luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn qui mô, số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm cụ thể
đó là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vấn đề về môi trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc, triệt để
Theo thống kê của Hội thảo xây dựng chiến lược kiểm soát ô nhiễm ở Việt Nam vào tháng 12 năm 2004, trung bình tổng lượng chất thải hàng năm trên 49 ngàn tấn thì trong đó có 55% chất thải công nghiệp, 1% chất thải y tế và 44% chất thải gia cư Bên cạnh đó, ở Đô thị trong cả nước số chất thải rắn mỗi năm là 9.939.103 tấn rác thải rắn, trong đó có tới 76,31% là chất thải rắn sinh hoạt từ các khu dân cư Điều này cho thấy, ngoài tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải từ các khu công nghiệp, nhà máy, khu chế xuất thì một vấn đề đáng báo động hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt chưa được phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu dân
cư, khu đô thị
Năm 2005, Huế trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, là trung tâm kinh tế chính trị và văn hóa của tỉnh, gồm 27 phường với tổng diện tích 83,3 km2 và với tổng số dân toàn Thành phố là 333.715 người Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, thành phố Huế trở thành đầu mối giao thông quan trọng, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của tỉnh Thừa Thiên Huế
Tuy vậy, Thành phố Huế đang phải đối diện với những vấn đề của một về tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao nên đời sống nhân dân từng bước được cải thiên, do vậy nhu cầu tiêu dùng, tiện nghi trong sinh hoạt cũng tăng lên một cách đáng kể, kết quả dẫn đến là khối lượng rác thải chất thải rắn sinh hoạt tăng lên liên
Trang 2tục tạo áp lực rất lớn cho công ty, thu gom và xử lý chất thải rắc sinh hoạt Quá trình hình thành các khu đô thị, khu dân cư ở thành phố sẽ tạo ra một lượng đáng kể chất thải rắn sinh hoạt, bên cạnh đó việc thải bỏ chất thải rắn sinh hoạt một cách bừa bãi và không đảm bảo các điều kiện vệ sinh ở các khu đô thị, khu dân cư là nguyên nhân chính
là nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường, cụ thể nó tác động trực tiếp lên môi trường đất, nước và không khí làm cho chất lượng môi trường ở đây giảm đi rất nhiều gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khỏe của người dân sống trong khu vực
Thành phố Huế cũng đã và đang đối mặt với những thách thức trên Mặc dù đã được tăng cường về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và con người, thế nhưng công tác thu gom, xử lý rác thải vẫn chưa đáp ứng được so với nhu cầu thực tế Điều này nó thể hiện cái được và cái chưa được trong công tác quản lý chất thải răn nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng của thành phố
Chính vì thế, việc nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Huế là một công việc cấp thiết và có ý nghĩa thực tế Vì vậy,
trước những yêu cầu thực tế, đề tài: “Tình hình xử lý rác thải sinh hoạt ở phường Thuận Thành - Thành phố Huế” được thực hiện với mong muốn đề tài sẽ góp phần
tìm ra các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt thích hợp
1.2 Mục Đích Nghiên Cứu :
- Tìm hiểu tình hình xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Thuận Thành
- Xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt nhằm hạn chế ô nhiễm ra môi trường và tăng cường tiết kiệm nguyên liệu thông qua việc phân loại và tái chế
1.3 Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu
Do thời gian và điều kiện có hạn nên đề tài này chỉ giới hạn trong lĩnh vực chất thải sinh hoạt hộ gia đình tại địa bàn phường Thuận Thành
Trên cơ sở khảo sát số liệu và tài liệu có sẵn về hệ thống thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Thuận Thành
- Đánh giá được hiện trạng và tình hình quản lý chất thải sinh hoạt tại phường Thuận Thành ( thu gom, xử lý …)
- Đưa ra các giải pháp quản lý nhằm lựa chọn phương án tối ưu cho hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại phường Thuận Thành
Trang 31.4 Phương Pháp Nghiên Cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lý luận nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có
sẵn liên quan đến đề tài
- Phương pháp quan sát: Quan sát địa bàn và các khu phố thuộc Thành phố Huế nhằm tìm hiểu về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp liên ngành khác như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp tổng quan tài liệu trên sách báo, internet
Trang 4Chính quyền địa phương
Nhà dân, khu
dân cư
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC
I, CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm cơ bản về chất thải rắn:
Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v ) Trong đó quan trọng nhất
là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy
1.2 Nguồn gốc của rác thải sinh hoạt :
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
- Từ các trung tâm thương mại
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các dịch vụ đô thị
- Từ các hoạt động công nghiệp
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị
Hình 1.1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
Trang 5(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)
1.3 Phân loại rác thải :
Phân loại rác có thể hiểu là: Quá trình tách riêng các loại rác có thể thu hồi để tái sử dụng với các loại rác không thể thu hồi tái sử dụng Hàng ngày con người đã tạo ra một lượng rác thải khổng lồ, trong đó phần lớn chưa được phân loại để thu hồi tái sử dụng, mà cứ vứt bỏ tùy tiện gây ô nhiễm môi trường Tiến hành phân loại và thu gom rác có thể giảm thiểu khối lượng rác cũng như thiết bị xử lý, vừa hạ thấp giá thành xử lý, lại giảm thiểu được tài nguyên đất đại bị chiếm dụng, mang lại hiệu quả từ ba mặt: xã hội, kinh tế và sinh thái
Tuy vậy, không phải tất cả các loại rác đều có thể áp dụng cách thức chôn lấp hoặc thiêu đốt truyền thống Ví dụ như những chai lọ nhựa đựng đồ uống, nếu đem chôn lấp sẽ phá hoại thổ nhưỡng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây cối, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm, hơn nữa còn chiếm một diện tích đất đại lớn và lãng phí tài nguyên Nhưng nếu áp dụng hình thức thiêu đốt thì nó sẽ tạo ra các loại khí thải độc hại
Do đó rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau phải được phân loại theo các cách khác nhau như:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải ngoài nhà,
rác thải trên đường, chợ…
- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo các thành
phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo…
- Theo mức độ nguy hại:
Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan…Có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hại tới môi trường Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp
và nông nghiệp
Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất
có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
Trang 61.4 Tác hại của rác thải :
1.4.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất
+ Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
- Môi trường nước
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất
vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì
có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực
+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt
- Môi trường không khí
+ Tại các trạm/ bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng
ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại
Trang 71.4.2 Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ
đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh
- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %
1.4.3 Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ
II, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình xử lý rác thải sinh hoạt của thế giới
Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ
lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới như sau: Băng Cốc
Trang 8(Thái Lan) là 1,6kg/người/ngày; Singapo là 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày Các số liệu thống kê gần đây
về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác thải Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ
đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhấp cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập và mức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5%
Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càng được quan tâm hơn Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến hành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại rác Các quy định đối với việc thu gom, vận chuyển, xử lý từng loại rác thải được quy định rất chặt chẽ và rõ ràng với đầy đủ các trang thiết bị phù hợp và hiện đại Một khác biệt trong công tác quản lý, xử lý rác thải của các nước phát triển là sự tham gia của cộng đồng Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay Giáo dục
Trang 9ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều Từ
đó, khái niệm về rác thải dần được thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ Còn tại Nhật thì chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R (reduce, reuse, recycle) Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhà máy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát
sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất Cách xử lý rác thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng Việc thu gom rác ở Nhật Bản không giống như ở Việt Nam Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn từ các công
ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều này được quy định bằng các điều luật về bảo vệ môi trường
Các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn đề bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị còn thiếu
Trang 10và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại thấp Sự tham gia của các đơn vị
tư nhân còn ít và hạn chế So với các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều
2.2 Tình hình xử lý rác thải sinh hoạt của Việt Nam
Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo vệ Môi trường trước đây) chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn, trong đó rác thải sinh hoạt tại đô thị khoảng 6,5 triệu tấn (năm 2008 là 7,8 triệu tấn theo báo cáo của Bộ Xây dựng)
Ngoại trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, TP Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng đang thí điểm phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo dự án 3R, còn lại hầu hết rác thải sinh hoạt vẫn là một mớ tổng hợp các chất hữu cơ từ các gia đình cho tới nơi
xử lý
Điều đáng lo ngại là tới thời điểm này, việc xử lý chất thải rắn vẫn chưa đi theo hướng tái chế như mong muốn Khoảng 70% chất thải sinh hoạt đô thị được thu gom và khoảng 80% số chất thải này vẫn được xử lý theo cách chôn lấp Còn rác thải nông thôn thì hầu như được đổ bừa bãi ra ven làng, ao hồ, bãi sông, bãi tạm hoặc tự đốt Hội Xây dựng Việt Nam cảnh báo, trong số 91 bãi rác lớn trên cả nước chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh, chiếm khoảng 15%
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số
và các khu công nghiệp
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV
là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh
là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và
đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ
Trang 11phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải
Có thể nói, hiện nay trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh, mà tuỳ theo yêu cầu bức xúc của các huyện, thị và mỗi địa phương, hình thành một xí nghiệp công trình công cộng hoặc đội vệ sinh để tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt
và một phần rác thải công nghiệp tại các khu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàng ngày
Hoạt động tái chế, giảm lượng chất thải sinh hoạt được tập trung chủ yếu vào đầu
tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Tuy nhiên do chưa có những khảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộng đồng đối với sản phẩm phân vi sinh, đồng thời do kỹ năng phân loại trong quá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp, nên hiệu quả hoạt động của các nhà máy này chưa cao
Vì vậy, việc thực hiện Chương trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 có ý nghĩa to lớn đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm phát huy mọi nguồn lực tham gia giải quyết những bức xúc về chất thải rắn, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn trong
cả nước Các nhà máy xử lý rác thải của chương trình được xây dựng sẽ góp phần thực
Trang 12hiện mục tiêu hạn chế chôn lấp rác thải, tiết kiệm kinh phí, đất đai, hạn chế gây ô nhiễm môi trường và giải quyết triệt để vấn đề rác thải hiện đang gây bức xúc tại các đô thị.
2.3 Tình hình xử lý rác thải sinh hoạt của Thừa Thiên Huế
Thành phố Huế có diện tích là 83,3 km2 với dân số là 333.715 người nằm ở vị trí
có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên -
đô thị - văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch thể thao khác nhau
Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu vực
Huế là một trong những thành phố du lịch của Việt Nam, có 2 di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới nên hàng năm thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan
Với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện thì vấn đề môi trường nói chung và vấn đề rác thải sinh hoạt nói riêng cần phải được các cơ quan chuyên môn quan tâm đúng mức
Qua 3 năm 2008-2010, khối lượng rác thải trung bình hàng tháng ở Thành phố Huế tăng nhanh được thể hiện qua hình sau:
Trang 13(Đơn vị tính: m 3 ).
(Nguồn: Công ty TNHH MT&CTĐT Huế) Hình 1.2: Khối lượng rác thải trung bình hàng tháng tại Thành phố Huế qua 3 năm 2008-2010.
Cụ thể là, so với năm 2008, khối lượng rác thải trung bình hàng tháng năm 2009 tăng 1.100m3 tức là tăng 7,59% So với năm 2009, năm 2010 tăng 1.200m3 tức là 7,69
Sở dĩ khối lượng rác thải trung bình hàng tháng ở thành phố Huế tăng nhanh như vậy là do nền kinh tế đang trên đà phát triển về mọi mặt Đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ du lịch Thành phố Huế hiện nay đang cố gắng phấn đấu trở thành Thành phố trực thuộc Trung Ương nên UBND Thành phố Huế đang thực hiện triển khai các phương án thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cuộc sống cho nhân dân
Bên cạnh đó, tình hình dân số ngày càng tăng cũng làm cho khối lượng rác thải tăng theo
Trang 14Bảng 1.1: Thống kê tình hình dân số Thành phố Huế qua 3 năm 2008-2010.
Đơn vị tính: Người.
Chỉ tiêu Năm
2008
Năm 2009
Năm 2010
2009/2008 2010/2009
Dân số 333.715 335.747 339.822 2.032 0,61 4.075 1,21
(Nguồn: Niên giám thống kê Thành phố Huế năm 2008, 2009, 2010)
Từ bảng 2, ta thấy dân số Thành phố Huế năm 2009 tăng 2.032 người tương ứng với tăng 0,61% so với năm 2008, năm 2010 tăng 4.075 người tức là tăng 1,21% so với năm 2009 Như vậy, dân số năm 2010 so với năm 2009 tăng nhanh hơn dân số Thành phố Huế năm 2009 so với năm 2008
Sự tăng nhanh về dân số cũng làm cho khối lượng rác thải ở Thành phố Huế tăng lên nhanh chóng Điều này sẽ gây ra những khó khăn cho các cơ quan quản lý, ngày càng khó kiểm soát lượng rác thải trong Thành phố Khối lượng rác thải quá nhiều, Công ty MT&CTĐT Huế không đủ trang thiết bị để thu gom, vận chuyển toàn bộ rác thải, dẫn đến một lượng rác thải sẽ còn tồn đọng trong khu dân cư Chất thải thực phẩm
và những chất thải khác trong các thùng chứa tại nguồn hầu như đều bị phân hủy sinh học ngay lập tức (thường gọi là sự thối rửa) do sự phát triển của vi sinh vật và nấm Nếu chất thải được lưu trữ trong thùng chức một thời gian dài, ruồi sẽ sinh sôi nảy nở cũng như hình thành các hợp chất gây mùi hôi, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân
Với tình hình dân số và khối lượng rác thải của Thành phố Huế tăng nhanh qua 3 năm 2008-2010, tỷ lệ rác thải được xử lý làm phân compost và tỷ lệ rác thải đổ trực tiếp vào bãi rác để tiến hành chôn lấp có sự thay đổi đáng kể Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2: Thống kế tỷ lệ rác thải của Thành phố Huế qua các năm.
Trang 15Chỉ tiêu Năm
2008
Năm 2009
Năm 2010
Tỷ lệ rác được đưa vào nhà máy
Tỷ lệ rác từ nhà máy đổ ra bãi rác 0% 12,55% 18,03%
Tỷ lệ rác đổ trực tiếp vào bãi rác 100% 55,57% 37,19%
(Nguồn: Công ty TNHH MT&CTĐT Huế).
Qua số liệu trên ta thấy, tỷ lệ rác đổ vào nhà máy xử lý làm phân vi sinh tăng qua các năm do khả năng hoạt động của nhà máy ngày càng được cải thiện Điều này làm cho tỷ lệ rác thải đổ trực tiếp ra bãi rác để chôn lấp giảm Nhưng trình độ kĩ thuật chưa được nâng cao nên tỷ lệ rác thải không xử lý được, phải đổ ra bãi rác để chôn lấp tăng.Trong tổng khối lượng rác thải được đưa vào nhà máy để xử lý thì khối lượng rác được xử lý làm phân vi sinh năm 2009 là 6.061,23m3, khối lượng còn lại không được xử
lý là 869,85m3 phải đổ ra bãi rác để tiến hành chôn lấp Năm 2010, khối lượng rác được
xử lý làm phân vi sinh là 8.649,54m3, còn lại là 1.902,54m3 không được xử lý và được tiến hành chôn lấp tại bãi rác Như vậy, so với năm 2009, khối lượng rác thải năm 2010 được xử lý làm phân vi sinh và khối lượng rác thải không được xử lý tăng lần lượt là 2.588,31m3 và 1.302,69m3 So với năm 2010, khối lượng rác thải được xử lý tại nhà máy giảm 1.820,76m3, và khối lượng rác thải không được xử lý tại nhà máy tăng 2.600,88m3 Điều này là do nhiều yếu tố:
Thứ nhất, do lượng phân vi sinh sản xuất ra nhưng chưa được tiêu thụ hết, vẫn còn
tồn đọng trong nhà máy nên không thể xử lý thêm rác thải, buộc phải đưa rác thải ra bãi rác để chôn lấp trực tiếp
Thứ hai, do nhà máy hoạt động chưa hết công suất nên vẫn còn một khối lượng lớn
rác thải chưa được xử lý Vì vậy, khối lượng rác thải từ nhà máy đổ ra bãi rác sẽ tăng
Thứ ba, dây chuyền công nghệ chưa được cải thiện và trình độ kỹ thuật chưa cao
nên khối lượng rác thải được nhà máy xử lý giảm
Trang 16Thứ tư, do thời tiết khí hậu ở thành phố Huế thường xuyên thay đổi nên gây khó
khăn trong việc thu gom và vận chuyển rác thải Vào những ngày mưa, khối lượng rác thải được vận chuyển về bãi rác sẽ thấp hơn những ngày nắng Một phần là do người dân đổ rác ít hơn nên khối lượng rác thải vào mùa mưa sẽ ít hơn Vì vậy, khối lượng rác thải đưa vào nhà máy không ổn định
Trang 17CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA
PHƯỜNG THUẬN THÀNH
I, Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.1 Về điều kiện tự nhiên.
1.1.1 Vị trí địa lý :
Tọa độ địa lý: 107o31‘45‘‘-107o38' kinh Ðông và 16o30'‘45‘‘-16o24' vĩ Bắc Phường Thuận Thành là một trong 4 phường thuộc thành nội Huế trước đây là trung tâm của vương Triều Nguyễn (1802- 1945)
Tên gọi phường Thuận Thành xuất hiện khoảng đầu những năm 1960 (chưa xác định thời gian cụ thể) gồm 3 phường Thái Trạch, Trung Tích và Trung Hậu (Đơn vị hành chính thời nhà Nguyễn) hợp lại Toàn phường có 8 khu dân cư, 16 tổ dân phố với tổng diện tích 144,2 ha, dân số là 15.731người Địa giới hành chính bao gồm :
Bắc giáp: Phường Thuận Lộc,
Đông giáp: Phường Phú Hòa,
Nam giáp: Phường Phú Hòa,
Tây giáp phường Thuận Hòa
Phường Thuận Thành là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch Với vị trí địa lý nằm trung tâm Thành phố Huế có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
1.1.2 Đặc điểm khí hậu :
Thuận Thành nói riêng cũng như Thành phố Huế nói chung nằm trong vùng khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước
Trang 18+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng
là 20°C - 22°C
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30% lượng mưa cả năm
- Độ ẩm trung bình 85%-86%
- Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễ gây
lũ lụt, xói lở
- Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt
+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10
1.2 Về lĩnh vực kinh tế - xã hội.
1.2.1 Phát triển kinh tế
Sự suy thoái kinh tế toàn cầu và mặt bằng giá cả không ổn định đã tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân,nhất là những đối tượng có thu nhập thấp, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách Với tinh thần định hướng cơ cấu kinh tế của phường đã được đại hội lần thứ XI xác định, cùng với chủ trương đúng đắn của đảng, nhà nước, tranh thủ thuận lượi vượt qua khó khăn, huy động mọi nguồn lực cố gắng tạo thêm việc làm cho người lao động bảo đảm đời sống nhân dân trong địa bàn phường năm qua có những bước ổn định và phát triển
Thu ngân sách 11 tháng đầu năm đạt 1.800.000.000 (đạt 100% KH) thu cả năm vượt kế hoạch đề ra (KH 1,8 Tỷ)
Chi nhân sách:1.600.000.000 (đạt 88,8) (KH:1,8 Tỷ)
- Thu các quỷ chuyên dùng: ANQP=30.000.000(đạt 100%KH)
-Đền ơn đáp nghĩa :KH:23.000.000.THU:29.000.000 ( đạt:126%KH )