luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước và hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp luôn đóng một vai trò quan trọng Bởi lẽ,Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với hơn 70 % dân số sống tại nông thôn, hàng nămsản xuất nông nghiệp của nước ta không những cung cấp đủ nhu cầu lương thực thực phẩmtrong nước mà còn xuất khẩu một khối lượng lớn ra thị trường thế giới đóng góp lớn vàotổng thu nhập quốc dân Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên vật liệuchủ yếu cho công nghiệp chế biến Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nâng cao khả năngsản xuất nông nghiệp và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển nông nghiệp,nông thôn để nông nghiệp luôn là tiền đề, nền tảng cho quá trình CNH-HĐH đất nước
Vì thế, ngành công nghiệp chế ngày càng trở nên quan trọng và gắn liền với sản xuấtnông nghiệp Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nông nghiệp-nông thôn phải gắnliền với công nghiệp chế biến và xuất khẩu Việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày,dài ngày có giá trị kinh tế đang được Nhà nước khuyến khích phát triển để cung cấpnguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Và trong nhưng năm gần đây, ngành côngnghiệp sản xuất, chế biến tinh bột sắn cũng đang là ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao,nên nhiều tỉnh thành đã chủ động phát triển vùng nguyên liệu sắn và xây dựng các nhà máychế biến với dây chuyền công nghệ tiên tiến nhất phục vụ sản xuất Nghệ An là tỉnh có diệntích đất đai lớn nhất cả nước và có vùng nguyên liệu sắn dồi dào, chất lượng sắn tươi rấtcao Lợi thế này rất thuận lợi cho việc phát triển và xây dựng các nhà máy chế biến tinh bộtsắn
Nhà máy tinh bốt sắn Intimex là đơn vị kinh tế chuyên về chế biến tinh bột sắn phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Với nhiêm vụ như vậy, việc đẩy mạnhsản xuất kinh doanh tinh bột sắn không chỉ có ý nghĩa góp phần vào việc nâng cao thu nhậpcho người dân trong khu vực hoạt động của Nhà máy mà còn mang lại hiệu quả kinh doanh
Trang 2cho Công Ty Cổ phần INTIMEX đầu tư thêm công nghệ và Nhà máy tinh bột sắn Intimex.Hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều mà bất kì doanh nghiệp nào cũng quan tâm, là điềukiện tiên quyết cho sự tồn vong của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay Vì vây,muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trườngthì mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập tại Nhà máy tinh bột sắn Intimex
Thanh Chương, tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy tinh bột sắn Intimex trực thuộc Công ty Cổ phần INTIMEX, Bộ Công Thương.” làm
nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của tôi
2 Mục đích nghiên cứu
Mục nghiên cứu cua đề tài này là hệ thống hóa những lý luận về hiệu quả sản xuấtkinh doanh; đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và xác định những nhân tố ảnh hưởngđến hiệu quả sản xuất kinh doanh; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của Nhà máy trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thay thế liên hoàn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kết quả vàhiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy tinh bột sắn Intimex qua 3 năm 2007-2009
Trang 3NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của mọi doanhnghiệp là có vị thế trên thị trường nhiều cạnh trạnh, phát triển ổn định và đạt được lợinhuận tối đa Muốn được như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải đạt được hiệu quả kinh tế cao,
do đó hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu quan trọng lâu dài và quan trọng đối với cácdoanh nghiệp
Thế hiệu quả sản xuất kinh doanh là gì? Trước tiên ta phải tìm hiểu khái niệm về
hiệu quả kinh tế Theo các nhà kinh học: “Hiệu quả kinh tế là sự biểu hiện của mối quan
hệ giữa kết quả lượng sản phẩm thu được với lượng vốn bỏ ra.” Từ khái niệm này ta thấy
hiệu quả sản xuất là một đại lượng so sánh giữa một bên là kết quả thu được với một bên làchi phí bỏ ra suy ra đại lượng này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Kếtquả ở đây có thể là đầu ra còn chi phí là các yếu tố đầu vào
Từ đó, các nhà kinh tế học quan niệm: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài - vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao trong sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.”
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể xác địnhbằng cách:
Cách 1:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra – chi phí đầu vào
Hiệu quả sản xuất kinh doanh theo cách này cho thấy được lợi nhuận mang lại nhưthế nào, cách tính đơn giản, thuận lợi nhưng không phản ánh hết chất lượng sản xuất kinhdoanh cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả và khả năng tiết kiệm hay lãng phí lao động
xã hội
Trang 4Cách 2: Từ nhược điểm của cách trên, cho nên trong phân tích ta phải kết hợp cáchđánh giá sau:
Kết quả đầu ra Hiệu quả sản xuất kinh doanh =
Chi phí đầu vào Hoặc:
Chi phí các yếu tố đầu vàoHiệu quả sản xuất kinh doanh =
Kết quả đầu ra
Do hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến tất cả cácyếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh,vì vậy để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh,thông thường ta sử dụng các chỉ tiêu về sức sản xuất của các yếu tố cơ bản hay suất hao phícủa các yếu tố sản xuất hoặc sức sinh lợi của chúng
Và theo thống kê học thì : “ Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự tập trung phát triển theo chiêu sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo quan trọng của sự tăng trưởng nền kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp.”
Phát triển kinh tế được thực hiện theo hai chiều: sự phát triển kinh tế theo chiều rộng
là việc huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung lao động và kỹ thuật
mở mang theo nhiều nghành nghề và xây dựng them nhiều xí nghiệp hay tạo ra nhiều việclàm cho người lao động…Phát triển theo chiều sâu là việc đẩy mạnh áp dụng thành tựukhoa học kỹ thuật, tiến hành hiện đại hóa, tăng cường chuyên môn hóa, hợp tác hóa trongsản xuất Phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Phát triển theo chiều rộng lẫn chiều sâu là yêu cầu chung cho mọi người nhưng tạimỗi nước, tại mỗi thời điểm lại có sự kết hợp khác nhau Tuy nhiên, quy luật chung vẫn là
sự phát triển theo chiều rộng thể hiện ở thời kỳ đầu của sự phát triển của doanh nghiệp vàphát triển theo chiều sâu chủ yếu trong giai đoạn phát triển
Trang 5Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác nhưng nhìn chung, các khái niệm đó đềuxoay quanh mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Trong điều kiên nền kinh tế vận động theo
cơ chế thị trường như hiện nay, hiệu quả SXKD là vấn đề sống còn của mọi doanh nghiêpbởi sự cạnh tranh trên thị trường diễn ra cang ngày khốc liệt Do đó hiệu quả SXKD càngcao thì vị thế của doanh nghiệp trên thị trường ngày càng bền vững, tạo điều kiện chodoanh nghiệp mở rộng và phát triển hơn
Như vậy, hiệu quả SXKD là sự biểu hiện của quá trình kết hợp cả số lượng và chấtlượng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.1.2 Phân biệt kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Để hiểu rõ hơn về phạm trù hiệu quả SXKD, ta cần phân biệt giữa hai khái niệm kếtquả và hiệu quả của hoạt động SXKD
Kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt đượcsau một quá trình SXKD nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanhnghiệp Kết quả SXKD là một đại lượng có thể định lượng được như khối lượng sản phẩmtiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận… và cũng có thể là đại lượng định tính như uy tín của doanhnghiệp, chất lượng sản phẩm… Như vậy, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu, chiến lược hay
kế hoạch của doanh nghiệp Trong khi đó, để đánh giá hiệu quả SXKD người ta sử dụng cảkết quả và chi phí để phân tích Phạm trù hiệu quả chỉ ra trình độ lợi dụng các nguồn lực đểtạo ra những kết quả SXKD nhất định Nó không chỉ dung để phản ánh trình độ sử dụngtổng hợp các nguồn lực đầu vào mà còn xem xét trình độ sử dụng từng yếu tố nguồn lực bộphận cấu thành và trong toàn bộ hoạt động của cơ sở kinh doanh nông nghiệp.Kết quả thuđược càng cao, chi phí bỏ ra càng ít thì hiệu quả đạt được càng cao
Về mặt chất, hiệu quả SXKD là những con số cụ thể phản ánh trình độ năng lựcquản lý các nguồn lực, các ngành sản xuất phù hợp với phương thức, chiến lược và kếhoạch kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, nó còn biểu hiện về mặt xã hội, nó phản ánh
vị thế, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, vấn đề môi trường, vấn đề việc làm…
Trang 6Về mặt lượng, hiệu quả SXKD thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được vàchi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động SXKD Kết quả thu được cao, chi phí bỏ ra thấp thì đạtđược hiệu quả cao
Như vậy, kết quả và hiệu quả có mối quan hệ liên quan mật thiêt với nhau Kết quảthu được càng tốt, có ích thì hiệu quả đạt được càng tốt
Những quan điểm chung để đánh giá hiệu quả là :
Về mặt thời gian: hiệu quả của doanh nghiệp phải là hiệu quả đạt được trong từnggiai đoạn, trong từng thời kỳ và trong cả quá trinh sản xuất
Về mặt không gian: hiệu quả kinh doanh chỉ có thể coi là đạt được tốt khi toàn bộcác hoạt động của các bộ phận, các đơn vị đều mang lại hiệu quả
Về mặt định lượng: hiệu quả kinh doanh được thể hiện trong mối tương quan giữathu va chi theo hướng tăng thu giảm chi (giảm chi ở đây có nghĩa là phải tiết kiệm ở mứctối thiểu các chi phí, tức là tiết kiệm hao phí lao động sống và lao động vật hóa) Do vậy,biểu hiện của chỉ tiêu hiệu quả về mặt định lượng chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu lợinhuận ( nếu sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không chính xác,
vì lợi nhuận chỉ phản ánh một mặt định lượng mà chưa phản ánh mặt định tịnh ) và các tỷsuất lợi nhuận
1.1.3 Ý nghĩa và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đối với nền kinh tế thị trường của nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽnhư hiện nay thì vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh rất quan trọng với mọi doanhnghiệp, nó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội Với nền kinh tế quốcdân, hiệu quả là cơ sở phát triển và đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, bởi nângcao hiệu quả kinh tế là nền tảng để nâng cao đời sống cho người dân, tăng cường phát triểnhội nhập vào nền kinh tế thế giới Với doanh nghiệp, hiệu quả SXKD là vấn đề sống còncủa mỗi doanh nghiệp, bởi nâng cao hiệu quả SXKD là nhằm tiết kiệm và sử dụng có hiệuquả các yếu tố các yếu tố nguồn lực có hạn vào quá trình SXKD để mang lại lợi nhuận caonhất với chi phí thấp nhất, hạ giá thành sản phẩm
Trang 7Hiện nay, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do conngười khai thác quá mức để phục vụ cho nhu cầu sống ngày càng tăng của họ vì dân số thếgiới tăng quá nhanh Do đó, con người đã tìm ra nhiều phương pháp kỹ thuật tiên tiến khácnhau để tạo ra các sản phẩm khác nhau Như vậy, để tồn tại và phát triển trong thị trường
có sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp với nguồn lực có hạn của mình, đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp SXKD phù hợp và phải giải quyết được ba vấnđề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai để đạt được hiệu quả kinh doanhcao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất
Vậy nâng cao hiệu quả SXKD là điều kiện cốt yếu để doanh nghiệp giải quyết cácbài toán về kế hoạch sử dụng nguồn lực và chiến lược cạnh tranh trên thị trường để tiếp tụctồn tại và phát triển Muốn làm được như vậy, yêu cầu các doanh nghiệp phải tiến hànhphân tích một cách cụ thể, chi tiết, có khoa học những nguyên nhân tác động đến kết quảcuối cùng của quá trình sản xuất từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục nhưng yếukém đó và phát huy những điểm mạnh của doanh nghiệp Chính vì vậy, đánh giá hiệu quảSXKD và nâng cao hiệu quả SXKD là việc làm cần thiết, phải tiến hành thường xuyên và
có vai trò hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong cơ chế thịtrường hiện nay
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.4.1 Nhân tố bên ngoài.
+ Điều kiện tự nhiên: là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động SXKD nóichung và các doanh nghiệp nông nghiệp nói riêng Tinh bột sắn là loại sản phẩm được chếbiến từ cây sắn, mà cây sắn là một cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát triển, do đó
nó chịu tác động lớn của điều kiên tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước, các chấtdinh dưỡng… Vì vậy, nếu cây sắn bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố tự nhiên sẽlàm giảm sản lượng sắn ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả SXKD của Nhà máy
Thanh Chương là một huyên miền núi ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An nằm trong khuvực nhiệt đới gió mùa nên chịu sự tác động của khá nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan nhưbão, lũ lụt, hạn hán…Và được chia làm 2 mùa: mùa nắng nóng vào khoảng từ tháng 4 đến
Trang 8tháng 9 và mùa đông lạnh vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mùa nắng chịu sựtác động của gió phơn Tây Nam nên thời tiết khô nóng và mùa đông lại lạnh và có mưaphùn, nền nhiệt trung bình khoảng 23 – 25,6oc Tuy nhiên vùng cũng có lượng mưa khá,bình quân khoảng 1800 – 1870 mm/năm Qua lượng mưa và nhiệt độ bình quân cho thấyvùng có rất nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhất là cây công nghiệp mang tínhchất nhiệt đới như cây sắn để làm nguyên liệu cho Nhà máy chế biến tinh bột sắn Vớinhững điều kiện tư nhiên như vậy đòi hỏi Nhà máy phải ngiên cứu cụ thể về lịch thời vụ,cách chọn giống, cách trồng để hạn chế rủi ro và đảm bảo nguồn nguyên liệu sắn cho sảnxuất.
+ Thị trường tiêu thụ: Hiện nay các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động SXKD theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sản phẩm của Nhà máy tinh bột sắn Intimextiêu thụ trên thị trường các tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc, miền Trung và xuất khẩusang các nước trên thế giới chủ yếu là Trung Quốc và Singapor, do đó các thị trường này cóảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động SXKD của Nhà máy Bởi vì sản phẩm sản xuất
ra phải được thị trường chấp nhận thì sản phẩm đó mới tồn tại được Thị trường đầu ra ổnđịnh và giá cả cạnh tranh được là nhân tố thúc đẩy Nhà máy tiếp tục sản xuất, duy trì vàphát triển sản phẩm của mình Vì vậy, Nhà máy luôn nghiên cứu thị trường thường xuyên,tìm các thị trường tiêu thụ mới và nhanh chóng nắm bắt giá cả thị trường để có chính sáchgiá thu mua sắn tươi hợp lý giảm thiệt hại cho Nhà máy và người dân sản xuất
+ Chính sách Nhà nước: Mỗi thể chế chính trị của các Nhà nước khác nhau sẽ đưa ranhững chính sách khác nhau trong những thời kỳ khác nhau và có ảnh hưởng khác nhauđến quá trình hoạt động SXKD của các doanh nghiệp khác nhau Hiện nay, các doanhnghiệp kinh doanh theo luật của Nhà nước, được Nhà nước bảo vệ, đảm bảo quyền lợi hợppháp đồng thời các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và hoàn toànchịu trách nhiệm với hoạt động SXKD của mình Pháp luật và các chính sách là công cụquản lý hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, nó tác động đến mọi lĩnh vực sản xuất Vì vậy,Nhà máy cần nghiên cứu chính sách để đưa đơn vị hoạt động đúng hướng và hợp pháp, phù
Trang 9hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thamgia vào WTO.
1.1.4.2 Nhân tố bên trong
+ Nguồn vốn sản xuất kinh doanh: Là yếu tố hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nàokhi tiến hành SXKD Việc quản lý sử dụng vốn có hiệu quả cao là rất cần thiết bởi nó quyếtđịnh đến sự tồn vong của một doanh nghiệp Nhà máy tinh bột sắn Intimex là đơn vị vừasản xuất vừa kinh doanh nên nguồn vốn lưu động chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng nguồn vốn.Ngoài ra, được sự đầu tư của công ty Cổ phần INTIMEX - một công ty có uy tín trongnước nên nguồn vốn từ hoạt động đi vay cũng rất quan trọng đối với Nhà máy
+ Nguồn nhân lực: Trong các yếu tố của quá trình sản xuất, con người là yếu tốmang tính chất quyết định đến hoạt động SXKD, dù các yếu tố vốn, công nghệ … đều đầy
đủ, hiện đại nhưng không có sức lao động của con người thì quá trình sản xuất không thểxảy ra được Vì thế, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là biện pháp tốt để nâng cao năngsuất lao động, tăng khối lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, làm giảm giá thành sảnphẩm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Với Nhà máy tinh bột sắn Intimex cũng vậy, là đơn
vị sản xuất nên lực lượng lao đông phổ thông chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động TỉnhNghệ An nói chung và huyện Thanh Chương nói riêng là khu vực có dân số đông, nguồnlao động dồi dào là nguồn cung lao động kịp thời cho sự phát triển của Nhà máy trong thờigian tới Bên cạnh đó, chất lượng lao động cũng được Nhà máy ưu tiên bằng việc mở lớphọc nâng cao tay nghề, cử cán bộ đi học để bồi dưỡng thêm trình độ quản lý của mình.Điều này chứng tỏ Nhà máy luôn nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố nhân lực trongviệc nâng cao hiệu quả SXKD
+ Công nghệ kỹ thuật: Công nghệ được hiểu là tất cả các phương thức hay quá trình
sử dụng để chuyển hóa các nguồn lực sản xuất, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chấtlượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất
Nhà máy tinh bột sắn Intimex chính thức đi vào hoạt động năm 2004 và để phục vụcho sản xuất, Nhà máy đã nhập khẩu dây chuyên công nghệ hiện đại từ Thái Lan Trongnhững năm qua, Nhà máy đã mua them một số máy móc mới nhằm phục vụ tối đa cho hoạt
Trang 10động sản xuất Qua đó, ta thấy được Nhà máy luôn cố gắng mua sắm đầy đủ các trang thiết
bị công nghệ để phục vụ tốt cho hoạt động SXKD góp phần tăng chất lượng sản phẩm củaNhà máy tạo tiền đề nâng cao hiệu quả SXKD
+ Ngoài các yếu tố nêu trên, hiệu quả SXKD còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác như trình độ tổ chức và quản lý, nghệ thuật kinh doanh Quản lý và tổ chức bao gồmviệc sử dụng nguồn vốn, nhân lực, tư liệu sản xuất là một trong những nhân tố góp phầnhoàn thành mục tiêu và kế hoạch đề ra một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Hơn nữa,trong nền kinh tế thị trường mà sự cạnh tranh luôn diễn ra hết sức khốc liệt thì để tồn tại vàphát triển, doanh nghiệp phải có bí quyết kinh doanh và nghệ thuật kinh doanh của riêngmình Đây là giải pháp để tạo uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và thu hút kháchhàng
Từ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng, các doanh nghiệp sẽ đưa ra các biện phápnhằm phát huy điểm mạnh của mình, và hạn chế tác động tiêu cực, khắc phục điểm yếu đểnắm bắt cơ hội, đưa ra quyết sách đúng đắn trong quá trình SXKD
1.1.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
1.1.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả
- Doanh thu: Là toàn bộ số tiền thu được từ bán hàng và các hoạt động khác Đây làchỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng vì chỉ khi nào hoàn thành được kế hoạch chỉ tiêu này thìdoanh nghiệp mới hoàn thành được nhiệm vụ cơ bản của mình là sản xuất và cung cấp hànghóa dịch vụ cho tiêu dùng xã hội, tích lũy vốn và tái sản xuất mở rộng
Doanh thu = Sản phẩm tiêu thụ x Đơn giá
- Chi phí sản xuất: là toàn bộ hao phí được biểu bằng tiền mà doanh nghiệp đã sửdụng trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chi phí sảnxuất kinh doanh bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
+ Chi phí bán hàng
Trang 11+ Chi phí quản lý
+ Chi phí tài chính
- Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí trong hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp, là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quátrình SXKD
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận - Thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
* Năng suất lao động bình quân:
Doanh thu
W =
Tổng số lao động
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
* Sức sinh lời của một lao động:
Lợi nhuận
L =
Tổng số lao động
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ
* Doanh lợi tiêu thụ :
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời trên doanh thu, tức là 100 đồng doanh thu sẽ tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí =
Tổng chi phí Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
* Tỷ trọng chi phí/ doanh thu:
Trang 12Chi phí
Tỷ trọng chi phí/ doanh thu = x 100
Doanh thuChỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu phải gánh chịu bao nhiêu đồng chiphí
* Doanh lợi tài sản:
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi tài sản =
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lợi của 1 đồng vốn đầu tư
* Doanh lợi vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi vốn chủ hữu =
Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặcbiệt quan tâm khi họ quyết định đầu tư vào doanh nghiệp
* Hiệu suất sử dụng vốn:
Doanh thuHiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn
* Đối với vốn cố định
Doanh lợi vốn cố định =
Số vòng quay của vốn cố định =
* Đối với vốn lưu động
Doanh lợi vốn lưu động =
Số vòng quay của vốn lưu động =
Ngoài những chỉ tiêu trên ta thông qua chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu,khả năng thanh toán, khả năng thu chi tài chính để thấy được doanh nghiệp lỗ lãi ra sao?Nguyên nhân tại sao? Đó chính là vấn đề mà ta cần nghiên cứu trong quá trình phân tíchhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 13Sau đó, cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của Châu Phi vào thế kỷXVI Từ đó sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ XVII và Srilanka đầu thế kỷXVIII Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myamar và các nước Châu Á khác vào cuốithế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.Cây sắn có tên gọi khoa học là Manihot esculenta Crantzthuộc họ thầu dầu.
Hiện nay, sắn được trồng trên 100 quốc gia của các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,tập trung nhiều ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệungười Sắn được trồng nhiều nhất tại Châu Phi 11,98 triệu ha chiếm 64% diện tích sắn toàncầu, kế đến là Châu Á 3,96 triệu ha chiếm 21% diện tích và Châu Mỹ La tinh 2,72 triệu hachiếm 15% Sản lượng sắn thế giới năm 2006/2007 đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu tấn, đến năm 2008 là 232,95 triệu tấn,năng suất bình quân là 12,46 tấn/ha.Nước có sản lượng sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria(45,72 triệu tấn), Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia(19,92 triệu tấn)
Sản phẩm sắn được thế giới quan tâm là sắn lát khô, bột dạng hạt và dạng viên, tinhbột sắn.Thái Lan là nước xuấtkhẩu sắn nhiều nhất thế giới Thị trường chung Châu Âu là
Trang 14nơi nhập khẩu lớn nhất với 95% khối lượng sắn buôn bán trên thế giới Trong cộng đồng
EU, Hà Lan và Đức là 2 quốc gia nhập khẩu nhiều nhất
Bản đồ phân bố của cây sắn
1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ sắn của thế giới
Tinh bột sắn là nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp như mì chính, thựcphẩm, hồ vải, keo dán, sirô glucozo, cồn sinh học, thức ăn gia súc… Sản phẩm của cácngành công nghiệp này đáp ứng một phần nhu cầu cấp thiết của con người nên người ta đãcủng cố và mở rộng nó hơn nên nhu cầu tinh bột sắn ngày càng tăng đồng thời các nướcxuất khẩu bột sắn với khối lượng lớn giờ càng mở rộng các ngành công nghiệp chế biếntinh bột sắn phục vụ sản xuất các sản phẩm khác ở trong nước,do đó giá tinh bột sắn trênthị trường thế giới ngày càng có xu hướng tăng lên
Hiện nay, mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm Buônbán sắn trên thế giới năm 2006 ước đạt 6,9 triệu tấn sản phẩm, tăng 11% so với năm 2005(6,2 triệu tấn), giảm 14,8% so với năm 2004 (8,1 triệu tấn) Trong đó tinh bột sắn và bột
Trang 15sắn chiếm 3,5 triệu tấn, sắn lát và sắn viên 3,4 triệu tấn.Theo dự báo của Viện Nghiên cứuChính sách lương thực thế giới (IFPRI) về tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn với tầm nhìnđến năm 2020 thì năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sảnxuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triểnkhoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệutấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sửdụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thựcphẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95% Châu Phi vẫn là khu vực dẫnđầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong
đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc
là 4,4% Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàngnăm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96% Cây sắn tiếp tục giữ vaitrò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi câysắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa vàmía Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giải phápchính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến
Trang 1635,8 triệu tấn, cây ngô có diện tích 995 ha, năng suất 3,51 tấn/ha, sản lượng gần một triệutấn Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam dự báo thuận lợi và có lợi thếcạnh tranh cao do có nhu cầu cao về chế biến bioethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc vànhững sản phẩm tinh bột biến tính Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển cácgiống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quytrình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái.
1.2.2.2 Tình hình tiêu thụ sắn
Toàn quốc hiện có trên 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công suất khoảng3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác tại hầu hết các tỉnhtrồng sắn Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800.000 – 1.200.000 tấn tinh bột sắn,trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước Sản phẩm sắn xuất khẩu củaViệt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn Thị trường chính là Trung Quốc, ĐàiLoan, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc Đầu tư nhà máy chế biến bio- etanol là một hướnglớn triển vọng
Các nhà máy chế biến tinh bột sắn có công nghệ và thiết bị hiện đại đang có ở ViệtNam chủ yếu được nhập từ Thái Lan, Trung Quốc và Đài Loan Những nhà máy có côngsuất lớn như Vedan 1 (Đồng Nai), công suất 25.000 tấn bột/năm, Vedan 2 công suất 50.000tấn bột/năm.Trong đó, Công ty Vedan Việt Nam là doanh nghiệp dẫn đầu toàn ngành tronglĩnh vực chế biến và tiêu thụ sắn Hệ thống các nhà máy chế biến thức ăn gia súc cũng đónggóp rất lớn vào việc tiêu thụ sắn cho người nông dân
Trong những năm sắp tới, cây sắn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo sẽ là đốitượng lựa chọn của người nông dân nghèo vì cây sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư,phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ Và Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩymạnh sản xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ
có điều kiện phát triển Vì vậy, cây sắn và ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ sắn
có nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ ở nước ta
Trang 17CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN INTIMEX
2.1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN INTIMEX
Trang 182.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Nhà máy tinh bột sắn Intimex là đơn vị trực thuộc công ty Cổ Phần INTIMEX ViệtNam, công ty Cổ phần INTIMEX Việt Nam nguyên là công ty Xuất Nhập Khẩu NộiThương được thành lập vào năm 1979 Trải qua quá trình hình thành và phát triển, quanhiều lần thay đổi tên gọi và tổ chức, năm 2000 được đổi tên thành công ty Xuất NhậpKhẩu và hoạt động theo điều lệ đã được Bộ Thương Mại phê duyệt theo quy định số1078/TN/TCCB ngày 01/08/2000
Trụ sở chính của công ty đặt tại 9C Trần Hưng Đạo, Hà Nội Công ty có 5 chi nhánhtại: Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng và Đồng Nai Công ty cóchức năng chính là kinh doanh thương mại (bao gồm cả xuất nhập khẩu và bán buôn bán lẻhàng hóa trên thị trường nội địa), ngoài ra còn được phép tổ chức sản xuất, gia công lắpráp, liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, để sảnxuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Công ty có doanh thu hàng năm trên 1.500 tỷ đồng, là một trong những doanhnghiệp hàng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản Mỗi năm công ty xuất khẩu hàngchục ngàn tấn sang các thị trường: Trung Quốc, Philippin và các nước Châu Á khác Hiệnnay nhu cầu đặt hàng của khách hàng lớn hơn nhiều so với khả năng cung cấp của công ty
Trong kế hoạch 2001-2005 đã được Bộ Thương Mại thông qua, để chuẩn bị cho quátrình hội nhập khu vực và thế giới, công ty đã đặt ra chủ trương phát triển đi vào chiều sâuthông qua đầu tư phục vụ cho kinh doanh thương mại và xuất khẩu hàng hóa Dự án đầu tưchế biến tinh bột sắn xuất khẩu là một trong các dự án nói trên Những căn cứ pháp lý củaviệc xây dựng Nhà máy tinh bột sắn Intimex:
1.Nghị định 51/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính Phủ về việc ban hành quy địnhchi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 thì huyệnThanh Chương nằm tại mục B thuộc địa bàn khó khăn , đồng thời dự án chế biến nông sảnthuộc nhóm dự án được khuyến khích đầu tư
2 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế Nghệ An thời kỳ 1996-2001 đã đượcUBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại quyết định số 19/QĐ.UB ngày 03/01/1996
Trang 193 Công văn số 4037 ngày 08/10/2001 của Bộ Thương Mại về cho phép công tyXuất Nhập Khẩu INTIMEX lập và triển khai đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bộtsắn Nghệ An.
4 Công văn số 3807/UB/CV ngày 29/10/2001 của UBND tỉnh Nghệ An đông ý chocông ty Xuất Nhập Khẩu INTIMEX đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn tạiThanh Chương
Như vậy, Nhà máy tinh bột sắn Intimex là đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộccông ty Cổ phần INTIMEX Việt Nam, Bộ Công Thương
Nhà máy tinh bột sắn Intimex đặt tại xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnhNghệ An được xây dựng nằm trên mặt bằng có diện tích 26,5 ha, cách quốc lộ 46 khoảng 3
km, cách thành phố Vinh khoảng 5 km, cách đường mòn Hồ Chí Minh 20 km và gần sôngRào Gang, với thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất của Thái Lan và công suất thiết kế
là 60 tấn/ngày (giai đoạn đầu), giai đoạn hai sẽ nâng công suất lên 120 tấn tinh bột/ngày.Đây là Nhà máy chế biến nông sản đầu tiên trên địa bàn huyện Thanh Chương Nhà máy đivào hoạt động từ ngày 07/08/2004 đúng vào lúc thu hoạch sắn Đến hết năm 2004, Nhàmáy sản xuất được trên 5.000 tấn sản phẩm tinh bột xuất khẩu tương đương với tiêu thụ21.000 tấn nguyên liệu sắn củ Năm 2005, Nhà máy đã sản xuất được gấp đôi sản lượngnăm ngoái, cụ thể là 10000 tấn tinh bột tương đương 40.000 tấn nguyên liệu Vào vụ chínhdây chuyền phải chạy vượt công suất, bình quân mỗi ngày tạo ra 70 tấn sản phẩm tinh bộtsắn Có những ngày cao điểm lên đến 74 tấn Và đến năm 2008, Nhà máy đã sản xuất được25.000 tấn tinh bột sắn tương đương 200.000 tấn sắn tươi
Tình hình tiêu thụ sản phẩm cũng rất khả quan, nghĩa là sản xuất ra đến đâu là tiêuthụ hết đến đó Giá xuất khẩu là 312$/tấn, FOBCửa Lò:5.824.000/tấn, khách hàng chủ yếu
là Trung Quốc Ngoài ra, trong nước còn có những công ty là khách hàng thường xuyêncủa nhà máy như công ty phát triển miền núi Nghệ An, công ty bánh kẹo Hải Hà,…Thịtrường ngoài nước còn có Turkey, Banlades,…
Thời gian qua, Nhà máy đã hết sức cố gắng khắc phục những khó khăn ban đầu đểđảm bảo công suất như dự kiến Với sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan, ban nghành, chủ
Trang 20trương của Đảng và Nhà Nước cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong nhà máy, kể từkhi đi vào hoạt động đã tạo được nhiều hiệu ứng tích cực như: cải thiện đời sống của nôngdân và nhân dân trong vùng, giải quyết công ăn việc làm cho lao động trên địa bàn hoạtđộng, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, khai thác được diện tích đất chưa sử dụng
để trồng sắn, thay đổi tập quán sản xuất…
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Nhà máy tinh bôt sắn Intimex
+ Chức năng:
Nhà máy chuyên sản xuất tinh bột sắn phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, dùnglàm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp dệt, công nghiệpthực phẩm… và chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài Ngoài ra, tận dụng sản phẩm phụ là bãsắn để chế biến thức ăn gia súc, sản xuất phân vi sinh, làm tấm lợp, ván ép…
Bên cạnh đó, Nhà máy còn góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, phát huytiềm năng về đất đai rộng lớn của miền Tây Nghệ An, thúc đẩy phát triển kinh tế khu vựcnày, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đóng góp lớn cho công cuộc xóađói giảm nghèo ở trung du, miền núi mà Đảng và Nhà nước ta đề ra
2.1.3 Bộ máy tổ chức quản lý và chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
2.1.3.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy
Để ngày càng hoàn chỉnh cơ chế đảm bảo SXKD đạt hiệu quả cao và phát hiện kịpthời những mặt yếu kém và đề xuất những giải pháp sửa đổi bổ sung nhằm cải tiến và khaithác năng lực kinh doanh hiện có đó là con người, tài sản, vốn và lợi thế của Nhà máy.Xuất phát từ mục tiêu trên Nhà máy đã sắp xếp bộ máy quản lý phù hợp với cơ chế quản lý
Trang 21của Nhà nước nhằm bảo đảm lãnh đạo từ trên xuống một cách thống nhất thì Nhà máy đãphân chia bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng như sơ đồ sau:
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
+ Giám đốc Nhà máy là người do Bộ Công Thương và Công Ty Cổ phần INTIMEXViệt Nam bổ nhiệm Giám đốc nhà máy là người có quyền cao nhất tại nhà máy, điều hànhmọi hoạt động của xí nghiệp Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước công ty về quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy, chịu trách nhiệm trước nhà nước vềnghành nghề kinh doanh dịch vụ theo pháp luật hiện hành
+ Phó giám đốc Hành chính: Là người phụ trách công việc hành chính, đóng vai tròchỉ đạo điều hành phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch nông vụ, chỉ đạo công tác kế
kế toán
Phòng tổ chức hành chính
Phòng
kỹ thuật KCS
Phân xưởng sản xuất
Trang 22hoạch sản xuất và cung ứng sản phẩm để sản xuất theo kế hoạch Chỉ đạo công tác thống kê
và tình hình sản xuất, tổ chức các cuộc họp giao ban hàng tuần, hàng tháng phối hợp vớiPhó giám đốc Kỹ thuật để giải quyết những vướng mắc trong sản xuất
+ Phó giám đốc Kỹ thuật: Là người phụ trách công việc kỹ thuật, chỉ đạo, xây dựng
kế hoạch, điều động sản xuất hàng ngày, xem xét tình hình máy móc sửa chữa bảo dưỡng
để đảm bảo an toàn cho sản xuất cũng như lúc ngừng sản xuất
+ Phòng Kế hoạch nông vụ: Nhiệm vụ chính của phòng kế hoạch nông vụ là thammưu cho ban giám đốc lên kế hoạch, định hướng phát triển nguyên liệu sắn, thu muanguyên vật liệu sắn của nông dân thông qua cán bộ nông vụ vùng và các đại lý tại các điểmthu mua Đây là bộ phận có mối quan hệ trực tiếp với người nông dân trồng sắn nên có vaitrò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất chế biến của Nhà máy
+ Phòng Tổ chức hành chính: Tham mưu cho ban giám đốc về công tác cán bộ và bốtrí lao động của nhà máy trong từng bộ phận cụ thể
+ Phòng Tài chính kế toán: Tham mưu cho ban giám đốc thực hiện tốt chính sách tàichính và thực hiện các chức năng sau đây:
- Cung cấp tư liệu, thông tin kinh tế về hoạt động sản xuất kinh doanh và hợp đồngsản xuất kinh doanh cho lãnh đạo
- Ghi chép, phản ánh giám sát việc bảo quản tín dụng, tài sản cho đơn vị phục vụ sảnxuất kinh doanh có hiệu quả hơn
- Tính toán phản ánh thu nhập, chi phí, kết quả sản xuất kinh doanh
- Cung cấp chứng từ, tài liệu kế toán phục vụ cho việc kiểm tra của Nhà nước
+ Phòng Kỹ thuật KCS: Gồm có nhân viên kỹ thuật KCS và bộ phận môi trường cónhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, quản lý quy trình sản xuất trong dây chuyền sảnxuất, giám sát kiểm tra chất lượng nước thải của nhà máy đảm bảo không gây ô nhiễm môitrường và không ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động
+ Phân xưởng sản xuất: Là bộ phận tập trung số lượng lao động nhiều nhất Phânxưởng có những nhiệm vụ chính sau:
Trang 23- Quản lý, giám sát quá trình sản xuất chế biến từ công đoạn tiếp nhận nguyên liệucho đến giai đoạn đóng bao.
- Sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị, kiểm tra và đảm bảo cung cấp điện chodây chuyền sản xuất chế biến
- Thực hiện các công đoạn chế biến sản phẩm, cả sản phẩm chính là tinh bột sắn và
bã sắn
2.1.4 Tình hình lao động của Nhà máy
Trong quá trình hoạt động SXKD cần phải có nhiều yếu tố: nguồn vốn, cơ sở hạtầng, trang bị kỹ thuật,… nhưng yếu tố về nhân lực có vai trò hết sức quan trọng Mộtdoanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù lượng vốn hay cơ sở vật chất kỹ thuật và các yếu tố khác
có dồi dào đến đâu đi chăng nữa không được coi trọng, không được bảo đảm thì rất khókhăn để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố đầu tiên của hoạt động SXKD, cơ cấu tổchức lao động phải được bố trí hợp lý để mỗi cá nhân có thể phát huy tối đa năng lực củamình, đồng thời từng cá nhân cùng hiệp đồng với nhau và các bộ phận liên quan để tối đahóa năng suất lao động và kết quả SXKD Để thấy được tình hình sử dụng lao động củaNhà máy tinh bột sắn Intimex , ta xem xét bảng 1:
Qua bảng 1 ta thấy: Số lượng lao động biến động rất lớn qua 3 năm.Từ 186 ngườinăm 2008 đã tăng lên 216 người, tăng 30 người nhưng đến năm 2009 lại giảm xuống 211người, giảm 5 người Có thể giải thích cho sự biến động này là công suất của nhà máy liêntục tăng lên từ năm 2006 đến năm 2008 và đạt gần 100% công suất thiết kế vào năm 2008nhưng sang năm 2009 số lượng lao động của Nhà máy lại giảm xuống là do tác động củacuộc khủng hoảng kinh tế, hơn nữa khi đạt được công suất thiết kế là 120 tấn/ngày Nhàmáy đã tinh giảm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và ổn định số lao động Đảm bảo
Trang 24đủ số lao động có chất lượng cao là yếu tố mà Nhà máy luôn quan tâm để đạt được hiệuquả trong quá trình sản xuất của mình.
- Xét cơ cấu lao động theo giới tính: Ta thấy số lao động nam cao hơn lao động nữ
vì ngành nghề của Nhà máy là thu mua và chế biến sắn tươi thành tinh bột sắn để xuất khẩu
và tiêu thụ trong nước Đây là ngành nghề kinh doanh có tính chất nặng nhọc và độc hạinên đòi hỏi lao động phải có sức khỏe tốt, do đó lao động nam chiếm một tỷ lệ cao.Cụ thểcác công việc về kỹ thuật, vận hành dây chuyền sản xuất, khuân vác, lái xe, sửa chữa máymóc,… do nam giới đảm nhiệm.Năm 2008, lao động nam tăng 14 người so với năm 2007tương ứng là 10,61% trong khi đó lao đông nữ cũng tăng mạnh là 16 người tương ứng tốc
độ tăng là 29,63% Nhưng do tác động của khủng hoảng kinh tế, Nhà máy cần giảm bớt chiphí và tránh tình trạng sử dụng lãng phí lao động nên cả lao đông nam và nữ năm 2009 đềugiảm xuống so với năm 2008: nam giảm 3 người tương ứng với giảm 2,05%, nữ giảm 2người tương ứng với giảm 2,86%
Trang 26Bảng 1: Tình hình lao động của Nhà máy qua 3 năm 2007-2009
Trang 27- Xét theo tính chất sản xuất: Ta thấy qua 3 năm cả lao động trực tiếp và
gián tiếp có sự thay đổi khá rõ Năm 2007 lao động trực tiếp mới có 163 người quanăm 2008 có 186 người tăng 23 người tương ứng với 14,11%, đến năm 2009 giảmxuống còn 180 người tức là giảm 6 người so với năm 2008 tương ứng giảm 3,23%
Qua các năm công suất liên tục tăng lên phân xưởng sản xuất được Nhà máy
mở rộng và phát triển đi vào chiều sâu nên cần nhiều nguyên liệu, do đó Nhà máycần tăng cường nguồn lao động gián tiếp, nhất là cán bộ thu mua sắn tại các vùngnguyên liệu trong tỉnh và ngoài tỉnh Điều kiện thu mua nguyên liệu kéo theo côngtác kế toán cũng cần thêm nhân sự Vì vậy, năm 2008 lao động gián tiếp của Nhàmáy đã tăng 7 người so với năm 2007 tương ứng tốc độ tăng là 30,43% Năm 2009,
do Nhà máy đi vào hoạt động ổn định nên số lao động gián tiếp tăng không đáng kể,chỉ tăng 1 người tương ứng tăng 3,33%
- Xét theo trình độ: Qua 3 năm cho thấy chất lượng lao động của Nhà máy
đã tăng lên khá lớn Lao động có trình độ đại học liên tục tăng qua 3 năm cụ thểnăm 2008 tăng 4 người so với năm 2007 tương ứng tốc độ tăng 20%, đến năm 2009tăng 2 người so với năm 2008 tương ưng với tốc độ tăng 8,33% Lao động tăngkhông đáng kể, năm 2008 so với năm 2007 tăng 1 người tương ứng tốc độ tăng16,67% và ổn định trong năm 2009.Lao động có trình độ tring cấp tăng mạnh qua 3năm: năm 2008 tăng 3 người so với 2007 tương ứng tăng 4,17%, năm 2009 tăng 14người so với năm 2008 tương ứng tăng 18,67% Riêng lao động phổ thông có sựbiến động thất thường qua 3 năm: từ 88 người năm 2007 đã tăng vọt lên 110 ngườinăm 2008 rồi giảm nhanh xuống còn 89 người năm 2009 Tuy nhiên, lao động phổthông vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn trong Nhà máy vì đây là lực lượng trực tiếp thamgia vào sản xuất, khuân vác và chuyên chở
Tóm lại, tình hình lao động của Nhà máy có sự biến động khá rõ rệt về sốlượng nhưng chất lượng ngày càng được nâng cao Đây là giải pháp quan trọng để
Trang 28Nhà máy mở rộng quy mô sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm đẩymạnh hoạt động SXKD.
2.1.5 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Nhà máy
Ở mỗi đơn vị SXKD, tư liệu sản xuất đóng vai trò rất quan trọng Đây là yếu
tố không thể thiếu trong quá trình SXKD, là nhân tố cơ bản để nâng cao năng suấtlao động, cải thiện điều kiện làm việc, kích thích sự phát triển của cá nhân lao động
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp phản ánh nănglực sản xuất, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp đó Tài sản cốđịnh nhất là máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quan trọng và cần thiết để tăngsản lượng, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm …
Vì vậy, việc phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định để có giải pháp sử dụng triệt
để về số lượng, thời gian và công suất của máy móc thiết bị sản xuất cũng như tàisản cố định khác là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình SXKDcủa doanh nghiệp Để thấy được điều đó ở Nhà máy tinh bột sắn Intimex, chúng tacùng phân tích bảng sau:
Trang 29
Bảng 2: Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Nhà máy qua 3 năm
ĐVT: triệu đ
Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Tổng giá trị tài tài sản 64700,97 100 69371,46 100 73785,42 100 4670,49 7,22 4413,96 6,36
Trang 30Qua bảng số liệu ta thấy rằng: Giá trị TSCĐ của Nhà máy đã không ngừngtăng lên qua 3 năm Năm 2007, tổng giá trị TSCĐ là 64700,97 triệu đồng , sangnăm 2008 tăng thêm 4670,49 triệu đồng tương ứng tốc độ tăng 7,22% Đến năm
2009, tổng giá trị TSCĐ là 73785,43 triệu đồng tăng 4413,96 triệu đồng tương ứngbới tốc độ tăng là 6,36% Nhuyên nhân của sự tăng trưởng mạnh mẽ này là do Nhàmáy đã nâng công suất hoạt động của mình từ 80% lên 100% công suất thiết kế do
đó Nhà máy đã bổ sung thêm nhiều máy móc nhăm đạt được kế hoạch đề ra
Theo bảng 2, ta thấy trong cơ cấu TSCĐ thì giá trị của máy móc thiết bịđộng lực chiếm tỷ trọng lớn nhất Qua 3 năm giá tri của loại tài sản này biến độngkhá lớn Từ giá trị 36553,81 triệu đồng năm 2007 đã tăng vọt lên thành 40491,28triệu đồng vào năm 2008 tức tăng 3937,47 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng10,77% Nguyên nhân là do Nhà máy lắp đặt thêm một máy sấy khô tinh bột sắnnhằm tăng công suất chế biến và một số máy móc thiết bị khác như máy bơm Sangnăm 2009, số lượng máy móc tương đối ổn định nên giá trị không thay đổi nhiềulắm, do đó giá trị tài sản này chỉ tăng nhẹ so với năm 2008 chỉ tăng 538,86 triệuđồng tương ứng với tốc độ tăng 1,33% Như vậy, Nhà máy đã đi vào sản xuất ổnđịnh nên chỉ mua thêm một số máy móc phục vụ cho việc tăng công suất, mở rộngquy mô
Đối với nhà cửa, vật kiến trúc: Trong 2 năm 2007, 2008 không có sự thayđổi nhiều có tăng nhưng không đáng kể Năm 2009, giá trị của loai tài sản này lạiđột biến, so với năm 2008 tăng 3082,44 triệu đồng tương ứng với tăng 11,84%.Nguyên nhân làm cho giá trị này tăng lên là do Nhà máy đã xây dựng, cải tạo lạimột số nhà cửa như nhà xưởng, nhà kho, xây dựng nhà xe, xây dựng thêm nhà khomới để chứa thành phẩm khi Nhà máy tăng công suất, xây khu tập thể cho côngnhân viên Nhà máy, hơn nữa trong mấy năm gần đây giá nguyên vật liệu xây dựng
và kiến trúc đã tăng vọt khiến giá trị tài sản này cũng tăng lên
Trang 31Đối với phương tiện vân tải: Qua 3 năm, phương tiện vận tải của Nhà máy
có thay đổi theo chiều hướng tăng Tuy nhiên, trong 2 năm 2007 và 2008, giá trị nàygần như không có sự thay đổi bởi vì các loại như xe nâng sắn và thành phẩm, máyxúc sắn đã đầy đủ Năm 2009, do công tác của cán bộ Nhà máy đi các vùng nguyênliệu, đi hội thảo và chuyên chở nguyên liệu từ các tỉnh khác về nên Nhà máy đã muathem xe ôtô và xe tải do đó giá trị của phương tiện vận tải đã tăng 760,95 triệu đồng
so với năm 2008 tức tương ứng với tốc độ tăng 34,91%
Đối với máy móc thiết bị quản lý văn phòng: Qua 3 năm có sự biến đổikhông lớn lắm Năm 2007, giá trị tài sản này là 212,40 triệu đồng đến năm 2008tăng them 11,41 triêu đông tương ứng với tốc độ tăng 5,37% Năm 2009, giá trị củatài sản này là 255,52 triệu đồng tăng 31,71 triệu đồng so với năm 2008 tương ứngtăng 14,17% Sự gia tăng này lý giải cho chất lượng quản lý của Nhà máy đangđược nâng lên bởi vì Nhà máy đã mua thêm máy tính, máy photocopy, máy fax,máy in, thiết lập mạng nội bộ để phục vụ cho công tác văn phòng và quản lý Vìvậy, các kế hoạch và mục tiêu mà Nhà máy đặt ra đều được hoàn thành tốt
Qua phân tích số liệu trên, ta thấy Nhà máy tinh bột sắn Intimex có tỷ trọngtài sản khá lớn, đó là điều dễ hiểu vì đây là một đơn vị sản xuất Trong những nămtới để phục vụ cho viêc mở rộng quy mô sản xuất thì Nhà máy phải đầu tư nhiềuhơn cho việc mua sắm, bảo dưỡng các loại thiết bị máy móc, phương tiện vận tải…
và cần kiểm soát chặt chẽ các hoạt động SXKD, tiết kiệm nguồn vốn để khôngngừng nâng cao hiệu quả SXKD
2.1.6 Tình hình nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Nhà máy
Vốn là một yếu tố đầu vào bắt buộc và quyết định sự ra đời, tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Vốn SXKD của doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ là một trongnhững điều kiện quyết định quy mô doanh nghiệp, là nhân tố cơ bản để nâng caonăng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc và kích thích sự phát triển của cánhân lao động Tuy nhiên, vốn chỉ phát huy tác dụng khi nhà quản trị biết quản lý và
Trang 32sử dụng chúng đúng hướng, tiết kiệm và có hiệu quả Chúng ta hãy nghiên cứu vềnguồn vốn SXKD của Nhà máy ở bảng 3:
Qua số liệu ở bảng 3, ta thấy tổng số vốn SXKD của Nhà máy qua 3 năm có
sự biến động đáng kể Tổng số vốn năm 2007 của Nhà máy là 43413,22 triệu đồng,sang năm 2008 là 43617,98 triệu đồng, đến năm 2009 là 49167,46 triệu đồng Điềunày cho biết tốc độ tăng nguồn vốn qua các năm của Nhà máy là cao và phần nàocho thấy Nhà máy kinh doanh có lãi Được như vậy là do sự đầu tư vốn hợp lý củaNhà máy cho công tác tổ chức SXKD
Phân theo đặc điểm vốn
Qua số liệu ở bảng 3 ta thấy quy mô tài chính của nhà máy không ngừngtăng lên qua các năm Là nhà máy chế biến tinh bột sắn nên yêu cầu về thiết bị côngnghệ không đòi hỏi quá cao và phức tạp Vì thế trong cơ cấu vốn, vốn lưu động vàđầu tư ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 90%) trong tổng số vốn, điều này hoàntoàn phù hợp với đặc thù của nhà máy.Tuy nhiên vốn này đã giảm từ năm 2007 đến2008.Cụ thể đã giảm 3995,24 triệu đồng tương ứng -8,10%.Nhưng đến năm 2009vốn này lại tăng lên thêm 3948,00 triệu đồng tương ứng 10,23%.Vốn cố định tăngqua các năm đặc biệt tăng mạnh vào năm 2008 tăng lên thêm 3600 triệu đồng tươngứng tăng 248,21% Năm 2009 so với năm 2008 thì tăng lên 1.865,48 triệu đồngtương ứng 36,93% Nguyên nhân của sự tăng này là do nhà máy mua sắm cơ sở vậtchất, đầu tư trang thiết bị mới để cải thiện hệ thống máy móc, cải tiến công nghệphục vụ sản xuất kinh doanh Sự gia tăng về TSCD hàng năm là một trong nhữngđòi hỏi khách quanđể duy trì và phát triển kinh doanh Tuy nhiên trong điều kiệnkhó khăn, khi đưa ra quyết định nhà quản trị luôn phải phân tích và lựa chọnphương án phù hợp
Xét theo nguồn hình thành
Nhìn vào bảng số liệu phân tích ta thấy: Vốn vay của nhà máy chiếm tỷ trọnglớn trong tổng số vốn của nhà máy Vốn vay của nhà máy năm 2007 là 39520,80
Trang 33triệu đồng chiếm 91,03% Nhưng năm 2008 thì vốn này giảm đi 2346,34 triệu đồngtương ứng giảm 5,94% Năm 2009 tăng lên thêm 5862,89 triệu đồng tương ứngtăng 15,77% Như vậy lượng vốn của nhà máy đang có sự biến động theo chiềuhướng bất lợi, cản trở đầu tư sản xuất kinh doanh của Nhà máy Vốn chủ sở hữucũng tăng qua các năm, năm 2008 tăng so với năm 2007 là 2551,10 triệu đồngtương ứng 65,54% Năm 2009 vốn này giảm xuống 313,41 triệu đồng tương ứnggiảm 4,87% Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do Nhà máy đã bỏ vốn của mình
để đầu tư sản xuất kinh doanh sau sự tác động mạnh mẽ cuộc khủng hoảng kinh tếnăm 2008 đến hầu hết các doanh nghiệp mà Nhà máy cũng nằm trong sự ảnh hưởngđó
Tóm lại, đảm bảo nhu cầu vốn cố định và vốn lưu động đó là vốn sản xuấtkinh doanh mà nhà máy có và huy động được Nguồn vốn chủ sở hữu so với tổngnguồn vốn cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh còn ít, khả năng về mặt đảmbảo tài chính của Nhà máy chưa cao
Trang 35
Bảng 3: Tình hình nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Nhà máy qua 3 năm
Trang 362.1.7 Tình hình vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ tinh bột sắn của Nhà máy
2.1.7.1 Tình hình vùng nguyên liệu
Đối với sản xuất của Nhà máy tinh bột sắn Intimex, nguyên liệu sắn tươi là yếu tốđầu vào quan trọng nhất Những năm qua, từ khi bắt đầu đi vào hoạt động Nhà máy đã rấtchú trọng đến công tác đầu tư phát triển vùng nguyên liệu Vùng nguyên liệu của Nhà máythu mua rộng lớn từ các xã của huyện Thanh Chương đến các huyện khác của tỉnh Nghệ
An như Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Con Cuông, Đô Lương, Nam Đàn, … Ngoài ra, năm
2009 công suất của Nhà máy đã được nâng lên 180 tấn sản phẩm/ngày nên để đáp ứngnguyên liệu cho sản xuất Nhà máy đã thu mua sắn tươi tại các tỉnh khác như Thanh Hóa,
Hà Tĩnh, … Do đó, có thể nói Nhà máy đã làm tốt công tác thị trường, tìm kiếm nguồnnguyên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình.Và lãnh đạo Nhà máy luôn xác địnhtầm quan trọng hàng đầu của công tác đầu tư vùng nguyên liệu sắn nên thường xuyên chỉđạo bộ phận nông vụ tích cực tìm kiếm nguồn sắn tươi nhằm đáp ứng kịp thời cho sản xuất
Bên cạnh đó, để có thể nâng cao được chất lượng tinh bột sắn trong củ sắn thì hàngnăm cán bộ nông vụ của Nhà máy luôn kiểm tra, hướng dẫn bà con nông dân nắm rõ quytrình kỹ thuật trồng các giống sắn mới cho năng suất cao hơn như KM94, KM60, KM98-1,
… điều này vừa cung cấp nguồn sắn ổn định cho Nhà máy sản xuất vừa đem lại thu nhậpcao hơn cho người dân Ngoài ra, cán bộ phụ trách vùng nguyên liệu đã có sự phối hợp vớiphòng nông nghiệp các huyện kịp thời phát hiện những mầm bệnh từ đó đưa ra biện phápkhắc phục để luôn đảm bảo năng suất sắn Đến lúc thu hoạch người dân được cán bộ nông
vụ phát phiếu thu hoạch và hướng dẫn cụ thể cách thức thu hoạch hiệu quả cho đến việcvận chuyển đến Nhà máy
Kết quả về diện tích và sản lượng sắn vùng nguyên liệu của Nhà máy từ 2007 –
2010 như sau: