1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam

55 651 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009-2010 tại trại giống cây trồng Nam Phước huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2009-2010
Thành phố Quảng Nam
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 23,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương (Glycine max L) còn gọi là cây đậu nành là một loại câytrồng đã có từ lâu đời,được xem là loại “cây kì lạ”, “vàng mọc từ đất” …Sở dĩ đậutương được người ta đánh giá cao như vậy chủ yếu là do giá trị kinh tế của nó

Hạt đâu tương có thành phần dinh dưỡng rất cao,hàm lượng protein trungbình 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng Đậu tương là loại cây duynhất mà giá trị của nó đánh giá đồng thời cả protit và lipit.Protêin của cây đậutương có phẩm chất tốt nhất trong các loại prôêin của thực vật-Hàm lượngprôtêin từ 38-40% là cao hơn ở cá, thịt và cao gấp hai lần hàm lượng prôtêin cótrong các loại đậu khác.Vì thế mà khi nói giá trị của prôtêin trong cây đậu tươngcao là nói đến hàm lượng lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của các loại axitamin cần thiết Prôtêin của cây đậu tương dễ tiêu hoá hơn thịt và không có cáchành phần tạo colesteron

Ngày nay người ta mới biết thêm nó có chứa chất lixethin, có tác dụng làmcho cơ thể trẻ lâu, sung sức ,tăng thêm trí nhớ và tái sinh các mô, làm cứngxương và tăng sức đề kháng của cơ thể Ngoài ra hạt đậu tương còn có hàmlượng dầu béo cao hơn các loại đậu khác nên được coi là cây cung cấp dầu thựcvật được ưa chuộng.Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ

vỡ động mạch Trong hạt đậu tương có chứa nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàmlượng các loại vitamin PP, A, E, K, D, C…và các loại muối khoáng khác

Do đó mà từ hạt đậu tương người ta có thể chế biến ra trên 600 sản phẩmkhác nhau, trong đó có hơn 300 loại thức ăn bằng phương pháp cổ truyền,thủcông và hiện đại dưới các dạng tươi, khô, lên men…như làm giá bột tương,đậuhủ,chao sữa đậu nành,… đến các sản phẩm cao cấp khác như: Ca phê, đậu tương,sôcola, bánh kẹo…Ngay như ở nước ta hằng năm cung cấp một phần nhu cầuchất đạm cho người và gia súc thông qua các món ăn truyền thống, hiện đại chonhững người ăn chay Đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậutương hạt đen có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột

Trang 2

Đậu tương có tác dụng tích luỹ đạm từ khí trời cung cấp đạm cho đất Nhờ

sự cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần với bộ rễ.Trong điều kiện thuận lợi các vikhuẩn nốt sần này có thể tích luỹ được một lượng đạm tương đương từ2-25kg/ha.do vậy có thể nói mỗi nốt sần như một “nhà máy phân đạm tí hon”,bởivậy nên trồng đậu tương không những tốn ít phân đạm mà làm cho đất tốt lên,cótác dụng tích cực trong việc cải tạo và bồi dưỡng đất.[4]

Với quan niệm đậu tương Việt Nam giá thành cao, sản xuất không có lại,

từ trước đến nay, để có nguồn thức ăn cho chăn nuôi rẻ, Việt Nam khuyến khíchnhập khẩu đậu tương Từ vị trí là nước xuất khẩu đậu tương trong các năm 80,Việt nam đã trở thành nước nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn, ngày càngphụ thuộc đậu tương nước ngoài Theo số liệu của cục chăn nuôi, năm 2006 dãnhập 1,5 triệu tấn khô dầu đậu tương-quy ra thành 2 triệu tấn khô dầu đậu tươnghạt để chế biến 6,6 triệu tấn thức ăn chăn nuôi, trong khi giá khô dầu đậutương,ngô ngày càng tăng 60-70% so với trước, đã đẩy giá thức ăn tăng chănnuôi tăng gần gấp đôi trong vòng 5 năm gần đây.Với quan điểm Việt Nam không

có lợi thế phát triển đậu tương, từ 3 năm nay, nhà nước đã khuyến khích nhậpkhẩu đậu tương hạt với mức thuế thấp 5%, khô dầu đậu tương 0% để đáp ứngnhu cầu đậu tương thực phẩm cho người,diện tích đậu tương nước ta năm 2005vẫn tăng 12% so với năm 2004, xu hướng trồng đậu tương ngày càng tăng chứng

tỏ trồng đậu tương vẫn có lãi so với cây trồng khác.[7]

Từ vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009-2010 tại trại giống cây trồng Nam Phước huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam”.

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

2.1.1 cơ sở lý luận

“Giống là một quần thể cây trồng do con người sáng tạo ra nhằm thoảmãn nhu cầu của mình Quần thể cây trồng đó có đặc điểm kinh tế, sinh học vàcác tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùngsinh thái khác nhau với điều kiện kĩ thuật phù hợp” [5]

Giống là một tư liệu sản xuất sống nên không thể tách rời với điều kiệnngoại cảnh của những khu vực nhất định.Tất cả các đặc trưng đặc tính của giốngphải chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh nhất định mới biểu hiện ra được Ởmỗi nơi, mỗi khu vực, do có những điều kiện ngoại cảnh khác nhau nên cónhững yêu cầu về các giống khác nhau Giống cần phải thích ứng với điều kiệnđất đai, khí hậu, canh tác của địa phương mới có thể cho năng suất cao và ổnđịnh Giống tốt ở nơi này có thể không tốt ở nơi khác Tính chất khu vực củagiống thể hiện rất rõ Chính vì vậy mà giống được xem là tài sản quốc gia, lúcnhập nội hoặc chọn tạo giống cần phải chọn tạo được những giống thích hợp vớitừng khu vực nhất định [5]

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Ở Quảng Nam những năm gần đây diễn biến thời tiết phức tạp khó lường,nắng nóng nhiều, dẫn đến hạn, thiếu nước Tuy nhiên trong những năm gần đâynăng suất đậu tương ở Quảng Nam không ổn định, mà nguyên nhân là các giốngđịa phương do trồng trọt trong những điều kiện không tốt như thiếu phân, chămsóc không cẩn thận, thiếu chọn lựa, bồi dưỡng nên năng suất thường không cao

và một giống biểu hiện thoái hóa đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng.Tình hình trên gây ra rất nhiều khó khăn cho nông nghiệp nhất là ngành trồngtrọt, ảnh hưởng đến thu nhập tác động đến môi sinh và môi trường

Để góp phần giải quyết vấn đề mong đợi cho người nông dân ở QuảngNam nói riêng và cho khu vực Duyên hải Nam Trung bộ nói chung thì việc chọn

Trang 4

lựa, cung ứng đủ nguồn giống, nâng cao hơn nữa chất lượng giống cây trồng đưavào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng là vấn đề cấpthiết.[8]

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương trên thế giới

2.2.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới.

Hiện nay, trên thế giới có 23 quốc gia chấp nhận việc trồng cây biến đổigen Sau 11 năm triển khai, từ 1 triệu ha ban đầu tới năm 2007 thì tổng diện tíchcây trồng biến đổi gen trên toàn thế giới là 114,3 triệu ha Trong đó, đậu tương

là cây biến đổi gen chiếm diện tích lớn nhất trong tổng diện tích cây biến đổigen trên toàn thế giới (60%); sau đó đến ngô (22%) và bông vải (11%)

Có rất nhiều nhà khoa học nghiên cưú về cây đậu tương và những đóng góp

đó đã đưa cây đậu tương nâng cao được năng suất, sản lượng, diện tích lên rấtnhiều ở các nước trồng đậu tương

Nghiên cứu về chiều cao cây: Phần lớn các giống đậu tương có chiều cao câykhoảng 1m Chiều cao không phải là yếu tố quan trọng trong chương trình tạogiống đậu tương, trừ trường hợp giống tạo ra cần cho một môi trường xác định.[1]

Heatherly (1984) cho thấy trong những năm khô hạn, đậu trồng ở khoảng cáchhàng hẹp có tưới nước cho năng suất cao hơn so với đậu trồng ở khoảng cáchhàng rộng có tưới Tuy nhiên những năm ẩm ướt hoặc hơi khô khoảng cách hàngkhông có ảnh hưởng đến năng suất đậu có tưới.[3]

Taylorvà cộng sự (1982) đã nhận thức nước tưới đã làm tăng diện tích lá,chiều cao cây, số đốt trên thân, tốc độ sinh trưởng không ảnh hưởng đến năngsuất Đậu hàng cách hàng 25cm có năng suất cao hơn khi trồng hàng cách hàng1m Sử chênh lệch này do sử dunghj ánh sáng khác nhau ở giai đoạn hạt pháttriển [1]

Lutz và jones (1975) nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới, phân bón (vôi, kali, lân) và nguyên tố vi lượng tới năng suất và chất lượng đậu tương Kết quảthu được hằng năm nước tưới đã tăng năng suất đậu tương tới 22% Hai năm đầuphân lân không ảnh hưởng đến năng suất nhưng năm thứ ba năng suất đã giảm

Trang 5

do không bón phân lân và kali.Phân bón không ảnh tới lượng dầu và proteintrong hạt Nước tưới có ảnh hưởng ít tới lượng dầu và protein trong hạt Không

có tương tác giữa nước tưới, phân bón với năng suất và hàm lượng dầu protein.Máton (1964) cũng cho thấy không có tương tác giữa nước tưới, phân bón đốivới năng suất hạt trên đất cát pha.[1]

Người ta thường chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làmquả,phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kì Tuy nhiên nhiềunghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của sự tương tác giữa hai yếu tố đến sự rahoa làm quả Thomas và Raper (1977) thí nghiệm trên giống ransom, trồng ởnhiệt độ ngày đêm16/220c và 22/180c cho hoa và quả nhiều hơn ở nhiệt độ30/260c và 18/140c Ở nhiệt độ 30/260c và 18/140c quả hình thành ít mặc dầu hoarất nhiều,chứng tỏ nhiệt độ cao và thấp đã dẫn tới hoa rụng nhiều Ở nhiệt độtrung bình cây có nhiều đốt, nhiều hoa và nhiều số quả/đốt Tương tự, giống cảmquan ra hoa chậm cũng sinh nhiều đốt, cành, tăng số quả và tăng năng suất.(patteson và cộng sự, 1977).[1]

Một số đặc tính hạt cũng ảnh hưởng tới chất lượng của chúng Hạt có kích thướcnhỏ có chất lượng cao hơn hạt có kích thước lớn (Singh, 1976; Tekrony và cộng

sự 1984)

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là cây lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất của thế giới, đứnghàng thứ tư sau cây lúa mì, lúa nước và ngô [4]

Diện tích đậu tương tập trung chủ yếu ở hai châu: Châu Mỹ là33.960.000ha.Năng suất bình quân đạt 25,17 tạ/ha Châu Á trồng 16.500.000ha,trong đó Trung Quốc có diện tích lớn nhất là 9.400.000ha, năng suất đạt 13,50tạ/ha Hiện nay những nước có năng suất cao trên diện tích hẹp đạt 50 tạ/ha tại

Mỹ, Braxin Các điển hình năng suất cao này nhờ tiến bộ trong công tác giống và

sự thâm canh đồng bộ

Sản lượng đậu tương thế giới tập trung 4 quốc gia: Mỹ (52%), Braxin(17%), Achentina (10%),Trung Quốc (9%) Bốn nước này chiếm 88% tổng sảnlượng, phần còn lại tập trung ở các nước như: Canada, Ấn Độ, Indonexia, Nhật

Trang 6

Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Mexico, Paraguay, Rumania, Nga ( tài liệu củaYeong Ho Lee)

Sản lượng dầu đậu tương có liên quan chặt chẽ đến thị trường dầu và hạt

có dầu trên thế giới vì trong 9 loại dầu và hạt có dầu trên thị trường thế giới thìdầu đậu tương thường chiếm từ 68-70% tổng sản lượng đầu và hạt có dầu.[2]

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương một số nước trên thế giới.

Tên nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu

3

94,9 2

94,8 9

23,1 7

23,4 2

22.77 21,4

2

22,2 4

21,6 1 Nguồn: FAOSTTAT, 2008

Từ bảng 2.1 cho ta thấy diện tích đậu tương thế giới từ 2005-2006 tăng lênnhanh nhưng đến 2007 thì giảm xuống.Về năng suất và sản lượng năm 2005-

2006 tăng nhưng đến 2007 thì giảm xuống Nhìn chung đậu tương thế giới đạtcao nhất là năm 2006 về cả diện tích,năng suất và sản lượng

Trang 7

Tổng sản lượng đậu tương thế giới năm 2008/09 dự báo sẽ đạt 237,36triệu tấn, tăng 8,76% so với 218,23 triệu tấn của năm2007/08 và tăng 236,56triệu tấn so với của năm 2006/07.Trong đó, sản lượng của các nước dự báo đạt(đơn vị:triệu tấn): Mỹ 80,9; braxin 62,5; Achentina 59,5; Trung Quốc 16,0; Ấn

Độ 9,1; Paragoay 7,2; Canada 3,1 và các nước khác 9,1

Tổng xuất khẩu đậu tương thế giới dự báo đạt 75,67 triệu tấn trong năm2008/09, giảm nhẹ so với 75,58 triệu tấn xuất 2007/08 Trong đó, xuất khẩu củamột số nước sẽ đạt (đơn vị: triệu tấn): Braxin27,5; Mỹ 27,22; Achentina 12,9;Paragoay 4,58.Tổng dự trữ đậu tương thế giới cuối niên vụ 2008/09 dự báo đạt49,28 triệu tấn so với 49,25 triệu tấn của cuối niên vụ 2007/08

Tổng sản lượng dầu đậu tương thế giới năm 2008/09 dự báo đạt 38,66 triệu tấn,tăng nhẹ so với 38,05 triệu tấn của năm2007/08 và tăng so với 36,43 triệu tấncủa năm 2006/07.Tổng xuất khẩu dầu đậu tương trên thế giới dự báo sẽ đạt10,68 triệu tấn trong năm2008/09 so với 10,52 triệu tấn của năm 2007/08.(oilssêds: WM&T, august 2008)

Diện tích gieo trồng của Braxin 2008/09 dự báo sẽ đạt kỉ lục 22,0 triệu ha,điều chỉnh giảm 500ha so với dự báo năm 2008,song tăng 700ngàn ha (3%) sovới diện tích 2007/08

Sản lượng đậu tương của Braxin năm 2008/09 dự báo sẽ đạt kỉ lục 62,5triệu tấn điều chỉnh giảm 1,5 triệu tấn (2,34%) so với sản lượng 2007/08.Năngsuất dự báo dạt 2,85 triệu tấn/ha, giảm nhẹ so với 2,86 tấn/ha của năm 2007/08.[12]

2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống đậu tương tại Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ-Viện khoa học kĩ thuật nôngnghiệp Việt Nam là đơn vị đầu mối, thiết lập nên mạng lưới nghiên cứu đậu đỗtrong cả nước Các đơn vị tham gia vào chương trình nghiên cứu chọn tạo giốngđậu đỗ ngày được mở rộng,đó là Viện Di truyền Nông nghiệp ,Viện cây lươngthực cây thực phẩm,Viện bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu Ngô, viện nghiên cứu

Trang 8

Nông nghiệp miền Nam, Viện nghiên cứu dầu thực vật… Kết quả nghiên cứucũng ngày một được cải tiến, đa dạng hơn về khoa học công nghệ.

Do điều kiện sinh thái và nhu cầu sử dụng bộ giống đậu tương khác nhau nênđịnh hướng chọn tạo giống cũng luôn thay đổi để phù hợp với sản xuất Trongthời gian qua công tác chọn tạo giống đã tập trung vào các mục tiêu như: Giống cótiềm năng cho năng suất cao phù hợp với những vùng có khả năng đầu tư thâmcanh, giống có khả năng cho năng suất thích ứng rộng, chống chịu khá phục vụcho các vùng khó khăn ; giống có chất lượng hạt tốt phục vụ cho xuất khẩu, giống

có hàm lượng dầu cao phục vụ cho chương trình sản xuất dầu thực vật…

Về nghiên cứu tập đoàn phục vụ cho công tác chọn tạo giống; trong vòng

20 năm qua đã thu thập, nhập nội trên 5000 mẫu giống đậu tương trong đó có

300 mẫu giống địa phương Đã khảo sát, đánh giá 4188 mẫu dòng/giống đậutương chủ yếu nhập từ Viện nghiên cứu cây trồng toàn liên bang Nga mang tênValilop (VIR), ngoài ra có một số ít mẫu giống nhập từ trung tâm Nghiên cứuphát triển rau màu Châu Á (AVRDC), ÚC, Nhật, Mỹ và Viện cây trồng nhiệt đớiquốc tế (IITA) Phân lập các dòng giống có các tính trạng đặc biệt khác nhaunhư: Thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, (JS4, LS8), chịu rét (Mellrose),kháng bệnh gỉ sắt (Biên Hoà 2), khối lượng nhạt lớn 360g/1000 hạt giới thiệucho công tác cải tiến giống [11]

Tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nam Trung Bộ công tác khảo nghiệm, sảnxuất thử những giống cây trồng mới trong đó có cây đậu tương Các giống đượcđánh giá, lựa chọn những giống thích nghi với đất đai, khí hậu, sinh thái trongtỉnh có năng suất cao, chất lượng tốt đồng thời chọn lọc, phục tráng những giốngtốt những giống đã bị thoái hoá để đưa vào cơ cấu giống sản xuất

Các giống mới chủ yếu là 3 nhóm chính: Nhóm cho vụ Xuân và Đông gồmcác giống: AK03, AK04, AK05, VX92, VX93, ĐT92, ĐT2000, DN42, TL57,DT90, DT96, Đ98-04… Các giống này có phạm vi thích nghi hẹp, chủ yếu cho

vụ Đông và Xuân ở các tỉnh phía Bắc, ít thích hợp cho các tỉnh phía Nam; Nhómgiống chuyên cho vụ Hè và Hè Thu: M103, ĐT80, MĐT176, HL2; Nhóm giống

Trang 9

cho 3 vụ/năm: ĐT84, ĐT93, AK06, ĐT12 Tuy nhiên, dù chủng loại giống đậutương trong sản xuất khá nhiều, song giống đột phá về năng suất còn ít [13]

Một nghiên cứu chuyển nạp gen ở đậu tương và tạo dòng đậu tương biếnđổi gen kháng sâu mới đang được tiến hành tại Viện lúa đồng bằng sông CửuLong nhằm tăng năng suất đậu tương Việt Nam TS Trần Thị Cúc Hoà cho biết,

sử dụng giống biến đổi gen sẽ giúp tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất.Được thực hiện trên 4 giống đậu tương là MĐT176, HL202, Maverck vàWilliam82 trong đó có 2 giống đang trồng ở Việt Nam

Kết quả, trong 91 giống đã xác định được các giống có tiềm năng sử dụngtrong chuyển nạp gen đậu tương (gồm 5 giống đậu tương đang trồng ở Việt Nam

và 3 giống nhập nội)

Nghiên cứu chuyển nạp gen ở đậu tương và tạo dòng đậu tương và biếnđổi gen kháng sâu ở Việt Nam đặc biệt có ý nghĩa trong việc chọn tạo các giốngđậu tương biến đổi gen ở Việt Nam, góp phần làm giảm lựơng thuốc trừ sâu cần

sử dụng (bảo vệ môi trường và làm giảm chi phí sản xuất) [13]

Các thành tựu về nghiên cứu chọn tạo giống và kỹ thuật canh tác đậu đỗTrong hai thập kĩ qua đã góp phần nâng cao vị thế của việt Việt Nam với các tổchức nghiên cứu quốc tế về đậu đỗ, mối quan hệ hợp tác với nhiều cơ quan nghiêncứu quốc tế được duy trì và mở rộng như:ICRIASAT, AVRDC, TARI, ACIAR,Đại học tổng hợp Illinois, Missouri, các Viện nghiên cứu Trung Quốc (Việnnghiên cứu cây trồng Quảng Đông, Viện nghiên cứu lạc tỉnh Sơn Đông, Việnnghiên cứu cây có dầu ở Hồ Bắc), Liên Bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc… [11]

2.3.2.Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cây đậu tương đã được phát triển rất sớm ngay từ khi nó còn

là một cây hoang dại, sau được thuần hoá và trồng như một cây thực phẩm cógiá trị dinh dưỡng cao-Vai trò của cây đậu tương nước ta hiện nay cũng nhưnhững năm tới chủ yếu là nhằm giải quyết vấn đề đạm cho người và gia súc, thaythế một phần bột cá và thoả mãn một phần nhu cầu thực vật rồi sau đó mới đếnxuất khẩu [4]

Trang 10

Niên giám thống kê 2008 cho thấy: năm 2000 diện tích trồng đậu tương là124,1 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 12,0 tạ/ha và sản lượng đạt được là149,3 nghìn tấn đậu tương, đến năm 2005 diện tích tăng lên 204,1 nghìn ha vànăng suất bình quân đạt được là 14,3 tạ/ha (năng suất cao nhất trong khốiASEAN và bằng 66,5% so với năng suất bình quân của thế giới), sản lượng đạtđược là 292,7 nghìn tấn Như vậy sau 5 năm, diện tích đậu tương cả nước đãtăng 80,0 nghìn ha (tăng 64,5%), năng suất bình quân tăng 2,3 tạ/ha (tăng19,2%) và sản lượng tăng 143,4 nghìn tấn (gần gấp 2 lần) Từ năm 2006 đến

2008 diện tích có biến động giảm do điều kiện thiên tai ảnh hưởng (bão, úng ),sau đó có xu hướng lại tăng dần, nhưng sản lượng đậu tương của cả nước vẫntương đối ổn định Điều đó cho thấy khoa học công nghệ mới về giống và kỹthuật canh tác đối với cây đậu tương của nước ta đã có ảnh hưởng lớn đến sảnxuất Tuy vậy, sản lượng đậu tương trong nước cũng mới chỉ đáp ứng đủ chokhoảng 15% nhu cầu tại chỗ

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sả lượng đậu tương tại việt Nam qua một

số năm.

ChỉtiêuNăm

Diện Tích(nghìn ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Niên giám thống kê,2008

Qua bảng 2.2 cho thấy diện tích diện tích, năng suất và sản lượng của câyđậu tương ở Việt Nam.Về diện tích năm 2000 đến 2007 tăng lên 66 nghìn ha

Trang 11

Năng suất tăng 3,1 tạ/ha, sản lượng tăng 162,2 nghìn tấn Năm 2005 đạt mức caonhất về sản lượng nhưng đến năm 2006 thì lại giảm xuống khá nhanh và năm

2007 thì có sự tăng trở lại nhưng vẫn thấp hơn năm 2005 Nhìn chung năng suấtsản lượng đậu tương điều tăng nhưng tăng với mức độ còn chậm và chưa ổn địnhmột phần do thị trường đầu ra cho sản phẩm và nhiều yếu tố tác động khác

Theo niên giám thống kê 2008 có 7 tỉnh sản xuất đậu tương lớn là Hà Tây(33,6 ha) Đắklắc (9,9ha), Sơn La (9200ha), Hà Giang (18.200ha), Điện Biên(9.100ha), Đăk Nông (14.800ha) và Hà Nam (8.200ha) Năng suất bình quânchung của cả nước đạt 13,9 tạ/ha Như vậy so với tiềm năng năng suất ở ViệtNam thì chênh lệch khá lớn nhưng hiện nay do giá thấp hơn một số loại rau màukhác nên người dân chưa đầu tư thâm canh một trong những nguyên nhân dẫnđến năng suất thấp

Do diện tích ít, sản lượng thấp nên sản lượng các mặt hàng đậu tương xuấtkhẩu ít, sản lượng hằng năm mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu trongnước.Nếu so với sản lượng dầu lạc và dầu dừa thì dầu đậu tương mới chỉchiếm1/8 dầu lạc và 1/6 dầu dừa Tuy nhiên mức tiêu thụ dầu của nhân dân ngàycàng nhiều, vì vậy việc phát triển cây đậu tương vẫn có định hướng mở rộngdiện tích và đầu tư thâm canh, đặc biệt tập trung vào các vùng đã có truyền thốngsản xuất như vùng núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ

và Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Trung.[2]

Ở nước ta với 7 vùng sinh thái khác nhau, thì vùng ĐBSH có điều kiện thuậnlợi hơn cả cho việc phát triển kinh tế nói chung, nhất là sản xuất nông nghiệp Làvùng có điều kiện thời tiết khí hậu, địa hình, đất đai màu mỡ thích hợp cho nhiềuloại cây, con và gieo trồng được nhiều vụ trong năm, đặc biệt có mùa đông lạnhcàng làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng về chủng loại giống Nhiều cây trồng

vụ đông đang hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn đemlại nguồn thu nhập cao nhất trong năm, trong đó có cây đậu tương

Về tình hình sản xuất đậu tương của vùng ĐBSH, Niên giám thống kê

2008 cho thấy năm 2006 diện tích là 66,5 nghìn ha, sản lượng đạt 103,0 nghìntấn, đến năm 2007 tăng lên là 66,7 nghìn ha, sản lượng tăng là 106,3 nghìn tấn

Trang 12

và đang được mở rộng và phát triển Đây cũng là vùng đã đạt được năng suấtđậu tương bình quân cao nhất so với cả nước [14]

Cả nước đã hình thành sáu vùng sản xuất đậu tương Năm 1993 vùngĐồng Nam Bộ có diện tích lớn nhất (26,2% diện tích cả nước), miền núi Bắc Bộ24,7%, đồng bằng Sông Hồng 17,5%, đồng bằng sông Cửu Long 12,4% Tổngdiện tích 4 vùng này chiếm 66,6% Còn lại đồng bằng ven biển và miền Trung

Bảng 2.3: Khả năng mở rộng diện tích đậu tương trên các vùng sinh thái

(ngàn ha)

năm 2003

Diện tích năm 2015

Nguồn Viện di truyền nông nghiệp

Thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, trạm khuyếnnông-khuyến ngư huyện CưJút đã xây dựng các mô hình sản xuất đậu nànhtrong vụ mùa và vụ thu đông nhằm chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuậtcho bà con nông dân áp dụng vào sản xuất Theo đó, các mô hình chủ yếu tập

Trang 13

trung vào giống đậu nành DT84, với ưu điểm vượt trội so với giống cũ của địaphương như thân đứng, tán gọn, kháng bệnh chết yểu, chết héo, hạt to, đều, màusắc đẹp, đồng thời cho năng suất cao.

Với phương pháp lấy nông dân làm trung tâm, đồng ruộng là công cụ trựcquan, cán bộ khuyến nông của trạm đóng vai trò là người tham gia, hướng dẫn,

vì vậy, bà con tham gia mô hình đã có sự chủ động, phát huy sáng kiến, thựchiện đúng quy trình kỹ thuật của trạm đề ra Trong quá trình thực hiện mô hình,cán bộ khuyến nông thường xuyên kiểm tra tiến độ, tình hình sâu bệnh để giúpcác hộ nông dân chăm sóc, phòng trừ đúng cách Do đó, các mô hình giúp chongười dân nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích, đồng thời chuyển giao đượcnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) mới và tạo điều kiện cho các hộ đồngbào dân tộc thiểu số từng bước tiếp cận với giống mới, quy trình kỹ thuật, để ápdụng vào sản xuất đạt hiệu quả.[15]

Theo tính toán của của bà con nông dân thì nếu được chăm sóc đúng kỹthuật, năng suất đậu nành có thể đạt 3 tạ/sào, với giá 12 ngàn đồng/kg (năm2009) thì nông dân sẽ thu trên 35 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí còn lãikhoảng 20 triệu đồng Lợi thế của cây đậu nành là một năm có thể gieo được 2

vụ, giúp nông dân tăng thêm thu nhập trên một đơn vị diện tích Được biết, vớinhững kết quả bước đầu qua các mô hình khảo nghiệm giống đậu nành DT84,trạm khuyến nông khuyến ngư CưJút đã phối hợp với trung tâm Giống câytrồng miền Nam, trung tâm Khuyến nông Đắk Nông và xã Nam Dong xây dựngđiểm nhân giống đậu nành DT84 để có nguồn giống cung ứng cho bà con nôngdân đưa vào sản xuất đại trà vào vụ hè thu năm 2010 này.[15]

3.3.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Quảng Nam

Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành

từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đấtphù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn

Trang 14

trơ sỏi đá, Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong pháttriển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày

Ở Quảng Nam có một số vùng phù hợp trồng cây đậu tương sinh trưởngphát triển tốt như: huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Duy Trinh … Với quy mô sảnxuất cây đậu tương còn nhỏ, canh tác mang tính quảng canh, giống kỹ thuật chưađáp ứng được nhu cầu sản xuất, bên cạnh đó những năm trước đây thị trườngđầu ra cho cây đậu tương chưa có, giá cả thấp vì thế diện tích bị thu hẹp, năngsuất thấp, sản phẩm đậu tương sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ tại địa phương

Hiện nay với chủ trương chính sách phát triển các cây công nghiệp ngắnngày, chuyển đổi mùa vụ và bố trí cây trồng hợp lí cho từng vùng sinh thái nôngnghiệp, ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Từ đó cây đậutương có đều kiện phát triển nhanh, diện tích ngày càng được mở rộng, năng suất

và sản lượng được nâng lên

Năm 2004-2005 diện tích, năng suất đậu tương giảm dần qua năm 2004 diện tíchđậu tương 89 ha đến năm 2005 diện tích giảm xuống còn 49 ha, năm 2006 diêntích lại tăng lên 75ha Diện tích đâu tương giảm rồi lại tăng lên như vậy vì trênđịa bàn tỉnh thường hay xảy ra lũ lụt, làm cho nhiều diện tích đất sản xuất bị sabối thuỷ hoá….hơn nữa kết hợp với gió mạnh, mưa kéo dài trời âm u thiếu ánhsáng phát sinh sâu bệnh nhiều ảnh hưởng đến năng suất đậu tương

Hơn nữa cộng vào đó là hầu hết các loại đầu vào cho sản xuất nông nghiệptiếp tục tăng cao, nhất là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giá cả nông sản lênxuống thất thất thường đã ảnh hưởng đến việc đầu tư thâm canh trong sản xuấtnông lâm, ngư nghiệp và tiến độ thực hiện kế hoạch đầu tư các dự án hạ tầngnông thôn [9]

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cưu

Trang 15

Vật liệu nghiên cứu gồm tám giống đậu tương: ĐTDH01, ĐTDH02,ĐTDH03, PC19, DT84, DT2003.

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Thời gian: Đề tài thực hiện trong vụ đông xuân 2009-2010

+ Địa điểm: Trung tâm giống cây trồng Nam Phước – Duy xuyên – Quảng Nam

3.2 Nội dung nghiên cứu.

- Thu thập số liệu khí tượng ở vùng làm thí nghiệm

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của giống

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của giống

- Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận củagiống tham gia thí nghiệm

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất của giống

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện đất đai

- Đất thí nghiệm: Đất phù sa

3.3.2 Điều kiện thời tiết khí hậu

Theo dõi trong quá trình làm thí nghiệm

-Trên mỗi khối chia làm 6 ô nhỏ,trên mỗi ô xẻ 4 hàng dọc

- Bố trí các công thức vào các ô theo dõi theo phương ngẫu nhiên (bocxăm)

Sơ đồ thí nghiệm

Bảo vệ

Trang 16

PC19 DT84(đ/

c)

ĐTDH0 1

3.5.2 Làm đất,lên luống, gieo hạt

- Đất được cày bừa kĩ, sạch cỏ dại đạm bảo tơi xốp,nhuyễn phẳng

- Lên luống: Luống rộng 1,4m, rãnh rộng 0,3m chiều cao luống15-20cm,mỗi luống gieo 4 hàng

Trang 17

3.5.4 Qui trình bón phân và cách bón phân

-Lượng bón phân cho 1 ha: Tuỳ thuộc vào độ phì của đất, nhóm giống vàthời vụ để sử dụng lượng phân bón cho phù hợp.Trong thí nghiêm này sử dụnglượng phân bón:

5 tấn phân hữu cơ + 25kg N + 60kg P2O5+ 60kg K2O + 400kg vôi bột/ha

- Cách bón: bón lót toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, vôi +1/2 lượngđạm+1/2 lượng kali (Toàn bộ phân hoá học được trộn đều và bón vào hàng đãrạch sẵn,sau đó bón phân chuồng)

Sau khi bón phân,lấp một lớp đất nhẹ phủ kín phân rồi mới gieo hạt để tránh hạttiếp xúc với phân sẽ làm giảm sức nảy mầm

Bón thúc lần 1 khi cây có 2-3 lá thật: 1/2lượng đạm+1/2lượng kali

3.6 Các chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm được dụa theo qui phạm nghiên cứu đậutương của nghành 10TCN553-2002

3.6.1 Một số chỉ tiêu về hình thái các giống

- Màu sắc cây con:Quan sát màu của thân cây lúc cây có 3 lá thật

- Màu sắc hoa :Quan sát ngoài đồng ruộng ở giai đoạn cây bắt đầu ra hoa

- Loại hình sinh trưởng: Quan sát số cây trên ô ở giai đoạn ra hoa, quả vàhạt chín để biết được là hữu hạn hay vô hạn

- Dạng cây: Quan sát đa số cây trên ô thí nghiệm

- Hình dạng lá: Lá chét quan sát lúc cây ra hoa (hình trứng, thoi,elip…)

- Màu sắc vỏ (trừ rốn hạt):Quan sát bằng mắt lúc hạt khô sau thu hoạch

- Màu rốn hạt:Quan sát bằng mắt lúc hạt đã được phơi khô sau thu hoạch

3.6.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống.

Trang 18

Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương qua các giai đoạn:+ Đơn vị tính: Ngày

+ Theo dõi các giai đoạn:

- Thời gian từ gieo đến khi mọc:quan sát toàn bộ số cây trên ô thínghiệm,ngày có khoảng 50%số cây/ômọc 2 lá mầm nhú ra khỏi mặt đất

- Gieo đến 3 lá thật: Ngày trên 50% số cây trên ô thí nghiệm xuất hiện láthứ 3

- Thời gian từ khi gieo đến khi bắt đầu ra hoa

- Thời gian từ khi gieo đến kết thúc ra hoa:Số hoa bình quân/cây/ngày nhỏhơn một hoa liên tiếp trong vòng 3 ngày-Tổng thời gian sinh trưởng (ngày): Tính

từ ngày gieo cho đến khi đến ngày qủa chín

3.6.3 Theo dõi chiều cao cây.

Theo dõi từ lúc cây đậu tương có 3 lá thật ta bắt đầu đo và định kì 10 ngàymột lần cho đến khi thu hoạch

Cách đo :Đo từ đốt thứ nhất của cây(đốt chứa 2 lá mầm) đến đỉnh sinhtrưởng của cây đậu tương

3.6.4 Theo dõi sự ra lá trên thân chính.

Bắt đầu đếm số lá trên thân chính khi cây đậu tương có 3 lá thật Sau đóđịnh kì 10 ngày theo dõi 1 lần cho đến khi thu hoạch, để xác định tốc độ ra lá

Cách theo dõi: Mỗi đợt ta tiến hành đếm 10 cây ngẫu nhiên/ô thí nghiệmcho một lần nhắc lại

3.6.5 Theo dõi các chỉ tiêu phát dục.

- Tổng số hoa trên cây(hoa): Đếm số hoa trên cây Theo dõi ngày một lầnvào lúc 8-9h sáng

- Thời gian ra hoa (ngày): Số ngày ra hoa đầu tiên cho đến ngày kết thúc

ra hoa

- Số hoa đậu quả(hoa): số hoa hình thành quả trên cây

3.6.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.

- Số cây thực thu/m2(cây): Đếm số cây thực tế trên mỗi m2/1ô thí nghiệm

Trang 19

- Số quả trên cây(quả): Đếm tổng số quả trên 10 cây lấy mẫu/ô,các câytheo dõi trong quá trình thí nghiệm với 3 lần lặp lại.

- Số quả chắc trên cây(quả): Đếm số quả chắc trên 10 cây lấy mẫu/ô, cáccây theo dõi trong quá trình thí nghiệm với 3 lần lặp lại

- Số quả lép/cây(quả): Đếm số quả lép trên 10 cây lấy mẫu/ô,các cây theodõi trong quá trình thí nghiệm với 3 lần lặp lại

- Số quả 1hạt/cây(quả):Đếm số quả có một hạt trên 10 cây mẫu/ô Tínhtrung bình 1 cây

- Số quả2 hạt trên cây(quả): Đếm số quả có hai trên 10 cây mẫu/ô.Tínhtrung bình một cây

- Số quả 3 hat/cây(quả):Đếm số quả có 3 hạt trên 10 cây mẫu/ô Tínhtrung bình một cây

- Số quả 4 hạt /cây(quả):đếm số quả có 3 hạt trên 10 cây lấy mẫu/ô.Tínhtrung binh một cây

-Khối lượng100 hạt(gam): Lấy ngẫu nhiên 100 hạt chắc cân và lặp lại 3 mẫu

số cây/ha x tổng số hạt/cây x P100 hạt(g)Năng suất =

+ Sâu hại theo dõi trong quá trình làm thí nghiệm các loại sâu:

- Sâu cuốn lá : Điều tra 10 cây đại diễn theo phương pháp 5 điểm chéo góc

ở giai đoạn trước khi thu hoạch

- Sâu đục quả: điều tra 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc

ở giai đoạn trước khi thu hoạch

+ Bệnh hại Bệnh lỡ cổ rễ

Tổng cây(lá,quả) bị bệnh

Tỷ lệ bệnh(%)=

Trang 20

Tổng cây( lá,quả) điều tra

- Bệnh lỡ cổ rễ: Theo dõi sau khi cây mọc khoảng 7 ngày

theo phương pháp 5 điểm chéo góc

Rất nhẹ, Cấp 1 (<1% diện tích lá bị hại); Nhẹ, Cấp 3(1% đến 5 % diện tích lá bịhại); Trung bình, Cấp 5 (>5% đến 25% diện tích lá bị hại); Nặng, Cấp 7

(> 25%-50% diện tích lá bị hại); Rất nặng, Cấp 9 (>50% diện tích lá bị hại)

3.6.8 Phương pháp theo dõi.

- Theo dõi trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương

- Theo dõi 10 cây/ô, cây theo dõi được đánh dấu từ 1-10 để tránh nhầm lẫn

- Trong quá trình theo dõi sử dụng thước đo, đếm và quan sát bằng mắtthường

3.6.9 Phương pháp xử lí số liệu

Xử lí số liệu theo chương trình SXW và EXCEL

Trang 21

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Các yếu tố thờ tiết, khí hậu ở khu vực làm thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành trong vụ đông xuân năm 2010 diễn biến khí hậu thờitiết như sau:

Bảng 1: Các yếu tố thời tiết, ở khu vực Duy Xuyên-Quảng Nam

Tháng

độ trung bình(%)

Số giờ nắng (giờ)

Ttb

Số ngày mưa (ngày)

Lượng mưa(mm)

Nguồn:Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Quảng Nam

Qua bảng 1 về số liệu thời tiết, khí hậu chúng ta có thể thấy được rằng:Các tháng thực hiện thí nghiệm thời tiết tương đối thuận lợi cho cây đậu tươngsinh trưởng phát triển

Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình từ tháng 1-4 tương đối cao từ 27,70C có những ngày nhiệt độ tăng cao kèm theo nắng nóng Nhiêt độ trungbình các tháng cao nhất biến động từ (35,2-35,60C), trong những ngày này thìcần tháo nước vào ruộng tưới cho cây đậu tương tránh tình trạng thiếu nước ảnhhưởng đến năng suất

22,9-Nhiệt độ tháng 1 thích hợp cho cây đậu tương nảy mầm từ 18,0-22,90

C,trong phạm vi này nhiệt độ càng cao thì nảy mầm càng nhanh Độ ẩm tương đốithuận lợi cho cây đậu tương nảy mầm

Trang 22

Tháng 2, tháng 3: nhiệt độ thích hợp cho cây đậu tương ở thời kì cây con

và ra hoa Thời kì cây con nhiệt độ thích hợp cho phát triển thân, cành là 25,20C theo số liệu ta thấy nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kì này Nhưngcũng có một số ngày nhiệt độ tăng rất cao 35,20C

24,8-Lượng mưa: 24,8-Lượng mưa tháng 2 và tháng 3 tương đối thấp (0,4-24,8mm)cần phải chủ động tưới nước cho đậu tương vì đây là giai đoạn cây đậu tươngbắt đầu ra hoa Thời kì cây đậu tương bắt đầu ra hoa tiêu thụ nhiều dinh dưỡng

và nước cho nên cuối thời kì cây con cần có chế độ tưới nước hợp lí ở thời kì rahoa Tháng 3-tháng 4 là khoảng thời gian cây ra hoa tạo quả, sự ra hoa tạo quảtrên cây đậu tương đan xen nhau Đặc biệt ở thời kì hạt phát triển nếu thiếu nướcnăng suất sẽ giảm rõ rệt

Ánh sáng: cây đậu tương là cây ngắn ngày và rất mẫn cảm với ánhsáng.Yếu tố đầu tiên để cây đạt được năng suất cao là cây phải đạt được hiểu quảquang hợp cao nhất trong vụ trồng Phải trồng với mật độ thích hợp nhằm tăngkhả năng sử dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời

Qua bảng số liệu khí tượng cho thấy số giờ nắng trong các tháng: Từtháng 1-tháng 4 tương đối thuận lợi cho các quá trình sinh trưởng và phát triểncủa các giống đậu tương tham gia thí nghiệm Qua đó cho thấy được rằng diễnbiến thời tiết trong vụ đông xuân năm 2010 ở Duy Xuyên, Quảng Nam thuận lợicho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển Cần tưới thêm nước cho cây đậutương vào những ngày nắng nóng, để cây sinh trương phát triển tốt

4.2 Đặc điểm thực vật học của giống đậu tương

4.2.1 Đặc điểm hình thái

Đặc điểm thân, lá, quả và hạt là những đặc tính về hình dạng, màu sắcbiểu hiện bên ngoài của mỗi giống Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng

để nhận biết các giống Đặc điểm thực vật học là đặc tính di truyền của giống và

nó chịu ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu và kĩ thuật trồng trọt.Thông qua đóchúng ta đánh giá khả năng sinh trưởng và tính chống chịu của từng giống đểchọn ra giống phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau nhằm tạo ra các giống

có năng suất cao, chất lượng tốt và ổn định

Trang 23

Loại hình sinh trưởng : Tất cả các giống tham gia thí nghiệm đều có kiểusinh trưởng hữu hạn và dạng thân cây đứng Các giống sinh trưởng hữu hạnngừng sinh trưởng ngay khi hoa nở.

Hình dạng lá (lá chét): Là cơ quan có chứa diệp lục có chức năng tổng hợpchất hữu cơ để cung cấp cho cây Hầu hết các giống tham gia thí nghiệm đều cóhình trứng nhọn, riêng giống ĐTDH01, ĐTDH02 có hình mũi giáo Dạng lá chéthình mũi giáo được xếp vào nhóm lá kép Lá chét hình bầu dục xếp vào nhóm lárộng Hình dạng lá chét là đặc tính di truyền; Giống có dạng lá hẹp thường có tỉ

lệ quả 3-4 hạt cao hơn giống có dạng lá rộng Giống thuộc nhóm lá rộng thường

có năng suất cao hơn giống thuộc nhóm lá hẹp Tuy nhiên, ở mật độ cao và trồngxen trong các cây trồng khác thì giống lá hẹp có năng suất cao hơn

Màu sắc lá: Nhờ hoạt động của bộ rễ và năng lực cố định đạm cao nêncùng với thân cành tăng trưởng mạnh thì màu sắc lá cũng xanh đậm dần, trongcác giống tham gia thí nghiệm thì có giống ĐTDH01 có màu xanh nhạt, cácgiống còn lại đều có màu xanh đậm

Hoa: các giống đậu tương đều có tập tính ra hoa hữu hạn, hoa lưỡng tính,

ra hoa tập trung, kết thúc sớm và không ra hoa rải rác.Chỉ những giống trong giaiđoạn ra hoa nở rộ thì có khả năng đậu trái nhiều hơn Tuy nhiên cũng phải tínhđến những trường hợp do tác động bên ngoài quá xấu như gặp kì mưa to gió lớn,hoặc hạn kéo dài, đất trồng quá xấu… cũng làm hoa rụng nhiều Trong thínghiệm tất cả các giống đều có hoa màu tím

Màu sắc quả: Màu sắc quả phụ thuộc vào sắc tố caroten, xanthophill Khiquả chưa chín thì có màu xanh, khi chín thì có màu đặc trưng của từng giống:Thường có màu vàng đậm, màu xám, nâu đậm, màu sắc vỏ và màu lông gầntrùng nhau.Ở quả già, tế bào biểu bì phát triển mạnh với lớp vỏ dày và bên ngoàiđược bảo vệ bởi lớp cutin Riêng giống ĐTDH01 có màu nâu nhạt, các giốngcòn lại đều có màu vàng

Màu sắc hạt: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng giống Hạt đậu tương cómàu sắc khác nhau như màu vàng, màu xanh, nâu, đen có thể một màu, hai màuhoặc nhiều màu Tất cả các giống tham gia thí nghiệm đều có màu vàng sáng

Trang 24

Màu sắc rốn hạt: Mặc dù khác nhau về hình dạng, màu sắc nhưng hạt đậutương nào cũng có mắt hạt hay rốn hạt Mắt hạt chín là nơi đính vào một phầncủa khoang hạt cũng là nơi có phôi mầm, màu của rốn hạt thường đậm hơn màusắc vỏ hạt Trong đó giống ĐTDH01, DT84, PC19 có mắt hạt màu nâu và cácgiống còn lại có mắt hạt màu nâu nhạt.

Trang 25

Bảng 2: Một số đặc điểm nông học của các giống đậu tương

Giống

Loại hìnhSinh trưởng

Dạng cây

Hình dạnglá

Màu sắclá

Màu sắcthân câycon

Màu sắchoa

Màu sắcquả

Màu sắchạt

Màu sắc rốn hạt

Nâunhạt

Hữu hạn Đứng Trứng

Vàngsáng

Nâu nhạt

Hữu hạn Đứng Trứng

Vàngsáng

Nâu nhạt

Hữu hạn Đứng Trứng

Vàng sáng Nâu

Trang 26

Số đốt/thân(đốt)

Độ caoĐóng quả(cm)

Độ cao phân cành(cm)

Số đốt trên thân chính: Đây là một chỉ tiêu có mối tương quan chặt chẽđến số lá và số hoa trên cây Các đốt trên thân chính càng nhiều thì số hoa và

số lá trên cây càng nhiều và ngược lại Các giống đậu tương tham gia thínghiệm có số đốt biến động từ 8,33-14,4 đốt.Tất cả các giống tham gia thínghiệm có số đốt cao hơn so với giống đối chứng DT84 (8,33 đốt) Số đốtgiữa các giống có sự sai khác tuỳ thuộc vào đặc tính di truyền của từng giống

và điều kiện canh tác

Độ cao đóng quả: Giống PC19 có độ cao đóng quả cao nhất (17,17cm)

và giống có độ cao đóng quả thấp nhất là giống đối chứng DT84 Các giống

Trang 27

Độ cao phân cành: Hầu hết các giống đậu tương trồng chỉ phân cànhcấp một và có những giống không phân cành Các giống đậu tương tham giathí nghiệm có độ cao phân cành biến động từ (6,77-11,03cm) Giống có độcao phân cành cao nhất là giống ĐTDH01 (11,03cm) và giống có độ caophân cành thấp nhất là ĐTDH03 (6,77cm) Trong đó giống ĐTDH02 vàĐTDH03 thấp hơn so với giống đối chứng, còn tất cả các giống còn lại caohơn so với giống đối chứng.

4.3.Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương

Thời gian sinh trương của cây đậu tương có ý nghĩa rất quan trọngtrong công tác chọn tạo giống, là khoảng thời gian cây cần để hoàn thành cácgiai đoạn phát dục Đó là cơ sở để xác định thời vụ hợp lí cho từng vùng sinhthái nhất định phù hợp với cơ cấu cây trồng của vùng sản xuất

Dựa vào thời gian sinh trưởng để bố trí cây trồng trong luân canh, xencanh, tăng vụ, gối vụ … một cách hợp lí để nâng cao hệ số sử dụng đất

Thời gian sinh trưởng của cây trồng ngoài sự tác động của yếu tố ditruyền nó còn chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh nhiệt độ, ánh sáng, ẩm

độ, chế độ dinh dưỡng …Nhưng trong cùng một điều kiện giống như nhau,những giống có thời sinh trưởng ngắn có thể tránh được các tác động xấu củamôi trường,dễ thích nghi với điều kiện sinh thái, có năng suất cao và ổn địnhhơn so với các giống có thời gian sinh trưởng dài ngày

Qua theo dõi thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương thu đượcbảng số liệu sau

Bảng 4:Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương.

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương một số nước trên thế  giới. - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương một số nước trên thế giới (Trang 6)
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sả lượng đậu tương tại việt Nam qua một  số năm. - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sả lượng đậu tương tại việt Nam qua một số năm (Trang 10)
Bảng 1: Các yếu tố thời tiết, ở khu vực Duy Xuyên-Quảng Nam - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 1 Các yếu tố thời tiết, ở khu vực Duy Xuyên-Quảng Nam (Trang 21)
Bảng 2: Một số đặc điểm nông học của các giống đậu tương - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 2 Một số đặc điểm nông học của các giống đậu tương (Trang 25)
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về tình hình sinh trưởng của 6 giống đậu tương - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về tình hình sinh trưởng của 6 giống đậu tương (Trang 26)
Bảng 5. Chiều cao cây của các giống đậu tương qua các lần đo. - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 5. Chiều cao cây của các giống đậu tương qua các lần đo (Trang 29)
Bảng 6. sự ra lá  trên thân chính của các giống đậu tương. - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 6. sự ra lá trên thân chính của các giống đậu tương (Trang 30)
Bảng 7. Sự ra hoa của các giống đậu tương - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 7. Sự ra hoa của các giống đậu tương (Trang 32)
Bảng 10.Một số sâu bệnh hại trong thí nghiệm. - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ đông xuân 2009 2010 tại trại giống cây trồng nam phước huyện duy xuyên tỉnh quảng nam
Bảng 10. Một số sâu bệnh hại trong thí nghiệm (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w