luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐẾ
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, hội nhập với nền kinh tế thế giới.Nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, toàn ngành ra sứcphấn đấu thi đua để góp phần vào công cuộc tăng trưởng kinh tế cho nước nhà, đưacuộc sống của người dân từ đói nghèo, lạc hậu sang cuộc sống sung túc, đầy đủ hơn.Đặc biệt là nâng cao đời sống của người dân nông thôn
Việt Nam có bờ biển trải dài 3.260km suốt từ Bắc vào Nam là tiềm năng to lớncho nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ Trong những năm gần đây ngành thuỷsản ở Việt Nam phát triển nhanh chóng giúp cho nguồn thu nhập của người dân ngàycàng cải thiện rõ rệt, làm chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế, đánh thức cáctiềm năng đất đai, lao động, mở ra triển vọng xóa đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu.Với những lợi thế đó, Nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm của nước
ta trong hơn 20 năm qua đã tạo lập được một vị thế khả quan trên thị trường thế giới,sản phẩm xuất khẩu sang nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Châu Âu Trong đó, sản phẩmtôm tuy chỉ chiếm khoảng 20% về khối lượng xuất khẩu nhưng luôn chiếm trên 40%trong tổng doanh thu xuất khẩu thủy sản Mặt hàng này ngày càng đạt được mức tăngtrưởng xuất khẩu cao, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, trở thành ngànhhàng có tầm quan trọng chiến lược đóng góp vào nền kinh tế quốc dân
Và một trong những địa phương có diện tích nuôi tôm lớn đó là xã Phú An thuộcvùng đầm Sam Chuồn nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có diện tíchmặt nước 648 ha Hằng năm, các hộ nuôi trên địa bàn huyện sản xuất hàng tấn tôm cácloại cung cấp cho thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
Phú An là một trong những phong trào đi đầu trong phong trào nâng cao đời sốngcho cộng đồng dân cư nông thôn của huyện Phú Vang Với trên 80% dân cư sống bằngnghề sản xuất nông nghiệp, trước đây đa số người dân đều làm nghề trồng lúa là chủyếu; cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn Nhưng từ khi chính
Trang 2quyền, địa phương tập huấn cho bà con về mô hình nuôi trồng thuỷ sản, đã chuyểnsang một hướng đi mới cho bà con nông dân ở đây, thì đời sống của bà con nông dânngày càng khấm khá hơn nhiều Với điều kiện thời tiết, khí hậu khá thuận lợi, hơn nữa
xã Phú An có một diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản rất lớn, nên việc áp dụng
mô hình nuôi tôm đến từng hộ gia đình đã mang lại một hiệu quả đáng kể, đã góp phầnnâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân ở xã Phú An
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi để phát triển nghề nuôi tôm trong huyện thì
bà con nông dân cũng gặp phải một số khó khăn cho công việc sản xuất của mình
Xuất phát từ thực tiễn ấy, chúng tôi chọn làm chuyên đề “Kết quả và hiệu quả nuôi tôm ở xã Phú An huyện Phú Vang” để đánh giá những kết quả và kết quả đạt được,
những khó khăn mà bà con nông dân gặp phải, từ đó đưa ra giải pháp góp phần giúp
đỡ người dân
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình nuôi tôm trên địa bàn xã Phú An
- Đánh giá kết quả và hiệu quả nuôi tôm ở xã Phú An huyện Phú Vang
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế việc nuôitrồng thủy sản
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động nuôi tôm của nông hộ trên địa bàn xã PhúAn
- Phạm vi nghiên cứu:
+Về không gian: xã Phú An huyện Phú Vang Tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Về thời gian: nghiên cứu kết quả và hiệu quả nuôi tôm năm 2010
3 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Nghiên cứu sự vật hiện tượng phải đặt nó trong mối quan hệ với những sự vậthiện tượng khác trong một khoảng thời gian và không gian nhất định để thấy rõ sự vậnđộng của sự vật hiện tượng đó Hai phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trongquá trình làm đề tài nhằm nhận thức được bản chất của các hiện tượng kinh tế xã hộiđang nghiên cứu
Trang 3- Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn 50 hộ nuôi tôm vụ xuân hènăm 2010 trên địa bàn, bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên từ danh sách các hộ nuôi tômcủa xã
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê hàng năm của UBND
xã, từ niên giám thống kê toàn quốc, tỉnh, huyện cùng các sách báo tạp chí có liênquan
- Phương pháp phân tổ thống kê
Phương pháp phân tổ thống kê đươc sử dụng nhằm hệ thống hóa các số liệu thuthập được dưới dạng các chỉ tiêu nghiên cứu từ đó đánh giá các chỉ tiêu theo thời gian.Phương pháp này còn được dùng để phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào vớiyếu tố đầu ra cũng như biểu hiện mối quan hệ giữa yếu tố đầu ra với các yếu tố đầuvào
- Phương pháp thống kê so sánh
Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất được tính toán, thống kê quacác chỉ tiêu năng suất, GO, VA,GO/IC,VA/IC… Khi đánh giá mức độ đạt được về mặtkết quả và hiệu quả cần so sánh các chỉ tiêu đó quan thời gian, qua không gian và giữacác chỉ tiêu đó với nhau, từ đó đưa ra nhận xét và kết luận
- Một số phương pháp phân tích khác.
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Lý luận chung về NTTS
1.1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản:
- Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức nuôitrồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường nước ngọt, lợ, mặn (Pillay, 1990)
- Ngoài ra cũng có những định nghĩa khác về nuôi trồng thủy sản như :
+ Nuôi trồng thủy sản là bất kỳ những tác động nào của con người làm cải thiện
sự sinh trưởng của một sinh vật nào đó trong một diện tích nuôi nào đó
+ Nuôi trồng thủy sản là một hay nhiều tác động (của con người) làm ảnhhưởng tới chu kỳ sống của sinh vật nào đó
1.1.1.2 Lịch sử phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản:
- Lịch sử của nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã được bắt đầu từ khoảng
500 năm trước công nguyên tại Trung Quốc với loài cá được nuôi đầu tiên là cá chép
(Cyprinus carpio) Hình thức sơ khai là thu cá giống từ sông để ương nuôi trong ao
vùng nước ngọt Nghề nuôi cá chép sau đó được lan rộng ra nhiều nơi ở Châu Á,Trung Đông và Châu Âu do sự di dân của người Hoa Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ 6 saucông nguyên, do cá chép không được phép nuôi ở Trung Quốc, vì thế các loài các loài
cá chép Trung Quốc (cá trắm cỏ, cá mè hoa, mè trắng) bắt đầu được phát triển ươngnuôi Ở Ấn Độ, các loài cá trôi Ấn Độ được ương nuôi từ thế kỷ 11 Trong khi đó, loài
cá nước lợ được nuôi đầu tiên là loài cá Măng (Chanos chanos) vào thế kỷ 15 tại
Indonesia Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản truyền thống được bắt đầu từ những năm1960
- Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thủy sản được bắt đầu từ những nămthập niên 1970 Đến nay, nghề nuôi thủy sản vẫn liên tục phát triển đa dạng Nếu nhưnăm 1970, tốc độ tăng trưởng hằng năm về sản lượng là 3,9%, thì năm 2006, tốc độ
Trang 5tăng trưởng là 36% Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi đã góp phần tăng tỷ lệtiêu dùng sản phẩm thủy sản nuôi trồng từ 0,7 kg/người/năn vào năm 1970 lên 7,8kg/người/năm vào năm 2006 Sản phẩm thủy sản nuôi trồng chiếm 46% tổng sản phẩmthủy sản tiêu dùng hàng năm Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 90%.
- Trên thế giới, Châu Á cho sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất, chiếm 89%tổng sản lượng và 77% tổng giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng thế giới năm 2006.Năm 2006, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là 51 triệu tấn và sản lượngkhai thác là 92 triệu tấn Trong số này, Trung Quốc chiếm 66,7% tổng sản lượng nuôi,các nước Châu Á khác chiếm 22,8%, và các nước khác còn lại ở Châu Âu, Châu Mỹ,Úc,… chiếm 10,5%
- Năm 2006, sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam là 1,67 triệu tấn, đứngthứ 3 thế giới sau 2 cường quốc là Trung Quốc và Ấn Độ
Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản cũng phát triển rất năng động Nghề nuôi thủy sảntruyền thống bắt đầu từ thập niên 1960, tuy nhiên trong vòng 10 năm nay, nghề nuôithủy sản có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Theo thống kê của Tổng Cục Thống Kê
(2010) thì năm 2009 cả nước có tổng cộng trên 1044700 ha, đạt sản lượng 2569900
tấn Hiện nay, đối tượng nuôi và mô hình nuôi thủy sản ở Việt Nam khá phong phú,tuy nhiên, chủ lực nhất vẫn là nuôi cá tra thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm ởvùng nước lợ ven biển
1.2.2 Lý luận về kết quả và hiệu quả kinh tế
1.2.2.1 Khái niệm về kết quả
Kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinh doanhhay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó (PGS.TS Nguyễn Thành Độ & PGS.TSNguyễn Ngọc Huyền) Như vậy, kết quả có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặcđơn vị giá trị Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng sảnphẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít… các đơn vịgiá trị có thể đồng, triệu, ngoại tệ…
Trang 6Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối: phạm trù này chỉphản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quảcủa quá trình kinh doanh không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng của nguồnlực sản xuất.
1.2.2.2 Khái niệm và bản chất về hiệu quả kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế tuy nhiên đều thống nhất ởbản chất của nó Đó là, người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra một khoảnchi phí nhất định Đó là nhân lực, vật lực, vốn…Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là tối đahoá đầu ra với một lượng đầu vào nhất định và tối thiểu hoá chi phí với một lượng đầu
ra nhất định
Tuy nhiên hiệu quả kinh tế là 1 phạm trù kinh tế- xã hội do đó tùy cách tiếp cận
xã hội mà có các định nghĩa khác nhau
- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh
tế, là thước đo trình độ tổ chức và quản lí kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nhưcác tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh tế Hiệu quả kinh tế: là tương quan so sánhgiữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, nó biểu hiện bằng các chỉ tiêu: Giá trịtổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận… tính trên lượng chi phí bỏ ra
- Hiệu quả xã hội: là sự so sánh giữa một bên là chi phí bỏ ra và một bên là kết
quả thu được về mặt xã hội như: giảm khoảng cách giàu ghèo, tạo công ăn việc làm,cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng ông trình phúc lợi…
- Hiệu quả kinh tế xã hội: là tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả hu được
về cả mặt kinh tế và xã hội Mục tiêu cuối cùng của phát riển kinh tế là phát triển xãhội, giữa phát triển kinh tế và phát riển xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau do đókhi nói đến hiệu quả kinh tế ta cần hiểu trên quan điểm kinh tế xã hội
- Hiệu quả môi trường: là xu hướng tất yếu mà mọi quốc gia cần đề cập đến
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trang 71.2.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngàyngười ta càng sử dụng nhiều các nguồn lự sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụcho nhu cầu khác nhau của con người Trong khi các nguồn lực càng giảm thì thì nhucầu của con người càng đa dạng và tăng không giới hạn Điều này phản ánh quy luậtkhan hiếm buộc mọi người sản xuất phải trả lời chính xác ba câu hỏi: Sản xuất cái gì?Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệpnào sản xuất đúng loại sản phẩm với chất lượng và số lượng phù hợp
Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhậpdoanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Muốn chiến thắng trongcạnh tranh DN cần phải luôn tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự khácbiệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng Để duy trì lợi thế về giá cả, DN phải tiết kiệm cácnguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp khác Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh cóhiệu quả cao, DN mới có khả năng đạt được điều này
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm cácnguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài củadoanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệmnguồn lực sản xuất Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan để doanhnghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận
1.2.2.4 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế, tuy nhiên điều kiện để xácđịnh hiệu quả kinh tế là phải xác định được kết quả và chi phí bỏ ra
a Kết quả đạt được:
Trong hệ thống cân đối quốc dân (MPS), kết quả thu được có thể là toàn bộ giátrị sản phẩm (C+V+m), hoặc có thể là thu nhập (V+m), hoặc có thể là thu nhập thuầntuý (m)
Trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), thì kết quả thu được là tổng giá trịsản xuất (GO) là toàn bộ giá trị tính bằng tiền của các sản phẩm được tạo ra trongmột thời kỳ nhất định của một đơn vị, có thể là giá trị gia tăng (VA) phản ánh giátrị tăng thêm so với chi phí mua ngoài bỏ ra ( chưa tính khấu hao và công lao động
Trang 8gia đình), có thể là thu nhập hỗn hợp (MI) là phần thu nhập (gồm cả công lao động
và lãi) nằm trong giá trị sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tàisản cố định, thuế
Với mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu xã hội là chính thì kếtquả được sử dụng là tổng giá trị sản xuất (GO) Nếu mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm
để kinh doanh như đối với các doanh nghiệp chẳng hạn thì kết quả cầ quan tâm là lợinhuận, còn đối với nông hộ thì kết quả cần quan tâm là thu nhập (VA) hoặc thu nhậphỗn hợp
b Chi phí bỏ ra:
Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là những chi phí cho các yếu
tố đầu vào như đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên nhiên vật liệu… tuỳ theo mục đíchphân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chiphí Sau khi đã xác định được kết quả và chi phí thì chúng ta có thể tính được hiệu quảkinh tế
c.Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế:
- Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạtđược và chi phí bỏ ra Theo cách tiếp cận này thì hiệu quả kinh tế được xác định theo
công thức sau: H=Q/C hoặc H=C/Q
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu đượcC: Chi phí bỏ raPhương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực,xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, hoặc để tạomột đơn vị kết quả cần tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực Do đó giúp ta so sánh đượchiệu quả ở quy mô khác nhau
Trang 9- Phương pháp 2: hiệu quả kinh tế là hiệu quả cận biên, được xác định bằngcách so sánh phần tăng thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra.
Công thức xác định như sau: H=rQ/rC hoặc H=rC/rQ
Trong đó: rQ: Phần tăng thêm của kết quả
rC: Phần tăng thêm của chi phíPhương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu đầu tư theo chiều sâu thâmcanh Nó xác định được lượng kết quả thu thêm trên một đơn vị chi phí tăng thêm Haynói cách khác, một đơn vị chi phí tăng thêm đã tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quảthu thêm
- Tuy nhiên cả hai phương pháp trên đều không cho biết được quy mô của hiệuquả là bao nhiêu Đây cũng là vấn đề mà trong nhiều trường hợp doanh nghiệp rấtquan tâm Vì vậy hiêu quả kinh tế còn được xác định bằng chênh lêch giữa kết quả thuđược và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
1.2.3 Đặc Điểm kỹ thuật của nghề nuôi tôm
a Đặc điểm sinh học của nuôi tôm :
Tôm được nuôi chủ yếu và phổ biến hiện nay ở nước ta là tôm sú có tên khoahọc là Panaeus monodon, thuộc ngành Arthypopa, lớp Crustacla, bộ Decapoda, họchung Penacidea, họ Panaues, loài monodon
Tôm là loài sinh vật sống có chu trình sinh trưởng và phát triển riêng của chúng.Do đómuốn nuôi tôm đạt hiệu quả kinh tế cao thì trước hết phải nắm vững đặc tính sinh học
Trang 10của chúng, từ đó đề ra các giải pháp kinh tế, kỹ thuật thích hợp, tạo môi trường thuậnlợi cho sự phát triển của con tôm.
Cũng như tất cả các loài động vật sống dưới nước, sự tồn tại sinh trưởng và phát triểncủa tôm chị sự tác động trực tiếp của các yếu tố sinh, lý, hoá học của môi trường nướcnhư nhiệt độ, độ mặn, độ pH, oxy hoà tan…
- Nhiệt độ nước: ảnh hưởng lớn đến đời sống của tôm như hô hấp, tiêu thụ,
đồng hoá thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng… Nhiệt độ thích hợpđối với tôm thẻ chân trắng là 20 – 320C, nhiệt độ này sẽ giúp tôm phát triển và tăngkhả năng ăn mồi tốt Nhiệt độ lớn hơn 300C tôm lớn nhanh nhưng dễ mắc bệnh đặcbiệt là bệnh Monodom Bacudo Virus (MBV) Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 250C tôm bắt mồichậm Nhiệt độ nước thay đổi theo mùa, theo vùng, theo từng khu vực khác nhau
- Độ mặn: tôm thẻ chân trắng có thể chịu được sự biến thiên của độ mặn từ 5 –
300/00, nhưng độ mặn thích hợp nhất cho nuôi tôm thẻ là 10 - 200/00 Độ mặn thayđổi theo mùa và thuỷ triều nên việc bố trí mùa vụ phải được tính kỹ trước lúc thả giống
và phải kiểm tra, điều chỉnh độ mặn thích hợp bằng các biện pháp kỹ thuật trước khicho vào ao
· - Dưỡng khí hoà tan: Lượng oxy hoà tan trong nước ảnh hưởng đến cường độ
trao đổi chất Tôm thường hô hấp an toàn ở lượng oxy hoà tan 3 – 5 mg/lít, khi thiếuoxy tôm sẽ tập trung ở tầng mặt hoặc nổi sát ven bờ, có thể nổi đầu, bơi lừ đừ rồi chếthàng loạt
- Độ pH của nước: Độ pH thích hợp cho ao nuôi tôm từ 7 – 9, tốt nhất là trong
khoảng 7.6 – 8.5, và lý tưởng nhất cho tôm thẻ chân trắng là 7.8 – 8
- Độ trong/đục của nước: Độ trong đo lượng phù sa hoặc các vật lơ lững khác
trong nước tác động Nhưng độ trong của phiêu sinh vật là độ trong hữu ích cho tôm,nước ao có độ trong từ 30 – 50cm là thích hợp cho tôm thẻ
- Thức ăn của tôm: gồm nhiều loại và đồi hỏi có nhiều chất đạm như cá vụn,
đầu tôm… Một số loại thực vật thuỷ sinh là thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm Do nănglượng của tôm hao phí nhiều trong quá trình lột xác nên người nuôi tôm thẻ trong điều
Trang 11kiện thuận lợi phải cho thức ăn có hàm lượng protein cao Ngoài ra trong quá trìnhnuôi tôm, do môi trường nuôi thường được bổ sung các chất thức ăn thừa, vật nuôi bàitiết, hoá chất sử dụng trong phòng trị bệnh… đã làm giảm chất lượng nước, môitrường trầm tích đáy ao sinh ra các độc tố như NH3, H2S… có độc tính cao đối vớitôm Vì vậy trong ao nuôi tôm cần quản lý nước ao nuôi ở mức thích hợp.
Bảng 1 : Chỉ tiêu môi trường thích hợp để nuôi tôm
1 Nhiệt độ nước oC 20-32 Giao động ngày <4
5 Độ kiềm CaCo3 Mg/l > 80 Phụ thuộc giao động pH
9 Mực nước ao nuôi m 1- 1.5 Tránh sâu hoặc quá cạn
( Nguồn: Cải tiến kĩ thuật nuôi tôm ở Việt Nam).
b Cách hình thức nuôi tôm: Hình thức nuôi tôm ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất thu hoạch sau mỗi vụ nuôi.Tùy theo mức độ đầu tư, trình độ kỹ thuật mà có cáchình thức khác nhau Thông thường ta chia thành bốn loại hình thức nuôi như sau:
- Quảng canh: hay còn gọi là nuôi tôm sinh thái, đây là hình thức nuôi tôm sơ
khai nhất, dựa hoàn toàn vào nguồn tôm tự nhiên, không thả them con giống nhân tạo
và không cho ăn thêm Nguồn thức ăn chủ yếu là tự nhiên, người nuôi chỉ đắp đê,khoanh khu vực, nuôi thành những ao đầm có diện tích khá lớn, rồi lợi dụng nước thủytriều đưa giống và thức ăn và hồ Do đó hình thức này chỉ bỏ ra ít chi phí để trang bịdụng cụ, lao động đơn giản chỉ tốn kém trong khâu xây dựng ao hồ, tu sửa đê và thuhoạch mà hầu như hình thức nào cũng phải chịu
Tuy nhiên nuôi tôm theo hình thức này có năng suất rất thấp và phụ thuộc hoàntoàn vào điều kiện tự nhiên, nhưng lại phù hợp cho những cá nhân sản xuất có ít vốn
Trang 12- Quảng canh cải tiến: Lượng tôm thả từ 1-6con/m2 , thông thường thì thả theomật độ 4-6con/m2 Thức ăn được tận dụng từ các nguồn thức ăn tươi và thức ăn côngnghiệp.Hình thức này có mật độ thả còn thấp nên chi phí thức ăn không cao, mức độ ônhiễm môi trường nước không trở thành vấn đề lớn.Do đó việc quản lý, chăm sóckhông quá phức tạp nhưng đã có sự đầu tư đáng kể.
- Thâm canh: hay còn gọi là nuôi tôm công nghiệp.Đây là cách nuôi đòi hỏi
phải có vốn đầu tư 100% cung cấp giống và thức ăn công nghiệp
Mật độ: >15con/m2
Đảm bảo tối ưu về yêu cầu kỹ thuật, môi trường nước.Đòi hỏi người nuôi phải
có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị cơ sở vật chất tốt
Do đó, nuôi theo hình thức nếu không thua lỗ nặng thì sẽ có lợi nhuận rất cao
Trang 13Bảng 2: Các yêu cầu kỹ thuật theo các hình thức nuôi.
<5
Tự nhiên0,1-0,3
13-5
Có thay nước10-15
Có thức ăn bổ sung0,6-1,8
1,2-1,50,5Sục khí
>20công nghiệp
>4-6
(Nguồn: Chi cục NTTS tỉnh Thừa Thiên Huế)
1.2.4 Quy trình kỹ thuật nuôi tôm
1.2.4.1 Những quy định bắt buộc khi xây dựng ao nuôi:
- Hệ thống ao nuôi:
Ao nuôi phải được xây dựng phù hợp với điều kiện thực tế, dựa trên bản thiết
kế chi tiết đã được phê duyệt, diện tích ao nuôi từ 2000-3000 m2/ao
Bờ ao rộng 2m, độ sâu nước trong ao nuôi từ 1.5-2 m Bờ và đáy ao được lótbạc chống thấm HDPE loại tốt Dọc bờ ao phải xây dựng 01 hố ga dạng hình hộp vớikích thước 1.5m x 1m x 2m để đưa nước thải từ ao nuôi ra ao xử lý
Trang 14cấp bằng bê tông (có thể xây bằng gạch) Từ hệ thống cấp này, mỗi ao có đường ốngnhánh để cho nước vào ao nuôi.
Hệ thống cung cấp nước (đường ống, máy bơm nước mặn, lợ ) phải được bốtrí hợp lý Toàn bộ hệ thống ao nuôi (kể cả ao chứa lắng, ao xử lý nước thải) được lótbạt chống thấm và đảm bảo cao trình phù hợp cho việc cấp và thoát nước hiệu quả,tránh nước thấm lậu xuống nền cát gây mặn hóa nước ngọt ngầm
Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải: ao xử lý nước thải được bố trí theocụm, mỗi ao nuôi có hệ thống thoát nước bằng ống PVC có đường kính từ 100-200mmđược nối vào các hố ga xây dựng dọc theo bờ ao Từ hố ga nước thải được thu gom về
ao xử lý chung của từng cụm theo đường ống thoát (Φ từ 120-200mm) hoặc ốngBTCT D300-400 Sau khi được lắng và xử lý đạt tiêu chuẩn, nước thải sẽ đưa ra biểnbằng tuyến ống BTCT D600 Tuyến cống tiêu nước thải sẽ được bố trí âm dưới đất
- Về cam kết bảo vệ môi trường:
Từng hộ nuôi phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường (theo biểu mẫu của phòngTài nguyên & Môi trường huyện hướng dẫn) và nghiêm túc thực hiện theo cam kết
1.1.4.2 Quy trình kỹ thuật nuôi tôm
a Chuẩn bị ao nuôi:
- Đối với ao mới xây dựng, trước hết cần bơm nước vào ao, rửa sạch bạt để loạiđộc tố từ bạt chống thấm vào môi trường nước Sau đó tháo cạn nước để rửa ao
- Ðối với ao đã nuôi tôm (phát triển tự phát nhưng nằm trong vùng quy hoạch
và có cam kết bảo vệ môi trường), sau mỗi vụ nuôi cần nạo vét hết bùn dơ đưa vào khu
xử lý chung để xử lý Rửa sạch ao trước khi cấp nước
b Xử lý nước:
Sau khi đã chuẩn bị ao xong, tiến hành bơm nước Nước cấp vào ao phải đượclọc bởi lưới lọc có kích thước nhỏ để ngăn ngừa trứng, các loài cá và các động vậtkhác vào ao nuôi Sau khi cấp đủ nước vào ao nuôi, xử lý nước bằng các hóa chất diệt
Trang 15khuẩn như BKC, Iodin, có sục khí Sau thời gian xử lý từ 2-4 ngày (tùy từng loại hóachất) thì có thể gây màu nước.
c Gây màu nước:
- Có thể dùng các loại phân vô cơ, chế phẩm vi sinh, lên men nguyên liệu, đểgây màu nước
- Màu nước tốt cho việc thả tôm giống là màu nâu hoặc màu vàng xanh
- Gây màu nước nên được thực hiện trong thời tiết nắng ấm
- Thời gian gây màu khoảng 4-5 ngày, chú ý khi màu nước trong ao lên
tốt thì mới tiến hành thả giống
- Trong quá trình xử lý và gây màu nước cần kiểm tra pH, độ kiềm để
điều khiển các yếu tố này nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi
ty Anh Việt, công ty Trường Thịnh
- Tôm giống cần được kiểm tra bệnh virus đốm trắng (WSSV), hội chứng Taura(TSV), bệnh MBV bằng phương pháp PCR trước khi mua Tuyệt đối không mua đàntôm giống không rõ nguồn gốc, tôm giống bị dương (+) tính với WSSV, TSV vànhiễm MBV
* Thả tôm giống:
- Trước khi thả tôm cần kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, độmặn giữa trại giống và ao nuôi Nếu có sự khác biệt thì phải điều chỉnh thích hợp đểtránh sốc cho đàn giống
Trang 16- Giống nên thả lúc sáng sớm hoặc chiều tối, lúc nhiệt độ thấp trong ngày.Tránh thả tôm khi trời nắng nóng, nhiệt độ nước cao hoặc khi trời có mưa Cần ngâmtúi giống trong ao nuôi khoảng 10-15 phút sau đó thả tôm vào ao nuôi.
- Tính toán lượng thức ăn hằng ngày cho tôm dựa vào các yếu tố sau:
+ Kiểm tra lượng tôm trong ao
+ Kích cỡ của tôm
+ Tình trạng sức khỏe và quá trình lột xác của tôm
+ Chất lượng nước trong ao
+ Việc dùng thuốc và hóa chất trong thời gian qua
- Số lần cho ăn từ 3-5 lần/ngày tùy theo điều kiện cụ thể
- Trong quá trình cho tôm ăn cần bổ sung các chất dinh dưỡng vào thức ăn nhưvitamin C, các khoáng chất, Tuyệt đối không được dùng các loại hóa chất và khángsinh cấm trong ao nuôi tôm
- Điều khiển thức ăn hợp lý thì hệ số thức ăn (FCR) thấp và nên ở phạm viFCR=1 (sử dụng 1kg thức ăn thu được 1kg tôm thương phẩm)
- Thường xuyên dùng nhá, chài để kiểm tra thức ăn tiêu thụ hàng ngày và lượngtôm, kích cỡ tôm để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp
* Sục khí:
Trang 17Nuôi tôm thẻ chân trắng với hình thức bán thâm canh, thâm canh đòi hỏi phảisục khí, quạt khí liên tục nhằm cung cấp đủ hàm lượng oxy hòa tan cho tôm nuôi Thờigian sục khí, quạt khí tăng dần theo thời gian nuôi.
Ngưng sục khí trong khoảng thời gian cho tôm ăn
f Quản lý các yếu tố môi trường nước:
Yêu cầu các yếu tố môi trường, màu nước trong ao nuôi thích hợp và duy trì ổnđịnh:
+ Nhiệt độ từ 20-32oC,
+ Độ mặn từ 5-30%o, tốt nhất từ 10-20%o,
+ pH từ 7.8 -8.5 và giao động sáng chiều không quá 0.5,
+ Oxy hòa tan duy trì trên 4mg/l,
+ Độ trong từ 30-50cm,
+ Màu nước xanh vàng, vàng nâu
Do vậy, trong quá trình nuôi cần điều chỉnh các yếu tố môi trường nằm trongkhoảng thích hợp cho tôm nuôi
g Phòng ngừa dịch bệnh:
Thường xuyên theo dõi các hoạt động của tôm hằng ngày, kiểm tra tăng trưởngkết hợp kiểm tra dấu hiệu bệnh lý của tôm Các bệnh thường gặp trên tôm thẻ chântrắng là hội chứng Taura (TSV), bệnh đốm trắng (WSSV), các bệnh do vi khuẩn, nấm,nguyên sinh động vật Hạn chế bệnh trên tôm nuôi bằng biện pháp phòng ngừa tổnghợp liên quan đến cả quá trình tổ chức sản xuất từ khâu chọn con giống chất lượng,sạch bệnh đến quản lý tốt môi trường ao nuôi và cho ăn đúng phương pháp
Trang 18i Hồ sơ ghi chép và thành lập các tổ quản lý:
* Hồ sơ ghi chép: việc ghi chép và lưu giữ hồ sơ liên quan đến quá trình nuôi làrất quan trọng và cần thiết nhằm mục đích:
+ Phục vụ cho việc kiểm soát môi trường và dịch bệnh trong suốt vụ nuôi và đểtích lũy kinh nghiệm cho vụ nuôi tiếp theo
+ Phục vụ cho cơ quan thẩm quyền kiểm tra, đánh giá và phục vụ cho việc truyxuất nguồn gốc sản phẩm
* Hộ nuôi cần lưu ý ghi chép các thông tin sau:
- Công tác cải tạo ao nuôi, chọn và thả giống
- Theo dõi các diễn biến môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, tình trạng sứckhoẻ tôm nuôi, các biến đổi của thời tiết (mưa, gió, bão, ) nhằm quản lý, kiểm soát và
Nhóm, tổ cộng đồng cần tổ chức sản xuất đồng loạt trên tinh thần dân chủ, cótrách nhiệm và nhất là việc cam kết bảo vệ môi trường chung, thực hiện nuôi theođúng quy định
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Bờ biển Việt Nam trải dài hơn 3000 km suốt từ Bắc vào Nam cùng với hệ thốngsông ngòi chằng chịt trên khắp đất nước là tiềm năng to lớn cho đánh bắt và nuôi trồngthủy hải sản Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, bên cạnhnguồn lợi đánh bắt thì nuôi trồng cũng đang là tiềm năng to lớn cho phát triển ngànhthủy sản Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2008, trong 4.602,03 tấn thủy sản
Trang 19của cả nước, tỷ lệ đánh bắt và nuôi trồng xấp xỉ 50% nhưng giá trị ngành NTTS đónggóp đến 66% trong tổng giá trị sản xuất của ngành thủy sản.
Bảng 3: Sản lượng và giá trị thủy sản phân theo địa phương năm 2008
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2008)
Trong 6 vùng kinh tế của đất nước thì vùng ĐB sông Cửu Long, BTB&DH
MT là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản Điều đó thể hiện ở chỗ:Năm 2008, sản lượng thủy sản sản xuất của khu vực ĐB sông Cửu Long đạt 2.701,93nghìn tấn, chiếm 58,71% trong tổng sản lượng thủy sản cả nước Còn đối với khu vựcBTB&DH MT, con số này là 985,56 nghìn tấn, tương ứng 21,42% tổng sản lượng thủysản Khu vực BTB&DH MT được tạo hoá ban tặng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai làđầm phá lớn nhất Đông Nam Á Nơi đây có điều kiện thuận lợi để phát triển nghềNTTS có HQKT cao Ngoài ra nơi đây còn có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ rất thuận lợicho ngành Thuỷ sản
Về giá trị sản xuất, ngành Thủy sản của ĐB sông Cửu Long tạo ra được33.891,1 tỷ đồng, tương ứng 66,67% giá trị sản suất của cả nước Còn khu vựcBTB&DH MT tạo ra được 8.897,6 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 17,77% ĐB sông Cửu Longđược mệnh danh là nơi “gạo trắng nước trong” Nơi đây được nhiên nhiên ưu đãi với
hệ thống kênh ngòi chằng chịt, khí hậu ôn hòa, là nơi có điều kiện lý tưởng cho cácloài sinh vật dưới nước phát triển Thủy sản chính là hướng đi cho phát triển kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao thu nhập, tạo việc làmcho người dân ở hai khu vực này
Trang 20Năm 2010, diện tích NTTS cả nước là 1.096.722 ha (đạt 109,68% so với chỉtiêu) Sản lượng NTTS là 2.828.622 tấn, đạt 141,4% so với kế hoạch Về sản xuấtgiống, cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu nuôi thương phẩm, đặc biệt là giống các đốitượng nuôi chủ lực Ví dụ, giống tôm nước lợ đạt 45 tỷ con, bằng 128,6% so với kếhoạch, giống cá tra là 2,36 tỷ con, bằng 337,25% so với kế hoạch, giống của một sốloài thủy sản kinh tế và giống cá nước ngọt truyền thống là 27, 5 tỷ con, bằng 229,2%
so với kế hoạch Kim ngạch xuất khẩu từ NTTS đạt 3,5 tỷ USD, bằng 125% so với kếhoạch
1.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Với hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng 22.000 ha, Thừa ThiênHuế có điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Từ bảng số liệu ta thấy,diện tích NTTS tăng lên hàng năm, từ 5.381,5 ha năm 2008 lên 5.473,4 ha năm 2009với tỷ lệ tăng trung bình hàng năm xấp xỉ 1,7% Diện tích nuôi tôm giảm xuống còn2.733,0 ha năm 2009, tương ứng giảm 10,48% so với năm 2008 Mặc dù có sự giảmsút về diện tích nuôi trồng nhưng sản lượng tôm thu hoạch nhìn chung vẫn có xuhướng tăng lên, từ 3.861 tấn năm 2008 lên 4.056 tấn năm 2009, tương ứng tăng 5,05%.Diện tích nuôi tôm chiếm đến 50% trong tổng diện tích NTTS Điều này chứng tỏnghề nuôi tôm với HQKT cao đã và đang là một trong những ngành nghề thu hút sựquan tâm của người dân
Bảng 4: Tình hình nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế qua 2 năm (2008 – 2009)
2 Sản lượng TS nuôi trồng Tấn 8.335,3 9.251,2 10,99
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009)
Năng suất tôm năm 2009 giảm 0,06 tấn/ha so với năm 2006, tương ứng giảm4,69%, nhưng đến năm 2008 Đây quả là một kết quả khả quan
Trang 21Trong thời gian qua, tình hình nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế đã có những chuyểnbiến tích cực từ 0,67 tấn/ha vào năm 2002 thì đến năm 2008, năng suất đã đạt được1,61 tấn/ha Có được kết quả đó là nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương vàchính từ sự nỗ lực của người dân trong việc đầu tư và chăm sóc
Thừa Thiên Huế mặc dù không có được khí hậu mát mẻ nhưng với đường bờbiển kéo dài chính là tài nguyên quý giá để phát triển dịch vụ du lịch, kinh tế biển vàkinh tế đầm phá
1.2.3 Tình hình nuôi tôm của huyện Phú Vang
Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế là huyện trọng điểm của vùng đầm pháven biển Thừa Thiên Huế, có tiềm năng lớn về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, vớichiều dài 40 km bờ biển và diện tích đầm phá nước lợ đến 7.400 ha Là một trongnhững huyện có nghề nuôi trồng thuỷ sản sớm nhất của tỉnh, từ những năm 1988,người dân ở Phú Tân, Phú Xuân lợi dụng diện tích mặt nước tự nhiên của đầm phá đãvây mùng, chắn sáo, trồng rong câu, nuôi cua vỗ đến đầu những năm 1990, sau khitrung tâm nuôi tôm công nghiệp Phú Xuân (sau đó là Công ty xuất khẩu thuỷ sản ThừaThiên Huế) và khu nuôi tôm liên doanh LOBANA được hình thành, phong trào nuôitôm sú bắt đầu phát triển, đặc biệt từ 1997 trở lại đây Hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản làhướng chính trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của hầu hết các xã vùngđầm phá của huyện Phú Vang
Nếu năm 1997 diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn huyện là 560 ha, chủ yếu lànuôi chắn sáo, thì năm 2002 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện đạt 1.367,7 ha vànăm 2004 đạt 1.838,1 ha, nâng sản lượng tôm nuôi từ 727 tấn năm 2002 lên 1.830,5tấn năm 2004, đã góp phần quan trọng trong việc xoá thế độc canh cây lúa, khai thác
và sử dụng có hiệu quả vốn, đất đai, đặc biệt đất mặt nước, tăng khối lượng sản phẩmcho tiêu dùng và xuất khẩu; tạo việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo Tuynhiên, do nuôi tôm ở đây phần lớn mang tính tự phát, các hộ nuôi còn lúng túng trongviệc tổ chức sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật kém nên năng suất nuôitôm vẫn còn thấp, bệnh dịch thường xuyên xảy ra
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM Ở XÃ PHÚ AN 2.1 Đặc điểm, tình hình NTTS của địa bàn nghiên cứu: