm còn năngsuất có tăng nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng Từ tình hình nói trên
Trang 3chúng ta cần phải đi sâu tìm hiểu nghiên cứu, để từ đó đưa ra giải pháp khắc phụcnhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất cho người dân Đó cũng chính là lý do
mà tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất ngô lai vụ
Đông Xuân ở xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình” làm khóa luận
* Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất
- Đánh giá tình hình sản xuất ngô của xã, phân tích hiệu quả kinh tế mà sảnxuất ngô đem lại
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả và thu nhập của các
hộ trồng ngô lai vụ Đông Xuân được điều tra
- Tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu của các hộ trồng ngô lai vụ ĐôngXuân để từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tếcủa cây ngô lai tại địa bàn nghiên cứu
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế trongsản xuất ngô lai vụ Đông Xuân của 60 hộ (42 hộ cận nghèo và 18 hộ nghèo) thuộc
2 thôn Kim Tân và Kim Thủy của xã Kim Hóa Trong đó, ở thôn Kim Tân điều tra
25 hộ (17 hộ không nghèo và 8 hộ nghèo), ở thôn Kim Thủy điều tra 35 hộ (25 hộkhông nghèo và 10 hộ nghèo)
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến hành điều tra các hộ trồng ngô lai vụ ĐôngXuân năm 2009 ở địa bàn nói trên
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng xuyên suốt đề tài
- Phương pháp thống kê:
Trang 4+ Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp.
+ Phân tổ thống kê
- Phương pháp kinh tế:
+ Phương pháp hạch toán kinh tế
+ Phương pháp toán kinh tế (hàm sản xuất)
- Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ nông dân
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu:
Ở 2 thôn Kim Tân và Kim Thủy tại xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnhQuảng Bình
- Về thời gian nghiên cứu:
+ Tình hình cơ bản qua 3 năm 2007-2009
+ Điều tra hộ trồng ngô lai vụ Đông Xuân năm 2009
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nỗ lực cố gắng Song còn hạn chếnhiều cả về mặt thời gian cũng như năng lực, trình độ kiến thức của bản thân, nên
đề tài của tôi sẽ không tránh được những thiếu sót Kính mong quý thầy, cô giáo vàbạn đọc góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 5PHẦN HAI: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
* Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Các nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất như đất đai, lao động,vốn, tài nguyên thiên nhiên…ngày càng khan hiếm hơn so với việc đáp ứng nhucầu ngày càng tăng của con người Do đó muốn giải quyết tình trạng khan hiếm vềnguồn lực, đảm bảo một nền sản xuất ổn định, chúng ta cần phải bàn đến hiệu quả
sử dụng các nguồn lực đó Trong sản xuất nông nghiệp, cần phải biết kết hợp cácyếu tố đầu vào một cách thích hợp để sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu.Vậy hiệu quả kinh tế là gì?
Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế Quan điểm truyền thống chorằng, nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinhdoanh sau khi đã trừ đi chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Nhiều tácgiả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chiphí bỏ ra hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm.Những chỉ tiêu này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn
Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quảkinh tế
Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tỉnh, chỉ xemxét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọngkhông những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng taxem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độnào Trên phương diện này quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được
Trang 6Thứ hai, nó không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho mộthoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tếtheo quan điểm này thường chưa tính đủ và chính xác.
Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai phạmtrù cơ bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chínhđơn thuần như chi phí về vốn, lao động; thu về sản phẩm và giá cả trong khi đó,các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần vềmặt kinh tế mà còn cả yếu tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc nhữngkhoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hóa được nhưng nó là những con sốkhông phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này
Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm mới về hiệu quả kinh tế, nhằmkhắc phục những điểm thiếu của quan điểm truyền thống Theo quan điểm mới khitính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệnày cần phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệuquả kinh tế
+ Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vịchi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ được áp dụng vào sản xuất Hiệu quả này thường đượcphản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất Hiệu quả kĩ thuật liên quan đếnphương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vàosản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật của việc sửdụng nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữacác đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi người sản xuất ra quyết định sảnxuất Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ ápdụng vào sản xuất, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hộikhác mà trong đó kĩ thuật được áp dụng
+ Hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả về giá) là chỉ tiêu hiệu quảtrong đó yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩmthu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của
Trang 7hiệu quả phân phối là hiệu quả kĩ thuật có tính đến yếu tố giá đầu vào và giá củađầu ra Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về lý thuyếtbiên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phảibằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào trong sản xuất
+ Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạtđược khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối là tối đa
- Yếu tố thời gian: các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trongtính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanhthu bằng nhau nhưng chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau thì hiệu quả khác nhau
- Yếu tố xã hội và môi trường: trong xã hội ta hiện nay mục đích cuối cùngcủa sản xuất là hướng tới con người, đáp ứng nhu cầu cho con người nên hiệu quảkinh tế phải gắn liền với hiệu quả xã hội và môi trường
* Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Đối với hoạt động sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng việcđánh giá hiệu quả kinh tế sau mỗi chu kỳ sản xuất là rất quan trọng và không thểthiếu Khi đánh giá HQKT chúng ta phải xem xét, đánh giá cả yếu tố đầu vào lẫnyếu tố đầu ra, từ đó biết được mức độ sử dụng nguồn lực đã đạt hiệu quả hay chưa,biết được nguyên nhân làm hạn chế sản lượng đầu ra trên cơ sở đó đưa ra biện phápkhắc phục hợp lý Đồng thời nó là căn cứ để xác định phương hướng đạt tăngtrưởng cao trong sản xuất Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân tạo thành vìvậy cần tác động đúng đối tượng, sử dụng đúng biện pháp thì sản xuất mới đi đúnghướng và đạt kết quả cao
* Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
- Phương pháp 1: HQKT được xác định bằng tỉ số giữa kết quả đạt được với chi
phí bỏ ra Nghĩa là một đơn vị chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Q
H =
C
Q: Khối lượng sản phẩm thu đượcC: Chi phí bỏ ra
Trang 8Phương pháp này phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực của quá trình sảnxuất kinh doanh nhất định, trên cơ sở đó người ta xem xét, đánh giá HQKT giữacác đơn vị sản xuất với nhau, giữa các ngành sản phẩm khác nhau và các thời kỳkhác nhau.
- Phương pháp 2: HQKT được xác định bằng tỷ số giữa kết quả tăng thêm
với chi phí tăng thêm
Q
H =
C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả tăng thêm
C: Chi phí tăng thêm
Với phương pháp này, chúng ta có thể xác định được hiệu quả mà một đồngchi phí đầu tư thêm mang lại Từ đó có thể xác định được hiệu quả trong đầu tư thâmcanh, đặc biệt là xác định được khối lượng tối đa hóa kết quả sản xuất tổng hợp
Tuy nhiên khi sử dụng hai phương pháp trên ta không thấy được quy mô củahiệu quả là bao nhiêu Do đó khi xác định HQKT, người ta thường dùng thêm chỉtiêu lợi nhuận hay thu nhập Nếu sử dụng chỉ tiêu tuyệt đối thì thì không thể thấyđược cái giá phải trả cho quy mô của kết quả Ngược lại nếu chỉ sử dụng chỉ tiêutương đối thì không thể thấy được quy mô của kết quả Sử dụng tổng hợp hai chỉtiêu trên là phương pháp tốt nhất khi đánh giá HQKT
1.1.1.2 Nguồn gốc, vai trò và giá trị dinh dưỡng của cây ngô
* Nguồn gốc xuất xứ
Cây ngô (tên khoa học Zea mays L.) có nguồn gốc ở Mêhicô Các nghiên
cứu khảo cổ học đã tìm thấy chứng cứ về cây ngô từ 5000 năm trước tại bang NewMêhicô (Mỹ) và ở thung lũng Tehucan (Mêhicô) Vào thế kỷ 15 cây ngô được đưa
về trồng ở châu Âu, sau đó sang châu Á và châu Phi rồi trở thành cây trồng có vaitrò cực kỳ to lớn trong đời sống của nhân loại Ở châu Á, người Bồ Đào Nha đưangô vào trồng ở đảo Java và Bocneo (Inđônêxia) Sau đó cây ngô được đưa sang
Trang 9Myanmar và Đông Dương Ở Việt Nam cây ngô được du nhập từ Trung Quốc vàMiến Điện.
* Giá trị dinh dưỡng của cây ngô
- Đối với con người
Bắp ngô là loại thực phẩm thường được sử dụng trong bữa ăn sáng, ăn kiênghoặc làm nguyên liệu chế biến nhiều món ăn Đối với người dân miền núi thì hạtngô xay trộn với gạo được dùng để thay thế một phần gạo trong bữa ăn hàng ngày.Bắp có lợi cho sức khỏe vì chứa nhiều dưỡng chất Bắp có chất carbonhydrat, cóhàm lượng protein khá cao, cung cấp chất đề kháng cho cơ thể của con người Bắpcòn có nhiều chất xơ, giúp cơ thể hấp thu nhiều nước, tiêu hóa tốt và thải ra nhiềuđộc tố trong cơ thể Với hàm lượng vitamin cao, folic axit, bắp mang lại nhiều lợiích cho phụ nữ mang thai, đồng thời ngăn ngừa những tác động không tốt lên hệthần kinh khi sinh Bắp cũng chữa lành nhanh các vết thương khi giải phẩu Bêncạnh đó bắp còn góp phần bảo vệ cho người bị bệnh tim mạch Ăn bắp mỗi ngày cóthể giảm được cholesterol và tốt cho những người bị bệnh gan Bột bắp có thể giúpgiảm được các triệu chứng phát ban Bắp có thể chữa lành các bệnh như: bệnh thiếumáu, táo bón, bệnh gout Vì có chứa chất chống ôxy hóa, vitamin C do đó bắp đemlại nhiều dưỡng chất cho cơ thể
- Đối với chăn nuôi
Trong thức ăn tổng hợp cho chăn nuôi thì bột ngô chiếm 70% chất tinh Bộtngô chiếm từ 65-83% khối lượng là nguyên liệu quan trọng trong công nghệ giacông bột Cứ 100 kg ngô hạt cho khoảng 20-21 kg gluten, 74-75 kg bột (có thể chếbiến được 63 kg tinh bột hoặc 71 kg Dextrin) Với rất nhiều loại dinh dưỡng nhưprotein, khoáng, lipit…, việc sử dụng bột ngô làm thức ăn cho chăn nuôi là rất tốt.Ngoài ra, thân lá ngô cũng là nguồn cung cấp thức ăn thô xanh, giàu dinh dưỡngcho trâu bò
* Vai trò của cây ngô trong nền kinh tế
- Cung cấp lương thực cho con người
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới việc sản xuất ngô chủ yếu là dùng đểphục vụ ngành chăn nuôi Tuy nhiên, ở các nước nghèo hoặc các nước có tập quán
Trang 10dùng ngô làm lương thực thì ngô vẫn là lương thực chủ yếu của các nước này Ngô
là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 dân số trên thể giới, tất cả các nước trồng ngônói chung đều sử dụng ngô làm lương thực cho con người ở các mức độ khác nhau.Trên toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho con người Ởcác nước Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính Cácnước Nam Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực, tỉ lệ này ở Tây TrungPhi là 80%, Bắc Phi là 42%, Tây Á là 27%, Nam Á là 75%, Đông Nam Á và TháiBình Dương là 39%,… Nếu như các nước châu Âu khẩu phần ăn chính là bánh mì,khoai tây, sữa; châu Á là cơm, cá, rau thì châu Mỹ La Tinh là bánh ngô, đậu đỗ và
ớt Ở nước ta vùng đồng bằng chỉ sử dụng một số loại ngô làm thực phẩm (ngô bao
tử, ngô nếp, ngô làm tương,…) còn lại là sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Còn ởmiền núi và trung du thì ngô vẫn là loại lương thực nuôi sống con người hàng ngày
- Cung cấp thức ăn cho chăn nuôi
Bột ngô là thành phần chính trong thức ăn cho chăn nuôi Nguồn cám ngôrất quan trọng đối với chăn nuôi lợn F1 Hiện nay, nhiều hộ chăn nuôi giỏi thườngsắm một máy nghiền công suất nhỏ để chủ động chế biến thức ăn cho lợn, gà từngô Thân, lá ngô ủ chua với đạm ure và muối ăn là loại thức ăn tốt, giàu dinhdưỡng cho trâu, bò đặc biệt là chất đạm hơn hẳn lá xanh không ủ, lại dự trữ đượclâu dài Bà con áp dụng kỹ thuật lên men lỏng, phối trộn bột ngô đã lên men vớithức ăn đậm đặc, không cần đun nấu cho lợn ăn theo khẩu phần và các giai đoạnsinh trưởng Với phương pháp này hiệu quả sử dụng cám ngô cao hơn so với khôngqua quá trình lên men Do đó, đàn lợn sinh trưởng nhanh chất lượng thịt thơmngon Ngoài sản phẩm chính là hạt thì việc tận dụng lá ngô ở gốc, lá già làm thức
ăn cho trâu bò khi ngô chín sáp
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Ngô là nguyên liệu chính cho nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi tổng hợp
và còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, bia, tinh bột, dầu, bánhkẹo,… Hiện nay ngô đã chế biến được khoảng 700 mặt hàng khác nhau Sản phẩm
từ ngô có hàm lượng dinh dưỡng cao
Trang 11- Tham gia xuất khẩu thu ngoại tệ
Trên thế giới, hàng năm xuất khẩu một lượng lớn ngô hạt từ các nước cóđiều kiện sản xuất lớn như Mỹ, Brazin, Áchentina, Trung Quốc…
Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 đến 86,7triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41 % tổng sản lượng và các nước khác chiếm35,59 %
- Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân
Ở nước ta, cây ngô là cây lương thực đứng thứ 2 sau lúa về diện tích và sảnlượng Phần lớn ngô được trồng ở miền núi nên góp phần giải quyết được công ăn,việc làm cho người dân nghèo Ở một số vùng dân tộc thiểu số thì việc trồng ngôlai góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân
- Thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển
Ngành chăn nuôi hiện nay được đánh giá là ngành rất quan trọng Trong cácngành của ngành nông nghiệp thì ngành trồng trọt có vai trò quan trọng nhất trongviệc thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển
Hiện nay ở nước ta ngô chỉ đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu cho ngànhchăn nuôi Giá thức ăn chăn nuôi ngày càng tăng Vì vậy để phát triển ngành chănnuôi thì phải tìm giải pháp để tăng năng suất ngô đáp ứng đủ nhu cầu trong nước,giảm nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu
1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngô
* Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
- Đất đai
Cây ngô có thể sống và phát triển tốt trên hầu hết các loại đất trừ các loại đấtquá nặng hay quá nhiều cát Đất phù hợp nhất là đất có kết cấu trung bình, tầngcanh tác sâu, nhiều mùn, giữ nước tốt trong mùa khô hạn và thoát nước tốt khi ngậpúng Các loại đất với pH khoảng 6-6,5 là lý tưởng nhất cho cây ngô, tuy nhiên vớicác loại đất hơi chua (pH= 4-5,5), cây ngô vẫn có thể sinh trưởng, phát triển tốt
Các loại đất nâu đỏ bazan, đất phù sa ven sông rất phù hợp với thâm canhngô năng suất cao Các loại đất xám nghèo dinh dưỡng thì cần bổ sung phân hữu cơ
và vôi để phát triển tốt
Trang 12Với các loại đất phèn nặng và đất nhiễm mặn thì cần cân nhắc kỹ trước khitrồng: đất cần được bón phân hữu cơ và vôi trước khi gieo hạt, bố trí thời vụ sớm
để khi đất rỉ phèn hay nhiễm mặn quá mức cho phép thì cây đã hoàn tất chu kỳ sinhtrưởng và phát triển
- Nhiệt độ
Ngô là cây cần nhiệt độ cao để nảy mầm cũng như sinh trưởng và phát triển.Mặc dù người ta vẫn có thể trồng ngô ở các vùng ôn đới nhưng thường chỉ trồngvào mùa nóng ấm nhất trong năm Để hạt ngô nảy mầm bình thường, nhiệt độ tốithiểu là 9-100C, dưới nhiệt độ này ngô sẽ nảy mầm và mọc rất chậm Nhiệt độ tốithích cho cây ngô là từ 30-320C
Trong điều kiện nước ta, cây ngô được trồng ở nhiều vùng, nhiều vụ mùakhác nhau nhưng nhìn chung nhiệt độ đều đảm bảo cho cây sinh trưởng và pháttriển bình thường tuy vậy cần lưu ý: nếu nhiệt độ dưới 120C , cây ngô sẽ tăngtrưởng rất chậm Ở nhiệt độ từ 27-300C nếu có đủ nước cây ngô sẽ phát triển rấtnhanh Nếu nhiệt độ cao hơn 320C, cây ngô bắt đầu bị ảnh hưởng do cây cần nhiềunước hơn để duy trì các hoạt động bình thường Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thờigian ra hoa, trổ cờ của cây ngô, làm thay đổi thời gian sinh trưởng và phát triển củacây Nhiệt độ thấp sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng và phát triển, còn nhiệt độ caothúc đẩy quá trình này nhanh hơn Cây ngô như nhiều cây trồng khác sẽ sinhtrưởng và cho năng suất cao trong điều kiện biên độ nhiệt cao, tức chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm cao Nhiệt độ ban ngày cao giúp quá trình sinh tổng hợp thuậnlợi, tích lũy nhiều chất khô, nhiệt độ ban đêm thấp sẽ giảm mức độ hô hấp, tiêu tốn
ít sản phẩm quang hợp từ ban ngày, do đó chất khô được tích lũy nhiều hơn, năngsuất cao hơn
Cây ngô có nguồn gốc từ Trung Mỹ nhưng đã thích nghi với điều kiện sinhthái khác nhau nhờ sự đa dạng về mặt sinh học Có giống ngô chỉ cần 60-70 ngày
đã chín trong khi có giống sinh trưởng và phát triển trong thời gian lên đến 10-11tháng Về mặt sinh thái các nhà khoa học đã phân thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm ôn đới: gồm các giống ngô thích hợp vùng lạnh giá
+ Nhóm cận nhiệt đới: gồm các giống ngô phù hợp với khí hậu cận nhiệt đới
Trang 13+ Nhóm nhiệt đới: gồm các giống ngô thích hợp với khí hậu nóng ẩm.
Theo cách phân loại này, nước ta thuộc vùng phù hợp trồng các giống ngôthuộc nhóm nhiệt đới
- Ánh sáng
Cây ngô yêu cầu ánh sáng mạnh, trồng trong điều kiện được chiếu sángmạnh ngô sẽ cho năng suất cao, phẩm chất hạt tốt
Tùy vào giống ngô, mùa vụ để bố trí mật độ thích hợp giúp cây tận dụng tối
đa ánh sáng Thông thường các giống ngô chín sớm, cây thấp, tán gọn thì trồng dàyhơn; ngược lại các giống ngô chín muộn, cây cao to, tán lá xòe rộng thì trồng thưahơn Cùng một giống ngô trồng trên cùng một ruộng nhưng thời vụ khác nhau cũng
có mật độ khác nhau
Đối với giống ngô lai: Mật độ phải đảm bảo 40000-45000 cây/ha
Trồng hàng đơn: Luống rộng 70cm cả rảnh, trồng 1 hàng/luống, cây cáchcây 30-35cm
Trồng hàng kép: Luống rộng 1,3-1,4m cả rãnh, trồng 2 hàng/luống, hàngcách hàng 65-70cm, cây cách cây 30-35cm
- Ẩm độ, lượng mưa
Cây ngô từ lúc gieo đến lúc chín cần một lượng nước tương đương vũ lượng tốithiểu từ 400-600mm Nhu cầu nước của cây ngô thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng vàphát triển của cây Một cây ngô trên đồng ở điều kiện nóng và gió trong một ngày cóthể sử dụng đến 2 lít nước để duy trì sự sinh trưởng và phát triển bình thường Rễ ngôtùy vào độ dày tầng đất có thể hút nước từ độ sâu 150cm, tuy vậy chúng chỉ hút nước
ở độ sâu thấp hơn như thế nhiều Thiếu nước vào giai đoạn trổ cờ, ra hoa sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng đến năng suất ngô Thời gian cây cần nhiều nước nhất là trước và sau trổ
cờ khoảng 2 tuần Giai đoạn này, cây ngô cần tới hơn 70% tổng lượng nước cây sửdụng trong cả chu kỳ sinh trưởng và phát triển Thiếu nước vào giai đoạn này thườngkèm nhiệt độ cao làm cây ngô không thể hoàn thành quá trình thụ phấn và sẽ làm giảm
số lượng hạt trên bắp, bắp ngô lép và giảm năng suất nghiêm trọng Nhu cầu nước sẽgiảm dần khi hạt ngô bắt đầu chuyển sang dạng sáp, nội nhũ hạt bắt đầu cứng, nếu trờikhô hạn nhẹ sẽ thúc đẩy quá trình chín nhanh hơn
Trang 14Nhìn chung, các vùng ngô ở nước ta có lượng mưa đủ để trồng ngô trongmùa khô, tuy vậy ở các tỉnh phía Nam cần lưu ý đến tiểu hạn thường xẩy ra vàogiữa tháng 7 (hạn bà chằn), có thể gây hại cho những giống ngô chín muộn nhưDK888, LVN10, NK66, NK67 Ngoài ra do mùa mưa thường chấm dứt thấtthường, có năm mưa chấm dứt sớm hơn thông lệ cũng làm giảm năng suất cácgiống dài ngày khi đang ở giai đoạn cần nhiều nước.
* Các nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội
- Phân bón
Ngô lai là cây trồng có nhu cầu cao về dinh dưỡng Để có năng suất cao, ổnđịnh thì nhất thiết phải bón nhiều phân và bón đúng cách cho ngô Trên từng loạiđất, mùa vụ khác nhau có thể có cách bón khác nhau Từng loại giống khác nhau,trong hệ thống luân - xen canh khác nhau thì mức bón và cách bón từng loại phâncũng khác nhau
Có ít nhất 13 chất dinh dưỡng khác nhau là những nhân tố quan trọng giúp
sự sinh trưởng và phát triển của cây một cách bình thường Đó là các chất đa lượngnhư đạm, lân, kali; các chất trung lượng như canxi, lưu huỳnh, magiê và các chất vilượng như kẽm, đồng, bo, mangan
Ngoài các chất trung, vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với cây ngô,tùy từng trường hợp người ta có thể bổ sung các loại dinh dưỡng này cho phù hợpvới đất đai, độ phì
Thực tế đánh giá tác dụng của các chất vi lượng là không rõ ràng lắm trongkhi cách tính toán phức tạp nên nhiều nhà sản xuất phân bón đã cho thêm các loại
vi lượng trộn lẫn vào cùng các loại phân khác, nhất là phân hữu cơ, phân vi sinh
Bón phân chuồng, phân hữu cơ rất tốt cho cây ngô, đảm bảo tính ổn địnhcủa ruộng trồng ngô Tốt nhất bón các loại phân này hàng năm hoặc ít nhất phảiđịnh kỳ cho ruộng trồng ngô, không nên bón hoàn toàn phân hóa học
- Thuốc bảo vệ thực vật
Cỏ dại có thể cạnh tranh nước, dinh dưỡng, ánh sáng với cây ngô và một sốtrường hợp còn thải ra một số hợp chất gây hại cho cây trồng Khả năng của cỏ dạilàm giảm năng suất hạt của cây ngô là rất lớn, thậm chí nếu cỏ dại phát triển quá
Trang 15nhiều, ruộng ngô không còn để thu hoạch Các loài cỏ khác nhau có mức độ gây hạikhác nhau nhưng nói chung là chúng làm giảm năng suất và cần phải loại bỏ.
Việc làm cỏ bằng tay tương đối dễ thực hiện nhưng quá nặng nhọc và năngsuất thấp Máy móc cũng có thể giúp làm cỏ bằng việc xới đất giữa các hàng ngô,con người phải nhổ cỏ trong hàng con Các chất hóa học trừ cỏ được sử dụng ngàycàng rộng rãi hơn trong thâm canh ngô Với các loại hóa chất này, việc làm sạch cỏ
đã trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn
Bên cạnh cỏ dại là sâu bệnh Cây ngô có nhiều sâu bệnh gây hại khác nhau.Một số loài sâu bệnh chính hại ngô ở nước ta là sâu xám, sâu đục thân, sâu xanhđục bắp, rệp muội, châu chấu và các loại nấm gây bệnh như bệnh đốm lá, khô vằn,
cụ thể, có tiềm năng năng suất cao, có thân cây thấp và nhỏ nhưng chắc, có tán lágọn xu hướng đứng để có thể trồng dày, có khả năng chống chịu bất lợi về thời tiết,kháng sâu bệnh tốt và sản phẩm đạt yêu cầu của thị trường
- Vốn và tư liệu sản xuất
Nếu được cung cấp đầy đủ thì người dân sẽ thuận lợi hơn trong việc đầu tưsản xuất và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 16- Lao động
Lao động là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng góp phần tăng năngsuất cây trồng Cơ cấu lao động hợp lý, chất lượng lao động cao thì năng suất cao
và ngược lại
- Cơ sở hạ tầng và dịch vụ SXNN ở địa phương
Giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất và khoa học
kỹ thuật…đều ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả sản xuất ngô
- Cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh và của địa phương
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những mục tiêu quan trọngcủa Đảng và Nhà nước ta, là nền tảng để tiến hành CNH - HĐH đất nước Trongthời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợSXNN phát triển như chính sách đất đai, thuế, tín dụng…Nếu chính sách hợp lý,đúng đắn thì góp phần thúc đẩy SXNN phát triển và ngược lại
- Thị trường tiêu thụ
Hiện nay sản ngô ở nước ta chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước
Vì vậy, tiềm năng về thị trường của ngô là rất lớn Giá đầu ra có xu hướng ngày càngtăng nên việc tìm giải pháp để tăng năng suất và sản lượng ngô là cần thiết
- Tiến bộ khoa học kĩ thuật
Việc áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp có thể hạn chếđược những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, giúp cho người dân chủ động đượctrong sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
1.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất ngô
Nội dung của đề tài chỉ giới hạn ở hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất ngôlai của xã Kim Hóa, do đó để phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất ngôtôi chỉ dừng lại ở một số chỉ tiêu sau:
* Các chỉ tiêu kết quả sản xuất
- Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị tính bằng tiền toàn bộ sản phẩm thu
được trên một đơn vị diện tích canh tác trong một chu kỳ sản xuất nhất định
GO=Qi x PiTrong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm i được sản xuất ra
Pi: Giá của sản phẩm i
Trang 17- Chi phí trung gian (IC): Là những chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài
dùng cho sản xuất, không tính những chi phí tự có của các nông hộ
- Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian.
VA= GO-IC
- Diện tích gieo trồng: Là diện tích thực tế có gieo trồng các loài cây nhằm
thu hoạch thành phẩm ngay trên diện tích đó
* Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất
- Năng suất (N): Phản ánh trung bình một năm, đơn vị diện tích đất canh tác
sản xuất được bao nhiêu lượng ngô hạt
Q
N =
S
Trong đó: Q: Tổng sản lượng ngô hạt thu được trong năm
S: Diện tích gieo trồng ngô trong năm
- Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC) (lần): Thể hiện cứ một
đồng chi phí trung gian đầu thư thêm tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
- Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC) (lần): Thể hiện một đồng
chi phí trung gian đầu tư thêm thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng (thu nhập)
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới, đứng thứ ba sau lúa mì vàlúa gạo Sản lượng sản xuất ngô ở thế giới trung bình hằng năm từ 696,2 đến 723,3triệu tấn (năm 2006-2008) Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản lượng ngô
và 59,38% do các nước khác sản xuất
Nhu cầu tiêu thụ nội địa ngô trên thế giới rất lớn, trung bình hàng năm từ702,5 đến 768,8 triệu tấn Trong đó nước Mỹ tiêu thụ 33,25 % tổng sản lượng ngôtiêu thụ và các nước khác chiếm 66,48%
Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41 % tổng sản lượng và các nước khác chiếm35,59%
Trang 18Bảng 1: Sản lượng ngô sản xuất trên thế giới (2006-2008)
1.1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ở nước ta, ngô là cây trồng quan trọng thứ 2 sau lúa Kể từ năm 1992 đếnnay, cuộc cách mạng về giống ngô lai do Viện Nghiên cứu ngô (Viện Khoa họcNông nghiệp Việt Nam) khởi xướng đã mang lại hiệu quả to lớn cho sản xuất, tăngthu nhập cho người nông dân chuyên canh ngô
Từ năm 1990 trở về trước, ở nước ta hầu hết diện tích trồng ngô chủ yếuđược trồng bằng các giống ngô địa phương nên năng suất thấp, kém hiệu quả kinh
tế Vì vậy mà diện tích trồng còn ít Do ngày càng thấy rõ tầm quan trọng và hiệuquả của nó mang lại, đặc biệt khi áp dụng các giống ngô lai năng suất cao thay thếcác giống ngô địa phương thì việc mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh tăng năngsuất ngô đã được người nông dân chú trọng hơn So sánh diện tích, năng suất năm
2008 với năm 1990 ta thấy rõ được điều đó Nhìn vào Bảng 2 ta thấy, diện tích năm
1990 là 431,8 nghìn ha, năm 2008 là 1100 nghìn ha (tăng lên 154,7%); năng suấtbình quân năm 1990 là 15,5 tạ/ha tăng lên 40 tạ/ha vào năm 2008 tức tăng 158,06
% và theo đó, sản lượng tăng từ 669,29 nghìn tấn năm 1990 lên 4440 nghìn tấnnăm 2008 (tăng 563,38%) Với việc thực hiện chủ trương, chính sách, hỗ trợ của
Trang 19nhà nước, mở rộng diện tích, áp dụng các tiến bộ công nghệ sinh học đặc biệt làđưa các giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất đại trà đã tạo ra sựđột biến về năng suất, sản lượng ngô
Một số vùng trồng ngô lớn nhất ở nước ta như: Đồng bằng Sông Hồng,duyên hải Bắc Trung bộ, Nam Trung Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long Ở đồng bằngsông Cửu Long, An Giang là tỉnh trồng ngô cho năng suất cao nhất nước ta (6-7tấn/ha) Thời tiết Nam bộ nóng ẩm, ít biến động là điều kiện lý tưởng để trồng ngô,nhưng cũng đồng thời “trợ giúp” cho sâu bệnh phát triển
Trang 20Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam từ 1990-2008
Trang 211.1.1.3.Tình hình sản xuất ngô ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình có diện tích trồng ngô trên 4500 ha, nhưng năng suất bình quân rấtthấp, chưa vượt quá 42 tạ/ha, trong khi đó năng suất ngô của các tỉnh đều đạt trên 50tạ/ha Kết quả thực hiện mô hình trình diễn cũng như một số vùng sản xuất ngô trongtỉnh có thể cho năng suất trên 50 tạ/ha, thậm chí có nơi đã đạt đến 55-60 tạ/ha Ví dụ
mô hình trồng thí điểm giống ngô lai C919 trên các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, BốTrạch… đã cho năng suất 60 tạ/ha Điều này cho thấy tiềm năng năng suất ngô ở cácđịa phương còn rất lớn
Tuyên Hóa là một trong những huyện có diện tích và năng suất ngô lớn củatỉnh Quảng Bình Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của bộ nông nghiệp,viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, UBND tỉnh và sự chỉ đạo của sở, phòngNN&PTNT huyện, cơ sở khoa học Quảng Bình, huyện Tuyên Hóa đã thực hiệnchuyển dịch cơ cấu cây trồng, đưa giống mới vào sản xuất nên diện tích, năng suất,sản lượng ngô của huyện không ngừng tăng lên trong những năm qua
Nhìn vào Bảng 3 ta thấy: Năm 2005, diện tích ngô của huyện là 1026 ha, năngsuất trung bình là 37 tạ /ha, sản lượng đạt được là 3796,2 tấn Những năm tiếp theo,được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của phòng NN&PTNT, phòng khuyến nông huyện
và chính quyền các xã nên người dân đã chú ý đầu tư thâm canh, sử dụng các giốngmới có năng suất cao, (ví dụ năm 2009 huyện Tuyên Hóa chủ yếu sử dụng giống ngôlai như LVN14, C919, CP888) nên năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên.Năm 2009 năng suất ngô bình quân đạt 45,9 tạ/ha tăng 8,9 tạ/ha so với năm 2005,tương ứng với tăng 24,1%, sản lượng ngô đạt được là 4006,8 tấn tăng 105,56% so vớinăm 2005 Riêng năm 2007 do đầu năm mưa rét nhiều làm chậm tiến độ sản xuất;cuối tháng 2 đầu tháng 3 có hai đợt mưa rào và gió lốc xảy ra ở một số địa phươnglàm ảnh hưởng đến cây ngô đang trổ Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 có hai đợt mưa lớnlàm ngập úng một số diện tích ngô ở biền bãi ven sông nên diện tích, năng suất, sảnlượng ngô đều giảm, cụ thể diện tích ngô năm 2006 là 1132 ha giảm xuống còn 1096
ha vào năm 2007, tức là giảm 36 ha; năng suất năm 2006 là 40,1 tạ/ha giảm xuốngcòn 37,6 tạ/ha vào năm 2007, tức là giảm 2,5 tạ/ha; theo đó sản lượng giảm từ
Trang 224539,32 tấn năm 2006 xuống còn 4110 tấn vào năm 2007, tức là giảm 429,32 tấntương ứng với giảm 9,6%.
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh
Quảng Bình qua các năm 2005-2009
113240,14539,32
109637,54110
162344,67238,58
170045,97803
6748,94006,8
65,724,1105,56
95943,54171,65
960393744
102548,85002
111049,85527,8
11412,31792,8
11,4532,848
5025125
23
4235147
3035,9107,7
15,947,7
79,579,5
-12320246
11325282,5
55637,52085
56038,62161,6
56038,62161,6
-(Nguồn: NGTK huyện Tuyên Hóa)
Và cụ thể các vụ như sau:
Vụ Đông Xuân: Đây là vụ ngô chính, có quy mô diện tích gieo trồng lớn nhất
trong năm, do ở vụ này điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng, pháttriển và cho năng suất cao Lợi dụng điều kiện tự nhiên cùng với sự quan tâm, hướngdẫn của cán bộ phòng NN&PTNT, khuyến nông của huyện, xã trong việc đầu tư thâmcanh, sử dụng giống ngô mới nên diện tích ngô ĐX có xu hướng tăng trong nhữngnăm gần đây, đặc biệt là năm 2008 và 2009 năm 2005 diện tích ngô ĐX là 996 ha,
Trang 23đến năm 2009 đã tăng lên 1110ha, tức là tăng 114ha tương đương với tăng 14,5 %.Năm 2006 và 2007 diện tích ngô ĐX giảm là do ảnh hưởng của thời tiết xấu Năm
2006 có cơn bão số 6, năm 2007 có cơn bão số 2 và số 5 gây ảnh hưởng xấu đếnSXNN nói chung và sản xuất ngô nói riêng Năm 2005 diện tích ngô ĐX là 996hagiảm xuống còn 959 ha vào năm 2006, tức là giảm 37ha, tương ứng với giảm 3,71%.Hơn nữa năm 2006 huyện đã chuyển 20ha trồng ngô sang trồng cỏ và trồng dâu nuôitằm
Vụ Đông: Đây là vụ cả DT, NS, SL đứng thứ 2 sau vụ ĐX Do điều kiện thời
tiết của vùng vào vụ này không thuận lợi cho việc sản xuất ngô bằng vụ ĐX Năm
2005 toàn huyện không sản xuất ngô đông, đến năm 2006 đã trồng 123 ha nhưng năngsuất đạt thấp chỉ là 20 tạ/ha, đạt 45,98% so với vụ ĐX Người dân chủ yếu sử dụngthân, lá phục vụ chăn nuôi trâu, bò vì đây là mùa đông nên nguồn thức ăn cho trâu bòkhan hiếm Những năm gần đây (2008 và 2009) thì diện tích ngô đông tăng lên đáng
kể Năm 2007 diện tích ngô đông là 113ha tăng lên 560 ha vào năm 2009, tức tăng447ha Do áp dụng các biện pháp kỹ thuật và giống mới vào sản xuất nên năng suấtcũng tăng lên Năng suất năm 2006 là 20 tạ/ha đến năm 2009 tăng lên 38,6 tạ/ha, tức
là tăng 18,6 tạ/ha và theo đó sản lượng cũng tăng lên Năm 2006 sản lượng là 246 tấnđến năm 2009 thì sản lượng đạt 2161,6 tấn
Vụ Hè Thu: Đây là vụ sản xuất ngô có diện tích, năng suất thấp nhất trong năm.
Do thời tiết không thích hợp với trồng ngô hơn nữa vụ này là vụ chính để trồng cácloại đậu cho năng suất cao của vùng như đậu xanh, đậu đen, đậu trắng… Tuy nhiêndiện tích, năng suất vụ này có tăng lên nhưng không đáng kể, đặc biệt năm 2007 vụ
HT mất trắng do ảnh hưởng của bão lũ
Như vậy, nhìn một cách tổng quát trong 2 năm qua, sản xuất ngô của huyệnngày càng được quan tâm, người dân đã mạnh dạn hơn trong việc đầu tư thâm canh,
sử dụng giống mới có năng suất cao nên năng suất, sản lượng ngô không ngừng tănglên Và đóng góp lớn nhất trong kết quả sản xuất ngô của huyện là các xã: Thạch Hóavới năng suất đạt 59 tạ/ha, xã Thanh Thạch và xã Văn Hóa đạt 53 tạ/ha vào năm 2009
1.2 Tình hình cơ bản của xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 241.2.1 Vị trí địa lý
Kim Hóa là một xã miền núi, rẻo cao thuộc huyện miền núi Tuyên Hóa, tỉnhQuảng Bình
- Phía Tây Bắc giáp huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Đông Bắc giáp huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Đông Nam giáp xã Thuận Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Phía Tây Nam giáp xã Lê Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Là xã nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình Toàn xã có 8 thôn: KimThủy, Kim Tân, Kim Trung, Kim Ninh, Kim Lũ 1, Kim Lũ 2, Kim Tiến và Kim Lịchphân bố trải dài, không tập trung
Với vị trí địa lý như trên, tạo điều kiện thuận lợi cho xã Kim Hóa giao lưu vớicác xã khác trong huyện, các huyện của tỉnh khác
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.2.1 Địa hình, đất đai
Địa hình trải dài theo quốc lộ 15A, đường sắt Bắc Nam và dọc theo sôngGianh, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam kẹp giữa hai dãy núi cao có hình lòng mángnghiêng về phía Đông Nam, nằm giữa triền thoải của hai dãy núi Đông Trường Sơn
và Nam Hoành Sơn Độ cao thay đổi từ 4-30 m Đất đai ở đây chủ yếu là đất Feralitphát triển trên đá sa thạch, phiến thạch tập trung ở vùng đồi núi có độ dốc cao, thường
bị xói mòn và rửa trôi nhiều nên tầng đất mỏng Diện tích đất chưa sử dụng lớn, làvùng thích hợp cho việc trồng rừng, cây công nghiệp…
Dạng địa hình này gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp đặcbiệt là phát triển cây hàng năm Tuy nhiên, do ruộng đồng phần lớn trải dài theo hệthống sông Gianh, tuy đất không được bồi đắp hàng năm nhưng cũng rất thuận lợi chotrồng trọt, nhất là cho sản xuất ngô lai Đông Xuân
1.2.2.2 Khí hậu - thời tiết
Cũng như các xã khác của huyện Tuyên Hóa, Kim Hóa nằm trong vùng khíhậu Bắc Trung Bộ mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Vì vậy, vừa thừahưởng chế độ bức xạ năng lượng mặt trời lớn, nhiệt độ cao, ẩm độ phong phú củavùng nhiệt đới đồng thời chịu sự chi phối của hoàn lưu gió mùa, tín phong và chịu ảnh
Trang 25hưởng trực tiếp của các nhiễu động nhiệt đới như áp thấp nhiệt đới, bão, dải hội tụnhiệt đới…
Lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 132 kcal/năm Tổng giờ nắng trungbình dưới 1380 giờ Nền nhiệt cao, trung bình mỗi năm khoảng 240C, tổng lượng mưatrung bình dao động từ 2300-2400 mm/năm, độ ẩm trung bình mỗi năm 84% Tuynhiên, các yếu tố khí hậu thời tiết có sự khác nhau giữa hai mùa: Mùa Đông và mùa
Hè Mùa Đông bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa này nhiệt độthấp đặc biệt là những khi có gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh (trung bình mỗi nămchịu ảnh hưởng của 13-15 đợt gió mùa Đông Bắc) và nhiệt độ tối thấp có khi xuống
80C kèm theo giá buốt và sương muối ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất cây trồng
Mùa này cũng đồng thời là mùa mưa, lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng
9, 10, 11 Mưa lớn kết hợp với địa hình hẹp, dốc thường gây ra lũ quét ở các thônvùng cao như Kim Lịch và một số khu vực ven sông như thôn Kim Tiến, Kim Lũ gâyảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất
Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Mùa này chịu ảnh hưởng chủ yếu củagió mùa Tây Nam, nền nhiệt cao, nhiệt độ tối cao có khi lên đến 400C, độ ẩm tối thấpxuống đến 32%, thời tiết hết sức khô nóng gây hạn hán cho đồng ruộng cũng như ảnhhưởng đến đời sống của người dân
Vụ Đông Xuân 2008-2009 thời tiết khắc nghiệt, rét đậm, rét hại kéo dài nênmột số diện tích cây lúa bị chết phải gieo lại, cây ngô bị quắn ngọn gây ảnh hưởng xấuđến sự phát triển của các loại cây trồng
1.2.2.3 Nguồn nước, thủy văn
Là xã có vũ lượng tương đối lớn, có sông Gianh chảy qua Hệ thống kênh mương,đập đã có hỗ trợ cho một số thôn ở diện tích nhỏ còn một số thôn mặc dù có tiềm năng vềnguồn nước nhưng chưa có kinh phí nên chưa có một loại hình thủy lợi nào
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Kim Hóa
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, quan trọng vàkhông thể thay thế được Nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động; bị giớihạn về mặt tuyệt đối và tương đối Giới hạn về mặt tuyệt đối là giới hạn bởi ranh giớigiữa các quốc gia, còn giới hạn về mặt tương đối là không phải bất cứ loại đất nào
Trang 26cũng đều có thể tiến hành SXNN Vì vậy, nếu đất đai được quản lý và sử dụng hợp lý
và có hiệu quả thì nó là nguồn lực vô hạn và ngược lại Nhìn chung trong thời gianqua công tác quản lý và sử dụng đất đai của xã đã có nhiều tiến bộ, để thấy rõ hơn tìnhhình đất đai ở địa phương ta xem xét Bảng 4:
Do địa giới giữa các xã được điều chỉnh nên tổng diện tích đất tự nhiên của xãtăng từ 18480 ha năm 2007 lên 18488,77 ha năm 2008 và năm 2009, tức là tăng 8,77
ha tương ứng với tăng 0,05 % Theo số liệu năm 2009, trong tổng diện tích đất tựnhiên thì đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn nhất là 16718,88 ha tương ứng với90,43% Phần lớn đất nông nghiệp của xã là đất lâm nghiệp, đất SXNN còn đất nuôitrồng thủy sản chiếm tỷ lệ rất nhỏ Cụ thể, diện tích đất lâm nghiệp là 15916,71 hachiếm 86,09 % tổng diện tích đất tự nhiên, đất SXNN là 799,12 ha chiếm 4,32 %trong tổng diện tích đất tự nhiên, đất NTTS là 3,05 ha chiếm 0,02 % trong tổng diệntích đất tự nhiên Đất phi NN là 879,76 ha chiếm 4,76% tổng diện tích đất tự nhiêntrong đó, đất chuyên dùng chiếm tỷ lệ cao nhất là 3,09% tương ứng với 570,5ha; đấttôn giáo chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,0028% tức là 0,53ha Còn đất chưa sử dụng là890,13ha chiếm 4,81%
So với năm 2007, diện tích các loại đất của xã năm 2009 ít biến động Đất SXNNkhông biến động, tuy nhiên có sự chuyển đổi mục đích sử dụng giữa các loại đất trồngcây hàng năm với nhau Cụ thể, năm 2009 đã chuyển 20 ha đất trồng ngô sang đất trồnglạc khiến diện tích ngô năm 2009 giảm 20 ha tương ứng với giảm 16% so với năm 2007.Đất phi nông nghiệp năm 2007 là 884,08 ha đến năm 2009 giảm xuống còn 879,76 ha tức
là giảm 4,32 ha tương đương với 0,49%, tuy nhiên đất ở có tăng lên do dân số tăng cụ thểđất ở tăng từ 0,2 ha lên 0,9 ha tương ứng với 2,51% Đất chưa sử dụng tăng từ 877,04 hanăm 2007 lên 890,13 ha vào năm 2009, tức là tăng 13,09 ha (1,49%) Trong 890,13 hađất chưa sử dụng thì có 311,3 ha đất bằng chưa sử dụng, 390, 73 ha đất đồi núi chưa sửdụng và 188,1 ha đất núi đá không có cây rừng
Qua phân tích ở trên cho thấy đất đai của xã biến động không nhiều, tuy nhiênvới diện tích đất chưa sử dụng không nhỏ và có xu hướng tăng tuy không đáng kểnhưng cho thấy phần nào tình hình sử dụng đất của xã chưa thật sự tốt Vì vậy, xã cần
có chủ trương, biện pháp để đưa đất chưa sử dụng vào SXNN, nhất là 2 loại đất: đấtbằng và đất đồi núi
Trang 27Bảng 4: Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm (2007-2009)
(Nguồn: UBND xã Kim Hóa)
Chỉ tiêu
DT (ha)
Cơ cấu (%)
DT (ha)
Cơ cấu (%)
DT (ha)
Cơ cấu (%)
1,220,683,10
225,57135573,55
1,220,733,10
225,57105573,55
1,220,573,10
-20-
-16-
-5.Đất sông suối và mặt nước
Trang 281.2.3.2 Tình hình dân số và lao động của xã Kim Hóa
Dân số và lao động là nguồn lực sản xuất của xã hội Đó vừa là mục tiêu vừa làđộng lực của mọi sự phát triển Dân số tăng trưởng hợp lý, cơ cấu lao động tích cực lànền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế và phồn vinh xã hội Đánh giá tình hìnhdân số và lao động của địa phương sẽ giúp chúng ta nắm rõ nguồn nhân lực cũng nhưthị trường tiêu thụ sản phẩm từ đó đề ra những phương hướng và biện pháp phát triểnđúng đắn Cụ thể về tình hình dân số và lao động của xã Kim Hóa được thể hiện ởbảng sau:
Bảng 5: Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Kim Hóaqua 3 năm
2 Tổng số NK Khẩu 5332 100 5522 100 5391 100 59 1,11
3 Tổng số LĐ LĐ 2868 100 2426 100 2310 100 -558 -19,46-LĐ NN LĐ 2467 86,02 2055 84,71 1940 83,98 -527 -21,36-LĐ phi NN LĐ 401 13,98 371 15,29 370 16,02 -31 -7,73
4 BQ khẩu/hộ Khẩu 4,87 - 4,88 - 4,39 - -0,48 -9,86
5 BQ LĐ/hộ LĐ 2,62 - 2,14 - 1,88 - -0,74 -28,246.BQ
LĐNN/hộ NN LĐ 2,68 - 2,25 - 2,03 - -0,65 -24,25
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tuyên Hóa)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng số hộ và tổng số nhân khẩu đều tăng qua 3 năm(2007-2009), riêng năm 2009 tổng số hộ tăng còn tổng số nhân khẩu giảm Cụ thể,năm 2008 tổng số hộ là 1132 hộ tăng lên 1228 hộ vào năm 2009 tức là tăng 134 hộtrong khi đó tổng số khẩu năm 2008 là 5522 khẩu giảm xuống còn 5391 khẩu vàonăm 2009, tức là giảm 131 khẩu Điều này chứng tỏ người dân nơi đây đã có ý thứchơn trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình Tổng số nhân khẩu nam và nữ của xãchênh lệch không ít và số nam nhiều hơn nữ Tổng số lao động giảm dần qua các năm,
cụ thể năm 2007 có 2868 LĐ giảm xuống còn 2310 LĐ vào năm 2009, tức là giảm
Trang 29558 LĐ Nguyên nhân là do nhận thức của người dân ngày càng tiến bộ đó là cho con
em đi học, thanh niên đi học nghề, một bộ phận nhỏ đi học chuyên nghiệp còn đa số là
di cư vào các thành phố lớn tìm việc làm LĐ NN ở địa phương chủ yếu là người lớntuổi thậm chí ngoài độ tuổi LĐ Mục đích SXNN của người dân ở đây chủ yếu tựcung, tự cấp Đây là nguy cơ dẫn đến hiện tượng thiếu LĐ NN ở nông thôn Vấn đềđặt ra là làm sao để thu hút LĐ trở về lại nông thôn để phát triển SXNN ở đây thànhsản xuất hàng hóa nhằm tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người LĐ, góp phầnvào phát triển kinh tế - xã hội của vùng cũng như của quốc gia
1.2.3.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đời sống và sản xuất của xã Kim Hóa
Cùng với lao động và đất đai thì cơ sở hạ tầng và trang bị kỹ thuật là nhữngnhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cũng như kết quả sản xuất Cơ sở hạ tầng
ở đây bao gồm các lĩnh vực như: giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, y tế,giáo dục…Những yếu tố này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh tế
Hệ thống cơ sở hạ tầng ở xã Kim Hóa có những đặc điểm sau:
- Về giao thông: So với những thập niên 80 trở về trước thì việc phục vụ cho
đi lại, lưu thông hành chính thuận lợi hơn khi có tuyến quốc lộ 15A đi qua Ngoàituyến quốc lộ 15A thì Kim Hóa còn có thêm 1 tuyến giao thông chính đó là tuyếnđường sắt Bắc – Nam Vấn đề đáng lưu tâm hiện nay là hệ thống giao thông nội đồngphục vụ sản xuất còn nhiều bất cập Trong những năm gần đây, hệ thống giao thôngnội đồng đã được chính quyền từ xã đến địa phương cũng như người dân quan tâm tuynhiên chưa được đầu tư xây dựng đúng mức Có nhiều cánh đồng xa đường nên việcvận chuyển còn dựa vào sức người hoàn toàn Một số đoạn đường bị sạt lở do bão lũ,một số người dân ý thức thấp thường cày lấn, cuốc lần làm thu hẹp một cách đáng kểchiều rộng của đường
- Về thủy lợi: Là xã có nhiều tiềm năng về thủy lợi Hiện nay có các hệ thống
kênh mương đã đưa vào phục vụ sản xuất như đập khe Sông, khe Đành, khe Mưng,khe Bẹ, khe Teng ở một số thôn Còn một số thôn chưa có hệ thống kênh mương nào
Trang 30Với địa hình nằm trải dài theo sông Gianh và kẹp giữa hai dãy núi cao thì hai nguồnnước từ sông Gianh và nguồn tự chảy từ các khe suối là tiềm năng thủy lợi lớn của xã.
- Về điện và thông tin liên lạc: Năm 2000, 8/8 thôn đã có hệ thống điện lưới
quốc gia đi qua 100% các hộ gia đình đều dùng điện
Trong những năm gần đây hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng điện thoại Cácthôn đều có hệ thống phát thanh nên việc truyền đạt thông tin dễ dàng hơn
- Về y tế, giáo dục: Là xã thuộc chương trình 135 CP nên mọi người dân đều
được cấp bảo hiểm y tế Cấp xã có một trạm y tế phục vụ cho việc khám chữa bệnh
Hệ thống trường lớp thì được đầu tư kiên cố hóa, không còn tính trạng trườngtạm, lớp tạm Cho đến nay xã Kim Hóa có 5 trường học, trong đó 1 trường THCS, 2trường tiểu học và 2 trường mầm non Số học sinh đi học có xu hướng ngày càngtăng
Tuy cơ sở vật chất và nguồn lực (thầy thuốc, thầy dạy chữ) còn hạn chế nhưng
đã đánh dấu được sự tiến bộ đáng kể trong việc khám chữa bệnh, dạy và học tại địabàn nơi đây
1.2.3.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Kim Hóa
Sản xuất nông nghiệp là ngành có từ lâu đời của xã Kim Hóa Thu nhập chủyếu của người dân nơi đây là từ sản xuất nông nghiệp Với điều kiện tự nhiên, kinh tế-
xã hội của vùng thì sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và trồngrừng kinh tế
* Về trồng trọt:
Cũng như các vùng sản xuất nông nghiệp khác trong cả nước, ngành trồng trọtcủa xã Kim Hóa bao gồm các loại cây hàng năm chủ yếu như: lúa, ngô, khoai, sắn,các loại đậu, rau… Hoạt động sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.Những năm qua do thời tiết biến đổi bất lợi cho sản xuất nên diện tích gieo trồng câyhàng năm của xã có xu hướng giảm Cụ thể ta theo dõi bảng sau:
Bảng 6: Biến động diện tích gieo trồng một số loại cây chính ở xã Kim Hóa
Trang 31qua 3 năm (2007-2009) (ĐVT:ha)
(Nguồn: UBND xã Kim Hóa)
Nhìn vào Bảng 6 ta thấy, diện tích gieo trồng của xã biến động không nhiều
qua các năm Từ năm 2007 đến năm 2008 diện tích gieo trồng chủ yếu là giảm nhưng
không đáng kể, chỉ có diện tích gieo trồng lúa, ngô tăng nhưng tăng rất ít Cụ thể năm
2007 DTGT lúa là 103,6 ha tăng lên 106,2 ha vào năm 2008, tức là tăng 2,6 ha tương
ứng với 2,51% Diện tích gieo trồng màu năm 2007 là 356 ha giảm xuống 327 ha năm
2008 tức là giảm 29 ha tương ứng với 8,15% Trong đó DTGT khoai giảm nhiều nhất
từ 37 ha năm 2007 giảm xuống còn 12 ha năm 2008 tức là giảm 25 ha tương ứng với
giảm 66,67% Trong khi đó DTGT ngô tăng từ 125 ha năm 2007 lên 135 ha năm 2008
tức là tăng 10 ha tương ứng với 8% Từ năm 2008 đến năm 2009 thì DTGT có xu
hướng tăng nhưng cũng không nhiều DTGT tăng nhiều nhất là lạc đến đậu và sắn
DTGT lạc năm 2008 là 70 ha năm 2009 tăng lên 98 ha, tức là tăng 28 ha tương đương
với tăng 40% Nguyên nhân chính đó là do xã đã chuyển 20ha trồng ngô sang trồng
lạc; theo đó DTGT ngô đã giảm, năm 2008 diện tích gieo trồng ngô là 135 ha đến năm
2009 giảm xuống còn 105 ha
Diện tích gieo trồng chỉ phản ánh được quy mô sản xuất nông nghiệp của xã
Nó là một trong hai nhân tố quyết định quy mô sản lượng thu hoạch cây hàng năm Để
thấy rõ hơn quy mô sản lượng và giá trị sản xuất của các loại cây trồng hàng năm trên
địa bàn xã Kim Hóa ta theo dõi Bảng 7:
Trang 32Bảng 7: Diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của một số cây trồng chính
năm 2009 ở xã Kim Hóa
(ha)
NS (tạ/ha)
SL (tấn)
Tổng GT (tr.đ)
Tỷ trọng (%)
(Nguồn: UBND xã Kim Hóa)
Qua Bảng 7 cho thấy, tổng giá trị sản lượng do những cây trồng chính trên địabàn như ngô, lúa, lạc, đậu… mang lại hàng năm là khá lớn Trong đó ngô mang lại giátrị lớn nhất là 2100 triệu đồng chiếm 31,31% tổng giá trị, tiếp theo là lúa mang lại giátrị là 1834,98 triệu đồng chiếm 27,36% tổng giá trị, tiếp đến là lạc1358 triệu đồngchiếm 20,24% tổng giá trị Nhìn chung trên địa bàn thì chủng loại cây trồng cũng khá
đa dạng mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân
* Về chăn nuôi:
Chăn nuôi trong nững năm qua có chuyển biến tích cực nhưng tốc độ phát triểncòn chậm, tỷ trọng của ngành chăn nuôi còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vàthế mạnh của vùng
Với địa hình chủ yếu là đồi núi nên chăn nuôi là thế mạnh của vùng Ngoài cácgia súc, gia cầm cơ bản như trâu, bò, lợn, gà thì xã còn chăn nuôi thêm dê và ong
Chăn nuôi chủ yếu theo lối quảng canh, tận dụng thức ăn sẵn có, nhỏ lẻ khôngtập trung nên hiệu quả kinh tế thấp
Dịch lở mồm, long móng bùng phát khiến đàn bò năm 2008 giảm đáng kể sovới năm 2007, cụ thể đàn bò năm 2007 có 889 con giảm xuống còn 769 con vào năm
2007, tức là giảm 120 con tương ứng với 13,5% Đàn lợn và đàn gia cầm có tăngnhưng theo kiểu tự phát chưa có sự chỉ đạo hướng dẫn Mặt khác, giá thành thức ăn
Trang 33chăn nuôi quá cao, diện tích trồng ngô không định hình, định lượng được (sản xuấttùy tiện) dẫn đến hạn chế khả năng cung cấp thức ăn tự có.
Tuy nhiên so với ngành trồng trọt thì tỷ trọng thu nhập mang lại từ ngành chănnuôi cao hơn, cụ thể ở bảng sau:
Bảng 8: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm (2007-2009)
(Nguồn: UBND xã Kim Hóa)
Ngoài hai ngành sản xuất trên thì trong những năm gần đây xã Kim Hóa pháttriển thêm ngành trồng rừng kinh tế nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và gópphần cải thiện môi trường cũng như khí hậu cho người dân địa phương
1.2.4 Đánh giá chung về tình hình cơ bản của xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
* Thuận lợi
- Là một xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đậm tính chất đặctrưng: lắm nắng, mưa nhiều Đây là một trong những lợi thế của địa phương, đặc biệt
là trong hoạt động SXNN của người nông dân
- Phần lớn ruộng đồng nằm trải dài theo nguồn phát nguyên của sông Gianh,những cánh đồng ngập lụt theo mùa đều nhận được một lượng phù sa đáng kể nên đấtđai màu mỡ thích hợp cho việc trồng các loại cây hàng năm như ngô, lạc, các loạiđậu… Ngoài ra, Kim Hóa là một xã miền núi nên diện tích đất rừng, đất có khả năngtrồng rừng và đất trồng các cây công nghiệp như chè, cây ăn quả… là rất lớn
- Kim Hóa có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, có thể giao lưu với tỉnh bạn,huyện bạn
- Từ đặc điểm địa hình, có thể thấy Kim Hóa có lợi thế trong hoạt động chănnuôi và trồng rừng Phát triển ngành chăn nuôi cung cấp sức cày, sức kéo, phân bón
Trang 34cho ngành trồng trọt Ngành trồng trọt phát triển tạo đà thúc đẩy ngành chăn nuôi pháttriển theo
- Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên Giáodục đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực Công tác y tế, dân số gia đình có nhiều tiến
bộ Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm có nhiều cố gắng, các chínhsách xã hội được quan tâm thực hiện tốt
- Lao động cần cù, có nhiều kinh nghiệm
- Các tiến bộ KHKT ngày càng được áp dụng nhiều vào sản xuất như sử dụnggiống mới…
* Khó khăn
- Thời tiết khắc nghiệt như bão lũ, hạn hán thường xuyên xảy ra, lại chịu ảnhhưởng của các loại gió có hại như: gió mùa Đông Bắc, gió phơn Tây Nam Điều nàygây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của bà con
- Địa hình chủ yếu là đồi núi, đất đai không bằng phẳng, manh mún, bậc thang.Gây khó khăn cho việc áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất
- Cơ sở hạ tầng thiếu và yếu Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sảnxuất Giao thông nội đồng còn mang tính tạm bợ
- Trình độ thâm canh của người dân thấp, sản xuất mang nặng tính tự cung tựcấp Trình độ quản lý và quy hoạch yếu, không làm chủ được
- Lao động còn thiếu về số lượng và chất lượng chưa đảm bảo
- Công tác khuyến nông nói chung (cả trồng trọt và chăn nuôi) còn mang nặngtính hình thức, không thực tế do chưa có trình độ chuyên môn cơ bản, ý thức, tráchnhiệm và sự chỉ đạo thiếu sâu sát, mang tính chung chung dẫn đến dịch bệnh khôngnhững không được phòng trừ mà còn kém chữa trị
Với những thuận lợi và khó khăn như trên, chính quyền địa phương cũng nhưnhững người dân của xã Kim Hóa phải biết phát huy tốt mọi lợi thế và tìm cách khắcphục những khó khăn để nâng cao được năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi Tạo
đà để phát triển ngành nông nghiệp của xã tương xứng với tiềm năng vốn có của nó
Trang 35CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ TRỒNG NGÔ LAI Ở XÃ KIM HÓA, HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Khái quát tình hình sản xuất ngô trên địa bàn xã Kim Hóa và giới thiệu phương pháp điều tra
2.1.1 Khái quát tình hình sản xuất ngô của xã Kim Hóa
Ngô là một trong những cây trồng đã được trồng lâu đời ở xã Kim Hóa Là câylương thực ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng đối với người dân nơi đây
Với điều kiện tự nhiên của vùng, có thể nói vụ ĐX là vụ có điều kiện thuận lợinhất cho hoạt động sản xuất ngô Vụ Hè Thu và vụ Đông do mưa rét, bão, lũ nên diệntích cũng như năng suất bị hạn chế Trong những năm gần đây, xã Kim Hóa chỉ trồngmột vụ ngô duy nhất đó là vụ ĐX Diễn biến về diện tích, năng suất, sản lượng ngôcủa địa phương được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 9: Tình hình sản xuất ngô vụ Đông Xuân của xã Kim Hóa
(Nguồn UBND xã Kim Hóa)
Nhìn vào Bảng 9 ta thấy, diện tích biến động thất thường Năm 2007 diện tíchtrồng ngô của xã là 125 ha tăng lên 135 ha vào 2008, tức là tăng 10 ha tương đươngvới tăng 8% Mặc dù diện tích tăng nhưng năng suất lại giảm từ 45 tạ/ha năm 2007xuống còn 43 tạ/ha năm 2008 Do đầu vụ ĐX năm 2008 mưa rét kéo dài dẫn đến tỷ lệmọc thấp và những cây mọc được lại bị quắn ngọn nên ảnh hưởng lớn đến năng suấtngô Đến năm 2009 thì diện tích giảm xuống còn 30 ha so với năm 2008 Năng suấtnăm 2009 tăng so với năm 2008, cụ thể năm 2009 năng suất đạt 50 tạ/ha trong khi đónăm 2008 chỉ đạt 43 tạ/ha Do thời tiết năm 2009 diễn biến thuận lợi hơn cùng với
Trang 36việc áp dụng các giống ngô lai mới năng suất hơn và sức chống chịu cao hơn Theo đóthì sản lượng ngô cũng tăng, giảm qua các năm Cụ thể, năm 2007 sản lượng đạt được
là 562,5 tấn, đến năm 2008 lên 580,5 tấn tức là tăng 18 tấn tương ứng với tăng 3,2%.Sản lượng tăng không đáng kể so với phần diện tích tăng do năng suất giảm Năm
2009 sản lượng giảm so với năm 2008, năm 2008 là 580,5 tấn giảm xuống còn 525tấn năm 2009 (giảm 9,56%)
2.1.2 Giới thiệu phương pháp điều tra
- Số hộ điều tra: 60 hộ (25 hộ thuộc thôn Kim Tân và 35 hộ thuộc thôn Kim Thủy)+ Lý do lựa chọn 60 hộ trên: Thôn Kim Thủy có tổng số hộ (160 hộ) nhiềuhơn thôn Kim Tân (125 hộ) nên tôi điều tra số hộ ở thôn Kim Thủy nhiều hơn thônKim Tân là 10 hộ trong tổng số 60 hộ điều tra Đây là những hộ có diện tích gieotrồng ngô lớn so với các hộ khác trong thôn
- Địa bàn điều tra: 2 thôn Kim Tân và Kim Thủy thuộc xã Kim Hóa - TuyênHóa - Quảng Bình
+ Lý do lựa chọn 2 địa bàn trên: Đây là 2 địa bàn có quy mô trồng ngô lớn nhấttrong xã Giao thông đi lại thuận tiện nên dễ dàng hơn trong việc điều tra
_ Cơ sở phân chia nhóm hộ điều tra
Là một xã thuần nông, số hộ sản xuất nông nghiệp chiếm 80% Khoảng 31% số
hộ sản xuất nông nghiệp là hộ nghèo Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầungười/tháng dưới 200 ngàn đồng Còn lại khoảng 69% tổng số hộ của xã là hộ khôngnghèo Trong nhóm hộ không nghèo xã phân ra hai nhóm là nhóm hộ cận nghèo vànhóm hộ khá - giàu Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người
từ 200 ngàn đồng đến dưới 260 ngàn đồng/tháng Hộ khá - giàu là hộ có mức thu nhậpbình quân đầu người trên 260 ngàn đồng/ tháng Với mức thu nhập khác nhau và trình
độ canh tác cũng có sự chênh lệch giữa các nhóm hộ nên tôi tiến hành phân thành hainhóm hộ là: hộ nghèo và hộ không nghèo trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế trongsản xuất ngô lai để xem xét hiệu quả kinh tế của mỗi nhóm hộ có khác nhau không,nguyên nhân vì sao có sự khác nhau đó, từ đó đưa ra các giải pháp đúng đắn hơn
2.2 Năng lực sản xuất ngô lai vụ Đông Xuân của các hộ điều tra