1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện quế phong, tỉnh nghệ an

59 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 540 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm là nguyện vọng chính đáng, là mối quan tâm hàng đầu của thanhniên

Việc làm là một dạng hoạt động kinh tế xã hội Hoạt động đó không đơn thuần

là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất mà nó bao gồm cả những yếu tố

xã hội, môi trường Giải quyết việc làm là tạo ra cơ hội cho người lao động kiếm thêmthu nhập tạo ra của cải vật chất cho bản thân,gia đình và xã hội Đặc biệt nó phát huynhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế xã hội

Việt Nam là nước dồi dào về nguồn lao động Trong đó thanh niên là lực lượngđông đảo hàng ngày tạo ra của cải vật chất, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước Tại các vùng dân tộc thiểu số lực lượng thanh niên chiếm một tỷ lệkhông nhỏ và có đóng góp quan trọng từng bước làm thanh đổi diện mạo của làng quê.Điều này tuy là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng mang nhữngthách thức to lớn về nhu cầu việc làm Trong bối cảnh đó việc chăm lo giải quyết đãtrở thành nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi gia đình vàtoàn xã hội phải quan tâm

Quế Phong là huyện vùng núi cao nằm phia tây tỉnh Nghệ An nơi có lựclượng thanh niên dân tộc thiểu số (TNDTTS) khá dồi dào Cùng với thực trangchung của một số vùng trên cả nước,tình hình giải quyết việc làm cho thanh niêndân tộc thiểu số xuất hiện trong các buổi họp không chỉ là của hội liên Hiệp ThanhNiên mà còn của UBND, đó là một vấn về nóng bỏng , bức xúc đang đặt ra cầnphải xem xét và giải quyết

Hiện nay có rất nhiều đề tài nghiên cưú về vấn đề giải quyết việc làm song các

đề tài điều mang tính chung như nghiên cứu giải quyết việc làm cho người lao độngnói chung hay đề tài về thanh niên nói chung, chưa có một đề tài cụ thể về đối tượng là

thanh niên dân tộc thiểu số Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn vấn đề:”Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An ” làm

đề tài nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp của mình

Trang 2

2 Mục đich và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đồng thời đánh giá đúng thực trạng

và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu sốtrên địa bàn huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An

Để đạt được mục đích trên, đề tài đề ra những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Đưa ra,hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề việc làm và giải quyếtviệc làmcho thanh niên dân tộc thiểu số

- Phân tích, đánh giá thực trang của vấn đề nghiên cứu

- Đề xuất phương hướng, giải pháp để giải quyết việc làm cho thanh niên dântộc thiểu số huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của vấn đề giải quyết việclàm cho thanh niên dân tộc thiểu số

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Trên địa bàn huyện Quế phong, tỉnh Nghệ An

+ Thời gian: Giai đoạn 2005 - 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa hoc

- Phương pháp logic và lịch sử

- Phương pháp thu thập thông tin, trong đó có sử dụng các phương pháp chínhsau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra, thống kê, xử lý số liệu

5 Ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nó cung cấp chocác nhà hoạch định chính sách, các cơ quan, ban ngành có liên quan những ý kiếnđóng góp vào việc thực hiện những giải pháp cần thiết để giải quyết việc làm chothanh niên dân tộc thiểu số

Đề tài là tài liệu tham khảo cho bạn đọc quan tâm

Trang 3

6 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho thanh niên dântộc thiểu số

Chương 2: Thực trang giải quyết việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số

ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm chothanh niên dân tộc thiểu số ở huyện Quế Phong , tỉnh Nghệ An hiện nay

Trang 4

PHẦN II: NÔỊ DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO

THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Một số vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số

1.1.1 Quan niệm về dân tộc thiểu số, thanh niên dân tộc thiểu số, việc làm

1.1.1.1 Khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số

- Khái niệm về dân tộc

Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau

khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Dân tộc là một khái niệm

có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào cách tiếp cận, góc độnhìn nhận mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về dân tộc

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trước Nguyễn Trãi đã có nhiều nhà tư tưởngtìm cách đưa ra định nghĩa về dân tộc, các quan niệm đó có những giá trị nhất định.Mầm mống của nó đã có từ thời Lý Bí Dân tộc lúc đó thường được gọi là thành haybang, quốc hay nước Sử gia Lê Văn Hưu (thế kỷ XII) quan niệm tổ quốc, dân tộc là

"nhà tông miếu, nền xã tắc" , còn Trần Quốc Tuấn (thế kỷ XIII) quan niệm đó là "thái

ấp, bổng lộc, đền đài, miếu mạo " Đến Nguyễn Trãi thì chúng ta đã có được mộtquan điểm khá toàn diện, hoàn chỉnh về vấn đề dân tộc Xem xét định nghĩa dân tộccủa Nguyễn Trãi, chúng ta thấy, ông đã nêu lên 5 yếu tố thống nhất: Văn hiến, lãnhthổ, phong tục, chính quyền, nhân dân mà đại biểu là người anh tài, hào kiệt Địnhnghĩa của Nguyễn Trãi không nói đến yếu tố kinh tế, vì ông xuất phát từ thực tế hìnhthành dân Việt Nam có những nét độc đáo không giống như quy luật phổ biến của sựhình thành các dân tộc khác trên thế giới Do đặc điểm riêng mà sự hình thành dân tộc

ta không cần đến vai trò của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, không cần phải đợiđến quá trình thống nhất thị trường, thuế quan là "tập trung các tư liệu sản xuất, và tích

tụ tư bản vào trong tay một số ít người" Nguyên nhân của sự hình thành dân tộc ta là

do nhu cầu chống ngoại xâm và các thế lực thiên nhiên hà khắc, buộc các tộc ngườisống trên lãnh thổ phải liên kết lại thành một khối

Trang 5

Năm 1913, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc J V Xtalin đã

đưa ra định nghĩa về dân tộc Theo Xtalin, “dân tộc là một cộng đồng người ổn định,được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạtkinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa’’ Tuy nhiên định nghĩa nàycòn nhiều tranh luân và bàn cãi Theo giáo sư Đặng Nghiêm Vạn , quan niệm củaXtalin rõ ràng không phải là tư tưởng của Lênin, và càng không phải là quan niệm củaMác và Ăngghen, ông cho rằng khi bàn về dân tộc tư bản chủ nghĩa, Mác và Ăngghenvẫn công nhận có những dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa nhưng trong định nghĩa củaXtalin thì lại phủ nhận các hình thức dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên cũng có

ý kiến đánh giá rằng, định nghĩa ấy cũng có những điểm đúng, đã đưa ra nhiều tiêu chí

để nhận biết, đã nhấn mạnh rằng nói tới dân tộc là nói tới cộng đồng thống nhất, ổnđịnh, bền vững so với cộng đồng bộ tộc

Dân tộc hay quốc gia – dân tộc (nation) là một cộng đồng chính trị - xã hôi,được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi,một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, tạonên một tính cách dân tộc [1,34]

Khi nghiên cứu về dân tộc cần hiểu khái niêm có liên quan là “tộc người” Vìgiữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất,giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt cần làm rõ Tuy nhiên, từ lâu ở nước ta cũngnhư trên thế giới vẫn có sự lẫn lộn giữa hai khái niệm này Khi nói: “Nước Việt Nam

có 54 dân tộc” thì phải hiểu dân tộc ở đây nhằm chỉ một dân tộc cụ thể như dân tộcViệt, dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mông , dân tộc theo cách hiểu cụ thể này chính là tộcngười, và Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc chính là đa tộc người Khi nói: “NướcViệt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” thì dân tộc ở đây nhằm chỉ một quốc gia -dân tộc như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, Trung Quốc , một dân tộc hay một quốcgia – dân tộc thường bao gồm nhiều tộc người

Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc),được chỉ đạo bởi nhà nước, nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo

Trang 6

nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được.

- Khái niệm dân tộc thiểu số

Cụm từ “dân tộc thiểu số” hiện đang được sử dụng tương đối phổ biến trong cácvăn bản của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và trong đời sống xã hội.Đây là những khái niệm khoa học liên quan đến vấn đề chính trị - xã hội Tuy nhiêntrong xã hội hiện nay, có lúc có nơi vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về cách gọi cũngnhư nội hàm của nó

“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thếgiới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyênngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một

số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”,

“dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiềunguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trịtrong mỗi quốc gia

Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan vềdân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộcthiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa

vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nóđược chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc

Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, ĐảngCộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là mộtquốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 86 triệu người Trongtổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quanniệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là

“dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm “dân tộc thiểusố”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ítngười” Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưngcách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung

Trang 7

Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đadân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan sosánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dântộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểusố” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở ViệtNam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đasố” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dântộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất

và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theoquan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, nhữngnội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thốngnhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới

1.1.1.2 Khái niệm về thanh niên, thanh niên dân tộc thiểu số

- Khái niệm thanh niên

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách.Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người tađưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên:

Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Theochương trình sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khốiLiên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), chủ yếu dựa trên

cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứatuổi khác Nhưng trong công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xácđịnh trẻ em đến dưới tuổi 18 tuổi

Ở Việt Nam, có một thời gian khá dài, tuổi thanh niên được hiểu gần như đồngnhất với tuổi đoàn viên (từ 15 – 28 tuổi) Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xãhội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiềuđặc điểm khác chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi 16 đến 30 Tuy

Trang 8

nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên Theo điều lệ Đoàn thìĐoàn là một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tútrong độ tuổi từ 15 – 30 tuổi Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đóvẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liênhiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoànvà phong trào thanh niên đến 35 tuổi.

Khi nói đến khái niệm thanh niên là nói tới tuổi trẻ, độ tuổi chín chắn để gánhvác việc nước việc nhà, nên phải gắn liền với “năng lực hành vi” Trong pháp luật dân

sự, có khái nệm “người thành niên” và “chưa thành niên”: theo quy định tại điều 20,

bộ luật Dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi

là người chưa thành niên Đây là sự phân biệt cơ bản nhất về độ tuổi thành niên haychưa thành niên mà pháp luật quy định

Trong Bộ luật hình sự tại điều 68 cho phép xác định người thành niên là người

đủ 18 tuổi trở lên Nhìn từ góc độ tổng quát, hiến pháp dành đủ một chương về

“Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Theo đó một người, một người chỉ có trọnvẹn quyền công dân khi họ đủ 21 tuổi trở lên (điều 54 Hiến pháp quy định về quyềnứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp)

Suốt nửa thế kỷ giáo dục, tổ chức, rèn luyện các thế hệ thanh niên nước ta thànhlớp người kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp vẻ vang của Đảng, dân tộc, chủ tịch

Hồ Chí Minh kính yêu đã đưa ra nhiều khái niệm thanh niên mang tính xã hội, nhânvăn sâu sắc

+ Bác dạy: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà” Bác giải thíchkhái niệm đó trên cơ sở khẳng định: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phầnlớn là do các thanh niên” và thanh niên phải “Tham gia ý kiến vào công việc của chínhphủ, chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thaynhững thủ lĩnh mà gánh vác việc trọng đại của nước nhà”

+ Bác dạy: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổitrẻ là mùa xuân của xã hội” Bác chỉ ra thanh niên là thời kỳ đẹp nhất, sống động nhấtnhư mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống, mùa xuân của những cánh énngang dọc bầu trời Đó là hình ảnh nói lên sức trẻ có thể đào núi và lấp biển mà cả xãhội và dân tộc luôn kỳ vọng, tin yêu

Trang 9

+ Bác dạy: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già,đồng thời là người phụ trách thế hệ thanh niên tương lai” Đây là một khái niệm về vaitrò và vị trí của thanh niên, về một quy luật của quá trình “bàn giao thế hệ” Từ kháiniệm thanh niên này Bác muốn nhắc nhở, căn dặn một điều mà trước khi đi xa Người

đã ghi lại trong bản di chúc thiêng liêng Điều ấy vô cùng quan trọng quyết định vậnmệnh của dân tộc, vận mệnh của giai cấp công nhân, của Đảng

Do có sự khác nhau về độ tuổi xác định năng lực hành vi dân sự, độ tuổi chịutrách nhiệm hình sự và quyền ứng cử vào cơ quan quyền lực các cấp, nên việc xácđịnh độ tuổi được coi là thanh niên rất khác nhau Theo GS- TS Phạm Tất Dong, Phóchủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam cho rằng : Thanh niên chỉ nên nằm trong độ tuổi từ

16 – 25, vì theo ông, tuổi từ 25 trở lên nhiều thanh niên đã là cử nhân, kỹ sư, cũng cóthể là các doanh nghiệp Còn từ 30 tuổi trở đi có người đã là tiến sĩ, vụ trưởng, chủtịch xã, những cán bộ chính trị, … Theo Bác sĩ – chuyên viên tư vấn sức khoẻ NguyễnNgọc Năm (Trung tâm Tư vấn Tình yêu – Hôn nhân – gia đình) cho rằng, “khung”tuổi thanh niên thích hợp nhất là từ 15 đến 25 (đối với nữ) và từ 17 đến 30 (đối vớinam) Vì theo ông tại Việt Nam, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được tính từ 15 tuổi, đâycũng là tuổi thể chất ở các bạn nữ phát triển tương đối hoàn chỉnh và tâm sinh lý cũngphát triển mạnh Tuy nhiên, các bạn nam đến độ tuổi 17 mới có thể “theo kịp” sự pháttriển về tâm sinh lý như các bạn nữ Trong các độ tuổi đó, phụ nữ cũng như nam giới

có được sự tập trung cao nhất về sức khoẻ, sức trẻ, dám nghĩ dám làm; có ý chí, khátvọng, hoài bão vươn lên mạnh mẽ và có điều kiện thể hiện ý chí, khát vọng đó quaviệc học hành, lao động, sáng tạo đồng thời cũng là thời gian có những bước chuẩn bịtốt nhất để xây dựng gia đình, duy trì nòi giống.[2;11]

Từ những bất đồng về quan điểm trên, nước CHXHCN Việt Nam đã đưa raLuật thanh niên, trong điều 1 của bộ luật đã khẳng địng rằng: “Thanh niên là công dân

Việt Nam đủ từ 16 đến 30 tuổi” Tóm lại, hiện nay thanh niên Việt Nam là những người đủ từ 16 tuổi đến 30 tuổi, vì đây là giai đoạn thanh niên hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, và cũng trong giai đoạn này thanh niên đã đủ chín chắn để gánh vác việc nước và việc nhà, là công dân có trách nhiệm đối với những hành động của chính mình Thanh niên được xem là lực lượng xung kích trong tất cả mặt trận bảo vệ và

Trang 10

phát triển đất nước vì tính năng nổ của lứa tuổi này Đâu cần thanh niên có, đâu khó

có thanh niên.

- Khái niệm thanh niên dân tộc thiểu số

Như trên đã định nghĩa về thanh niên nói chung: Thanh niên là một nhóm

xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sựphát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt độngcủa xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xãhội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương

lai của mỗi quốc gia, dân tộc Từ đó, chúng ta có thể hiểu: TNDTTS là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các dân tộc thiểu số, lao động hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển

của đất nước

1.1.1.3 Quan niệm về việc làm và vai trò của việc làm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

- Quan niệm về việc làm:

Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con người

có điều kiện tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và cácthành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạtđộng xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình

Ngày nay trong các công trình nghiên cứu khoa học cũng như trên các phươngtiện thông tin đại chúng thì khái niệm việc làm có thể được diễn đạt theo nhiều cáchtiếp cận khác nhau

+ Quan điểm trong nước:

Theo đại từ điển tiếng Việt thì: “Việc làm là công việc, nghề nghiệp thườngngày để sinh sống”[ 3; 1815]

Theo TSKH Phạm Đức Chính thì: “Việc làm như là một phạm trù kinh tế, tồntại ở tất cả mọi hình thức xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế giữacon người về việc đảm bảo chỗ làm việc và tham gia của họ về hoạt động kinh tế hay

Trang 11

cũng theo ông “việc làm cũng là một phạm trù thị trường, nó xác định khi thuê mộtchỗ làm việc nhất định và chuyển người thất nghiệp thành người lao động” ”[4; 311 ].

Trong điều 13, Bộ luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam năm 1994, đượcsửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007 có quy định rõ “mọi hoạt động lao động tạo rathu nhập nhưng không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [2; 5]

+Quan điểm ngoài nước:

Theo tổ chức Lao động Quốc tế ILO thì “việc làm có thể được định nghĩanhư một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham giatích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” Các nhà kinh tế học ởAnh thì người ta cho rằng tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phânbiệt pháp luật cấm hay không thì đều gọi là việc làm Còn ở Nga những người đi học,những người phục vụ trong lực lượng vũ trang và cả những người nội trợ thì đều đượccoi là những người có việc làm

Tóm lại, xét về bản chất việc làm được xác định như là một hệ thống quan hệ bản chất giữa con người về việc đảm bảo cho họ những chổ làm việc và tham gia vào hoạt động sản xuất.

Trong tình hình hiện nay việc tạo việc làm đầy đủ và duy trì ổn định là mộtvấn đề bức bách đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan có liênquan, các doanh nghiệp cùng nhau tham gia giải quyết Dưới tác động của các cuộckhủng hoảng kinh tế trên thế giới, xu thế hội nhập và phát triển cùng với quá trình toàncầu hóa ,nhu cầu việc làm càng trở nên bức xúc hơn

 Người có việc làm:

Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngànhkinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra (gọi tắt là tuần lễtham khảo) có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người đượccoi là có việc làm

 Các dạng việc làm:

Trang 12

+Việc làm đầy đủ: Được hiểu là “việc làm tối ưu” , trong điều kiện đảm bảo

phù hợp chỗ làm việc với khả năng lao động của từng thành viên trong xã hội

+ Việc làm phụ : Là công việc bán thời gian mà người lao động tranh thủ vào

lúc nhàn rỗi ngoài giờ để tăng thêm nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình

+Việc làm không trọn ngày: Là dạng việc làm không đầy đủ theo thời gian lao

động chính thức phụ thuộc vào chế độ và đặc điểm của công việc

+Việc làm độc lập: Một cá nào đó tự tổ chức công việc cho riêng mình dựa trên

những tư liệu sản xuất của cá nhân để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ

+Việc làm linh hoạt: Đây là một loại việc làm không theo một quy trình nhất

định, nó có thể thay đổi tùy theo thỏa thuận giữa người lao động với nhà tuyển dụnglao động Thời gian biến chuyển tùy theo mức độ và khối lượng của công việc dựa trên

cơ sở thỏa thuận của hai bên

+Việc làm tạm thời: Đây là loại công việc có tính bất ổn định, người lao động

phụ thuộc vào mức độ thường xuyên của công việc và khả năng nắm bắt công việc

+Việc làm theo thời vụ: Loại việc làm này gắn với điều kiện tự nhiên như: thời

tiết cùng với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng và nuôi trồng thủy sản.Đây là loại hình có tính chất phổ biến trong nông nghiệp

+Việc làm không tiêu chuẩn hoá: Dạng việc làm này rất đa dạng người lao

động Người sử dụng lao động giao khoán nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, các công

cụ sản xuất cần thiết để người lao động hoàn thành sản phẩm

Như vậy,quá trình tạo ra việc làm là quá trình số lượng và chất lượng

tư liệu sản xuất mà số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc nhiều vào cácyếu tố như: vốn, khoa học và công nghệ, kết hợp với kỹ năng quản lý, sử dụng có hiệuquả đối với tư liệu sản xuất đó Đồng thời quá trình tạo ra việc làm nó là quá trình tạo

ra số lượng và chất lượng của lao động dựa trên các yếu tố dân số, quá trình phát triển

y tế, giáo dục chăm sóc sức khỏe, cộng đồng Kết hợp với các chính sách của Nhànước để duy trì ổn định và tạo ra nhiều việc làm mới

- Vai trò của việc làm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 13

+ Về mặt kinh tế, khi con người có việc làm thì nhờ thông qua các hoạt độnglao động con người tạo ra sản phẩm và thu nhập Do vậy sẽ thỏa mãn các nhu cầu vậtchất, tinh thần; ổn định và nâng cao đời sống của người lao động.

+ Về mặt xã hội, tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai tròcủa mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xãhội Không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như:Trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút Giải quyết việc làm cho người lao động nhất là thanhniên chính là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có công ăn việc làm gây ra và giảiquyết các vấn đề kinh tế - xã hội đòi hỏi

1.1.2 Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số

1.1.2.1 Sự cần thiết giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số

- Giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nóthể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sốngvật chất, tinh thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xãhội và con người Việc làm là nơi diễn ra những hoạt động của người lao động, nhữnghoạt động này được công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi

để họ thể hiện những kết quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn

- Giải quyết việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm và có thunhập để tái sản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế đượcnhững phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra

- Giải quyết việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc làm, nhu cầu lao động của conngười vì lao động là phương tiện để tồn tại chính của con người

- Ở Việt Nam nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn Tại nhiều làng quê, dưthừa lao động trở nên báo động Tình trạng thanh niên ở các làng quê không có việclàm thường xuyên chơi bời, lêu lổng, dẫn đến sa ngã các tệ nạn xã hội Vì vậy, vấn đềlao động và việc làm cho thanh niên nói chung, thanh niên dân tộc thiểu số nói riêng làhết sức cần thiết và cấp bách

Thanh niên là lực lượng đông đảo hàng ngày tạo ra của cải vật chất đóng gópcho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, giải quyết việc làm cho thanh

Trang 14

niên dân tộc thiểu số là vấn đề cấp thiết, không chỉ là trách nhiệm của nhà nước màcòn là trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức trong xã hội.

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số

Có rất nhiều những nhân tố khác nhau tác động đến vấn đề việc làm của thanhniên dân tộc thiểu số Song ở phạm vi đề tài tôi chỉ xin đề cập đến những nhân tố nào

có sự tác động mạnh mẽ, mang tính chất quyết định đến việc làm của thanh niên dântộc thiểu số Dựa trên cơ sở đó có một số nhân tố sau:

- Tài nguyên đất đai

Nói đến dân tộc thiểu số thì ở đó chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và trong nôngnghiệp, mối quan tâm hàng đầu là đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu Lao động dân tộcthiểu số gắn bó mật thiết với đât đai, như William Petty đã viết: “Lao động là cha vàđất đai là mẹ của mọi của cải” Vai trò của đất đồi với lao động, việc làm của lao độngdân tộc thiểu số là cực kỳ quan trọng Người nông dân gắn liền với đất như máu thịt,

từ trong lịch sử, trong văn hoá dân tộc Cuộc sống của họ là tấm ruộng, là mảnh vườnquanh năm gieo trồng và vun xới Trong truyền thống, đất đai càng nhiều thì ngườinông dân càng có nhiều việc làm và thu nhập Tuy nhiên hiện nay, nhờ tiến bộ khoahọc kỹ thuật, không chỉ có quy mô đất đai ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập, bêncạnh đó trình độ sử dụng đất cũng là một yếu tố để tạo việc làm tăng thu nhập chongười lao động

- Khí hậu thời tiết

Trong sản xuất nông nghiệp, đối tượng sản xuất là cây trồng, vật nuôi Ngoài

sự tác động của người nông dân cây trồng vật nuôi chịu sự tác động của quy luật sinhhọc, của khí hậu thời tiết Quá trình sản xuất được ví như xí nghiệp ngoài trời, chịuảnh hưởng rất lớn của thiên nhiên Vào những tháng đầu mùa mưa (tháng 8,9,10), hầunhư lao động nông nghiệp làm việc với hiệu suất rất thấp do mưa dầm và yếu tố thời

vụ Ngoài ra, nền nông nghiệp nước ta cũng gặp phải nhiều khó khăn ảnh hưởng xấuđến sản xuất nông nghiệp: lũ lụt, hạn hán, bão lốc Vì thế, tổ chức tạo việc làm cho laođộng dân tộc thiểu số ở mỗi vùng, mỗi địa phương cần phải căn cứ vào những yếu tố

tự nhiên của địa phương mình sao cho hiệu quả

Trang 15

- Dân số và lao động

Dân số và phát triển kinh tế xã hội là những yếu tố vận động theo các quy luậtkhác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau.Một trong những mối quan hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăngtrưởng lực lượng lao động và cơ hội tạo việc làm phù hợp

Do trình độ dân trí thấp, thiếu thông tin và lạc hậu nên tốc độ tăng dân số ở cácvùng dân tộc thiểu còn cao trong khi đó đất đai lại có hạn Vì vậy tạo ra nhiều việclàm cho lao động dân tộc thiểu số, gắn tạo việc làm với hạn chế tốc độ phát triển dân

số ở các vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề cấp thiết hiện nay

- Giáo dục và đào tạo

Giáo dục đào tạo có ảnh hưởng đến chất lượng lực lượng lao động và cơ cấu củalực lượng lao động theo trình độ, ngành nghề và do đó có ảnh hưởng đến giải quyếtviệc làm Giáo dục – đào tạo tốt sẽ tạo ra lực lượng lao động có trình độ học vấn, trình

độ chuyên môn kỹ thuật cao, có phẩm chất đạo đức, tác phong tốt, có cơ cấu ngành nghềphù hợp với nhu cầu lao động Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho giải quyết việc làm

và ngược lại nếu giáo dục không tốt sẽ gây cản trở cho giải quyết việc làm

- Vốn đầu tư

Vốn là nhân tố quan trong để đầu tư mở rộng sản xuất Ở các vùng dân tộc, mặc

dù đất đai rộng lớn nhưng lại khan hiếm vốn nghiêm trọng, nếu được đầu tư vốn lớn và

sử dụng hiệu quả sẽ tạo được nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người dân tộc

Cơ sở hạ tầng thiếu và yếu, người nông dân thiếu vốn đầu tư để mua sắm công

cụ, dụng cụ tư liệu sản xuất cũng như hạn chế áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật

để thâm canh tăng năng suất, cải thiện điều kiện lao động, tạo thuận lợi cho việc nângcao năng suất lao động, tăng thu nhập Tuy nhiên việc đầu tư máy móc thiết bị mộtmặt làm tăng năng suất lao động, nhưng mặt khác lại làm giảm khả năng thu hút laođộng Ở điều kiện nguồn lao động dồi dào, dư thừa, người ta chỉ nên nghĩ đến cơ giớihoá khi đã tìm được các giải pháp khả dĩ giải quyết số lao động dôi ra do máy mócthay thế Do vậy phải căn cứ vào điều kiện cụ thể về nhu cầu của sản xuất, về khả

Trang 16

năng lao động và tình hình công ăn việc làm ở từng địa phương, mà có bước đi và hìnhthức trang bị phù hợp, để vừa phát huy được ưu thế của máy móc thiết bị, vừa tạo rađược nhiều việc làm cho người lao động.

- Các chính sách của Nhà nước đối với dân tộc thiểu số

Chính sách Nhà nước là các công cụ nhằm định hướng điều tiết kinh tế xã hội.Nếu có những chính sách phù hợp thì mang lại hiệu quả đối với phát triển kinh

tế xã hội Trong đó chính sách đối với các dân tộc thiểu là một tổng thể các biện phápkinh tế, hoặc phi kinh tế của Nhà nước, có liên quan đến dân tộc thiểu số theo mộtđịnh hướng với những mục tiêu nhất định

1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số

Để đánh giá thực trạng việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số đề tài đã sử

dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ thất nghiệp:

Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp củamột quốc gia Là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động Tỷ lệ thấtnghiệp được tính như sau:

Tn = Th : Lld x 100

Trong đó, Tn: Tỷ lệ thất nghiệp (%)

Th: Tổng số lao động thất nghiệp (người)

Lld: Lực lượng lao động dân tộc thiểu số (người)/

- Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm:

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động dân tộc thiểu số trong năm

là tỷ số giữa số ngày mà người lao động đã sử dụng vào sản xuất hoặc dịch vụ so vớitổng số ngày mà người lao động có thể làm việc được trong năm (quỹ thời gian làmviệc trong năm tính bình quân cho một lao động)

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động dân tộc thiểu số trong nămđược tính theo công thức sau:

Tq = Nlv : Tng x 100

Trang 17

Tỷ suất sử dụng thời gian làm việc của lao động trong năm nói lên trình độ

sử dụng lao động theo ngày và qua đó thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa sử dụng hếtcần phải huy động trong năm Ngày lao động được tính theo ngày chuẩn, tức là thờigian làm việc phải đạt 8 giờ trong một ngày Qua chỉ tiêu này sẽ thấy được tình hình

và mức độ việc làm, thấy được số ngày còn dôi ra chưa được sử dụng vào sản xuất,trên cơ sở đó lập kế hoạch và biện pháp nhằm tạo thêm việc làm để người lao động cóthể sử dụng tối đa quỹ thời gian làm việc trong năm

1.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho thanh

niên dân tộc thiểu số

Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đếnviệc làm và chính sách giải quyết việc làm cho nguồn lao động trẻ Đây là tiền đề quantrọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốcgia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như ViệtNam, mà lực lượng nòng cốt là thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc thiểu số nóiriêng; giải quyết việc làm cho thanh niên là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quảnguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồngthời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới

Trang 18

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương,đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nhiều việc làm cho người lao động, nhất là thanh niên.Qua đó, giảm được tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sốngnhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh Đó là:

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 đã đượcthông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Giải quyết việc làm làyếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định xã hội, đáp ứng nguyện vọngchính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”

- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25-7-2008 đã chỉ rõ:

"Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cảithiện đời sống cho thanh niên Huy động nhiều nguồn lực xã hội, đầu tư ngân sáchthỏa đáng để đẩy mạnh dạy nghề, phổ cập sơ cấp nghề cho thanh niên

Hoàn thiện chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm; có chính sách tín dụng

ưu đãi cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt các kỹ thuật cao; đầu tư phát triển kết cấu

hạ tầng dịch vụ thị trường lao động; tín dụng ưu đãi cho thanh niên vay tạo việc làm,lập nghiệp; khuyến khích thanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài "

- Trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (11-9-2009) cũng đã

xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động , phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo

và tìm việc làm”.

- Cũng trong Đại hội này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết Chương trìnhhành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH T.Ư Đảngkhóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 19

- Chỉ thị số 19CT/TU “Về việc đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc” và Nghị quyết

số 05 NQ/TU ngày 14/01/2005 “Về việc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số đến 2010”.

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số ở một số địa phương trong nước

1.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng

Huyện Hòa Vang nằm từ 15°56' Bắc đến 16°13' Bắc và từ 107°49' Đông đến108°13' Đông Hòa vang là huyện ngoại thành duy nhất của Thành phố Đà Nẵng, với

cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Theo kết quả điều tra dân số hiện nay toànhuyện có khoảng 106.910 người, trong đó có khoảng 200 hộ đồng bào dân tộc Cơ Tuvới trên dưới 1.000 người

Hiện nay huyện Hòa Vang có khoảng 38.230 người trong độ tuổi thanh niên,trong đó thanh niên dân tộc thiểu số chỉ khoảng 350 người Tuy lực lượng TNDTTSchiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số thanh niên toàn huyện nhưng trong những năm quacông tác giải giải quyết việc làm cho TNDTTS đã được UBND huyện và các banngành hết sức quan tâm:

- Nhằm từng bước tạo công ăn, việc làm cho thanh niên người dân tộc Cơtu,UBND xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng) đã chủ trương giải quyếttheo hướng ổn định tại chỗ Theo đó, UBND xã liên hệ với Công ty Du lịch Bà Nàtuyển dụng 50 lao động phổ thông là thanh niên dân tộc Cơ tu vào làm việc tại khu dulịch Về lâu dài, UBND xã khôi phục làng nghề truyền thống như: đan lát, dệt thổ cẩm,làm ghế mây chủ yếu cung cấp sản phẩm cho khu du lịch Bà Nà Bên cạnh đó, đểngười dân tận dụng tốt nguồn nguyên liệu từ đất rừng, chính quyền xây dựng mô hìnhtrồng nấm Giải pháp này dự báo sẽ có tính khả thi cao, bởi phù hợp với đất đai, thổnhưỡng và điều kiện sinh sống của người Cơ tu Việc liên kết với Công ty Du lịch đểđưa thanh niên dân tộc thiểu số vào làm việc là cách làm mới mẻ ở xã Hòa Bắc, huyệnHòa Vang Cách làm ấy không những góp phần giúp địa phương giải quyết nguồn lực

Trang 20

lao động nhàn rỗi mà còn giúp thanh niên dân tộc thiểu số tăng thêm thu nhập giađình, có điều kiện “lập nghiệp” ngay chính trên quê hương của mình.

- Ngoài ra một số mô hình tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số nhưtrồng trọt, chăn nuôi, đan lát cũng được huyện Hòa Vang chú trọng thực hiện

Từ kinh nghiệm của huyện Hòa Vang, khi giải quyết bài toán về việc làm chothanh niên dân tộc thiểu số, các địa phương cần chú trọng giải pháp dạy nghề lưuđộng, đào tạo ngắn hạn miễn phí theo phương thức “cầm tay chỉ việc” Tập trung vàocác ngành nghề chăn nuôi, trồng trọt, đan lát mây tre, làm mộc, trồng nấm bên cạnh

đó cần có cơ chế, chính sách tiêu thụ sản phẩm tại chỗ để khuyến khích quá trình táisản xuất, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên vay vốn dài hạn để họ pháttriển sản xuất Muốn đảm bảo tính lâu dài, bền vững, những trường Cao đẳng nghề củacác địa phương cần ưu tiên con em dân tộc thiểu số, nên mở một số ngành, nghề đàotạo cho phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế của địa phương Mặt khácchính quyền các địa phương cũng cần phối hợp chặt chẽ với các khu công nghiệp, khu

du lịch qua đó tạo điều kiện bố trí con em đồng bào dân tộc thiểu số vào làm việc, đểgiúp họ có thu nhập ổn định

1.2.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam

Phước Sơn là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam Huyện có 15 thànhphần dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó tộc thiêu số chiếm trên 70% dân số(ngườiBh'noong chiếm 59%) Với đặc thù là một huyện miền núi cao, trình độ nhậnthức của đoàn viên thanh niên, nhất là đối với thanh niên người dân tộc thiểu số cònhạn chế, số thanh niên không có công ăn việc làm chiếm khá cao và đó là nguyên nhânchính dẫn đến công tác tập hợp thanh niên luôn gặp khó khăn:

- Thông qua kênh tín dụng của thanh niên, tính đến thời điểm hiện tại, toànhuyện Phước Sơn có 15 tổ tiết kiệm vay vốn, với 137 hộ thanh niên được vay hơn 8,7

tỷ đồng để phát triển kinh tế Bên cạnh đó, các cơ sở đoàn như Phước Năng, Phước

Mỹ, Phước Hòa còn làm tốt công tác tư vấn giới thiệu hơn 50 đoàn viên thanh niên

Trang 21

tham gia xuất khẩu lao động theo chương trình 30a của chính phủ Qua gần 2 năm thựchiện, số thanh niên này đã gửi hàng trăm triệu đồng tiền tích lũy về gia đình

- Huyện đoàn Phước Sơn, Phối hợp với Liên minh hợp tác xã Quảng Nam, tổchức ILO, tư vấn cho đoàn viên thanh niên xã Phước Xuân, Phước Hòa thành lập tổsản xuất chế biến mây xuất khẩu, hình thành lò luộc mây nguyên liệu tại Phước Xuân,bước đầu thu hút được hơn 100 đoàn viên thanh niên tham gia Đây được coi là hướng

mở thiết thực cho công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên ngườiđồng bào dân tộc thiểu số

Bằng những cách làm thiết thực, hiệu quả, từ tuyên truyền nâng cao nhận thức,đến tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho đoàn viên thanh niên.Các cơ sở đoàn ở huyện miền núi cao Phước Sơn đã và đang phát huy vai trò của mìnhtrong công tác tập hợp, khơi dậy sức trẻ, lòng nhiệt huyết của thanh niên, góp phầncùng với cả huyện đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng quê hươngPhước Sơn ngày càng giàu đẹp văn minh

1.2.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Trà Vinh

Tỉnh Trà Vinh nằm ở toạ độ địa lý 105 vĩ độ Bắc, cách thủ đô Hà Nội 2.000

km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 2.226 km2, chiếm 0,68% tổng diện tích tự nhiên cảnước Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Trà Vinh có 966.949 người Trong đó,

số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh là 622.000 người, chiếm 62,79% dân

số toàn tỉnh Trên địa bàn tỉnh có 3 dân tộc chính, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh

có 660.910 người, chiếm 68,35%; dân tộc Khmer có 290.085 người, chiếm 30%; dântộc Hoa có 15.954 người, chiếm 1,65%

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, cùng với việc Việt Namtrở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đã mở ranhiều cơ hội mới, song cũng đặt ra nhiều thách thức, nhất là vấn đề về việc làm chongười lao động nói chung và thanh niên nói riêng.Theo báo cáo của các ngành hữuquan thuộc tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có khoảng 64.600 thanh niên chưa có việc làmhoặc việc làm thiếu ổn định (hơn 30% là thanh niên dân tộc Khmer) Đây là một con

Trang 22

số không nhỏ nhưng nhờ sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Tỉnh ủy, HĐND,UBND tỉnh, các sở, ngành liên quan, Trà Vinh đã tạo được nhiều hình thức giải quyếtviệc làm tại địa phương và giành được nhiều thành tựu đáng ghi nhận:

- Lập dự án vay vốn giải quyết việc làm từ Ngân hàng chính sách xã hội và một

số dự án của các chương trình lồng ghép khác Từ đó, 18.088 thanh niên qua đào tạonghề với đa dạng nghề đào tạo: may mặc, điện tử, điện dân dụng, sửa chữa máy nổ,mộc dân dụng, hàn, nuôi trồng thủy sản, chế biến bảo quản thủy sản, thủ công mỹnghệ…

- Trong công tác dạy nghề, luôn chú trọng những ngành nghề đáp ứng nhu cầu

xã hội, phù hợp với trình độ thanh niên dân tộc thiểu số, nên hầu hết thanh niên dântộc thiểu số sau khi học nghề đều có cơ hội tìm được việc làm, tăng thu nhập, gópphần xóa đói giảm nghèo ở địa phương Từ 2007 đến nay, tổng nguồn vốn thực hiệngiải quyết việc làm cho thanh niên gần 252,4 tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách Trungương hơn 188 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương hơn 49 tỷ đồng và vốn vận độngđoàn viên thanh niên hơn 15 tỷ đồng

- Để công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên mang lại hiệu quảcao hơn, Trà Vinh cũng đề xuất, kiến nghị với Đoàn công tác của Ủy ban Dân tộcQuốc hội một số vấn đề liên quan như: Hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ bản trung tâm dạynghề cấp huyện, tỉnh; điều chỉnh chính sách tiền lương và có chính sách thu hút đốivới giáo viên dạy nghề; nâng mức hỗ trợ tiền ăn cho học viên học nghề thuộc Đề ánđào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956 của Thủtướng Chính phủ, đồng thời đề nghị bổ sung đối tượng hộ cận nghèo vào diện đốitượng được hỗ trợ tiền ăn trong thời gian học nghề; tăng biên chế cho các trung tâmdạy nghề cấp huyện cả giáo viên cơ hữu và cán bộ quản lý

1.2.4 Kinh nghiệm rút ra cho huyện Quế Phong

Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số ở các địaphương trong nước, có thể rút ra một số bài học có thể vận dụng vào giải quyết việclàm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong nói riêng và cho tỉnh Nghệ Annói chung là:

Trang 23

- Tập trung công tác dạy nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số.

- Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, dịch vụ giới thiệu việc làm trong vàngoài nước một cách bài bản, hiệu quả

- Sử dụng tốt quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số

- Cần có cơ chế, chính sách tiêu thụ sản phẩm ngay tại chỗ

Trang 24

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC

THIỂU SỐ Ở HUYỆN QUẾ PHÒNG, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí

- Tọa độ: Nằm trong khoảng 19026’ đến 200 vĩ độ Bắc, 104030’ đến105010’ KinhĐông

- Địa giới hành chính của huyện trải rộng trên 13 xã và 01 thị trấn:

+ Phía bắc giáp huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa;

+ Phía Nam giáp huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An;

+ Phía Đông giáp huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An;

+ Phía Tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước cộng hòa dân chủ nhândân Lào

Quế Phong cách thành phố Vinh 180km, có 15km đường quốc lộ 48 chạy quahuyện Địa hình chủ yếu là núi cao, lại bị chia cắt mạnh bởi các khe suối, có độ dốclớn nên diện tích đất sản ít, giao thông trên địa bàn nội huyện và giao lưu kinh tế với

Trang 25

bên ngoài còn khó khăn Là huyện nằm trong dự án kinh tế Tây Nghệ An đã được Thủtướng phê duyệt và là huyện có vị trí quan trọng, chiến lược về an ninh quốc phòng.

2.1.1.2 Diện tích

Quế Phong có diện tích đất tự nhiên là 189.086,45 ha (chiếm 11,5% diện tíchtoàn tỉnh, trong đó, diện tích lúa nước trên 2.100 ha Địa hình huyện Quế Phong kháphức tạp, chủ yếu là đồi núi chiếm tới 70% diện tích tự nhiên

Cơ cấu sử dụng đất của huyện: đất nông - lâm – ngư nghiệp là 157.399,77 hachiếm 83,24% diện tích đất tự nhiên, đất chuyên dùng và đất ở là 4.196,31 ha chiếm2,22% diện tích đất tự nhiên, đất chưa sử dụng 27.490,37 ha chiếm 14,54% diện tíchđất tự nhiên Đất chưa sử dụng chủ yếu là núi cao, có độ dốc lớn nên rất khó khăntrong việc bố trí sản xuất, tuy nhiên nếu được đầu tư về thủy lợi và phát triển cơ sở hạtầng sản xuất thì đây là tiềm năng lớn có thể khai thác và sử dụng làm đất lâm nghiệp.Nếu làm được điều này thì cơ hội việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số huyện sẽ trởnên phong phú hơn

2.1.1.3 Khí hậu

Chế độ gió: Có hai loại gió chính:

+ Gió Tây Nam ( gió Lào ) thổi từ tháng 4 đến tháng 9, tốc độ gió 0,5m/s, đemtheo khí hậu khô nóng đặc biệt là vùng thung lũng, lòng chảo của huyện nên dễ xảy ralốc lớn và mưa đá

+ Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió 0,6m/s, khíhậu khô hanh mưa phùn và rét, dễ gây thiếu nước, giảm tốc độ sinh trưởng của câytrồng và phát sinh dịch bệnh gia súc, gia cầm, ảnh hưởng tới sinh hoạt, sức khoẻ conngười

Huyện Quế Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, huyện có 3 khuvực với 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau Vùng cao mưa nhiều, độ ẩm lớn; nhiệt độ thấp.Vùng thấp khí hậu ôn hoà, sự khác biệt lớn nhất giữa 2 vùng là mùa hè nhiệt độ; banngày vùng thấp thường cao hơn 2 đến 30C và độ ẩm không khí thấp hơn gây nên thờitiết khô nóng

Nhiệt độ:

- Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 240C

Trang 26

- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 340C.

- Nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 90C

- Nhiệt độ mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm nhiệt độ cao

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm và phân bố theo mùa Mùa mưa

từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa tập trung 70 đến 90% lượng mưa cảnăm thường gây ngập lụt, lũ quét, lũ ống Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,lượng mưa thấp nên dễ gây thiếu nước, khô hạn ở một số nơi Số ngày mưa trên 190ngày/năm

2.1.1.4 Địa hình

Trong vùng có 3 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi cao:

Là địa hình đặc trưng trong khu vực, gồm các dải núi có độ cao hơn 1.000m,nằm ở phía Tây Bắc của huyện, tập trung ở 3 xã Đồng Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch.Địa hình bị chi cắt mạnh bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối khá dày đặc Địahình có độ dốc lớn, dễ gây hiện tượng sạt lở, trượt đất, diện tích dạng địa hình này gần52% diện tích tự nhiên, đây cũng là vùng thượng lưu của hai con sông lớn là sông Chu

và sông Hiếu Thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên, dạng địa hình này chỉ có ýnghĩa lâm sinh duy trì độ che phủ đất rừng tự nhiên phòng hộ, tạo nguồn sinh thuỷđiều hòa khí hậu trong vùng

- Địa hình đồi núi trung bình và núi thấp:

Bao gồm các dãy đồi núi có độ cao trong bình từ 250m đến 850m; là vùngchuyển tiếp khu vực núi cao và vùng thấp, nằm ở phía Tây Nam của huyện, tập trung ở

Trang 27

các xã Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Nậm Nhoóng, Tri Lễ và Nậm Giải.Diện tích chiếm 50% diện tích tự nhiên, thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên vàrừng trồng đặc sản (quế), rừng nguyên liệu gỗ như keo lai, mỡ, trám vv Trên địa hìnhnày còn diện tích đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng khai thác vào sản xuất nôngnghiệp như trồng cây ăn quả, làm nương rẫy, làm ruộng bậc thang, trồng rừng theo môhình nông lâm kết hợp.

- Địa hình bằng, thấp:

Gồm những thung lũng nằm dưới chân núi cao hoặc dải đất bằng nằm dọc haibên bờ suối, có những nơi diện tích rộng từ 300 đến 400 ha, phân bố tập trung ở cácxã: Mư ờng Nọc, Châu Kim, Quế Sơn, Tiền Phong và thị trấn Kim Sơn Độ dốcthường từ 3 đến 5 độ rất thuận lợi cho canh tác, đây là vùng sản xuất lúa, rau, màu tậptrung với sản lượng lớn của huyện Quế Phong

2.1.1.5 Thuỷ văn

Quế Phong có 04 con sông chính, phân bố đều từ Tây Bắc sang Tây Nam:

- Sông Chu bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Đồng Văn, Thông Thụ huyệnQuế Phong về Thanh Hoá

- Sông Nậm Việc (đầu nguồn sông Hiếu) bắt nguồn từ biên giới và huyện qua

xã Hạnh Dịch chảy về phía Nam huyện vào địa phận huyện Quỳ Châu

- Sông Nậm Quàng là một nhánh lớn của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới ViệtLào ở xã Tri Lễ dài 71km, diện tích l ưu vực 594,8 km2

- Sông Nậm Giải cũng là một nhánh của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới ViệtLào ở xã Nậm Giải dài 43 km chảy qua các xã Châu Kim, M ường Nọc

Nhờ hệ thống sông suối khá dày đặc, cùng với địa hình tương đối cao - là cơ hộilớn để phát triển các công trình thủy điện phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc vàtoàn xã hội

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân số và lao động

Hiện nay Quế Phong có 14 đơn vị hành chính gồm 13 xã và 01 thị trấn; 02 cụmtrung tâm cụm xã bao gồm 4 dân tộc chính đó là Thái, Mông, khơ mú,Kinh cùng sinhsống (dân tộc ít người chiếm trên90 % dân số)

Trang 28

- Dân tộc Thái: 53.893 người chiếm 82,7% dân số chủ yếu sống ở vùng núi thấpven sông suối và chân núi, có truyền thống canh tác lúa nước, có tư tưởng thỏa mãnthiếu chí hướng làm giàu.

- Dân tộc Mông: 2.976 người chiếm 4.56% dân số, sống tập trung chủ yếu ở cácdãy núi cao dọc biên giới, siêng năng chăm chỉ làm ăn nhưng do điều kiện sản xuấtkhó khăn nên hầu hết thiếu đói quanh năm và thường di cư tự do

- Dân tộc Khơ mú: 2.106 người chiếm 3,23% dân số sống rải rác ở các dãy núicao trung bình, thường du canh du cư, trình độ dân rí thấp thiếu chịu khó trong laođộng sản xuất

- Dân tộc Kinh: 6.180 người chiếm 9,51%, sống tập trung ở những nơi bằngphẳng, chủ yếu là kinh doanh - buôn bán nên có mức sống tương đối cao

Theo kết quả điều tra của phòng lao động TB&XH: Dân số bình quân năm 2010

là hơn: 65.155 người (hơn 13.764 hộ), trong đó nam hơn 33.047 người chiếm 50,72%tổng dân số toàn huyện, nữ hơn 32.108 người chiếm 49,28% tổng dân số toàn huyện.Lao động có độ tuổi từ 15 – 60 có 33.843 người chiếm 51,94% so với tổng dân số toànhuyện Mật độ dân số bình quân 33 người/km2 nhưng phân bố không đều giữa các vùngtrong huyện, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,26% Số lao động tham gia hoạt động kinh tế

là 26.013 người và chiếm 76,86% so với tổng dân số trong độ tuổi lao động trong đó laođộng nông – lâm – ngư nghiệp là 19.480 người chiếm 74,88%, lao động công nghiệp –dịch vụ (phi nông nghiệp) là 6.533 người chiếm 25,12%, lao động có việc làm ổn định

là 19.970 người chiếm 76,77% trong tổng số lao động Tỷ lệ sử dụng thời gian lao đông

ở khu vực nông thôn đạt 67%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 9,88%

Nhìn chung dân số huyện Quế Phong là dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp,

tư tưởng thỏa mãn , trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, mật độ dân số thấp, laođộng tham gia hoạt động kinh tế chiếm khoảng 40% dân số nhưng lao động có việclàm ổn định chiếm 30,55% tổng dân số, trinh độ tay nghề thấp chủ yếu là lao độngnông nghiệp nên thu nhập bình quân đầu người 250.000đ/tháng, tỷ lệ hộ nghèo còncao 40,08 % (chuẩn cũ), là 1 trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước được chính phủ

hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững theo nghịquyết số 30a/2008/NQ – CP ngày 27/12/2008 của Thủ tướng chính phủ

Trang 29

Từ thực trạng trên có ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho ngườidân trên địa bàn huyện Quế Phong, nhất là đối với lực lượng lao động thanh niên.

2.1.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật thiết yếu

Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố rất cơ bản để đầu tư cho sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội của huyện Nó tạo tiền đề cho hàng loạt các giải pháp nhằm phát triểnkinh tế - xã hội bền vững, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho sự chuyển dịch cơcấu kinh tế của huyện, do đó nó góp phần tạo ra nhiều cơ hội việc làm tại địa phươngcho thanh niên huyện Phú Lộc Trong đó cần chú ý đến các cơ sở hạ tầng về giaothông, điện, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế,

- Nguồn vốn và nguồn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội do Trung ương, bộ ngành quản lý tăng từ 496 tỷđồng năm 2006 lên 1.837 tỷ đồng năm 2010; do địa phương quản lý tăng từ 90 tỷ năm

2006 lên 530 tỷ năm 2010 Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chủ yếu là từ ngânsách Trung ương, huy động trong dân chỉ chiếm 5% % Song các nguồn vốn trên đãtập trung đầu tư cho nông nghiệp, giao thông, bưu điện, điện , giáo dục, điều này đãgóp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện

- Giao thông vận tải

Hiện nay toàn huyện đã xây dựng được 55,4 km đường nhựa, 8 km đường bêtông Một số công trình trọng điểm đa và đang được thi công: Đường Tiền phong –Hạnh Dịch, đường vào trung xã Đồng Văn, Nậm Nhoong, đường Kim Sơn – Quế Sơn;cầu treo Bản Quàng xã Châu Thôn, cầu treo bản Long Quang xã Tiền Phong Tuynhiên, do địa hình phức tạp, chia cắt bởi đầm phá và đèo núi, nên một số nơi giaothông đi lại còn khó khăn

- Thủy lợi

+ Công trình thủy lợi Minh Châu xã Tri Lễ, với tổng mức đầu tư 21,358 tỷ Đây

là công trình thủy lợi lớn nhât của huyện Quế Phong, đảm bảo tưới tiêu cho khoảng30% diện tích lúa nước

+ Công trình thủy lợi Phai luận, xã Tiền Phong với tổng mức đầu tư 1,675 tỷ

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. TS. Hoang Chí Bảo, Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa cácdân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia –2008
2. Phan Văn Viên,báo cáo tổng kết đề tài NCKH, Việc làm cho TN thành phố Huế- 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho TN thành phốHuế-
3. Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng việt. Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ại từ điển tiếng việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
4. TSKH Phạm Đức Chính, Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở ViệtNam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
5. PGS. TS. Nguyễn Thị Thơm, THS. Phí Thị Hằng, Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội - 2009 6. TS Nguyễn Xuân Khoát, Lao động, việc làm và phát triển kinh tế- xã hội nông thôn Việt Nam,NXB Đại học Huế-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho laođộng nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, "Nxb chính trị quốc gia Hà Nội - 20096. TS Nguyễn Xuân Khoát, "Lao động, việc làm và phát triển kinh tế- xã hội nôngthôn Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia Hà Nội - 20096. TS Nguyễn Xuân Khoát
8. Th.s Nguyễn Minh Chung, Hồ Chí Minh nói về vai trò của thanh niên, Văn phòng T.Ư Đoàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nói về vai trò của thanh niên
9. Th.s Lô Quốc Toản “Quan niệm về dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay”. Học viện chính trị khu vực I, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểusố hiện nay”
10. Phạm Đức Thành, thang Mạnh Hợp, “ Vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay”, tạp chí kinh tế phát triển (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam từđổi mới đến nay”
11. Phạm Hồng Tiến, “vấn đề việc làm ở Việt Nam”, tạp chí nghiên cứu kinh tế (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề việc làm ở Việt Nam
12. Nguyễn Tiệp, “Tạo việc làm ở nước ta – từ chính sách đến thực tiễn”, tạp chí kinh tế phát triển (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm ở nước ta – từ chính sách đến thực tiễn
15. Sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2009 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyên Quế Phong, Phòng lao đông TB&XH huyện Quế Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2009 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyên Quế Phong
Tác giả: Phòng lao động TB&XH huyện Quế Phong
7. Niên giám thống kê huyện Quế Phong năm 2005 – 2009, Phòng thống kê huyện Quế Phong năm 2010 Khác
16. Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn 2006 – 2010, Huyện đoàn Quế Phong Khác
17. Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2010, Huyện đoàn Quế Phong Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3 cho thấy lực lực thanh niên dân tộc thiểu số tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 16 –  20 có 27 người, chiếm 36% - Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện quế phong, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3 cho thấy lực lực thanh niên dân tộc thiểu số tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 16 – 20 có 27 người, chiếm 36% (Trang 35)
Bảng 2.4. Cơ cấu thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong theo trình độ - Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện quế phong, tỉnh nghệ an
Bảng 2.4. Cơ cấu thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong theo trình độ (Trang 36)
Bảng 2.5. Trình độ chuyên môn kỹ  thuật của thanh niên dân tộc thiểu số huyện - Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện quế phong, tỉnh nghệ an
Bảng 2.5. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của thanh niên dân tộc thiểu số huyện (Trang 37)
Bảng 2.8 Thu nhập của thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong - Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện quế phong, tỉnh nghệ an
Bảng 2.8 Thu nhập của thanh niên dân tộc thiểu số huyện Quế Phong (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w