luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NH No&PTNT) Việt Nam với mạng lưới rộng lớn gắn bó với với nông nghiệp, nông thôn và nông dân, là tổ chức được Đảng và nhà nước giao nhiệm vụ đưa các chương trình và chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông thôn vào cuộc sống NH No&PTNT thực hiện cho vay phù hợp với nguyện vọng của nông dân là giải pháp khuyến khích nông dân làm giàu, làm chủ cuộc sống bằng sức lực của họ, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội, tận dụng nguồn lao động dôi thừa, hạn chế cho vay nặng lãi làm thay đổi bộ mặt nông thôn và góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia
Chi nhánh NH No&PTNT Thừa Thiên Huế thực hiện văn bản quyết định 72 ngày 31/03/2004 của HDQT NH No&PTNT Việt Nam
Quyết định 67/1999/QDTT ngày 03/03/1999 về một số chính sách tín dụng của ngân hàng phục vụ phát triển nông thôn đã giúp đỡ một số hộ nông dân thiếu vốn có điều kiện mở rộng sản xuất, thoát khỏi cảnh nghèo đói, từng bước vươn lên làm giàu
Thừa Thiên Huế là một tỉnh có sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, mức sống nông dân còn thấp, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, việc tiêu thụ nông sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn do đó, việc mở rộng cho vay vốn đến nông dân là việc làm có ý nghiã rất lớn Xuất phát từ thực tế và từ những nhận thức trên; được sự nhất trí của nhà trường, ban giám đốc chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế; bản thân sau khi nghiên cứu và tìm hiểu trong quá trình thực tập tại đơn vị
đã được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ ngân hàng và giáo viên hướng dẫn tôi đẫ chọn đề tài
" Phân tích tình hình cho vay vốn của chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế”
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích đánh giá quá trình triển khai cho vay vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó dùng làm căn cứ để phân tích và giải quyết vấn đề thực tiễn để cho đồng vốn của ngân hàng đến với người nông dân ngày càng nhiều hơn, hiệu quả hơn và an toàn hơn
Trang 2Để tiền hành nghiên cứu chúng tôi đã dùng phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp duy vật biện chứng nhằm xây dựng tiền đề lý luận của đề tài trên
cơ sở xem xét sự vật, hiện tượng của sự biến động biến đổi của nó trong mối quan hệ phổ biến và liên hệ chặt chẽ, đánh giá sự biến động và phát triển của sự vật hiện tượng trong điều kiện lịch sử cụ thể
+ Phương pháp thu thập số liệu để làm cơ sở nghiên cứu đề tài
+ Tham khảo ý kiến cán bộ bộ và khách hàng để thu thập thông tin
+ Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu nhằm đưa ra con số cụ thể và ý nghĩa con số này
+ Phương pháp so sánh và một số phương pháp khác
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương I: CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG.
1.1.1 Khái niệm về tín dụng và sự ra đời của tín dụng.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ hoặc tài sản hiện vật từ người vay sang người đi vay với những điều kiện nhất định sau một thời gian nhất định người cho vay thu lại một lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu
- Sự ra đời và phát triển của tín dụng:
Tín dụng ra đời từ rất lâu, nó xuất hiện ngay sau khi chế độ nguyên thuỷ và đã phát triển qua nhiều thời kỳ cho đến nay Điều kiện để tín dụng ra đời đó là sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành phân hoá xã hội: của cải, tiền tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người, trong khi đó nhóm người khác có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi gặp rủi ro biến cố thất thường xảy ra đòi hỏi ra đời của tín dụng để giải quyết mâu thuẫn xã hội, thực hiện điều hoà nhu cầu tạm thời của cuộc sống Song song với quá trình phát triển kinh tế qua các chế độ của xã hội, nhiều hình thức tín dụng ra đời như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng hợp tác xã., tín dụng quốc tế
Loại hình tín dụng sau ra đời trên cơ sở hình thức tín dụng trước Cùng với sự đòi hỏi của nền kinh tế nó đã đáp ứng được những đòi hỏi mà loại hình tín dụng trước không cung ứng được Tuy nhiên, tại một thời kỳ cụ thể thì có thể có nhiều loại tín dụng cùng tồn tại nhưng có loại thì phát triển, có loại thì kìm hãm
1.1.2 Sự cần thiết của tín dụng.
Do đặc điểm của vốn tiền tệ của các đơn vị sản xuất kinh doanh vận động liên tục qua các giai đoan của quá trình tái sản xuất Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá và quá trình tái sản xuất của nền kinh tế thì việc dùng tiền tệ để tiến hành sản xuất và quản
lý sản xuất kinh doanh không thể thiếu Mặt khác, sự vận động của nền kinh tế tuỳ
Trang 4thuộc vào quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, do đó nếu phạm vi mua bán không khớp nhau về số lượng và thời gian sẽ dẫn đến cùng một lúc có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, lại có những đơn vị kinh tế có nhu cầu tạm thời về vốn cần được bổ sung tạm thời về vốn cần được bổ sung ngay để tiến hành sản xuất liên tục Hiện tượng đó xảy ra một cách thường xuyên và phổ biến trong nền kinh tế, thực tế đó
là mâu thuẫn phát sinh trong quá trình vận động tiền tệ đòi hỏi giải quyết bằng phương pháp tiến hành tập trung và phân phối lại tiền tệ trên nguyên tắc có hoàn trả để điều hoà giữa những cung và cầu trong phạm vi xã hội Sự tạm thời nhàn rỗi hay nhu cầu cần thiết hay nhu cầu thiếu hụt cần bổ sung không thể tự điều hoà giữa các đơn vị kinh tế với nhau mà cần có một cơ quan tín dụng chuyên nghiệp để tập trung và phân phối vốn một cách có hiệu quả nhất Có thể nói rằng:
Do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần
Do yêu cầu tăng cường quản lý nền kinh tế, thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán trong các đơn vị sản xuất kinh doanh đòi hỏi sự có mặt của tín dụng
1.1.3 Bản chất của tín dụng và tín dụng ngân hàng:
Tín dụng thể hiện ra bên ngoài là sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa người đi vay và người cho vay nhưng thực chất bên trong nó chứa đựng mối quan hệ giưa người đi vay và người cho vay
- Trong thực tế, tín dụng hoạt động đa dạng và phong phú ở bất cứ dạng nào tín dụng cũng được thể hiện hai mặt:
Thứ nhất, người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng
Thứ hai, đến hạn do hai bên thoả thuận, người sử dụng hoàn lại cho người sở hữu một giá trị lớn hơn, phần tăng thêm được gọi là phần lời( còn gọi là lãi suất)
- Tầm vi mô: ngân hàng với tư cách là người cho vay đối với doanh nghiệp, ngân hàng kiểm soát được việc sử dụng vốn của doanh nghiệp trước, trong và sau khi cho vay
+ Trước cho vay, nó đánh giá khả năng vay vốn Người đi vay phải báo cáo tình hình kinh doanh doanh nghiệp lãi, lỗ cung cấp những thông tin sơ bộ để ngân hàng đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp đó
Trang 5+ Trong khi dùng vốn ngân hàng được quyền kiểm soát việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đi vay.
+ Sau khi cho vay: thông qua việc trả vốn nhanh hay chậm,có phát sinh nợ hay không, nợ quá hạn hay trong hạn.từ đó đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp
- Tầm vĩ mô: thông qua việc kiểm soát mức cung tiền tệ mà đánh giá nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm
Tín dụng ngân hàng là công cụ tín dụng tập trung, thông qua đó doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng để tăng quy mô sản xuất, tăng năng xuất lao động, đổi mới thiết bị
Tín dụng ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành có tỷ xuất lợi nhuận cao, kích thích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi Thông qua hình thức tín dụng này các doanh nghiệp trở nên mềm dẻo, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của mình
Đặc trưng của tín dụng là sự vận động trên cơ sở cả vốn lẫn lãi Nhờ vậy mà các hoạt động của tín dụng ngân hàng đã kích thích các doanh nghiệp vay vốn sử dụng có hiệu quả
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra chương trình phát triển nông nghiệp
và kinh tế nông thôn: "điều chỉnh việc phân bổ vốn nhà nước, huy động thêm nguồn vốn
để tăng đáng kể vốn đầu tư và tín dụng cho nông, lâm,ngư nghiệp và kinh tế nông thôn"
- Từng bước tăng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn
+ Trước hết cơ sở hạ tầng ( đường, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm) chú ý vùng cao, vùng sâu, vùng xa
+ Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực trực tiếp phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn
Trang 6- Từng bước tăng đầu tư vào lĩnh vực trực tiếp phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn.
- Về tín dụng:
+ Mở rộng, tăng dần vốn trung, dài hạn
+ Ưu đãi lãi xuất và có thời hạn trả nợ riêng cho các chương trình ưu tiên về nông nghiệp, nông thôn…
+ Mở rộng việc cho nông dân vay vốn bằng nhiều hình thức phù hợp từng loại cây trồng,vật nuôi ( trước hết là giống, vật tư thiết yếu, dịch vụ kỹ thuật)
Chính phủ đã ra nghị định số 14/CP ngày 02/03/1999 ban hành quy định về chính sách cho vay vốn để phát triển nông, lâm , ngư nghiệp và kinh tế nông thôn Đồng thời
có quyết định số 67/1999/QĐ - TTG ngày 30/03/1999 của thủ tướng Chính Phủ về một
số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển ngông nghiệp và nông thôn cụ thể như sau:
Các chính sách về nguồn vốn, về cơ chế tín dụng, thời hạn cho vay, về mạng lưới phục vụ và giao dịch của các ngân hàng và về xử lý rủi ro quy định trong quyết định 67/1999/QĐ- TTG ngay 30/03/1999 của Thủ Tướng Chính phủ đã đặt cơ sở pháp lý cho ngân hàng mở rộng tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và có hiệu lực thi hành lâu dài, tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc để đạt được mục đích mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn là yêu cầu cao nhất của quyết định, tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng
Báo cáo chính trị của ban chấp hành TW Đảng khoá VIII trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ đường lối kinh tế và chiến lược phát triển " tăng cường
sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn "
Chính sách về cơ chế tuyển dụng gồm 3 nội dung chính là phân loại tín dụng, đối tượng và thời hạn cho vay, cơ chế đảm bảo tiền vay
Chính sách phân loại cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn
Một là, loại cho vay thông thường ( loại 1) bao gồm hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đối với mọi thành phần kinh tế theo lãi xuất kinh doanh thương mại và theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng do thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành, trong
Trang 7đó, ngân hàng được quyền lựa chọn khách hàng để cho vay và phải tự chịu trách nhiệm
về việc cấp tín dụng của mình.trường hợp rủi ro do nguyên nhân khách quan bất khả kháng, nhà nước có chính sách xử lý thích hợp
Hai là, loại cho vay ưu đãi lãi suất, thực hiện theo quyết định riêng của Thủ Tướng Chính Phủ và luật khuyến khích đầu tư trong nước ( loại 2 ) Ngân hàng chỉ được lựa chọn khách hàng trong danh mục mà chính phủ nêu ra và có quyền từ chối cho vay không đủ điều kiện vay vốn đã quy định trong quy chế cho vay hiện hành do thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành đối với loại cho vay thông thường Nếu đồng ý cho vay thì ngân hàng cho vay phải có trách nhiệm thu hồi vốn và lãi đúng hạn, ngân hàng phải thực hiện các quy định cụ thể trong từng quyết định riêng của thủ tướng chính phủ và chỉ có thể giải ngân sau khi nhận được thông báo rõ về nguồn vốn ưu đãi lãi suất
Ba là, loại tín dụng theo chính sách nhà nước ( loai 3 ), người vay không thực hiện quy định về đảm bảo tiền vay Trong loại cho vay này, ngân hàng thương mại đóng vai trò và phải chịu trách nhiệm của bên uỷ thác là giải ngân trong phạm vi vốn được uỷ thác và phải thu hồi được vốn, lãi từ người vay để hoàn trả cho bên được uỷ thác, chứ không phải để làm dịch vụ giải ngân đơn thuần
Do các điều kiện cho vay vốn của loại cho vay này rất lỏng lẻo nên rất khó đảm bảo an toàn vốn đã cho vay và tiềm ẩn nguy cơ thâm hụt lớn về tài chính đối với ngân hàng Vì vậy, ngân hàng cho vay phải tổ chức hạch toán kế toán thống kê riêng loại cho vay này để có đầy đủ căn cứ báo cáo thủ tướng chính phủ xem xét giải quyết rủi ro do không thu hồi được vốn và cả rủi ro không thu hồi được lãi gây ảnh hưởng khó khăn về tài chính khi thực hiện nhiệm vụ chính sách
Việc chia hoạt động tín dụng nông nghiệp và nông thôn thành 3 loại cho vay như trên nhằm phân định rõ ràng ranh giới hoạt động kinh doanh thương mại với nhiệm vụ thực hiện chính sách của ngân hành thương mại qua đó làm rõ trách nhiệm để các tổ chức an tâm đẩy mạnh mở rộng tín dụng ở cả 3 loại cho vay đó, tạo cơ sở chính sách và pháp luật để các ngân hàng xác định đúng đắn chính sách khách hàng của mình, đảm bảo cho mọi đối tượng trong ngân háng và nông thôn đều được vay vốn ngân hàng
* Chính sách về đối tượng cho vay và thời hạn cho vay:
Trang 8Đối tượng cho vay là nhu cầu vốn bằng tiền để thực hiện mục đích mua sắm hàng hoá, vật tư hoặc chi trả dịch vụ của người vay Mục đích mở rộng tín dụng được nhất quán trong chính sách về đối tượng cho vay trong quyết định 67 là mọi nhu cầu vốn hợp pháp và cần cho phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm các nhu cầu ngắn, trung và dài hạn trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống và xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn) đều là đối tượng có thể cho vay theo loại thông thường Vì thế, trong quyết đinh này, các đối tượng cho vay có thể cho vay theo loại thông thường được diễn đạt dưới dạng "mở" không giới hạn trong danh mục cụ thể mà tuỳ thuộc vào khả năng trả nợ từ nguồn thu nhập tổng hợp người vay và tính toán, ấn định thời hạn trả nợ phù hợp với năng lực thực tế, tránh gò ép người vay trả nợ gốc trước khi có thu nhập bằng tiền
Nói chung, hai loại vay I và III đều có giới hạn và đối tượng cho vay chủ yếu tập trung giải quyết các nhu cầu vốn cần thiết để phát triển sản xuất, khả năng trả nợ của các đối tượng khách hàng này và nguồn vốn cho vay đều bị hạn chế trong phạm vi chính sách đã được nhà nước quyết định
Mỗi đối tượng cho vay, dù được quyết định chi tiết đến mấy cũng là những khái niệm dùng để khái quát hoá phạm vi cho vay Trong phạm vi đó, hai bên đi vay và cho vay cùng xác định cần thiết để hoàn thành dự án, phương án kinh doanh đã được hai bên chấp nhận Đến lúc này, một hoặc một số thành phần cụ thể của đối tượng cho vay đã chuyển đổi danh tính nên được gọi là mục đích sử dụng tiền vay, cái mà theo tư duy ngân hàng, nhất là ở thời bao cấp nếu người vay vi phạm không thể chấp nhận được Tuy nhiên để tạo sự thông thoáng về chính sách tín dụng quyết đinh 67 đã không nhấn mạnh mục đích sử dung tiền vay và thay vào đó họ phải đặc biết quan tâm đến phương
án sản phẩm rất cụ thể và thị trường tiêu thụ nó có đáng tin cậy không để có quyết định tín dụng đúng đắn Nếu sản phẩm của người vay vốn làm ra không được thị trường chấp nhận tiêu thụ, dù người vay đã sử dụng tiền vay hoàn toàn đúng mục đích, dù thời hạn cho vay đã xác đinh rất đúng thì rủi ro tín dụng vẫn phát sinh Trong khi kinh tế thị trường , mục đích sử dụng tiền vay không chỉ do bên vay đề xuất mà cả hai bên đi vay
và cho vay cùng xác định và ghi rõ trong hợp đồng tín dụng, nếu có sai lầm trong việc xác định mục đích sử dụng tiền vay thì cả hai bên ngân hàng và người vay cùng chia sẽ
Trang 9trách nhiệm, cùng cộng tác, cùng tồn tại, phải trả nợ là nguyên tắc của tín dụng những
kỳ hạn trả nợ là cái hoàn toàn có thể linh hoạt và không thể coi đó là cái mốc để ngân hàng lấy cớ phạt lãi quá hạn đối với người vay Nghiên cứu nắm vững tình hình cung cầu trên thị trường về từng mặt hàng cụ thể để xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch tín dụng đã và đang trở thành yêu cầu và cụ thể để xây dựng và chỉ đao thực hiện kế hoạch tín dụng đã và đang trở thành yêu cầu hết sức bức bách nhằm nâng cao chất lượng cấp tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho vay của tổ chức tín dụng
* Chính sách đảm bảo tiền vay
Cơ chế đảm bảo tiền vay trong quyết định 67 của Thủ Tướng Chính Phủ và điều kiện vay vốn phải có đảm bảo cho tuyệt đại đa số người vay là các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước được giao làm đầu mối xuất khẩu gạo, nhập khẩu phân bón, nhằm tạo cơ chế pháp lý để các tổ chức tín dụng yên tâm cấp tín dụng cho đối tượng người vay, để đơn giản hoá thủ tục vay vốn Vì thế tự nó đã làm đảm bảo khá vững chắc rồi, bên cạnh đó lại có sự hậu thuẫn của nhà nước khi xảy ra rủi
ro bất khả kháng nên việc cho vay các khách hàng đương nhiên là có đảm bảo tin cậy
* Các quy định về cho vay:
Cho vay là hoạt động cung ứng vốn tín dụng chủ yếu của NH No&PTNT đối vối mọi thành phần kinh tế trên địa bàn hoạt động về mục đích cho vay:
Việc cho vay là nhằm tạo điều kiện và khuyến khích phát triển sản xuất ra hàng hoá nông, lâm, ngư, diêm nghiệp phát triển công nghiệp chế biến, mở rộng các ngành nghề sản xuất mới, kinh doanh dịch vụ Tạo công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong ngành nông nghiệp, góp phần xây dựng một nông thôn giàu có, văn minh
Về nguyên tắc cho vay:
- Hộ vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết trong giấy đề nghị vay vốn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những sai trái trong quá trình sử dụng vốn Nguyên tắc này được đặt ra là nhằm đảm bảo cho việc thực hiện mục đích đã đề ra của tín dụng
Việc phát triển tiền vay phải gắn liền với tiền thực hiện chương trình dự án sản xuất kinh doanh
- Hộ vay vốn phải hoàn trả đủ gốc và lãi đúng thời hạn về điều kiện vay vốn:
Trang 10Hộ vay vốn phải có phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với chương trình mục tiêu phát triển kinh tế, quy hoạch sản xuất của vùng, địa phương Điều kiện này để thực hiện nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích và đảm bảo khả năng thu hồi vốn cho tổ chức tín dụng.
Về thủ tục đối với hộ vay vốn ngân hàng đầu tiên phải đưa đến ngân hàng hồ sơ xin vay vốn bao gồm: giấy đề nghị vay vốn ngân hàng, đầu tiên phải cung cấp đầy đủ số liệu cho ngân hàng về dự án sản xuất đơn giản (nếu có); trên cơ sở đó ngân hàng xem xét cho vay hay không cho vay - để lập sổ vay vốn (hay hợp đồng tín dụng )
- Hộ vay vốn phải là người thường trú và làm việc tại địa phương Nếu là hộ ở địa phương khác phải có giấy xác nhận của UBND phường, xã nơi có hộ khẩu thường trú và được UBND địa phương nơi đến cho phép tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
- Hộ vay vốn phải có vốn tự có: vốn tự có bao gồm vốn bằng tiền, giá trị vật tư, giá trị ngày công lao động Vốn tự có theo quy định đối với vốn ngắn hạn tối thiểu la 10% và đối với vốn trung dài hạn tối thiểu là 20%, vốn tự có này đã và sẽ tham gia vào tổng nhu cầu vốn của dự án xin vay
- Hộ vay vốn phải có tải sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh Đối với hộ gia đình, ngân hàng cho vay đến 10 triệu đồng người vay không phải thế chấp tài sản, chỉ nộp kèm đơn xin vay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có xác nhận đất không có tranh chấp )
- Đối với hộ làm kinh tế hàng hoá, kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hoá lớn, ngân hàng cho vay đến 20 triệu đồng người vay cũng không phải thế chấp tài sản, hay cầm cố hoặc được bảo lãnh của bên thứ ba Đối với đối tượng vay sản xuất con giống thuỷ hải sản có thể cho vay đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản Ngoài
ra, vượt quá mức vay nói trên hộ vay phải thực hiện biện pháp đảm bảo tiền vay bằng các hình thức thế chấp tài sản hoặc cầm cố bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Về thời hạn cho vay:
Ngân hàng cho vay theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng vật nuôi, thời gian luân chuyển vật tư hàng hoá và khấu hao tài sản máy móc thiết bi
Thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa 12 tháng
Trang 11Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng
Thời hạn cho vay dài hạn trên 60 tháng
Chỉ tiêu này thể hiện quy mô đầu tư vốn của ngân hàng
+ Doanh số thu nợ: đây là chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động tín dụng ngân hàng càng cao và ngược lại
+ Tỷ lệ thu nợ: là tỷ số giữa doanh số thu nợ và doanh số cho vay
+ Tỷ lệ nợ quá hạn: là tỷ lệ giữa tổng dư nợ quá hạn và tổng dư nợ chung
+ Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả của công tác thu nợ của ngân hàng đồng thời phản ánh tình hình hoàn thành việc trả nợ vay
+ Số vòng quay vốn tín dụng: là tỷ số giữa doanh số thu nợ và dư nợ bình quân.Nếu vòng quay vốn tín dụng càng lớn thì hoạt động tín dụng của ngân hàng càng
có hiệu quả, số lần cho vay của ngân hàng trong năm lớn dẫn đến doanh số cho vay tăng lên, đảm bảo đồng vốn của ngân hàng luân chuyển nhanh Ngược lại, nếu vòng quay vốn tín dụng thấp thì đồng vốn của ngân hàng vận chuyển chậm, hoạt động tín dụng của ngân hàng kém hiệu quả
1.2.2 Sự cần thiết cho vay vốn của NHNo&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế:
Nền nông nghiệp nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đến nay phát triển chưa cao, mức sống của người dân còn thấp, sản xuất nông nghiệp lại lệ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu Vì vậy, nhà nước có các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất với các hình thức chuyên môn hoá sản xuất các hàng hoá có giá trị cao trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời giúp nông dân kiếm tạm một cơ sở vật chất kỷ thuật, công nghệ hiện đại có khả năng chống thiên tai, dịch hoạ đưa sản xuất nông nghiệp phần nào thoát khỏi sự lệ thuộc vào thiên nhiên, tự động trong sản xuất Một trong những biện pháp đó là cho vay đến mọi thành
Trang 12phần kinh tế bên cạnh việc đẩy mạnh cho vay, chủ trương ngày càng có xu hướng mở rộng và đã gặt hái được nhiều kết quả khích lệ.
Mở rộng hoạt động tín dụng đối với các ngành nông- lâm- ngư nghiệp đã và đang
là nhu cầu cấp thiết để phát triển sản xuất hàng hoá, khai thác mọi tiềm năng và thế mạnh của từng địa phương, góp phần mở rộng thị trường hàng hoá từ nông thôn ra thành thị, mở rộng giao lưu hàng hoá gắn các vùng kinh tế trong nước với nhau, với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần cho phép khai thác phát huy mọi năng lực sản xuất của mọi thành phần kinh tế nhằm tận dụng vốn, chủ động sử dụng lao động, giải quyết công
ăn việc làm, phát triển mở rộng ngành nghề nhờ có chủ trương đúng đắn đó, bộ phận kinh tế hộ ngày càng phát triển rầm rộ và mạnh mẽ, giữ vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta
Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể phát triển khi nào nó dược chuyển qua sản xuất hàng hoá Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra được trao đổi với các ngành sản xuất khác, phục vụ cho sản xuất công nghiệp, tiêu dùng ở các đô thị và xuất khẩu ra nước ngoài Muốn thực hiện một mô hình sản xuất như vậy đòi hỏi phải có một sự chuyên môn hoá sản xuất với trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến có hiệu quả Muốn làm được điều đó cần phải có vốn và đặc biệt là sự tài trợ của hệ thống ngân hàng Với đặc điểm của địa bàn hoạt động là huyện thuần nông, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, thành phần kinh tế doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, trang trại chưa thật
sự phát triển mạnh
Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế luôn coi trọng khách hàng kinh tế nông nghiệp, chú trọng đầu tư, tập trung khai thác mở rộng diện tích có điều kiện thâm canh đối với các vùng kinh tế đã được quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng công nghiệp hoá trong nông nghiệp Bên cạnh đó cũng không ngừng quan tâm đầu tư đối với các thành phần kinh tế khác Luôn tạo điệu kiện thuận lợi cho khách hàng như áp dụng các biện pháp gia, giãn và điều chỉnh nợ, áp dụng lãi suất phù hợp đúng với tính chất khoản vay tạo điều kiện cho khách hàng tiếp tục sản xuất kinh doanh Trong năm từ 2008 đến 2010 chi nhánh đã tích cực tiếp cận, duy trì quan hệ tín dụng với thành phần kinh tế như hợp tác xã công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn kinh doanh ngành nghề nông-lâm-ngư nghiệp và thương mại
Trang 13dịch vụ, chủ yếu là hình thức cho vay trực tiếp, đưa số hộ được vay năm sau cao hơn so với năm trước Quyết định 67 của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là mặt thuận lợi cơ bản tạo thế mạnh cho ngân hàng nông nghiệp tháo gỡ khó khăn ách tắc trong lĩnh vực đầu tư phát triển kinh tế hộ.
Trang 14Chương II : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY VỐN CỦA CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN PHONG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Tình hình cơ bản của ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền.
2.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội huyện Phong Điền.
Phong Điền là một trong 8 huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế, có trung tâm cách thành phố Huế khỏang 30km về phía Bắc Với ranh giới:
Phía Tây giáp huyện A Lưới và dãy Trường Sơn
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị
Phía Đông giáp Biển Đông
Phía Nam giáp huyện Quảng Điền
Phía Tây Nam giáp huyện Hương Trà
Vị trí địa lý của huyện tương đối thuận lợi cho viêc phát triển kinh tế- xã hội Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 95375.1 ha, với địa hình và khí hậu khá phức tạp Trên địa bàn huyện có cả vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá ven biển nên huyện có khả năng phát triển các ngành nông-lâm-ngư nghiệp kết hợp
Bên cạnh đó, huyện Phong Điền lại nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng hỗn hợp giữa khí hậu biển và lục địa, khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Bắc và Nam Do vị trí địa lý, đặc điểm địa hình nên khí hậu của huyện Phong Điền mang sắc thái riêng và được xếp vào khí hậu Đông Trường Sơn, có 2 mùa rõ rệt: mùa hè khô và nóng, từ tháng 3 đến tháng 8 kèm theo là mưa giông và gió lốc, lượng bốc hơi nước cao, độ ẩm thấp, đặc biệt từ khoảng tháng 6 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của cơn gió Phơn Tây Nam rất khắc nghiệt gây hạn hán lớn Ngược lại từ tháng 9 đến tháng 11 lượng mưa tập trung lớn ( khoảng 500- 800 mm), mưa kéo dài, gió Đông Bắc rất lạnh thường gây ra các hiện tượng rét đậm, lũ lụt, gió bão…
Với một huyện có cơ cấu sản xuất nông nghiệp cao như huyện Phong Điền, điều kiện khí hậu khắc nghiệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Vì thế để khắc phục những khó khăn trên thì trên địa bàn huyện
Trang 15cần nghiên cứu để đưa những giống cây trồng vật nuôi thích hợp vào sản xuất nông nghiệp góp phần làm tăng năng xuất sản phẩm nông sản cho huyện nhà.
Phong Điền là huyện có tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, với tổng diện tích đất
tự nhiên khá rộng, nguồn nhiệt, ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng giống loài động thực vật nuôi trồng và hoang dã khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng… đó
là những thuận lợi rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Về đất đai, do địa hình phân bố phức tạp nên huyện Phong Điền có nhiều loại đất: đất đồng bằng nhỏ hẹp, đất miền núi dốc thoải và cao, đất cát nội đồng khá rộng Phong Điền là huyện có diện tích đất tự nhiên lớn, là huyện có nhiều vùng gò đồi, diện tích đất lâm nghiệp tăng lên hàng năm do công tác trồng rừng được triển khai mạnh mẽ, thực hiện chương trình 327 phủ xanh đất trống, đồi trọc là chương trình có tầm chiến lược lâu dài
Ngoài ra trên địa bàn còn có khá phong phú về số lượng loài sinh vật Thực vật
đa dạng với các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn… cây công nghiệp như lạc, cao su, hồ tiêu… cây ăn quả như mít, bưởi, cam, chanh, chuối… bên cạnh đó, huyện có khả năng lớn về chăn nuôi trâu, bò, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Với nguồn sinh vật đa dạng và phong phú như vậy nên tiềm năng phát triển kinh tế hộ sản xuất trên địa bàn huyện rất lớn Vì vậy chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền là một đơn vị chủ lực trong công tác tạo nguồn vốn đến với người dân để kịp thời khai thác những thế mạnh nói trên
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên huế
Thực hiện nghị định 53/HĐBT, cùng với sự ra đời của hệ thống ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, chi nhánh NH No&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập trên
cơ sở tách từ ngân hàng nhà nước tỉnh Bình Trị Thiên cũ Từ ngày 01/10/1990 thực hiện theo pháp lệnh ngân hàng nhà nước và sự ra đời của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh, chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Thừa Thiên Huế là một chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam với 8 chi nhánh ngân hàng huyện và ngân hàng cơ sở
có liên quan
Trang 16Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung với vị trí địa lý như sau: phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị.
Thừa Thiên Huế gồm có 1 thành phố, 8 huyện, là một tỉnh có hoạt động kinh tế chủ yếu là nông, lâm ,ngư, nghiệp Thừa Thiên Huế có địa bàn rất phức tạp vừa có vùng đồng bằng, thành thị, có vùng đầm phá ven biển, lại vừa có vùng trung du và miền núi
Chi nhánh NH No&PTNT Phong Điền đóng trên địa bàn huyện thuần nông, kinh
tế huyện còn nghèo, đời sống của hộ gia đình vẫn còn không ít khó khăn; và đây chính
là một bộ phận khách hàng không nhỏ đang cần đến nguồn vốn đầu tư của ngân hàng
Do đó địa bàn hoạt động của chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế rộng khắp, với hoạt động nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu phục vụ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đời sống; đồng thời đảm nhận phục vụ vốn đầu tư các thành phần kinh tế phát triển Trong thời gian qua, để đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, ngân hàng đã mở rộng đầu tư tín dụng đến mọi địa bàn, cũng như đến mọi thành phần kinh tế đặc biệt là kinh tế hộ nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống
Là một ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu cho sự phát triển nông nghiệp- nông thôn- nông dân, hàng năm vốn vay của chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng ngàn ha lúa, hoa màu, cho vay thâm canh tăng năng suất đạt hiệu quả đáng kể, đặc biệt vốn của ngân hàng đầu tư cơ giới hoá nông nghiệp, nuôi trồng hải sản; áp dụng các thành tựu khoa học trong nông nghiệp, ngư nghiệp có kết quả, đã từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn tỉnh nhà, đời sống nông dân ngày càng nâng cao hơn
Ngoài hộ nông dân, chi nhánh NH No&PTNT huyện phong điền đã đầu tư cho vay các thành phần kinh tế khác có hiệu quả cao
Trong quá trình đổi mới hoạt động xây dựng đi lên, chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền đã từng bước hoàn thiện, qua bao lần thử thách, vấp ngã, đã dày dặn thêm nhiều kinh nghiệm, mang lại hiệu quả đáng kể trong kinh doanh Đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện và nâng cao Chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế đang từng bước trưởng thành và vững bước đi lên
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền.
Trang 17Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền.
Chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế với bộ máy lãnh đạo ban giám đốc và các phòng kinh doanh, tổ chức và điều hành hoạt động của
NH No &PTNT Thừa Thiên Huế với chức năng nhiệm vụ cụ thể của ban giám đốc và các phòng như sau :
Giám đốc có nhiệm vụ tổ chức điều hành và chịu trách nhiệm về mọi công việc của ngân hàng; đồng thời trực tiếp chỉ đạo phòng kế toán và ngân quỹ Giúp việc cho giám đốc (GĐ) có 2 phó giám đốc (PGĐ)
Phó giám đốc kinh doanh trực tiếp chỉ đạo phòng kinh doanh
Phó giám đốc văn phòng phu trách kế toán
Phòng kinh doanh: có các bộ phận chuyên sâu nghề nghiệp, làm các nhiệm vu sau:
- Trực tiếp đầu tư vốn sản xuất kinh doanh đối với các loại hình kinh tế trên địa bàn huyện
- Tham mưu chiến lựơc kinh doanh
- Đề xuất chiến lược nguồn vốn huy động
Phòng kế toán : có nhiệm vụ chuyên sâu các nghiệp vụ hạch toán kinh doanh,
Phòng kế toán ngân quỹ
Phòng tổ chức hành chính
Trang 18- Chuyển tiền điện tử, thẩm định xét duyệt cho khách hàng mới mở tài khoản giao dịch.
Bộ phân ngân quỹ: thực hiện nhiệm vụ thu và phát ngân, quản lý an toàn kho quỹ
và vận chuyển tiền mặt trên đường đi Thực hiện tồn quỹ định mức, được diễn ra một cách nhanh chóng nhịp nhàn và có hiệu quả thì ngân hàng phải có một đội ngũ cán bộ -công nhân viên có trình độ, năng động và sáng tạo
2.1.4 Tình hình lao động của chi nhánh.
Song song với việc kiện toàn, hoàn chỉnh mô hình tổ chức thì chi nhánh không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn lẫn nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên lao động, đảm bảo về mặt quản lý và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của ngành trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay Để hiểu được cụ thể hơn về tình hình lao động của chi nhánh, ta đi vào xem xét bảng 1
Bảng 1: Tình hình lao động của chi nhánh qua 3 năm 2008-2010
% Số lượng
% Số lượng
% 2009/2008 2010/2009 +/- % +/- %
III Phân theo giới tính 32 100 34 100 34 100 2 6.25 0 0
(Nguồn: Phòng kế toán chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền)
Qua bảng 1 ta thấy: tổng số lao động của chi nhánh năm 2009 có tăng so với năm
2008 là 2 lao động, và giữ nguyên số lượng vào năm 2010 Số lao động thay đổi ở bộ phận trực tiếp kinh doanh và lãnh đạo, mỗi bộ phận là 1 người
Trang 19Xét ở tiêu thức trình độ, ta nhận thấy, năm 2008 lực lượng lao động có trình độ trung cấp, sơ cấp và chưa qua đào tạo vẫn có chiếm 41% tương ứng với 13 người Đối với lực lượng ngân hàng hiện nay, việc tồn tại những lao động có trình độ thấp là một lực cản cho sự phát triển, tuy nhiên NH No&PTNT là một ngân hàng thương mại được hình thành từ những ngày đầu đổi mới đất nước nên việc còn tồn tại những bộ phận nhân viên có trình độ thấp là điều tất yếu, song đây chủ yếu là những người lớn tuổi có trình độ thấp, có kinh nghiêm lâu năm với ngành ngân hàng nông nghiệp, và trong quá trình làm việc họ thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ để bắt kiệp với tình hình mới.
Trong năm 2009, cùng với việc tuyển nhân viên mới, một số nhân viên cũ cũng đến tuổi nghỉ hưu nên tổng số lao động đã tăng thêm 2 người xong đã có sự thay đổi về trình độ, giới tính
- Xét về trình độ: số lượng nhân viên có trình độ đại học đã tăng so với năm
2008 là 8 người, nhân viên trung cấp và sơ cấp giảm 4 người, thể hiện sự chú trọng đầu
tư vào trình độ của ngân hàng trong thời kỳ hội nhập
- Xét về giới tính: mặc dù công việc ngân hàng vất vã, đòi hỏi sự bền bỉ và sức khỏe tốt nhưng không phải chỉ phù hợp với nam giới, thực tế là trong năm 2009, số nhân viên nữ tăng lên là 14 người, năm 2010 tăng thêm 6 người nữa thành 20 người
Qua phân tích ở trên ta thấy tình hình lao động trong những năm qua đã có những bước chuyển đáng kể, vừa gia tăng về mặt số lượng vừa gia tăng về mặt chất lượng Sự chuyển biến này là hợp lý vì đã đáp ứng cấp thiết theo yêu cầu về nhân lực của ngành ngân hàn,g trong thời kỳ hội nhập
Trang 202.1.5 Tình hình trang bị tài sản cố định của chi nhánh.
Bảng 2: Tình hình trang bị tài sản cố định của chi nhánh
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 So sánh Giá
(Nguồn: Phòng kế toán chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền)
Nhìn vào bảng 2 ta thấy tổng tài sản cố định của chi nhánh qua 3 năm 2008-2010
có sự tăng giảm giữa các năm Năm 2009 tổng tài sản cố định là 3,429 triệu đồng, so với năm 2008 giảm 0,26% tương ứng với mức giảm là 9 triệu đồng Bên cạnh đó nhà cửa, vật kiến trúc là loại tài sản cố định có giá trị cao, khó hư hỏng nên công tác đầu tư cho
nó thường theo định kỳ nhiều năm một lần, do đó trong 3 năm qua giá trị tài sản đánh giá của nó vẫn giữ nguyên 1343 triệu đồng
Bước sang năm 2010, chi nhánh đã đầu tư vào công tác phục vụ sản xuất kinh doanh bằng cách mua sắm thêm các trang thiết bị với giá trị đầu tư thêm là 325 triệu đồng tăng 9.47% so với năm 2009
Qua đánh giá bảng 2 ta thấy rằng : chi nhánh đã rất chú ý tăng cường và đổi mới
cơ sở vật chất kỹ thuật cụ thể là các khoản đầu tư vào máy móc trang thiết bị, nhằm mục đích tạo môi trường làm việc tốt hơn cho cán bộ nhân viên
2.1.6 Tình hình huy động vốn của chi nhánh
Để đáp ứng sự cân bằng cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ, ngân hàng phải tự tạo nguồn vốn cho mình để kinh doanh Một trong những giải pháp tạo nguồn vốn có hiệu quả của ngân hàng là thực hiện phương châm:” đi vay để cho vay”
Là một ngân hàng thương mại trực thuộc NH No &PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế,
NH No&PTNT huyện Phong Điền trong những năm gần đây đã làm tốt công tác huy
Trang 21động vốn nhằm khẳng định tính tự chủ của một đơn vị kinh doanh trong cơ chế thị trường Để phục vụ nhu cầu vay vốn của mọi cá nhân, đơn vị kinh tế trên địa bàn,chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền đã huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân bằng nhiều hình thức khác nhau như: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kin tế, tiền gửi kho bạc, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu,…
Để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nguồn vốn chưa sử dụng của các tổ chức kinh tế, kho bạc… chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốn tạo được niềm tin và hấp dẫn khách hàng đến gửi tiền Vì vậy tổng nguồn vốn huy động đã tăng đều qua các năm Để hiểu cụ thể hơn về tình hình huy động vốn của chi nhánh ta tìm hiểu bảng 3
Trang 22Bảng 3: Tình hình huy động vốn cuả chi nhánh qua 3 năm 2008-2010
Đơn vị tính: triệu đồng
Giá trị
Trang 23Nhìn vào bảng 3 ta thấy: nguồn vốn tự huy động của chi nhánh trong 3 năm có
sự tăng giảm đột biến: năm 2009 tổng nguồn vốn huy động là 89985 triệu đồng giảm
9120 triệu đồng tương ứng giảm 9.2% so với năm 2008 Nguyên nhân chính là do tiền gửi của các tổ chức kinh vế và tiền gửi kho bạc nhà nước giảm đến năm 2010 nguồn vốn huy động lại tăng mạnh trở lại, đạt 125788 triệu đồng, tăng 35803 triệu đồng so với năm 2009, tức tăng 39.79% nguồn vốn huy động tăng là do nguồn thu từ các tổ chức kinh tế, tiền gửi kho bạc nhà nước và tiền gửi tiết kiệm đều tăng
- Năm 2008 tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 17475 triệu đồng, năm 2009 chỉ còn 14569 triệu đồng,giảm 2906 triệu đồng, tương ứng giảm 16.63% Đến năm 2010 tăng lên 125788 triệu đồng,tăng 6210 triệu đồng so với năm 2009, tương ứng tăng 42.62
%
- Trong năm 2008 tiền gửi kho bạc có mức đóng góp là 21.46% trong tổng nguồn vốn và giảm mạnh trong năm 2009 chỉ chiếm 5.87% tổng nguồn vốn, giảm 15981 triệu đồng, với mức giảm tương ứng là 75.13%
- Trong khi đó tiền gửi tiết kiệm là nguồn tiền gửi tăng mạnh qua các năm: năm
2009 đạt 68146 triệu đồng, tăng 13% so với năm 2008, tương ứng tăng 7839 Triệu đồng Năm 2010 số tiền gửi tiết kiệm đạt 93864 triệu dồng, tăng 37.34% so với năm
2009, tương ứng tăng 25718 triệu đồng
- Bên cạnh đó, hình thức huy động vốn bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu lại tăng giảm không đều qua các năm Năm 2009 tăng 1928 triệu đồng tương ứng tăng 3637.74% so với năm 2008 Nhưng sang năm 2010 lại giảm 570 triệu đồng, tương ứng với mức giảm là 28.77% so với năm 2009
Qua phân tích bảng 3 ta nhận thấy : mặc dù có sự tăng giảm trong tỷ lệ đóng góp các nguồn hình thành vốn, làm cho nguồn vốn tự huy động của ngân hàng giảm nhẹ vào năm 2009 nhưng lại tiếp tục tăng mạnh vaò năm 2010 đạt 125788 triệu đồng Đây là một thành tích đáng kể của ngân hàng, là kết quả của sự nổ lực, quyết tâm của ban giám đốc và của các cán bộ nhân viên ngân hàng trong việc thu hút vốn từ các ngành kinh tế
2.2 TÌNH HÌNH CHO VAY VỐN CỦA CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trang 24Nếu như công tác huy động vốn tạo nên nguồn vốn vững mạnh là quan trọng thì việc sử dụng nguồn vốn đó sao cho có hiệu quả lại càng quan trọng hơn NH No&PTNT huyện Phong Điền thực hiện hoạt động tín dụng chủ yếu đối với các hộ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động sản xuất nông nghiệp nông thôn, song để đáp ứng và hoạt động thích ứng với cơ chế thị trường thì ngân hàng đã mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực khác như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Xác định rõ điều này, ngân hàng đã có hướng đi đúng với nhu cầu trên, với hướng đi như vậy ngân hàng đã cung ứng vốn kịp thời cho sản xuất nông nghiệp nông thôn và các ngành sản xuất khác, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của các ngành đó, phục vụ tốt mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của huyện nhà… trong những năm gần đây, với mục tiêu tồn tại và phát triển lâu dài thì công tác tín dụng của ngân hàng đã và đang được tiếp tục chấn chỉnh và hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, ngân hàng luôn coi trọng công tác kiểm tra, kiểm soát việc
sử dụng vốn và tiến hành thu nợ cả gốc và lãi đúng hạn
2.2.1 Tình hình biến động về doanh số cho vay của NHNo&PTNT huyện Phong Điền.
Ngân hàng No&PTNT Huyện Phong Điền là một ngân hàng huyện, hoạt động trên địa bàn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Chỉ có thị trấn Phong Điền là phát triển tiêủ thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ nhiều hơn Trong những năm qua ngân hàng No&PTNT huyện Phong Điền đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế huyện nhà, chi nhánh sẵn sàng cung cấp vốn cho mọi đối tượng có nhu cầu về vốn nếu xét thấy sử dụng vốn có hiệu quả Để thấy được điều đó chúng ta đi xem xét rõ tình hình biến động vế doanh số cho vay của ngân hàng
2.2.1.1 Tình hình biến động về doanh số cho vay theo từng ngành kinh tế.
Đối với mỗi ngành nghề, tùy theo quy mô sản xuất mà nhu cầu phát triển về vốn khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến doanh số cho vay của ngân hàng Để thấy được quy mô
và cơ cấu cho vay của ngân hàng đối với các ngành kinh tế trong huyện như thế náo ta
đi vào phân tích bảng 4
Trang 25Bảng 4: Tình hình biến động doanh số cho vay theo ngành kinh tế qua 3 năm 2008-2010
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm Chỉ tiêu
(Nguồn: Phòng kế toán chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền)
Trang 26Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế của địa phương, căn cứ vào kết quả cho vay của cán bộ tín dụng, cơ cấu doanh số cho vay của ngân hàng được chia thành 4 nhóm chính sau:
- Nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp
- Nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Nhóm ngành thương mại dịch vụ
- Nhóm ngành khác bao gồm những món vay mà ngân hàng thực hiện đối với cho vay hộ tiêu dùng, cho vay lương, cho vay trả góp… đối với cán bộ và nhân dân trong huyện
Qua xem xét bảng 5 ta thấy, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà, tổng doanh số cho vay của ngân hàng năm 2009 tăng 18.58% so với năm 2008, tương ứng tăng 35227 triệu đồng Nhưng sang năm 2010 thì tổng doanh số cho vay giảm 1.91% so với năm 2009, tương ứng với mức giảm là 4285 triệu đồng
Xét trong từng ngành kinh tế: năm 2008 tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng là lớn nhất chiếm 48.64% tương ứng với
92197 triệu đồng, đứng thứ 2 trong tổng doanh số cho vay là ngành thương mại và dịch
vụ chiếm 23.67% tỷ trọng tương ứng với 44868 triệu đồng Hai ngành còn lại tỷ trọng doanh số cho vay là tương đương nhau, cho vay ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp là 14.90%, cho vay ngành khác chiếm 12.80%
Sang năm 2009, tổng doanh số cho vay tăng lên so với năm 2008 Cùng với mức tăng của tổng doanh số cho vay là sự tăng lên trong doanh số cho vay của từng nhóm ngành: ngành nông lâm ngư nghiệp tăng 28.20% tương ứng với mức tăng là 25997 triệu đồng, ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tăng 30.44% tương ứng tăng 8599 triệu đồng, ngành thương mại-dịch vụ tăng 17.89% tương ứng tăng 8026 triệu đồng Năm 2009 tỷ lệ cho vay đối với nhóm ngành khác lại giảm 30.49% tương ứng giảm 7395 triệu đồng so với năm 2008
Sau sự tăng trưởng về doanh số cho vay năm 2009, bước sang năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng của doanh số cho vay đã có chiều hướng giảm Năm 2010 tổng doanh số cho vay đạt 220508 triệu đồng, giảm 1.91% so với năm 2009, tương ứng giảm 4285 triệu đồng Nguyên nhân là do doanh số cho vay của ngành nông lâm ngư nghiệp giảm
Trang 2722.97% tương ứng với mức giảm là 26319 triệu đồng, ngành thương mại và dịch vụ giảm 12.21%, tương ứng 6458 triệu đồng Trong khi đó thì nhóm ngành công nghệp- tiểu thủ công nghiệp và nhóm ngành khác lại tăng: ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tăng 28.74%, tương ứng tăng 10590 triệu đồng, nhóm ngành khác tăng 106.18%, tương ứng tăng 17902 triệu đồng.
Thông qua phân tích ở trên, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội tác động làm cho tình hình vay vốn của các nhóm ngành có sự tăng giảm đáng kể Tuy nhiên, xét một cách tổng quát thì doanh số cho vay của ngân hàng đã có tăng qua các năm, đây cũng là một thành tích của chi nhánh huyện Phong Điền trong việc tìm kiếm các nguồn vốn và tìm kiếm khách hàng để giải quyết cho vay
2.2.1.2 Tình hình biến động doanh số cho vay theo thành phần kinh tế.
Doanh số cho vay là một chỉ tiêu kinh tế thể hiện quy mô của ngân hàng, nhằm nâng cao doanh số cho vay, trong những năm qua NH No&PTNT huyện Phong điền đã bám sát các chủ trương chính sách và định hướng của UBND huyện nhằm khơi dậy và phát triển tiềm năng kinh tế của địa phương thông qua chính sách vay vốn của các thành phần kinh tế trên địa bàn toàn huyện
Để hiểu rỏ hoạt động cho vay đến các thành phần kinh tế ở NH No&PTNT huyện Phong Điền như thế nào ta đi vào phân tích bảng 5
Trang 28Bảng 5: Tình hình biến động doanh số cho vay theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2008-2010
Tổng doanh số cho vay 189566 100.00 224793 100.00 220508 100.00 35227 18.58 -4285 -1.91
DN ngoài quốc doanh 85045 44.86 43496 19.35 64035 29.04 -41549 -48.86 20539 47.22
Trang 29Qua xem xét bảng 5 ta thấy: doanh số cho vay của các thành phần kinh tế qua các năm có sự tăng giảm rõ rệt:
Trong năm 2009, cùng với việc giảm nguồn vốn huy động là sự gia tăng của doanh số cho vay đối với từng thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế đều tăng mạnh, đối với hợp tác xã thì trong năm 2009 tăng 43.10%, tương ứng tăng 500 triệu đồng so với năm 2008, hộ nông dân tăng 62.77% tương ứng tăng 44389 triệu đồng,còn
hộ tiêu dùng tăng 97.67% tương ứng tăng 31887 triệu đồng Riêng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh số cho vay lại giảm 48.86% tương ứng với 41549 triệu đồng so với năm 2008
Bước sang năm 2010, tổng doanh số cho vay đã có chiều hướng giảm so với năm
2009 Cụ thể, trong năm 2010 tổng doanh số cho vay giảm 1.91% tương ứng với 4285 triệu đồng so với năm 2009 Ngyên nhân là do doanh số cho vay đến các thành phần kinh tế đều giảm mạnh Doanh số cho vay của hợp tác xã trong năm 2010 chỉ chiếm 0.38% trong tổng cơ cấu cho vay giảm 49.10% tương ứng giảm 815 triệu đồng so với năm 2009 Trong tình hình mới, việc nâng cao năng lực cho các hợp tác xã là một nhu cầu bức thiết để hợp tác xã và các xã viên nâng cao thu nhập Doanh số cho vay thấp phần nào thể hiện năng lực kinh doanh của hợp tác xã trên địa bàn còn chưa tốt, phạm vi phát triển kinh doanh còn yếu Doanh số cho vay của hộ nông dân trong năm 2010 chiếm đến 46.95% trong tổng doanh số cho vay, song vẫn giảm 10.05% tương ứng giảm
11566 triệu đồng so với năm 2009 Đối với cho vay hộ tiêu dùng thì tỏng năm 2010 chiếm 23.62% trong tổng cơ cấu cho vay vốn, giảm 19.28% tương ứng giảm 12443 triệu đồng so với năm 2009 Do hình thức vay của hộ tiêu dùng là vay trả góp, cho vay lương, cho vay buôn bán nhỏ… với mục đích nâng cấp sữa chữa nhà ở, sinh hoạt tiêu dùng, buôn bán nâng cap đời sống… khi tình hình kinh tế trên địa bàn ổn định thì đẫn đến việc giảm tỷ lệ cho vay năm này so với năm khác Riêng đối với cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh số cho vay năm 2010 tăng 47.22% tương ứng tăng 20539 triệu đồng so với năm 2009
Tóm lại, qua xem xét bảng 5 ta nhận thấy cơ cấu doanh số cho vay của chi nhánh
NH No&PTNT huyện Phong Điền một phần phát triển kinh tế xã hội huyện nhà, cho vay doanh nghiệp tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế Cho vay sản xuất đạt tỷ lệ cao trong tổng doanh số cho vay của các năm nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất trên địa bàn
Trang 302.2.1.3 Tình hình biến động doanh số cho vay theo thời hạn.
Bảng 6: Tình hình biến động doanh số cho vay theo thời hạn qua 3 năm 2008-2010
Trang 31Qua xem xét bảng 6 ta thấy:
- Với nguồn vốn huy động chủ yếu là không thời hạn, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc hoạch định vốn vay, tuy nhiên ngoài loại hình vốn tự huy động, NHNo&PTNT huyện Phong Điền còn được nhận nguồn vốn từ Chính Phủ, nguồn tài trợ ủy thác đầu tư của các tổ chức nước ngoài như WB, ADB… do đó ngân hàng Phong Điền đã mạnh dạn đầu tư vào các dự án trung hạn năm 2010, tỷ tọng cho vay trung hạn
đã cao hơn so với 2 năm 2008, 2009
- Trong năm 2009, doanh số cho vay ngắn hạn chiếm đến 56.13% tổng doanh
số cho vay, giảm 1.41% tương ứng giảm 1802 triệu đồng so với năm 2008 doanh số cho vay trung hạn tăng 60.12% tương ứng tăng 37029 triệu đồng so với năm 2008
- Bước sang năm 2010, doanh số cho vay ngắn hạn lại tiếp tục giảm Trong khi
đó thì doanh số cho vay trung hạn tăng dần qua các năm So với năm 2009, doanh số cho vay ngắn hạn giảm 14.09% tương ứng giảm 17774 triệu đồng, trung hạn tăng 13.68% tương ứng tăng 13489
2.2.2 Tình hình biến động doanh số thu nợ của chi nhánh.
Việc cho vay và thu nợ có mối quan hệ chặt chẽ có tắc động qua lại lẫn nhau, doanh số thu nợ phản ánh tình hình thu hồi nợ và là cơ sở để xác định vòng chu chuyển của vốn cho vay Một chu kì kinh doanh được coi là kết thúc và có hiệu quả chỉ khi nào bảo toàn được vốn đầy đủ có lợi nhuận cao Để thấy được tình hình biến động doanh số thu nợ của chi nhánh ta đi vào phân tích các mục sau
Trang 322.2.2.1 Tình hình biến động doanh số thu nợ theo từng ngành kinh tế
Bảng 7: Tình hình biến động doanh số thu nợ theo từng ngành kinh tế qua 3 năm 2008-2010
(Nguồn: Phòng kế toán chi nhánh NH No&PTNT huyện Phong Điền)
Trang 33Qua số liêu bảng 7 , ta thấy tình hình thu nợ của ngân hàng biến động liên tục qua năm 3 năm Năm 2009 doanh số thu nợ đạt 188018 triệu đồng tăng 9677 triệu đồng, tương ứng tăng 5.43% so với năm 2008.
Trong năm 2009:
- Ngành nông -lâm- ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 44.99% so với tổng doanh số thu
nợ, giảm 5.61% so với năm 2008, tương ứng giảm 5029 triệu đồng
- Ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp là ngành chiềm tỷ trọng tăng doanh
số thu nợ cao nhất, năm 2009 đạt giá trị thu nợ là 35767 triệu đồng, tăng 36.77% so với năm 2008, tương ứng tăng 9615 triệu đồng
- Doanh số thu nợ của ngành thương mại-dịch vụ trong năm 2009 đạt giá trị thu
nợ là 46966 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 24.98% trong tống doanh số thu nợ tăng 15.31%
so với năm 2008, tương ứng tăng 6236 triệu đồng
- Doanh số thu nợ của nhóm khách hàng trong năm 2009 chiếm tỷ trọng là 11.01% trong tổng doanh số thu nợ, giảm 5.24% tương ứng giảm 1145 triệu đồng so với năm 2008
Sang năm 2010, tổng doanh số thu nợ tăng 8553 triệu đồng so với năm 2009, đạt mức tăng 4.55% Tỷ lệ tăng doanh số thu nợ của năm 2010 nhỏ hơn so với năm 2009 là
do sự tác động của các nguyên nhân sau:
- Doanh số thu nợ của ngành công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp giảm 9.17%, tương ứng giảm 3281 triệu đồng so với năm 2009
- Doanh số thu nợ của ngành thương mại -dịch vụ giảm 5.25% tương ứng giảm
2464 triệu đồng so với năm 2009
- Trong năm 2009 doanh số thu nợ của nhóm ngành khác giảm so với năm 2008, nhưng sang năm 2010 doanh số này đã tăng lên so với năm 2009, mức tăng này khá cao 42.15% tương ứng tăng 8727 triệu đồng
- Ngành nông- lâm- ngư nghiệp tăng 6.59%, tương ứng tăng 5571 triệu đồng so với năm 2009
Doanh số thu nợ của ngân hàng tăng qua các năm chứng tỏ đây là một thành công của ngân hàng trong việc thu nợ của các doanh nghiệp và cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn, thể hiện sự nổ lực của các cán bộ nhân viên trong toàn chi nhánh Hơn nữa đây là phần lớn khách hàng truyền thống của ngân hàng nên để giữ uy tín với ngân hàng, đa số họ đều thực hiện đúng thời gian và số lượng trả nợ
Trang 342.2.2.2 Tình hình biến động doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế.
Tiếp tục xem xét tình hình biến động doanh số thu nợ của ngân hàng thông qua chỉ tiêu các thành phần kinh tế, ta đi vào phân tích bảng 8
Bảng 8: Tình hình biến động doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2008-2010.
Trang 35Trong năm 2009, doanh số thu nợ của ngân hàng tăng 5.43%, tương ứng tăng
9677 triệu đồng so với năm 2008 mức tăng này là do doanh số thu nợ của các thành phần kinh tế tăng mạnh
- Đạt tỷ lệ tăng mạnh nhất là doanh số thu nợ từ hợp tác xã với mức tăng là 250% tương ứng với 500 triệu đồng tuy chỉ chiếm 0.37% tỷ trọng trong tổng doanh số thu nợ, đạt giá trị 700 triệu đồng, nhưng đây là một kết quả tốt cho công tác thu hồi nợ của ngân hàng
- Doanh số thu nợ từ hộ nông dân chiếm đến 52.07% tỷ trọng, đạt giá trị 97899 triệu đồng trong tổng doanh số thu nợ, tăng 46.86%, tương ứng tăng 31238 triệu đồng
so với năm 2008 còn doanh số thu nợ từ hộ tiêu dùng tăng 93.10%, tương ứng tăng
24983 triệu đồng
- Riêng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì tỷ trọng doanh số thu nợ năm
2009 đạt 20.00%, đạt giá trị là 37601 triệu đồng, giảm 55.58% tương ứng giảm 47044 triệu đồng so với năm 2008
Xem xét tình hình doanh số thu nợ của ngân hàng năm 2010 ta thấy: tổng doanh
số thu nợ tăng 4.55% tương ứng tăng 8553 triệu đồng so với năm 2009
- Doanh số thu nợ của nhóm doanh nghiệp năm 2010 chiếm tỷ trọng 23.73%, đạt giá trị 46647 triệu đồng, tăng 4.55%, tương ứng tăng 8553 triệu đồng so với năm 2009
- Đối với doanh số thu nợ hợp tác xã, và hộ nông dân đều tăng so với năm 2009, với hợp tác xã tăng 74.29%, còn hộ nông dân tăng ít hơn chỉ 9.35%
- Riêng đối với hộ tiêu dùng, doanh số thu nợ trong năm 2010 lại giảm 19.61% tương ứng giảm 10163 triệu đồng