luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta, trồng lúa là một nghềtruyền thống của nhân dân Việt Nam Từ rất xa xưa, khi người Việt cổ xưa bắt đầucông việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên Kinh nghiệm sản xuất lúa
đã hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc
ta Nghề trồng lúa nước là một nghề vừa mang tính chất văn minh vừa chứa đựng cảmột quá trình nghiên cứu tích lũy khoa học lâu dài mang tính chất kế thừa và hiện đạiqua quá trình lao động cần cù sáng tạo của người Việt Nam Những tiến bộ của KHKTtrong nước và thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽngành trồng lúa nước ta vươn lên bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới
Trong những năm vừa qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu to lớn, từ một nước thiếu lương thực, hiện nay không chỉ cung cấp đủ nhucầu lương thực trong nước mà đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thứ hai trênthế giới sau Thái Lan
Từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành một nhà cung cấp gạo quan trọng trên thịtrường gạo thế giới Giai đoạn 1989 - 2008, Việt Nam xuất khẩu bình quân hàng nămtrên 3 triệu tấn gạo sang 128 quốc gia, đạt mức đỉnh 5,2 triệu tấn vào năm 2005 Năm
1989, kim nghạch xuất khẩu trên 300 triệu USD, sau 10 năm phá mốc 1 tỷ USD và đạt
kỷ lục 2,9 tỷ USD vào năm 2008 Ngành hàng lúa gạo không chỉ tạo nền tảng an ninhlương thực vững chắc để Việt Nam yên tâm đẩy nhanh công nghiệp hóa mà còn trựctiếp đóng góp vào tiến trình này thông qua một lượng thặng dư ngoại tệ cho đất nướcnhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại hóa cho ngành công nghiệp
Định Bình là một xã đồng bằng nằm ở cuối huyện Yên Định, nền nông nghiệpnơi đây đã có từ lâu đời, cây trồng được sử dụng chủ yếu là cây lúa Trong những nămgần đây, người dân chú trọng vào đầu tư sản xuất làm cho năng suất và chất lượng lúangày càng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều giống cũ năng suất chất lượngchưa cao, khả năng áp dụng tiến bộ KHKT còn nhiều hạn chế làm cho hiệu quả kinh tế
Trang 2chưa tương xứng với tiềm năng Xuất phát từ những lí do đó tôi đã chọn đề tài “Hiệu quả kinh tế canh tác cây lúa tại xã Định Bình, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”
làm khóa luận tốt nghiệp cho mình
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
- Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất, hiệu quả sản xuất lúa của các hộ nông dântrồng lúa trên địa bàn xã Định Bình - Yên Định - Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế canh tác cây lúa trên địabàn nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng: Phương pháp này nhằm xây dựng tiền đề lý luậncủa đề tài, để xem xét các sự vật và hiện tượng, sự vận động và biến đổi của nó trongmối quan hệ phổ biến và liên hệ chặt chẽ với nhau Từ cách nhìn nhận, xem xét vấn đề
để tìm ra bản chất của vấn đề
- Phương pháp điều tra, thu thập, xử lý số liệu
+ Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên có phân loại
Tổng số mẫu điều tra là 90 tương ứng với 90 nông hộ trồng lúa trên địa bàn xã, đượcphân loại thành 3 nhóm hộ: khá, trung bình, nghèo và được lấy theo tỷ lệ tình hình đờisống thực tế của người dân trong xã
+ Thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: được lấy từ 90 phiếu điều tra nông hộ trồng lúa - kết quả của quátrình điều tra hộ tại địa bàn xã
Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo kinh tế - xã hội, các tài liệu thống
kê của UBND xã Định Bình, niên giám thống kê huyện Yên Định, các sách, báo, tàiliệu từ các website
+ Xử lý số liệu: số liệu được tính toán trên phần mềm Excel
- Phương pháp phân tổ thống kê: căn cứ vào các tiêu thức khác nhau của các hộ điềutra để phân thành các tổ có tính chất khác nhau
Trang 3- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: để thực hiện đề tài này tôi đã trao đổi, lấy ýkiến của các cán bộ xã, những người dân trồng lúa, qua đó để hiểu rõ thực trạng củađịa phương và có được số liệu chính xác, đầy đủ hơn.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: tài liệu được tổng hợp trên cơ sở các số liệu đãđược thống kê theo các tiêu thức khác nhau, sau đó được vận dụng các phương pháp
số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, phương pháp so sánh để thấy được sự khácbiệt giữa các nhóm hộ và giữa các mùa vụ
- Phương pháp hồi quy: dùng công cụ kinh tế lượng, sử dụng phương pháp OLS(bình phương bé nhất) trên phần mềm Eviews 4.0 để phân tích mối quan hệ giữa cácyếu tố đầu vào (giống, phân bón, lao động ) và đầu ra (năng suất)
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các nông hộ trồng lúa tại địa bàn xã Định Bình
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về hiệu quả sản xuất lúa năm 2009
- Phạm vi nội dung: Hiệu quả kinh tế canh tác cây lúa tại địa bàn xã Định Bình
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm hiệu quả và hệu quả kinh tế
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện và cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongnhững điều kiện nhất định Kết quả mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu tronghoạt động của mình càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu.Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hànhđộng Hiệu quả được biểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau, vì vậy hình thành nhiều kháiniệm khác nhau: hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị - xã hội, hiệuquả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối,
Hiệu quả kinh tế được hiểu bằng nhiều khái niệm khác nhau Theo TS NguyễnTiến Mạnh thì “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù hiệu quả khách quan phản ánh trình
độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định” GS - TS Ngô Đình Giaocho rằng “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước” Theo Farrell(1957) thì “Hiệu quả kinh tế là phạm trù mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kĩ thuật
và hiệu quả phân bổ”
Hiệu quả kĩ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phíđầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kĩ thuậthay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kĩ thuật phản ánh trình độ chuyênmôn, tay nghề và kinh nghiệm trong việc sử dụng các đầu vào để sản xuất nó, phụthuộc nhiều vào bản chất kĩ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp
Hiệu quả phân bổ (hay hiệu quả về giá) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tốgiá sản phẩm và giá đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trênmột đồng chi phí về đầu vào hay nguồn lực Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng phối
Trang 5hợp các đầu vào một cách hợp lí để tối thiểu hóa chi phí với một lượng đầu ra nhấtđịnh nhằm đạt được lợi nhuận tối đa.
Hiệu quả kinh tế là sản xuất vừa đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ,điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét cácnguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Muốn nâng cao được hiệu quả kinh tế phảiđồng thời nâng cao được hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ
Nhìn chung, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung củaphát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chiphí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng vàphát triển kinh tế nói riêng và kinh tế xã hội nói chung Nhằm tận dụng và tiết kiệmcác nguồn lực hiện có đồng thời thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanhvào công nghiệp hóa, phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho người lao động
Hiệu quả kinh tế được xác định dựa trên kết quả thu được và chi phí bỏ ra Đểxác định hiệu quả kinh tế dựa vào các phương pháp sau:
* Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách lấy kết quả thu được chia cho chi phí
bỏ ra (dạng thuận) hoặc ngược lại (dạng nghịch) Ta có công thức:
Trang 6Trong đó: h, h’: Hiệu quả cận biên.
∆Q: Lượng tăng giảm của kết quả
∆C: Lượng tăng giảm của chi phí
1.1.2 Đặc điểm chung về cây lúa
Cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa L) là cây lương thực lâu đời nhất Diệntích gieo trồng của lúa đứng thứ hai sau lúa mì, tổng sản lượng lúa đứng thứ ba sau lúa
mì và ngô Lúa được trồng ở khắp các lục địa trừ Antarctica Sản phẩm thu được từcây lúa là thóc Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo Lúa gạo
là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 2 phần 3 dân số trên thế giới, điều này làmcho nó trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ và ưa chuộng nhiều nhất
Theo kết quả của các nhà khảo cổ học, nguồn gốc của cây lúa là vùng ÐôngNam Á và Ðông Dương, những nơi mà có nhiều di tích của cây lúa phát triển khoảng10,000 năm trước Tây lịch Sau đó nghề trồng lúa được phát triển vào các nước ÁChâu như ngày nay Lúa hiện tại được chia 2 loại: Japonica và Indica và có những đặcđiểm khác biệt Lúa Japonica sinh trưởng ở điều kiện khí hậu ôn hòa có hạt tròn khó bịgãy hoặc vỡ, khi nấu chín, loại gạo này thường dính và dẻo Lúa sản xuất ở Nhật Bảnhầu hết là Japonica Lúa Indica thì thường sinh trưởng và phát triển ở vùng khí hậunóng ẩm, có hạt gạo thường dài và dễ bị vỡ, khi nấu thông thường không bị kết dính.Tất cả các loại gạo có nguồn gốc từ Nam Á, bao gồm Ấn Ðộ, Thái, Việt Nam và NamTrung Quốc là lúa Indica
1.1.2.2 Đặc điểm kĩ thuật của cây lúa
Nắm được quy luật thay đổi thời gian sinh trưởng của cây lúa là cơ sở chủ yếu đểxác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác
Trang 7nhau Trong toàn bộ đời sống cây lúa có thể chia ra hai thời kì sinh trưởng sinh dưỡng
và sinh trưởng sinh thực
- Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: tính từ lúc gieo cho đến lúc làm đòng Là thời
kỳ sinh trưởng để hình thành các cơ quan sinh dưỡng như thân, lá, rễ Thời kỳ này cóảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông Thời kỳ này biến động rất lớn giữacác nhóm giống và có thể chia thành các thời kỳ nhỏ như: thời kỳ nảy mầm, thời kỳgieo đến 3- 4 lá, thời kỳ lúa đẻ nhánh
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: được tính từ lúc làm đòng đến lúc thu hoạch Đây
là thời kỳ sinh trưởng để hình thành các cơ quan sinh sản như bông, hạt Thời kỳ nàythường kéo dài 55 - 65 ngày và có thể chia ra các thời kỳ nhỏ: thời kỳ làm đòng; thời
kỳ trổ bông phơi màu, chín sữa; thời kỳ lúa chín sáp đến chín hoàn toàn
Hiểu được quy luật sinh trưởng, phát triển của cây lúa giúp cho người nông dânchủ động áp dụng các biện pháp kĩ thuật theo hướng có lợi cho quá trình sinh trưởng
và phát triển nhằm đạt được năng suất cao
1.1.2.3 Vai trò, giá trị dinh dưỡng của cây lúa
* Giá trị dinh dưỡng
Hạt gạo không chỉ nuôi sống con người bao đời nay nhưng cũng là sản phẩm dinhdưỡng có giá trị Ðầu tiên phải nói tới gạo lức là loại gạo còn giữ lại một phần vỏ cámbên ngoài hạt gạo trong quá trình chế biến Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thườngnhấn mạnh đến nhóm hạt nguyên chất (whole grains), như gạo lức, là thành phần chủyếu trong chế độ dinh dưỡng Gạo lức cung cấp nhiều thành phần carbohydrate,vitamin nhóm B, chất xơ, chất dầu, sắt, kali, kẽm, các yếu tố vi lượng và chất khoáng,được tìm thấy nhiều ở phần bọc ngoài của hạt gạo lức Chính vì vậy, gạo lức là mộtloại thực phẩm nhiều dinh dưỡng khi so sánh với gạo trắng Các nghiên cứu cho thấynhững thành phần có trong gạo lức giúp cho phòng ngừa những bệnh trong hệ tiêu hóa
và tim mạch Ðể giảm cân có hệ tiêu hóa hoạt động và giảm cholesterol trong máunhiều người đã chọn gạo lức thay cho gạo trắng
Các khoa học gia Nhật Bản còn phát hiện gạo lức khi ngâm trong nước trước khinấu sẽ chứa rất nhiều chất bổ dưỡng hơn, do gạo lức ở trạng thái nẩy mầm dẫn tớinhững enzyme (thành phần quan trọng trong các tiến trình trao đổi chất) trong hạt gạo
Trang 8trở nên hoạt động kết quả tạo ra nhiều các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng hơn Nghiêncứu cũng cho thấy: gạo lức đã ngâm nước chứa gấp ba lần chất lysine, một loại aminoacid cần thiết cho sự tăng trưởng và bảo trì các mô tế bào cơ thể con người, và chứamười lần nhiều hơn chất gamma-aminobutyric acid, một chất acid tốt bảo vệ bộ phậnthận Các khoa học gia còn tìm thấy trong mầm gạo lức có chứa một loại enzyme, có tácdụng ngăn chặn prolylendopeptidase và điều hòa các hoạt động ở trung ương não bộ.Một số loại gạo lức từ nguồn gốc từ loại gạo có hàm lượng cao protein, mới đâycác khoa học gia Ấn Ðộ và Hoa Kỳ đã tạo ra giống lúa lai có hàm lượng protein lên tới12,4% trong khi các giống lúa trồng chỉ có hàm lượng protein trung bình là 9,5%.
* Giá trị kinh tế
Với những đặc điểm về giá trị dinh dưỡng như đã nêu trên, sản phẩm của cây lúa
có những vai trò, vị trí rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Điều đó được thểhiện rõ ở những mặt sau:
- Lúa dùng làm lương thực chủ yếu: khoảng 40% dân số Thế giới coi lúa gạo là thựcphẩm chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần thức ăn hàng ngày
- Lúa gạo được dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trong nhiềulĩnh vực khác nhau như:
+ Gạo được dùng làm nguyên liệu sản xuất bia rượu và một số loại dược liệu.+ Tấm: sản xuất tinh bột, rượu cồn, vôtka, phấn mịn và thuốc chữa bệnh
+ Cám: dùng để sản xuất thức ăn cho gia súc, ép lấy dầu, khô dầu dùng làmnguyên liệu chế sinh tố B1, làm phân bón và thức ăn gia súc,
+ Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, sản xuất vật liệu lót hàng, dùng
để độn chuồng, làm phân bón có SiO2 cao, dùng làm chất đốt
+ Rơm rạ: thành phần chủ yếu là xenlulozo có thể sản xuất thành giấy, đồ giadụng (mũ, giầy dép), ngoài ra rơm còn được sử dụng để độn chuồng, làm chất đốt
- Gạo là hàng hóa: Theo Tổ Chức Nông Nghiệp và Thực Phẩm (Food andAgriculture Organisation), hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làmhàng hóa trao đổi trên toàn thế giới
Trang 91.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa
Với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, sản xuất lúa nói riêng chịu ảnh hưởngcủa nhiều nhân tố đến hiệu quả sản xuất Chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng đến hoạt động sản xuất lúa để có thể biết được những tác động trực tiếp haygián tiếp của các nhân tố đó đến hiệu quả kinh tế cây lúa, để phát huy những tác độngtích cực và hạn chế những tác động tiêu cực
độ từ 25 - 32 0C
- Ánh sáng: ảnh hưởng đến cây lúa ở cả hai mặt cường độ ánh sáng và thời gianchiếu sáng Cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp, số giờ chiếu sáng trongngày ảnh hưởng đến sự ra hoa, kết hạt của lúa sớm hay muộn
- Lượng mưa: lúa yêu cầu nước nhiều hơn các loại cây trồng khác Một tháng cây lúacần khoảng 200 mm3 nước, giai đoạn đẻ nhánh là giai đoạn cần nhiều nước nhất
- Đất đai: là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, nó vừa là tư liệu laođộng vừa là đối tượng lao động Độ phì nhiêu của đất có ảnh hưởng rất lớn đến việcsinh trưởng và phát triển của cây trồng Đất tốt thì năng suất cây trồng cao hơn Trongquá trình sản xuất người nông dân nên chú ý đến chế độ canh tác cho phù hợp vớivùng đất để cho cây sinh trưởng và phát triển tốt
- Giống: là nhân tố rất quan trọng trong việc ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng câytrồng Giống tốt sẽ góp phần làm tăng năng suất, chất lượng nâng cao hiệu quả kinh tế.Nếu giống cũ, thoái hóa, phẩm chất kém sẽ ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượngcây trồng Giống có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt với câylúa Ngày nay người nông dân không chỉ chọn các giống có năng suất cao mà bên cạnh
Trang 10đó phải có chất lượng tốt để người nông dân ít phải lo lắng trước biến động của giá cảthị trường, để lúa gạo Việt Nam có thể cạnh tranh với các nước trên thế giới.
- Phân bón: cha ông ta có câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Phân bón làthành phần quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây lúa, là nhân tố cóảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Năng suất có cao haykhông cũng phụ thuộc nhiều vào lượng phân bón Nhưng phải bón như thế nào chohợp lí? Nếu bón ít cây lúa sẽ không đủ dinh dưỡng, khả năng đẻ nhánh thấp, khó làmđòng, trổ bông dẫn đến năng suất thấp Nhưng nếu bón quá nhiều thì sẽ làm cho câyphát triển không bình thường, dễ bị sâu bệnh Ví dụ như: nếu cây thiếu đạm thì còicọc, lá vàng, nhánh ít, cây thừa đạm thì có hiện tượng cây to, non, mềm Hay lân làthành phần cấu tạo tế bào, giữ vai trò cung cấp năng lượng, có tác dụng sinh lí vớinhiều hoạt động của cây: quang hợp, hô hấp, trao đổi và hình thành các chất trong câynên nếu đủ đạm mà thiếu lân thì cây vẫn rối loạn sự hút đạm Vì vậy, đòi hỏi ngườidân không đơn thuần chỉ là bón phân mà phải bón một cách hợp lí, khoa học theonguyên tắc “bón tập trung, bón nặng đầu nhẹ cuối” phù hợp theo từng giai đoạn pháttriển của cây lúa
- Thuốc bảo vệ thực vật: là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ trong sản xuất nôngnghiệp Thuốc BVTV giúp loại trừ được các loại cỏ dại, sâu bệnh hại lúa, kích thíchcây trồng phát triển góp phần tăng năng suất cây trồng
Nhưng để đảm bảo chất lượng cây lúa, không nên lợi dụng quá nhiều thuốc BVTV.Dùng thuốc BVTV phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc (thuốc có hiệu quảcao với dịch hại cần trừ, ít ảnh hưởng đến con người, môi trường và thiên địch); đúnglúc (khi sâu bệnh mới phát sinh); đúng liều lượng và nồng độ (theo chỉ dẫn trên nhãnthuốc); đúng cách (pha, trộn và phun đều, chú ý phun những chỗ sâu bệnh tập trungnhiều)
1.1.3.3 Điều kiện kinh tế xã hội
- Lao động: là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất Lao động chính làhoạt động có mục đích của con người thông qua các công cụ lao động tác động nên đốitượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu bảnthân và xã hội Không có lao động thì quá trình sản xuất không được tiến hành, không
Trang 11đầu tư đủ mức lao động thích hợp làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng sản phẩm.Ngày nay lao động không chỉ yêu cầu đủ về số lượng mà cần đảm bảo cả yêu cầu vềchất lượng, lao động đòi hỏi phải có một trình độ nhất định, người dân được học tập,bồi dưỡng để mạnh dạn đầu tư, áp dụng tiến bộ KHKT vào quá trình sản xuất nhằmnâng cao năng suất, chất lượng làm cho hiệu quả kinh tế tăng cao.
- Thị trường: trong sản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sảnxuất và người tiêu dùng Để sản xuất mang lại hiệu quả cao, người dân cần nắm đượcnhu cầu của thị trường, đưa ra các quyết định cho phù hợp với nhu cầu của người tiêudùng, nếu không sẽ không được thị trường chấp nhận dẫn đến hiệu quả mang lại khôngcao
- Chính sách Nhà nước: đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sảnxuất của người dân qua các chính sách về thuế, đất đai, khuyến nông, tín dụng Cácchương trình hỗ trợ sản xuất, các chính sách khuyến khích người nông dân, sự chỉ đạokịp thời, đúng đắn của các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương đều có tácđộng tích cực đến quá trình sản xuất của người dân
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất lúa
1.1.4.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả
Kết quả là thành quả của quá trình sản xuất và đem so sánh kết quả đó với chiphí bỏ ra đến chỉ tiêu hiệu quả Nhóm chỉ tiêu phản ảnh kết quả sản xuất gồm:
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ hữu ích trực tiếp do laođộng sáng tạo ra trong một thời kì nhất định thường là một năm
Trang 12- Giá trị gia tăng (VA): là kết quả thu được sau khi đã trừ đi chi phí trung gian củamột hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó.
VA = GO – IC
1.1.4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
- Năng suất cây trồng: là sản lượng cây trồng đạt được trên một đơn vị diện tích saumột vụ sản xuất đối với cây hằng năm hay sau một năm đối với cây lâu năm đến tuổithu hoạch
- Hiệu suất GO/IC: chỉ tiêu này cho biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian đầu
tư vào quá trình sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
- Hiệu suất VA/IC: chỉ tiêu này cho biết cứ bỏ ra một đồng chi phí trung gian đầu tưvào quá trình sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng cho năng suất cao, hiện nay trên thế giới
có khoảng 180 quốc gia Vùng trồng lúa tương đối rộng lớn nhưng tập trung chủ yếu ởcác nước Châu Á Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất thếgiới
Theo thống kê của Cơ Quan Thực Phẩm Liên Hiệp Quốc, trên thế giới có khoảng147,5 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, và 90% diện tích này là thuộc các nước ÁChâu Các nước Á Châu cũng sản xuất khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo trên thếgiới Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 tới hơn
600 triệu tấn vào năm 2007 Ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc(31% sản lượng thế giới), Ấn Ðộ (20%) và Indonesia (9%) Ba nhà xuất khẩu gạo hàngđầu thế giới là Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ(11%), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14%), Bangladesh (4%)
và Brasil (3%) Theo Tổ Chức Nông Nghiệp và Thực Phẩm (Food and AgricultureOrganisation), hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làm hàng hóa traođổi trên toàn thế giới
Sản lượng lúa trên thế giới năm 2008 là 661,811 triệu tấn, có 114 quốc gia trồnglúa, châu Á chiếm 90%, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ Theo dự báo của Ban
Trang 13Nghiên cứu Kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 - 2017, các nướcsản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồmThái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam
sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Một số nước khác cũng sẽđóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara ChâuPhi, Bangladesh, Philippines, Brazil
Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu gạo của một số quốc gia trên thế giới năm
2008 được thể hiện qua bảng 1
Bảng 1: Các quốc gia đứng đầu trong sản xuất, xuất nhập khẩu gạo (năm 2008) Quốc gia Sản lượng
(nghìn tấn) Quốc gia
Xuất khẩu (nghìn tấn) Quốc gia
Nhập khẩu (nghìn tấn)
Trung Quốc 193000 Thái Lan 9000 Philippines 1800
(Nguồn: www.google.com.vn)
Năm 1960, năng suất lúa bình quân trên thế giới là 1,04 tấn/ha Ứng dụng kỹthuật vào sản suất nông nghiệp, năng suất lúa luôn được cải thiện, đến 2008, năng suấtlúa thế giới bình quân đạt 4,25 tấn/ha Năm 2008, nước sản xuất lúa đạt năng suất caonhất là Uruguay 8,01 tấn/ha, tiếp đến là Mỹ: 7,68 tấn/ha và Peru: 7,36 tấn/ha Trongkhi đó nước có sản lượng cao nhất là Trung Quốc, năng suất chỉ đạt 6,61 tấn/ha Ứngdụng KHKT, sử dụng các loại giống mới để năng suất ngày càng được nâng cao, sảnlượng đủ đáp ứng nhu cầu lương thực trên thế giới là việc làm hết sức cần thiết đối vớinền nông nghiệp của mỗi quốc gia
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa Việt Nam
Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệpnói chung và sản xuất lúa nói riêng Sản xuất lúa gạo ở nước ta có vị trí đặc biệt quan
Trang 14trọng trong Chiến lược bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, giữ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội Những năm qua, Đảng,Nhà nước quan tâm và tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nóichung, sản xuất lúa gạo nói riêng, nhất là về xây dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu ứngdụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến,…đã đưangành sản xuất lúa gạo nước ta phát triển vượt bậc Từ chỗ thiếu lương thực, nước ta
đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và đã khẳng định vị thế của mình trêntrường quốc tế với tư cách quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 thế giới trongnhiều năm qua Tình hình sản xuất lúa gạo Việt Nam trong những năm qua đuợc thểhiện qua bảng sau
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa nước ta qua 3 năm 2007 - 2009
Diện tích (nghìn ha) 7207,40 7414,30 7429,40 206,90 2,87 15,10 0,20Năng suất (tấn/ha) 4,99 5,22 5,26 0,23 4,61 0,04 0,70Sản lượng (nghìn tấn) 35942,70 38725,10 3904,10 2782,40 7,740 316,10 0,82
Về năng suất: năng suất lúa cả nước tăng dần qua các năm từ 4,99 tấn/ha năm
2007 lên 5,22 tấn/ha năm 2008, tăng 0,23 tấn/ha (tương ứng tăng 4,61%) so với năm
2007 Đến năm 2009, năng suất đạt 5,26 tấn/ha tăng 0,04 tấn/ha (tương ứng tăng0,77%) so với năm 2008 Cùng với việc áp dụng các tiến bộ KHKT, ngày càng cónhiều giống mới cho năng suất, chất lượng cao được đưa vào quá trình sản xuất, khâu
kĩ thuật cũng được chú trọng hơn đưa năng suất lúa tăng dần qua từng năm
Về sản lượng: cùng với sự tăng lên cả về diện tích và năng suất, sản lượng lúanăm 2009 là 39041,1 nghìn tấn tăng 316,1 nghìn tấn (tương ứng tăng 0,82%) so vớinăm 2008; tăng 3098,4 nghìn tấn (tương ứng tăng 8,62%) so với năm 2007
Trang 151.2.3 Tình hình sản xuất lúa tại Thanh Hóa
Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phíaNam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, HoàBình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nướcCộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ Thanh Hoá nằm trongvùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh BắcLào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung
Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, cácquốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuậntiện cho lưu thông Bắc Nam, các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Hiện tại, tỉnh có sânbay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khukinh tế Nghi Sơn và khách du lịch Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha,trong đó đất trồng lúa là 242.300 ha
Hiện nay, Thanh Hoá đã đưa cơ cấu lúa lai vào gieo cấy với tỷ lệ từ 58 - 60% ở
vụ Xuân và 35 - 40% ở vụ Mùa, tương đương với diện tích 110.000 - 120.000 ha mỗinăm, đã làm tăng đáng kể năng suất lúa bình quân chung cả tỉnh, góp phần đưa tổngsản lượng lúa từ 1,225 triệu tấn năm 2000 lên 1,45 triệu tấn năm 2009 Đối với sảnxuất hạt giống lúa lai F1, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng với mức hỗtrợ 14 triệu đồng/ha, hỗ trợ sản xuất 8 triệu đồng/ha; đến năm 2009, diện tích sản xuấtlúa lai F1 của cả tỉnh đạt gần 500 ha, ước sản lượng 1.000 tấn, là tỉnh đi đầu về sảnxuất lúa lai F1 của cả nước Năng suất sản lượng lúa của tỉnh không ngừng tăng dầnqua từng năm Diện tích, năng suất sản lượng lúa Thanh Hóa từ năm 2007 - 2009 đượcthể hiện qua bảng 3
Trang 16Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa Thanh Hóa qua 3 năm 2007 - 2009
Năm
Chỉ tiêu
So sánh 2008/2007 2009/2008
Diện tích (nghìn ha) 254,4 254,4 242,30 - - -12,10 - 4,76Năng suất (tạ/ha) 52,7 55,2 59,85 2,5 4,74 4,65 8,42Sản lượng (nghìn tấn) 1340,1 1404,3 1450,20 64,2 4,79 45,90 3,27
(Nguồn: www.gso.gov.vn)
Qua bảng số liệu ta thấy, diện tích gieo trồng qua 2 năm 2007, 2008 không có sựbiến động, diện tích không đổi là 254,4 nghìn ha Năm 2009, diện tích giảm 12,1 nghìn
ha so với năm 2008 xuống còn 242,3 nghìn ha
Năng suất lúa qua các năm tăng dần từ 52,7 tạ/ha năm 2007 lên 55,2 tạ/ha năm
2008 (tăng 2,5 tạ/ha tương đương 4,74% so với năm 2007), năm 2009 năng suất tănglên 59,85 tạ/ha (tăng 4,65 tạ/ha tương đương 8,42% so với năm 2008) Năng suất tănglên làm cho sản lượng lúa tăng từ 1340,1 nghìn tấn (năm 2007) lên 1404,3 nghìn tấn(năm 2008) và đạt 1450,2 nghìn tấn (năm 2009) Tuy năm 2009 diện tích gieo trồnggiảm nhưng năng suất tăng cao làm cho sản lượng lúa toàn tỉnh năm 2009 tăng, nhờ ápdụng tiến bộ KHKT, sử dụng các giống lúa đạt năng suất cao
1.2.4 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Yên Định
Yên Định là một huyện bán sơn địa nằm dọc theo sông Mã, cách thành phốThanh Hoá 28 km về phía tây bắc, phía bắc và phía tây giáp huyện Cẩm Thuỷ vàhuyện Vĩnh Lộc, phía đông giáp huyện Vĩnh Lộc (lấy sông Mã làm ranh giới), phía tây
và tây nam giáp huyện Thọ Xuân, phía nam giáp huyện Thiệu Hoá Do địa hình nằmdọc theo sông Mã nên tài nguyên đất đai của Yên Ðịnh phần lớn là đất phù sa phân bốtập trung Diện tích tự nhiên 21.024,12ha, trong đó đất nông nghiệp là 12.608,94 ha,chiếm 58,50%, đất lâm nghiệp 836,77ha, chiếm 4,17%, đất chuyên dùng 2.994,99 ha,chiếm 16,45%, đất ở 853,30 ha, chiếm 4,05% và đất chưa sử dụng 3.730,12 ha, chiếm16,83% Trong đó chủ yếu là đất phù sa phân bố tập trung, thuận lợi cho việc đầu tư hạtầng cơ sở, áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh tăng vụ, tăng năngsuất cây trồng, tạo vùng chuyên canh cây lương thực phát triển theo hướng sản xuấthàng hoá và vùng nguyên liệu cho phát triển công nghiệp Ngoài ra, Yên Ðịnh cònnằm trên trục đường quốc lộ 45, các tuyến tỉnh lộ nối với các trọng điểm kinh tế lớn
Trang 17của tỉnh như: Khu công nghiệp Lam Sơn, Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thạch Thành,thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn Các tuyến đường này thực sự là cầu nối quantrọng thúc đẩy kinh tế huyện phát triển toàn diện Ðồng thời, Yên Ðịnh còn có lựclượng lao động hùng mạnh, với khoảng 82,2 nghìn lao động, trong đó số lao động đãqua đào tạo chiếm 1,7% tổng số lao động của huyện
Yên Định là một huyện có diện tích gieo trồng lúa lớn trong tỉnh, hiện đang làmột trong những huyện đi đầu của tỉnh về diện tích lúa lai, quy hoạch vùng lúa năngsuất, chất lượng, hiệu quả cao Đặc biệt vụ Mùa năm 2009 thực hiện chủ trương củaĐảng về xây dựng vùng lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao huyện đã thành công
2800 ha lúa với các loại giống TH3 - 3, TH3 - 4, năng suất đạt tới 67,5 tạ/ha, vụ mùađạt năng suất cao nhất từ trước tới nay Bảng dưới thể hiện tình hình sản xuất lúa củahuyện Yên Định qua 3 năm 2007 - 2009
Bảng 4: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa Yên Định từ năm 2007 - 2009
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Định)
Qua bảng số liệu ta thấy diện tích lúa của huyện biến động tăng qua 3 năm Cụthể, năm 2007 diện tích lúa là 19258,82 ha; năm 2008 diện tích là 19427,51 ha (tăng168,69 ha tương đương 0,88% so với năm 2007); năm 2009 diện tích tăng lên 19599
ha (tăng 171,49 ha tương đương 0,88% so với năm 2008)
Năng suất lúa ngày một cải thiện, năm 2007 năng suất đạt 63,00 tạ/ha với sảnlượng 121370 tấn Đến năm 2008 năng suất đạt tới 65 tạ/ha (tăng 2 tạ/ha tương đương3,17% so với năm 2007) làm sản lượng đạt 126282 tấn (tăng 4912 tấn so với năm2007) Năm 2009 năng suất lúa tăng lên 66,10 tạ/ha đưa sản lượng lúa lên tới129549,39 tấn (tăng 3267,39 tấn tương đương 2,59% so với năm 2008) Nhờ việc sửdụng các giống lúa mới, thực hiện chủ trương quy hoạch vùng lúa năng suất, chấtlượng, hiệu quả cao đã góp phần làm tăng năng suất sản lượng lúa của huyện
CHƯƠNG II HIỆU QUẢ CANH TÁC CÂY LÚA TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Trang 182.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Định Bình là một xã đồng bằng nằm cuối huyện Yên Định, có tuyến đườngquốc lộ 45 chạy xuyên suốt từ đầu xã, có trục đường liên hướng từ Định Bình đi ĐịnhCông Toàn xã có hai tụ điểm kinh tế đó là khu vực cây xăng và chợ Si, có ba cơ quanNhà nước đóng trên địa bàn xã Xã Định Bình được chia cắt bởi con sông Câu Chàytạo thành hai khu vực đó là phía bắc và phía nam, hàng năm được bù đắp một lượngphù sa khá lớn rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp của xã
Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 726,61 ha, trong đó diện tích đất nôngnghiệp là 500,69 ha chiếm 60,8% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, bình quân đấtnông nghiệp trên đầu người là 600 m2
2.1.1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu
Định Bình là một xã nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh vàmùa hè nóng Điều kiện địa lý, khí hậu, đất đai ở đây thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp chủ yếu là trồng cây lúa nước Tình hình cơ bản về thời tiết, khí hậu tại địaphương được thể hiện qua bảng sau
Bảng 5: Một số chỉ tiêu thời tiết, khí hậu địa phương
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn huyện Yên Định)
Tại địa phương, vào tháng 1, 2, 3 nhiệt độ thường xuống thấp, trời rét, nhiệt độ
có năm xuống tới 80C Mưa ít diễn ra và lượng mưa thường thấp từ 19 - 28 mm/tháng.Vào mùa này, lượng bốc hơi nước thấp, số giờ chiếu sáng trong ngày ngắn, như tháng
1 bình quân chỉ có 75 giờ chiếu sáng, nhưng độ ẩm không khí cao, trung bình là 80%nên thuận lợi cho các loài sâu bệnh phát sinh, phát triển gây hại nên ảnh hưởng tới khảnăng mọc mầm và phát triển của cây trồng Ngoài ra, về mùa này còn xuất hiện một số
Trang 19đợt rét đậm, rét hại, sương muối, dịch các loại sâu bệnh diễn ra phức tạp trên cây trồng
và vật nuôi
Vào khoảng tháng 5 - 9 lại là những tháng có nhiệt độ tương đối cao, có thángtới 39,500C; số giờ chiếu sáng trong ngày cũng dài hơn, cao nhất là 13 giờ/ngày, điểnhình như tháng 7 bình quân 165 giờ/tháng Lượng mưa phân bố không đều trong cáctháng Tháng 8, tháng 9 có mưa nhiều và thường diễn ra lũ lụt, còn tháng 5, tháng 6 lại
có lượng mưa nhỏ nên thường sinh ra thiếu nước Đặc biệt mùa này có gió phơn tâynam khô nóng nên làm cho nhiệt độ không khí thấp 65 - 70% do đó làm tăng khả năngbốc hơi nước, cao nhất là 105,4 mm/tháng
Với kiểu khí hậu như thế này không thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, pháttriển, nhưng do vùng có hệ thống tưới tiêu cơ bản là chủ động nên hạn chế được táchại xấu của thời tiết đối với cây trồng Hiểu rõ được thời tiết khí hậu của vùng đểngười dân có thể nắm được quy luật thời tiết khí hậu, để hạn chế những tác động tiêucực đến cây trồng
2 1.1.3 Điều kiện thủy văn
Nguồn nước có tác động rất lớn đến cây trồng, giữa nguồn nước và cây trồng cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu nguồn nước thuận lợi và thích hợp thì cây trồng sẽphát triển tốt hơn và ngược lại, bởi vì cây trồng là một thực thể sống có quy luật sinhtrưởng và phát triển riêng của nó, đặc biệt là cây lúa nước, nước là yếu tố không thểthiếu cho cây lúa sinh trưởng và phát triển
Trên địa bàn xã có con sông Cầu Chày chạy qua chia thành 2 khu vực phía bắc
và phía nam xã, hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn thuận lợi cho việc pháttriển nông nghiệp và cũng là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp.Trong xã có 7 trạm bơm điện chủ động cung ứng nước tưới cho toàn bộ diện tích gieotrồng lúa, hơn nữa hệ thống kênh mương phân bố đều trên đồng ruộng ở tất cả cácthôn, phần lớn đã được bê tông hóa rất thuận tiện trong công tác tưới tiêu
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Định Bình là một xã đông dân, theo số liệu thống kê năm 2009 xã có số dân là
6493 nhân khẩu trong 1624 hộ, trong đó số lao động chiếm 55,05% phân bố trên địa
Trang 20bàn 11 thôn Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 14,45% GDP bìnhquân đầu người là 11.970.000 đồng/năm Tổng sản lượng lương thực có hạt là 5.850tấn/năm, bình quân lương thực đầu người đạt 930 kg/người/năm.
2.1.2.1 Kinh tế
- Nông nghiệp: Trong những năm qua nông nghiệp của xã tăng khá toàn diện cả vềtrồng trọt và chăn nuôi, cơ cấu mùa vụ chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ giới hóa
và tiến bộ KHKT được ứng dụng vào sản xuất, đáng chú ý nhất là sản xuất lương thực
Về trồng trọt, tổng diện tích gieo trồng đạt 991,09 ha (vụ Xuân 423,3 ha; vụĐông 126 ha; vụ Mùa 431,79 ha) năng suất bình quân cả năm đạt 132 tấn/ha, hệ số sửdụng ruộng đất là 2,7 lần Diện tích cây lúa chiếm 739,27 ha (trong đó có 195 ha lúachất lượng cao)
Về chăn nuôi, tổng đàn trâu bò của xã là 2163 con (trong đó có 307 con trâu và
1856 con bò); tổng đàn lợn là 2408 con; gia cầm có 21650 con
Về thủy sản, toàn xã có 17,73 ha diện tích mặt nước ao hồ, nhìn chung trongnăm hầu hết diện tích được khai thác và đưa vào sử dụng có hiệu quả
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: trên địa bàn xã hiện nay đã mở các lớp học về
kĩ thuật thêu ren và mây giang xiên, tạo việc làm cho người dân trong xã trong nhữnglúc mùa vụ nông nhàn, đây là những việc làm thêm, vừa giúp tiết kiệm thời gian rãnhrỗi, vừa tăng thu nhập lại không ảnh hưởng đến công việc đồng áng
- Tài chính - ngân sách: Tổng thu ngân sách năm 2009 là 1.774,38 tỷ đồng, tổng chingân sách 2.153,6 tỷ đồng
2.1.2.2 Văn hóa - xã hội
- Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao: trên địa bàn xã có 1242/1624 gia đình đạt giađình văn hóa, có 10/11 thôn được công nhận là thôn văn hóa Trên địa bàn xã có sânbóng chuyền, sân chơi bóng đá là nơi giao lưu thể dục thể thao giữa các thôn trong dịptrại hè và tết đến xuân về
- Giáo dục - đào tạo: trên địa bàn xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học và 1trường trung học cơ sở
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ học sinh ra lớp đạt 100% và đã tổchức ăn bán trú với số cháu tham gia mỗi năm là 200 cháu
Trang 21Trường tiểu học đạt trường tiên tiến cấp tỉnh và duy trì trường chuẩn quốc giamức độ 1, trường xét tuyển vượt cấp đạt 100%.
Trường trung học cơ sở đạt tiên tiến cấp tỉnh, học sinh lớp 9 xét tốt nghiệp100%
- Y tế, chăm sóc sức khỏe: trên địa bàn xã có 1 trung tâm y tế dự phòng, 1 trạm y tế.Trạm y tế có 2 dãy nhà bằng nằm ở ngay trung tâm xã được trang bị đầy đủ thiết bịđáp ứng nhu cầu khám bệnh cho nhân dân trong xã
- Chính sách xã hội: thực hện tốt, đầy đủ các chính sách xã hội, chăm lo tới gia đìnhcác đối tượng chính sách xã hội như: gia đình thương binh liệt sĩ, hộ nghèo
2.1.3 Nhận xét chung
2.1.3.1 Thuận lợi
- Định Bình là xã đồng bằng có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, địa hìnhtương đối bằng phẳng, hằng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ con sông CầuChày, diện tích đất đai rộng lớn khá mầu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.Ngoài phát triển nông nghiệp, trong xã có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như: mâytre đan, thêu ren tạo việc làm cho người nông dân trong những thời điểm nông nhàntheo đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
- Dân cư phân bố tập trung trên địa bàn toàn xã, thuận tiện cho việc bố trí các côngtrình công cộng
- Nguồn lao động dồi dào chịu thương chịu khó, cần cù trong lao động, có trình độvăn hóa, dễ tiếp cận áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật
- Cả xã có 7 trạm bơm phục vụ cho tưới tiêu, có hệ thống kênh mương nội độngphân bố đều trên đồng ruộng sản xuất nông nghiệp, chủ động trong công tác tưới tiêu
- Toàn xã đã bê tông hóa tuyến đường giao thông nông thôn, có tuyến đườngquốc lộ 45 chạy qua thuận tiện cho việc lưu thông vận chuyển nông sản, giao lưuvăn hóa, kinh tế
- Chính quyền vững mạnh, an ninh quốc phòng, chính trị ổn định
- Chính sách ưu đãi của Nhà nước: miễn thuế nông nghiệp và chi phí thủy lợi
2.1.3.2 Khó khăn
Trang 22- Đời sống người dân còn nhiều khó khăn khiến đầu tư thâm canh còn hạn chế dẫnđến năng suất lúa chưa cao.
- Lao động trong vùng chưa thực sự tập trung vào sản xuất nông nghiệp do bị cácngành nghề khác thu hút mà đa số các ngành nghề đó không có tính ổn định và lâu dàinhư: buôn bán nhỏ lẻ, thu mua phế liệu, phụ công xây dựng,
- Nguồn lao động chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu lao động có tay nghề, thiếuđội ngũ lao động trẻ trong sản xuất nông nghiệp
- Một số đặc điểm của yếu tố thời tiết, khí hậu của vùng: rét đậm, rét hại (vào tháng
1, 2, 3) nắng nóng, gió lào, lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích và năng suấtlúa của xã
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Định Bình là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp là chủ yếu, câylúa là cây trồng chủ đạo Nguồn thu từ cây lúa là nguồn thu nhập chính cho người dânđịa phương Sản xuất lúa có vai trò quan trọng đối với đời sống người nông dân Sảnxuất như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là công việc rất quan trọng trong việcnâng cao thu nhập góp phần phát triển kinh tế xã hội nơi đây Dưới đây là tình hìnhsản xuất lúa của xã trong 3 năm từ 2007 - 2009
Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa Định Bình qua 3 năm 2007 - 2009 Năm
So sánh 2008/2007 2009/2008
Diện tích (ha) 759,10 751,90 741,27 - 7,20 - 0,95 - 10,63 - 1,41Năng suất (tạ/ha) 65,50 66,32 67,31 0,82 1,25 0,99 1,49Sản lượng (tấn) 4972,00 4986,60 4989,49 14,6 0,29 2,89 0,06
(Nguồn: số liệu thống kê của UBND xã Định Bình)
Qua bảng số liệu ta thấy diện tích gieo trồng lúa của xã liên tục giảm qua cácnăm từ năm 2007 - 2009 Cụ thể năm 2007 diện tích gieo trồng là 759,1 ha đến năm
2008 giảm 7,2 ha (tương đương giảm 0,95%) xuống còn 751,90 ha Năm 2009, diệntích gieo trồng là 741,27 ha giảm 10,63 ha (tương đương 1,41%) so với năm 2008
Diện tích gieo trồng lúa giảm xuống qua các năm là do một số diện tích đấttrồng lúa dọc hai bên đường quốc lộ đã được chuyển sang thành đất nhà ở và một sốdiện tích khác được chuyển sang đất trồng các loại cây hoa màu Trong vụ Xuân năm
Trang 232009, trên diện tích 5 ha của xã (với các đơn vị tham gia như thôn: Căng 1, Làng sen,Đắc trí) trồng cây ớt xuất khẩu để nhập khẩu cho công ty xuất nhập khẩu biên giớiThanh Hóa, do là lần đầu tiên đưa cây ớt vào sản xuất, nhìn chung cán bộ địa phương
và nhân dân chưa có kinh nghiệm, triển khai sản xuất chậm nên khi cây ớt đang chothu hoạch bị mưa đầu mùa hè, luống thấp bị chết một số diện tích nên bà con vội phá,giá trị sản xuất đạt 3,9 triệu đồng/sào Đây là một bước đi mới, để sản xuất có hiệu quảthì chính quyền địa phương, người dân cần nghiên cứu kĩ về kiến thức kĩ thuật, tìnhhình địa phương trước khi bắt đầu sản xuất tập trung sản xuất lúa để đảm bảo diện tíchgieo trồng, tăng năng suất ổn định sản lượng
Năng suất qua các năm tăng dần từ 65,5 tạ/ha năm 2007 lên 66,32 tạ/ha năm
2008 (tăng 0,82 tạ/ha tương đương 1,25% so với năm 2007) đến năm 2009 năng suấtđạt 67,31 tạ/ha (tăng 0,99 tạ/ha tương đương 1,49% so với năm 2008) Tuy gặp không
ít khó khăn về thời tiết nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, kinh nghiệm chỉ đạo, điềuhành của UBND và chính quyền các cấp, có hướng sản xuất của UBND huyện, ngườidân có kinh nghiệm trong thâm canh chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, sử dụng các giốnglúa mới vào sản xuất góp phần làm cho năng suất tăng dần qua các năm
Tuy diện tích giảm nhưng năng suất tăng làm cho sản lượng qua các năm vẫngiữ mức ổn định Sản lượng tăng nhẹ qua 3 năm,cụ thể, năm 2008 là 4986,6 tấn tăng14,6 tấn (tương đương 0,29%) so với năm 2007 Năm 2009, sản lượng đạt 4989,49 tấntăng 2,89 tấn (tương đương tăng 0,06%) so với năm 2008
2.3 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÁC NHÓM HỘ ĐIỀU TRA
2.3.1 Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra
Định Bình là một xã đồng bằng có diện tích đất đai rộng lớn, lực lượng laođộng dồi dào, người dân cần cù, chăm chỉ Cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếudựa vào nông nghiệp, trong đó cây lúa đóng vai trò chủ đạo Những năm gần đây được
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước việc sản xuất lúa của người dân từng bước đi vào ổnđịnh, năng suất chất lượng lúa ngày càng được nâng cao
Toàn xã được chia thành 11 thôn, để nghiên cứu hiệu quả kinh tế canh tác cây lúanơi đây tôi tiến hành chọn 90 hộ điều tra phân thành 3 nhóm hộ (hộ nghèo, hộ trungbình, hộ khá) theo tỷ lệ đời sống thực tế của người dân trên toàn xã Theo thống kê về
Trang 24tình hình đời sống người dân địa phương của UBND xã Định Bình, tỷ lệ hộ nghèo của
xã là 14,29% (với thu nhập bình quân đầu người là 180 nghìn đồng/tháng) tương ứngvới 13 hộ điều tra, tỷ lệ hộ trung bình là 30,6% (với thu nhập bình quân đầu người là
400 nghìn đồng/tháng) tương ứng với 28 hộ điều tra, hộ khá giàu chiếm 54,91% (với thunhập bình quân đầu người trên 580 nghìn đồng /tháng) tương ứng với 49 hộ điều tra
Qua quá trình điều tra 90 nông hộ trồng lúa, tôi đã thu được số liệu về tình hình
cơ bản của các nhóm hộ gồm: tổng nhân khẩu, tổng lao động, lao động nông nghiệp,tuổi chủ hộ được thể hiện chi tiết qua bảng 7
Bảng 7: Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra
(Nguồn số liệu điều tra năm 2009)
Qua bảng số liệu ta thấy tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm khá cao Trong 90 hộ điều tra
có 395 nhân khẩu, bình quân chung mỗi hộ có 4,39 nhân khẩu Giữa các nhóm hộ có
sự chênh lệch về nhân khẩu nhưng không đáng kể, cụ thể hộ nghèo là 5,15 người/hộ,
hộ trung bình là 4,39 người/hộ, hộ khá là 4,18 người/hộ Nhân khẩu bình quân/hộ có
sự giảm dần giữa các nhóm từ hộ nghèo đến hộ khá, điều này có thể lý giải bởi nguyênnhân hộ nghèo có tỷ lệ sinh con thứ 3 nhiều hơn 2 nhóm hộ còn lại, số người ngoài độtuổi lao động (người già và trẻ con) chiếm tỷ lệ khá cao
Bình quân lao động của các hộ điều tra là 2,50 người/hộ, sự chênh lệch giữa cácnhóm hộ không nhiều, trong đó nhóm hộ trung bình có 2,25 người/hộ, hộ nghèo là2,54 người/hộ, cao nhất là hộ khá với 2,69 người/hộ Nhưng lao động nông nghiệpBQ/hộ của nhóm hộ nghèo lại cao hơn 2 nhóm hộ còn lại (cao hơn nhóm hộ khá 0,09người/hộ, cao hơn nhóm hộ trung bình 0,15 người/hộ) Nguyên nhân chính là do, lao
Trang 25động trong hộ nghèo phần lớn là lao động nông nghiệp Nhóm hộ khá có tỷ lệ lao độngphi nông nghiệp cao hơn, nhóm hộ này có điều kiện cho con cái học hành, làm nhiềucông việc khác ngoài lao động nông nghiệp.
Về tuổi chủ hộ, bình quân chung là 44,36 tuổi, giữa 2 nhóm hộ khá và trungbình không có sự khác biệt nhiều, tuổi chủ hộ bình quân nhóm hộ trung bình là 44,17tuổi, nhóm hộ khá là 43,67 tuổi Nhưng lại có sự khác biệt so với nhóm hộ nghèo,nhóm hộ nghèo có tuổi bình quân là 47,3 tuổi (lớn hơn nhóm hộ trung bình là 3,23tuổi, hơn nhóm hộ khá là 3,63 tuổi) Với tuổi bình quân chung là 44,36 tuổi - là nhómtuổi có khá nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa Nhóm hộ khá, lao động trẻ hơn,năng động hơn, dễ tiếp cận KHKT, ứng dụng vào sản xuất tốt hơn, là lứa tuổi mạnhdạn đầu tư vào sản xuất để đem lại năng suất, hiệu quả kinh tế cao
2.3.2 Tình hình đất đai
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thaythế được, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Không có đất đai thìkhông thể tiến hành quá trình sản xuất được Với đặc điểm là một xã thuần nông, diệntích đất sản xuất nông ngiệp chiếm tới 60,8% diện tích đất tự nhiên của xã Định Bình.Trong đó cây lúa là cây trồng chủ lực, chiếm tới 86% diện tích đất sản xuất nôngnghiệp Tình hình đất đai bình quân một nông hộ của các nhóm hộ điều tra được thểhiện qua bảng 8
Qua đó ta thấy, tổng diện tích đất bình quân của các nhóm hộ là 3011,15 m2.Giữa các nhóm hộ không có sự khác biệt nhiều, nhóm hộ khá là 3050,49 m2, có sựgiảm dần đến nhóm hộ nghèo là 2980,77 m2 và nhóm hộ trung bình là 2959,64 m2.Trong cơ cấu tổng diện tích đất của nông hộ, diện tích đất canh tác chiếm tỷ trọng lớnnhất trong đó cây trồng chính là cây lúa
Đất trồng lúa bình quân chung của các nhóm hộ là 2327,41 m2 chiếm 77,29%tổng diện tích đất của hộ Trong đó nhóm hộ nghèo có diện tích trồng lúa bình quân hộ
là 2384,62 m2 chiếm 100% diện tích đất canh tác; nhóm hộ trung bình có diện tíchtrồng lúa thấp hơn, có 283,57 m2/hộ, thấp nhất là nhóm hộ khá với 2280,14 m2/hộ.Nhưng ngoài diện tích đất trồng lúa nhóm hộ trung bình còn có thêm 35,71 m2/hộ đấtmàu, nhóm hộ khá có 68,39 m2/hộ Đây là phần diện tích đất canh tác màu mỡ ở vị trí
Trang 26hơi cao hơn so với đất trồng lúa chủ động trong công tác tưới tiêu không bị ngập úngvào mùa mưa, bãi bồi đất ven sông, được người dân trồng các loại rau màu như:khoai lang, rau xanh, ngô, mía xen cà, những cây hoa màu này cho hiệu quả cao hơnđồng thời cũng yêu cầu sự chăm sóc tỉ mỉ, thường xuyên từ người nông dân hơn.
Bên cạnh đó diện tích đất vườn, ao hồ của nhóm hộ khá cũng cao hơn so với 2nhóm hộ còn lại Cụ thể, đất ao hồ nhóm hộ nghèo có 42,31 m2/hộ, nhóm hộ trungbình có 42,86 m2/hộ, nhóm hộ khá có tới 68,39 m2/hộ; đất vườn nhóm hộ nghèo có361,54 m2/hộ, nhóm hộ trung bình có 316,07 m2/hộ, nhóm hộ khá có 406,06 m2/hộ.Ngoài đất đồng ruộng nhóm hộ khá có phần diện tích đất vườn, ao hồ cao hơn hainhóm hộ kia, được sử dụng để tăng gia, tạo thêm việc làm lúc nông nhàn, cải thiện bữa
ăn cho gia đình và tăng thêm thu nhập
Diện tích đất trồng lúa bình quân 1 nhân khẩu của các nhóm hộ đạt 530,30 m2,trong đó nhóm hộ nghèo có diện tích đất trồng lúa bình quân 1 nhân khẩu thấp nhất có463,03 m2/nhân khẩu, thấp hơn nhóm hộ trung bình 79,92 m2/nhân khẩu, thấp hơnnhóm hộ khá 82,46 m2/nhân khẩu Nhưng diện tích đất trồng lúa bình quân 1 lao độngnông nghiệp của nhóm hộ nghèo lại cao hơn nhóm hộ khá là 2,27 m2/lao động, nguyênnhân là do nhóm hộ nghèo có số nhân khẩu cao hơn nhóm hộ khá, nhưng lao độngnông nghiệp của 2 nhóm hộ này lại chênh lệch không nhiều
Trang 27Cơ cấu (%)
Diện tích (m 2 )
Cơ cấu (%)
Diện tích (m 2 )
Cơ cấu (%)
Diện tích (m 2 )
Cơ cấu (%)
Trang 282.3.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nhóm hộ
Tư liệu sản xuất là những điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, là yếu
tố quan trọng để tiến hành sản xuất tạo ra của cải vật chất Tình hình trang bị tư liệusản xuất của các nông hộ còn tùy thuộc vào khả năng, nguồn lực của mỗi nông hộ.Tình hình trang bị của các nhóm hộ điều tra được thể hiện rõ qua bảng 9
Qua bảng số liệu cho ta thấy, giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch đáng kể vềtình hình đầu tư trang bị tư liệu sản xuất
Bình phun thuốc là là vật dụng được các nhóm hộ trang bị đầy đủ nhất Mỗi hộbình quân chung có 1 cái, vì đây là vật dụng dễ mua, giá cả cũng hợp lý, giúp chongười dân chủ động trong công tác phòng trừ dịch bệnh
Bảng 9: Tình hình trang bị TLSX của các nhóm hộ điều tra
nghèo
Hộ trung
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)
Đối với trâu bò cày kéo, cụ thể nhóm hộ nghèo có 0,38 con/hộ, hộ trung bình
có 0,46 con/hộ, hộ khá có 0,63 con/hộ Trong việc sản xuất nông nghiệp hiện nay, máymóc được đưa nhiều vào quá trình sản xuất dần thay thế sức lao động thủ công, hơnnữa giá một trâu bò cày kéo thấp nhất là 7 triệu đồng, đây là một khoản tiền không nhỏđối với người nông dân Vì thế mức trang bị giảm dần từ nhóm hộ khá đến nhóm hộnghèo Nhìn chung, bình quân mỗi hộ có 0,54 con trâu bò, số cày bừa tay là 0,46 cái
Số trâu bò chủ yếu được sử dụng vào mỗi đầu vụ, cày ải sau khi thu hoạch vụ mùa,còn chính vụ công việc nhiều làm tập trung trong một thời gian ngắn khiến cho ngườinông dân phải thuê các dịch vụ làm đất bằng máy nhiều làm chi phí sản xuất tăng
Với máy cày bừa, bình quân chung mỗi hộ có 0,28 cái Trong đó, nhóm hộnghèo không đủ chi phí để đầu tư, nhóm hộ trung bình có 0,14 cái/hộ, nhóm hộ khá có0,39 cái/hộ Nhóm hộ khá mạnh dạn đầu tư hơn, máy móc làm việc với công suất caohơn nhiều so với trâu bò cày kéo Hơn nữa, ngoài lao động cho gia đình còn phục vụ
Trang 29cho nhu cầu của những nông hộ khác, trong những lúc nông nhàn nhóm hộ này còn tậndụng làm thêm những công việc: chở đất, chở vật liệu xây dựng, làm tăng thu nhậpcho gia đình mình.
Máy tuốt lúa bình quân chung mỗi hộ có 0,37 cái Đây là con số nhỏ vì vậy đếnmùa màng tình trạng thuê tuốt lúa nhiều Hầu hết các hộ thuê tuốt máy chứ không sửdụng sức lao động là chính
Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ chưa cao, điều này làm chocác nông hộ phải thuê các dịch vụ làm đất, tuốt lúa nhiều, làm cho chi phí sản xuất củacác nông hộ tăng lên làm cho hiệu quả kinh tế giảm Vì vậy, để giảm chi phí đầu vàocho quá trình sản xuất, người nông dân cần mạnh dạn đầu tư máy móc, áp dụng tiến bộ
kỹ thuật vào sản xuất để tăng hiệu quả kinh tế
2.4 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ THÂM CANH CỦA CÁC NHÓM HỘ ĐIỀU TRA 2.4.1 Giống
Từ xa xưa, ông cha ta đã đặt vai trò, vị trí đặc biệt của giống trong kĩ thuật thâmcanh năng suất, thế mới có câu: “Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” Tùy theo hoàncảnh cụ thể để xác định tầm quan trọng của giống trong các biện pháp kĩ thuật liênhoàn Ở những vùng đã đầy đủ phân bón, thuốc BVTV, hệ thống thủy lợi hoàn chỉnhthì chắc chắn giống là vị trí hàng đầu để nâng cao năng suất cây trồng, còn những vùngcòn thiếu nước, đất đai xấu thì nước lại được xếp thứ bậc cao hơn giống Giống lànhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sản lượng cây trồng, giống tốt góp phầnlớn làm tăng năng suất, chất lượng nâng cao hiệu quả kinh tế Giống có những ý nghĩarất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt với cây lúa, ngày nay người nôngdân trồng lúa không chỉ chọn giống có năng suất cao mà đòi hỏi chất lượng phải tốt.Nhận thức rõ được tầm quan trọng của giống đối với năng suất, chất lượng cây lúangười dân đã chú trọng vào công tác chọn giống Giống được đưa vào gieo cấy phảiđáp ứng được các yêu cầu về độ thuần khiết, tỷ lệ nảy mầm cao, sạch sâu bệnh, phùhợp với điều kiện sinh thái địa phương,… Trên địa bàn một số giống lúa chính đangđược người dân sử dụng như:
Với vụ Xuân:
Giống lúa lai: Syn6, nhị ưu 838, D.ưu 527, Nghi hương 305, Bio 404,
Trang 30 Giống lúa thuần: hương thơm 1, bắc thơm số 7, Q5 (siêu nguyên chủng,nguyên chủng), nếp thơm, khang dân
Các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 130 - 140 ngày Thời gian gieo từkhoảng 10 - 15/01, bố trí cấy ngày 25 - 30/ 01, trổ bông vào 25/04 - 05/05
Với vụ Mùa:
Giống lúa lai: TH3- 3, nhị ưu838,
Giống lúa thuần: hương thơm 1, bắc thơm số 7, Q5 (siêu nguyên chủng,nguyên chủng), nếp tẻ, khang dân
Các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 110 - 120 ngày Thời gian gieo từkhoảng 15 - 20/6, bố trí cấy ngày 30/6 - 5/07, trổ bông vào 05 - 15/09
Lượng giống gieo cho 1 sào lúa được quy định như sau: với giống lúa lai từ 1,2
- 1,5 kg/sào; lúa thuần từ 2 - 4 kg/sào Vụ Xuân yêu cầu lượng giống gieo nhiều hơn sovới vụ Mùa Vì vụ Xuân, lúc gieo cấy thời tiết khá rét ảnh hưởng tới sự phát triển củacây mạ, tỷ lệ đẻ nhánh của lúa không cao nên để đảm bảo thì yêu cầu về lượng giốngcủa vụ Xuân cao hơn so với vụ Mùa Qua quá trình điều tra, tình hình sử dụng giốngcủa các nhóm nông hộ trên địa bàn được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 10: Chi phí lúa giống bình quân 1 sào của các nhóm nông hộ
Hộ nghèo Số lượng (kg)Chi phí (1000 đ) 54,402,73 46,692,00
Hộ trung bình Số lượng (kg)Chi phí (1000 đ) 60,102,68 38,361,98
BQC Số lượng (kg)Chi phí (1000 đ) 63,132,58 45,171,95
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)
Qua đây ta thấy chi phí đầu tư giống có sự khác nhau giữa các nhóm hộ và giữa
2 vụ cũng có sự khác biệt đáng kể
Bình quân chung lượng giống cho vụ Xuân là 2,58 kg/sào, vụ Mùa là 1,95kg/sào, sở dĩ có sự khác biệt đó như đã trình bày ở trên do điều kiện thời tiết nên lượnggiống cho 1 sào vụ Mùa cần ít hơn so với vụ Xuân
Trang 31Về vụ Xuân, lượng giống mà các nhóm hộ sử dụng giảm dần từ hộ nghèoxuống hộ khá, cụ thể hộ nghèo là 2,73kg/sào, nhóm hộ trung bình là 2,68 kg/sào,nhóm hộ khá là 2,49 kg/sào Nhưng chi phí đầu tư cho giống lại tăng dần từ nhóm hộnghèo lên nhóm hộ khá Nhóm hộ nghèo đầu tư hết 54.400 đồng/sào, nhóm hộ trungbình hết 60.100 đồng/sào, nhóm hộ khá hết 74.900 đồng/sào Sự chênh lệch đó là dolượng giống lúa lai (như D.ưu 527, nhị ưu 838, Syn6) có năng suất cao, chất lượng tốtđược sử dụng giảm dần từ nhóm hộ khá xuống nhóm hộ nghèo, nhưng giá cả của cácloại giống này lại cao hơn rất nhiều so với giống lúa thuần nên tuy lượng giống sửdụng là ít hơn nhưng chi phí lại cao hơn.
Ví dụ như, giá lúa giống năm 2009: giống lúa D.ưu 527 giá 57.000 đồng/kg(năng suất đạt 4 tạ/sào), giống lúa nhị ưu 838 giá 47.000 đồng/kg (năng suất đạt 3,7 tạ/sào), giống lúa Syn6 giá 62.000 đồng/kg (năng suất đạt 3,8 tạ/sào), hương thơm17.000 đồng/kg (năng suất đạt 3 tạ/sào), đây đều là những giống lúa cho gạo dẻo,ngon Giống lúa Q5 siêu nguyên chủng giá 17.000 đồng/kg (năng suất đạt 4 tạ/sào),giống lúa Q5 nguyên chủng giá 14.000 đồng/kg (năng suất 3,6 tạ/sào), đây là giống lúakhá phổ biến, dễ trồng, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, năng suất khá cao nhưnggạo hơi cứng không thơm dẻo Về vụ Mùa, lượng giống và chi phí đầu tư của cácnhóm hộ cũng tương tự như vụ Xuân Cụ thể: nhóm hộ nghèo đầu tư 2 kg/sào hết46.690 đồng/sào; nhóm hộ trung bình đầu tư hết 1,98 kg/sào hết 38.360 đồng/sào;nhóm hộ khá đầu tư 1,92 kg/sào hết 50.451 đồng/sào
2.4.2 Phân bón, thuốc BVTV
Phân bón có vai trò rất quan trọng đối với năng suất và chất lượng cây trồng.Phân bón là những chất dinh dưỡng được đưa vào để tăng độ phì cho đất, là thức ăncủa cây giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao ổn định.Phân bón chiếm một khoản chi phí lớn trong sản xuất lúa, lượng phân bón còn tùythuộc vào từng giống lúa, loại đất và kết quả điều tra nông hóa từng cánh đồng để xácđịnh lượng bón cho phù hợp Đối với 1 sào trên đất đồng địa phương nên bón theo liềulượng sau:
Bảng 11: Nhu cầu phân bón cần thiết cho 1sào lúa
Trang 32Lúa lai Lúa thuần Lúa lai Lúa thuần
(Nguồn: Khuyến nông huyện Yên Định)
Qua quá trình điều tra 90 hộ trồng lúa tại địa phương tôi đã thu được số liệu vềtình hình đầu tư phân bón và thuốc BVTV/sào của các nhóm hộ được thể hiện quabảng 12
Qua đó ta thấy có sự khác biệt về tình hình đầu tư phân bón giữa các nhóm hộđiều tra và sự khác biệt giữa 2 vụ Tùy vào tình trạng kinh tế của gia đình mà lượngphân bón được sử dụng khác nhau Nhóm hộ khá có mức đầu tư cao nhất tiếp đến là
hộ trung bình, cuối cùng là hộ nghèo
Năm 2009, với giá phân bón của 2 vụ là như nhau, 1 kg phân đạm có giá 7.000đồng, 1 kg lân giá 3.000 đồng, kali giá 12.000 đồng/kg Phân chuồng được tận dụng từchăn nuôi trong gia đình nên không tính thành chi phí
Với vụ Xuân trong cơ cấu phân bón thì chi phí bình quân chung cho kali là lớnnhất, bình quân chung một nông hộ sử dụng hết 97.040 đồng/sào, tiếp đến là lân77.170 đồng/sào, cuối cùng là phân đạm 68.990 đồng/sào Do giá kali khá cao so vớicác loại phân còn lại nên chi phí đầu tư cao Giá lân không cao nhưng lượng bón yêucầu nhiều nên chi phí cho lân cũng tương đối cao Bình quân chung một hộ đầu tư hết243.200 đồng/sào cho phân bón, lượng đầu tư giảm dần từ nhóm hộ khá xuống hộnghèo Cụ thể nhóm hộ nghèo đầu tư hết 222.850 đồng/sào, nhóm hộ trung bình hết239.230 đồng/sào, nhóm hộ khá hết 250.600 đồng/sào Do nhận thức rõ tầm quantrọng của phân bón nên nhóm hộ khá đã mạnh dạn đầu tư, hơn nữa do mức sử dụnggiống lúa lai cũng giảm dần từ nhóm hộ khá xuống nhóm hộ nghèo mà yêu cầu phânbón của lúa lai cao hơn so với lúa thuần
Trang 33Bảng 12: Đầu tư phân bón, thuốc BVTV bình quân 1 sào của các nông hộ
Chỉ tiêu Vụ Xuân Hộ nghèo Vụ Mùa Vụ Xuân Hộ trung bình Vụ Mùa Vụ Xuân Hộ khá Vụ Mùa Vụ Xuân Vụ Mùa BQC
1 Phân bón (1000 đ) 222,85 196,39 239,23 216,38 250,60 223,71 243,20 217,47
- Lân Khối lượng (kg)Chi phí (1000 đ) 22,6968,07 20,7762,31 26,0778,21 24,4673,38 26,3378,90 24,8074,40 25,7277,17 24,1172,33
Chi phí (1000 đ) 88,56 77,52 94,80 87,00 100,44 89,88 97,04 87,20
2 Thuốc BVTV (1000 đ) 16,62 17,00 16,71 17,04 17,10 17,02 16,91 17,02Tổng chi phí (1000 đ) 239,47 213,39 255,94 233,42 267,70 240,73 260,11 234,49
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009)