1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn môn công nghệ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG dạy học dự án PHẦN ĐỘNG cơ đốt TRONG

92 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp dạy học truyền thống làm cho học sinh quen với việc để giáo viên chủ động thông báo kiến thức, phân loại các dạng bài rồi từ đó theo mẫu để làm vì vậy hạn chế tính sáng tạo

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến Sở Giáo Dục và Đào tạo Ninh Bình

I Tác giả sáng kiến

- Họ tên: Phạm Thị Thu Hường

- Giáo viên môn Công nghệ (Kỹ thuật Công nghiệp)

- Trình độ đào tạo: Cử nhân sư phạm kỹ thuật

- Đơn vị công tác: Trường THPT Hoa Lư A

- Địa chỉ thường trú: Phố Hợp Thành, Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

- Email: thuhuongninhbinh194@gmail.com

- Điện thoại: 0913.144.449

II Tên sáng kiến

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dự án phần Động cơ đốt trong

Trong giáo dục, từ rất lâu chúng ta đã quen với các phương pháp dạy học

truyền thống(phương pháp dạy học cũ) PPDH truyền thống là những cách thức dạy

học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ PPDH truyền thống là "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò Về cơ bản, phương pháp dạy học này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm Thực hiện lối dạy này, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là khách thể, là quỹ đạo, là người nghe, ghi chép và ghi nhớ Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic

và tính chính xác cao Xong do quá đề cao người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế như:

- Học sinh ít được thực hành, thí nghiệm trực quan nên xa rời kiến thức thực

tế, nhớ kiến thức một cách thụ động nên dễ bị lãng quên

- Phương pháp dạy học truyền thống làm cho học sinh quen với việc để giáo viên chủ động thông báo kiến thức, phân loại các dạng bài rồi từ đó theo mẫu để làm

vì vậy hạn chế tính sáng tạo và chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức và sinh ra tính “ngại” suy nghĩ, “ngại” tìm tòi phát hiện cái mới, trông chờ, ỷ lại vào sự gợi ý của giáo viên

- Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờ

Trang 2

câu hỏi vụn vặt, không nhất quán) Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời của học sinh sẽ không giống nhau)

2 Những hạn chế của giải pháp cũ cần khắc phục

- Từ trước đến nay, giáo viên quan tâm trước nhất đến việc hoàn thành bổn phận của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong thời hạn và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học trò hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Do đó đa

số giáo viên sử dụng phương pháp dạy học thuyết trình là chính Cách dạy này tạo ra cách học bị động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, không đáp ứng được xu hướng phát triển năng động của tầng lớp đương đại

- Trước đây căn cứ vào nội dung sách giáo khoa, phần Động cơ đốt trong môn Công nghệ nội dung kiến thức dài, cấu tạo phức tạp, nguyên lí làm việc trừu tượng, khó hiểu, khó hình dung Bên cạnh đó phương pháp dạy của giáo viên chủ yếu là phương pháp thuyết trình, đàm thoại Trong kiều kiện nhà trường có rất ít đồ dùng dạy học trực quan như tranh vẽ, vật thật và mô hình dạy học, bên cạnh đó trang thiết

bị thí nghiệm, thực hành còn nhiều hạn chế, làm cho chất lượng giờ dạy không cao, học sinh có tư tưởng chán học, học lệch

- Phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò là trung tâm, là chuyên gia, nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức Học sinh tiếp nhận kiến thức gần như là áp đặt, chưa thấy được bản chất cụ thể của vấn đề Học sinh vẫn còn mơ hồ khi tìm hiểu nguyên lý hoạt động của các cơ cấu, hệ thống động cơ đốt trong thì đã hết giờ, giờ sau lại học bài mới Với những giáo viên trẻ, mới ra trường khi giảng dạy phần động cơ đốt trong cho học sinh, muốn học sinh hiểu bài, yêu thích môn học

và định hướng nghề nghiệp cho học sinh thì đúng là mò kim đáy bể

- Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính lôgic cao Song do quá đề cao người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học Do đó kỹ năng thực hành và vận dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế

- Những hình ảnh, tranh ảnh minh họa cho động cơ đốt trong không lột tả hết các tính năng, cấu tạo cũng như chu trình hoạt động trong động cơ, làm cho học sinh rất khó hình dung, khó hiểu và khó nhớ Học sinh thụ động lĩnh hội tri thức, chủ yếu

là thừa nhận những kiến thức do giáo viên cung cấp hoặc nghiên cứu được trong sách giáo khoa Vì vậy không phát huy được tính chủ động và sáng tạo học tập của học sinh

- Động cơ đốt trong được ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống Các doanh nghiệp, các trung tâm sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và bảo dưỡng động cơ tuy nhiều nhưng lại không có mối liên hệ chặt chẽ với nhà trường nên không hỗ trợ cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình học tập của học sinh Do đó học sinh cũng không có cơ hội để tiếp cận và nghiên cứu kĩ hơn về động cơ đốt trong

3 Giải pháp mới cải tiến

3.1 Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp mới

Khác với PPDH truyền thống, trong PPDH tích cực, giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Người thầy có vai trò là trọng tài,

Trang 3

cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy PPDH này rất chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững

Giáo án dạy học theo phương pháp tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạt động dạy của thầy và học của trò Ưu điểm của PPDH tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học Đặc điểm của dạy học theo phương pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lý tình huống Yêu cầu của PPDH tích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinh chuẩn

bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò

Tính mới và sáng tạo nổi bật của giải pháp mới là tạo hứng thú học tập cho học sinh Hứng thú trong học tập được hiểu là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, biểu hiện sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của

nó trong đời sống cá nhân Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên Giáo viên là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện Có nhiều nhóm biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh và chúng thuộc những bình diện khác nhau của quá trình dạy học

Một trong các biện pháp tác động vào phương tiện, thiết bị dạy học là sử dụng công nghệ thông tin kết hợp với cách sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy theo chủ đề, dạy theo nhóm cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin

Trong đó xác định mục tiêu đích thực của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là: Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, khắc phục tình trạng “thầy đọc, trò chép”, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình Công nghệ thông tin giúp giáo viên nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình Giáo viên không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức có trong sách giáo khoa mà còn được tìm hiểu thêm nhiều kiến thức và ứng dụng mới, những nội dung liên môn, tích hợp với bài học

Nhiệm vụ cần thiết mà mà mỗi giáo viên phải làm trong mỗi tiết học ở trường

cũng như ở nhà là tổ chức, điều khiển, giám sát để học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều

Trang 4

thức áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học để biến những lớp học trở thành những sân chơi thú vị, tươi vui và đầy bổ ích

3.2 Nội dung của giải pháp mới

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa

XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tính cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích học sinh tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang hình thức học tập tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”

Để công cuộc đổi mới giáo dục có hiệu quả thì yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học bên cạnh đổi mới nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền giáo dục nước ta hiện nay Việc đổi mới phương pháp dạy học không chỉ ở những bộ môn được coi là quan trọng, chính yếu mà đòi hỏi đổi mới phải đồng bộ ở tất cả các môn, trong đó có môn Công nghệ Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ hiện nay được đặc biệt quan tâm bởi nó sẽ góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hiện nay giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất

định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức rèn luyện kỹ năng, hình

thành năng lực và phẩm chất nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học

và giáo dục Một trong những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học, học sinh biết cách học, cách vận dụng kiến thức đó là giáo viên phải tăng cường sử dụng phương tiện đồ dùng trực quan dạy học và công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ dạy học

Giới hạn trong phạm vi giảng dạy thì giáo viên cần sử dụng đồng bộ một số phương pháp dạy học đạt hiệu quả cao

A Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả, phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kĩ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kĩ thuật mở bài, kĩ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kĩ thuật đặt các câu hỏi và xử lí các câu trả lời trong đàm thoại, hay kĩ thuật làm mẫu trong luyện tập Để việc sử dụng các kĩ thuật trên có hiệu quả khi dạy phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11 thì giáo viên cần sử dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy

Từ khâu thu thập tài liệu, soạn giảng đến khâu tổ chức dạy học và khâu kiểm tra đánh giá cũng như hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà Giáo viên có thể sử dụng các hình ảnh minh họa, các đoạn video tự quay các hoạt động trong thực tiễn để giới

Trang 5

thiệu khi vào bài mới sẽ làm tăng tính sinh động và hấp dẫn, khơi dậy hững thú học tập của học sinh Trong kĩ thuật trình bày, giải thích hoặc làm mẫu nếu giáo viên biết lồng ghép các hình ảnh, các thước phim tư liệu thì rõ ràng, nhanh chóng và hiệu quả hơn

Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu,

vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

B Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm

và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm

Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác

C Phương pháp dạy học tích cực

Để nâng cao chất lượng giảng dạy cần phải thay đổi cách học của học sinh,

muốn thay đổi cách học của học sinh trước hết cần thay đổi cách dạy của giáo viên, thay đổi cách tổ chức các hoạt động học, thay đổi cách kiểm tra - đánh giá, đó là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Vì thế thường gọi là phương pháp dạy học (PPDH) tích cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy

Khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực dạy phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11, nên sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin Vì đặc điểm nổi bật của các phương pháp nay là học sinh

Trang 6

nhóm là hạn chế của giới học sinh - sinh viên nói riêng và của nguồn lao động Việt Nam nói chung), học sinh phải chủ động tìm kiếm tri thức, qua đó hình thành

kĩ năng nên sẽ mất nhiều thời gian hơn Khi sử dụng công nghệ thông tin để dạy học sẽ không những khắc phục được điều này mà còn làm tăng độ hấp dẫn và hứng thú của học sinh thông qua những thông tin, hình ảnh, mô hình, video clip

trực quan, sống động

1 Một số phương pháp dạy học tích cực

1.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề"

Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho học

sinh những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có

Một số cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề là:

+ Dự đoán những nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn + Lật ngược vấn đề

+ Xét tương tự

+ Khái quát hóa

+ Khai thác kiến thức cũ, đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới

+ Giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp

+ Tìm sai lầm trong lời giải

+ Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm

Trong dạy học, các cơ hội như vậy rất nhiều, do đó PPDH phát hiện và giải quyết vấn

đề có khả năng được áp dụng rộng rãi trong dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh

1.2 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của học sinh

PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ còn được gọi bằng một số tên khác như

"Phương pháp thảo luận nhóm" hoặc PPDH hợp tác

Đây là một PPDH mà học sinh được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm

vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung

Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và phát biểu ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học Tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung

Trang 7

1.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết

1.4 Phương pháp trò chơi

Bản chất của phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề, thực hiện một nhiệm vụ học tập hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi học tập nào đó Trò chơi học tập là các hoạt động được diễn ra theo trình tự hoạt động của một trò chơi

Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập

có sự hợp tác và sự tự đánh giá

Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kĩ năng đã học Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới và cần được duy trì trong suốt quá trình học

* Một số trò chơi thường được vận dụng

+ Trò chơi con số may mắn

Đây là trò chơi dành cho các đội

Trên màn hình là những con số, mỗi con số là một câu hỏi Đội nào bốc được

số nào thì trả lời câu hỏi ẩn sau con số ấy Nếu trả lời đúng thì ghi được một điểm, còn nếu trả lời sai thì quyền trả lời sẽ thuộc về đội khác Tuy nhiên, trong các số ấy

có số không chứa câu hỏi Nếu đội nào bốc trúng thì vẫn được điểm

+ Trò chơi đuổi hình bắt chữ

Đây là trò chơi dành cho các đội hoặc cá nhân tùy theo mục đích của tiết học Căn cứ các hình ảnh đưa ra, mỗi cá nhân hoặc đội sẽ đoán được cụm từ hoặc nội dung liên quan đến hình ảnh ấy

+ Trò chơi ai nhanh hơn

Thường được sử dụng để thi đua giữa các tổ hoặc các đội

Có thể chia lớp thành nhiều nhóm Sau mỗi thông tin, hình ảnh mà giáo viên đưa ra, đội nào có tín hiệu trả lời nhanh nhất sẽ được quyền trả lời Nếu trả lời đúng

sẽ được ghi một điểm, nếu trả lời sai quyền đó sẽ thuộc về những đội còn lại (với điều kiện, đội đó nhanh tay đưa tín hiệu xin trả lời trước)

Trang 8

Được thực hiện theo nhóm Mỗi nhóm cử 3 – 5 người tham gia thành một đội Giáo viên đưa ra yêu cầu và định vị thời gian chung cho tất cả các đội Tuy nhiên mỗi cá nhân chỉ được quyền thực hiện một lượt chơi Người sau có thể lên sửa sai hoặc bổ sung cho người trước để đạt được một kết quả hoàn chỉnh nhất Trong một khoảng thời gian nhất định, đội nào ghi được nhiều kết quả đúng đội đó

sẽ thắng

1.5 Phương pháp dạy học theo dự án (DHDA)

Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế

Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh không phụ thuộc vào cách học của các em Trong các dự án tìm hiểu, học sinh sẽ được làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề, hiểu sâu nội dung hơn Các phương tiện kỹ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc học Trong quá trình thực hiện dự án

có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp học sinh tạo ra những sản phẩm có chất lượng

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh dưới sự điều khiển và giúp đỡ của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo

ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được

* Đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực

tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực

hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

- Định hướng hứng thú người học: Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung

học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học

cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Mang tính phức hợp, liên môn: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều

lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang

tính phức hợp

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa

nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ

năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực của người học: Trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia

tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Giáo viên chủ yếu đóng

Trang 9

vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh

nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong

đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng công tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo viên cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang

tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo

ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các

dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành

Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

Dựa theo các đặc điểm của phương pháp dạy học dự án ta thấy việc áp dụng phương pháp này để dạy phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11 rất có hiệu quả

* Một số lưu ý

- Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành

- Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh

- Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân

- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm

- Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những bài thu hoạch lý thuyết mà sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

- Dạy học dự án rất thích hợp để tổ chức dạy học các ứng dụng kĩ thuật hay vận dụng các kiến thức khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn (phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11)

- Dạy học dự án không phù hợp với các bài học đòi hỏi sự trình bày chính xác, chặt

chẽ và hệ thống (đại lượng vật lí, định luật, thuyết vật lí)

+ Hoạt động của giáo viên:

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được

- Thiết kế dự án: xác định lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, mục đích, ý tưởng và tên dự án

- Thiết kế các nhiệm vụ cho học sinh: làm thế nào để học sinh thực hiện xong thì

Trang 10

- Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế

+ Hoạt động của học sinh:

- Làm việc nhóm để lựa chọn chủ đề dự án

- Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

- Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án

- Cùng giáo viên thống nhất các tiêu chí đánh giá dự án

* Công đoạn thực hiện dự án

- Thu thập thông tin

- Thực hiện điều tra

- Thảo luận với các thành viên trong nhóm

- Tham vấn giáo viên hướng dẫn

+ Hoạt động của giáo viên:

- Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh trong quá trình thực hiện dự án

- Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho học sinh

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án

- Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm học sinh

+ Hoạt động của học sinh:

- Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch

- Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được

- Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo

- Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần

- Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên và các nhóm khác

+ Hoạt động của giáo viên:

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án

- Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm

+ Hoạt động của học sinh:

- Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm

- Tiến hành giới thiệu sản phẩm

- Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm

- Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra

* Công đoạn đánh giá

+ Hoạt động của giáo viên:

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án

- Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm

+ Hoạt động của học sinh:

- Tiến hành giới thiệu sản phẩm

- Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm

Trang 11

- Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra

* Bộ câu hỏi định hướng

Bộ câu hỏi định hướng được biên soạn dựa trên bảng mô tả các mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập dùng trong dạy học và kiểm tra, đánh giá Từ mục tiêu bài học, có thể mô tả các năng lực cần đạt theo bốn cấp độ tư duy là nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao Bộ câu hỏi giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng việc học tập của học sinh thông qua các vấn đề kích thích tư duy Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương trình

Bộ câu hỏi định hướng bao gồm:

+ Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng, kích thích sự khám phá, nhằm hướng đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn

+ Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tự xây dựng câu trả lời

và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được

+ Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng có các câu trả lời “đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể Chúng thường có liên quan đến các định nghĩa, khái niệm hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin, giải thích một

số vấn đề, vận dụng các kiến thức tiếp thu được để giải một số bài tập áp dụng, hoặc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn (như các câu hỏi kiểm tra thông thường)

* Đánh giá dự án

* Công tác đánh giá

Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở các em

* Một số công cụ đánh giá

- Bài kiểm tra viết và kiểm tra nói: Các bài kiểm tra có thể đưa ra được những minh chứng trực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và thông hiểu kiến thức của học sinh

- Sổ ghi chép: Sổ ghi chép là những phản ảnh về việc học và những hồi đáp với những gợi ý ở dạng viết Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các kỹ năng tư duy cụ thể ở những phần quan trọng của dự án

- Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị: Các cuộc phỏng vấn miệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểu bài của học sinh Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa ra

lý do về cách hiểu vấn đề Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh

- Sự thể hiện: là những bài báo cáo, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh thiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em

Trang 12

- Kế hoạch dự án: Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập Học sinh xác định mục tiêu, thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các tiêu chí để đánh giá

- Phản hồi qua bạn học: Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc điểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học

- Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kĩ năng cộng tác

- Các sản phẩm: Sản phẩm là những gì học sinh sáng tạo ra hoặc xây dựng nên thể hiện việc học tập của các em

Các công cụ đánh giá này phải được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện dự

án, tại các thời điểm quan trọng hay vào giai đoạn cuối của dự án Những kĩ thuật đánh giá trên cung cấp thông tin có giá trị cho cả giáo viên và học sinh Mỗi kĩ thuật đưa ra những phương pháp và công cụ đồng nhất Điều then chốt là phải hiểu được các mục đích khác nhau của chúng, chúng được thiết kế như thế nào và cuối cùng, xử

lý kết quả thu được ra sao

* Ưu điểm – Nhược điểm của phương pháp dạy học theo dự án

+ Ưu điểm:

- Người học là trung tâm của quá trình dạy học

- Tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn

- Được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình

- Hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên

- Tính liên hệ với thực tế cao

- Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện

- Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học

- Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm

- Phát triển khả năng sáng tạo

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc

- Phát triển năng lực đánh giá

Theo đánh giá chung, DHDA có những ưu điểm nổi trội sau: Gắn lý thuyết và thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; kích thích động cơ và hứng thú cho người học; phát huy tính tự lực và tính trách nhiệm; phát triển khả năng sáng tạo; rèn luyện khả năng giải quyết những vấn đề phức hợp; rèn luyện tính bền bỉ và kiên nhẫn; rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; rèn luyện năng lực đánh giá

- Đặc biệt ưu điểm nôi bật nhất là tập trung vào một câu hỏi lớn hoặc một vấn

đề quan trọng có thể có nhiều quan điểm liên quan tới nhiều bộ môn khác nhau Đây còn là cơ hội đưa ra sáng kiến và thực hiện nhiều hoạt động khác nhau dựa trên các thông tin có thể tiếp cận được, đòi hỏi thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm phát huy sự hợp tác

- Giải pháp mới nhằm hướng dẫn học sinh tiếp cận kiến thức thông qua các nhiệm vụ, tình huống mà giáo viên thiết kế Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực

Trang 13

Người học phải là chủ thể của hoạt động học Học thông qua hành động và bằng hành

động, học có động cơ, học có mục đích Nói về học, ông cha ta từ xưa có câu học và hành; học phải đi đôi với hành; trăm nghe không bằng một thấy hay tôi nghe tôi sẽ quên, tôi nhìn tôi sẽ nhớ, tôi làm tôi sẽ hiểu Ngày nay, các nghiên cứu về năng lực

nhận thức của con người cũng chỉ ra quan hệ mật thiết giữa thực hành với khả năng ghi nhớ, thông hiểu và vận dụng Vì vậy trọng tâm của giải pháp mới là nghiên bài học thông qua các hình ảnh trực quan sinh động và hướng dẫn học sinh chủ động lĩnh hội tri thức

+ Nhược điểm:

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là DHDA không có những nhược điểm Thực tiễn cho thấy, DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ kiến thức lý thuyết mang tính hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản Mặt khác, DHDA đòi hỏi nhiều thời gian vì vậy phương pháp dạy này không thể thay thế cho phương pháp thuyết trình và luyện tập, mà chỉ là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống

Tóm lại, DHDA là hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: Định hướng phát triển năng lực học sinh, định hướng người học, định hướng hành động, dạy học giải quyết vấn đề và quan điểm dạy học tích hợp Bên cạnh đó, DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; tham gia vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác của người học

* Vai trò của giáo viên, học sinh và công nghệ trong dạy học dự án

* Vai trò của giáo viên

Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung tâm, là chuyên gia và nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức Trong DHDA, giáo viên chỉ là người hướng dẫn và tham vấn chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” cho học sinh Theo đó, giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ nội dung nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gần với nội dung cần học (thiết kế các bài tập cho học sinh)…Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án

* Vai trò của học sinh

Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó Học sinh tập làm quen với việc phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn bằng các kĩ năng sống thông qua làm việc theo nhóm Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, chọn cách thức thu thập dữ liệu, rồi phân tích, tổng hợp và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc đó Học sinh hoàn thành hoạt động học với các sản phẩm cụ thể (kết quả dự án) và có cơ hội trình bày, bảo vệ sản phẩm đó Học sinh cũng là người trình bày kiến thức mới và các ứng dụng mà họ đã tích lũy thông qua dự án Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa

Trang 14

trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó

* Vai trò của công nghệ thông tin

Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị đã khẳng định : " Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của

toàn xã hội"

Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng

đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”

Mặc dù công nghệ không phải là vấn đề cốt yếu đối với phương pháp DHDA nhưng nó có thể nâng cao chất lượng học tập và đem lại cho học sinh cơ hội để hòa nhập với thế giới bên ngoài, tìm thấy các nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm minh họa sống động nhất, dễ truyền cảm nhất Công nghệ sẽ giúp học sinh nâng cao hứng thú và động lực học tập Tạo cơ hội tốt hơn để học sinh tham gia

và hợp tác cùng nhau, phát triển kỹ năng xã hội và con người Học sinh cũng có thể

xử lý và nắm bắt được nhiều thông tin thông qua bài giảng rõ ràng, hiệu quả và linh hoạt Công nghệ giúp học sinh trở nên sáng tạo và tự tin hơn khi thuyết trình trước lớp

Các phương tiện truyền thông cùng với hệ thống mạng toàn cầu Internet đang làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức : không chỉ đọc để biết , mà còn nghe, thấy, cảm nhận sự kiện xảy ra ở xa như đang diễn ra trước mắt Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã tạo ra một khối lượng thông tin khổng lồ, vượt các giới hạn

về thời gian và không gian Chính vì thế, rèn luyện khả năng thu nhận, xử lý để hiểu biết thông tin một cách nhanh chóng và chính xác là yêu cầu quan trọng hiện nay

Phần Động cơ đốt trong với các nội dung kiến thức về cấu tạo và nguyên lý làm việc rất phức tạp, trừu tượng, khó hiểu Do đó công nghệ thông tin là một công cụ hỗ trợ rất hiệu quả khi dạy và học phần này Bằng những hình ảnh trực quan, bằng những video sống động, bằng những ứng dụng thực tế sẽ giúp học sinh lĩnh hội tri thức nhanh hơn, hiểu rõ hơn và nhớ lâu hơn Các em sẽ dễ dàng nhận biết được các loại động cơ, các bộ phận, các cơ cấu, hệ thống và ứng dụng của động cơ trong thực tế Tìm hiểu cấu tạo của các chi tiết, các cơ cấu và hệ thống của động cơ cụ thể, chính xác hơn Đặc biệt khi nghiên cứu nguyên lí làm việc của động cơ cấu như các cơ cấu, hệ thống thì còn rõ ràng hơn cả khi quan sát trong thực tế

2 Một số kĩ thuật dạy học tích cực

Mỗi quan điểm dạy học có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nó; mỗi phương pháp dạy học cụ thể có các kĩ thuật dạy học đặc thù Tuy nhiên, có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nhiều quan điểm dạy học, cũng như

có những kĩ thuật dạy học được sử dụng trong nhiều phương pháp dạy học khác

nhau

Trang 15

2.1 Kĩ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm, giáo viên nên sử dụng nhiều

cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho học sinh, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Mỗi nhóm nhỏ

thường từ 4 – 6 học sinh là phù hợp

* Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm, theo tháng sinh, theo giới tính, theo sở thích, theo hình ghép,

2.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân, nhóm nào?

+ Nhiệm vụ là gì?

+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

+ Cách thức trình bày, đánh giá sản phẩm như thế nào?

- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

2.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi

Kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phương pháp

Trang 16

câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của học sinh; học sinh cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về những nội dung bài học chưa sáng

tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa học sinh - giáo viên và học sinh - học sinh Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của học sinh càng nhiều, học sinh sẽ học tập tích cực hơn

Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

- Đúng lúc, đúng chỗ

- Phù hợp với trình độ học sinh

- Kích thích suy nghĩ của học sinh

- Phù hợp với thời gian thực tế

- Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích

- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

2.4 Kĩ thuật động não

Một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho

vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả ý kiến của nhóm người đó nảy sinh

trong cùng một thời gian theo một nguyên tắc nhất định Các ý kiến có thể rất

rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn

đề mà những người tham gia nghĩ tới.Trong động não thì vấn đề được đào bới

từ nhiều khía cạnh và nhiều cách nhìn khác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được

phân nhóm và đánh giá

2.5 Kĩ thuật thảo luận viết

Thảo luận viết là một biến thể của động não, tuy nhiên, trong thảo luận viết, từng thành viên trình bày ý kiến của mình trên giấy trước khi gửi kết quả về cho thư

ký của nhóm Mỗi thành viên có giấy và bút riêng để viết ra ý tưởng của mình Trong quá trình phát triển ý kiến, được phép tham khảo ý kiến của các bạn khác cùng nhóm để phát triển ý tưởng

2.6 Kỹ thuật động não không công khai

Động não không công khai là một hình thức biến đổi của thảo luận viết, mỗi thành viên của nhóm cũng viết ra ý nghĩ của mình để giải quyết vấn đề, tuy nhiên không công khai và không tham khảo người khác, sau đó nhóm mới tiến hành thảo luận chung Trong quá trình động não cá nhân không được tham khảo ý kiến của

các thành viên khác trong nhóm

2.7 Kĩ thuật khăn trải bàn

- Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm sẽ có một

tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người)

- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề nào đó mà

GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm

ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”

Trang 17

2.8 Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và treo lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh

- Học sinh cả lớp đi xem “triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc

Để thực hiện kĩ thuật này có hiệu quả thì phải đảm bảo ở bước thảo luận đầu tiên, mọi thành viên đều có khả năng trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước khi tiến hành tách nhóm Các chủ đề thảo luận ở hai vòng cần được chọn lọc kỹ lưỡng,

có tính độc lập với nhau

2.10 Kĩ thuật "Bể cá"

Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm thành viên ngồi giữa phòng và thảo luận với nhau, còn những thành viên khác ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những thành viên đang thảo luận Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi Các thành viên tham gia nhóm quan sát có thể thay nhau ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau

Bảng câu hỏi cho những người quan sát:

- Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?

- Họ có nói một cách dễ hiểu không?

- Họ có để những người khác nói hay không?

- Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?

- Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?

- Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?

- Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?

2.11 Kĩ thuật Bản đồ tư duy (Sơ đồ tư duy)

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh để

mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, ý tưởng được liên

Trang 18

- Viết tên chủ đề ý tưởng chính ở trung tâm

- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Có nhiều cách tổ chức thông tin theo sơ đồ: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ

đồ chuỗi vv Giáo viên cần để học sinh tự lựa chọn sơ đồ mà các em thích và phù hợp với từng nội dung bài học Giáo viên cần đưa câu hỏi gợi ý để thành viên nhóm lập sơ đồ Khuyến khích sử dụng biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh và văn bản tóm tắt

2.12 Kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi

Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề

Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh suy nghĩ Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp Điều quan trọng

là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận được, thay vì chỉ chia sẻ ý

kiến cá nhân

2.13 Kĩ thuật ”đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

Kĩ thuật này nhằm giúp học sinh tăng cường khả năng tự học và giúp giáo viên tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với học sinh

Cách tiến hành như sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng học sinh đọc bài/phần đọc

- Học sinh làm việc cá nhân:

+ Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, học sinh cần đọc lướt qua bài

đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng

+ Đọc và đoán nội dung: Học sinh đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra

+ Tìm ý chính: học sinh tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình

+ Tóm tắt ý chính

- Học sinh chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc

- Học sinh nêu câu hỏi để giáo viên giải đáp (nếu có)

Một số câu hỏi giáo viên thường dùng để giúp học sinh tóm tắt ý chính:

Trang 19

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các

em đã hiểu vấn đề như thế nào

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, trả lời các câu hỏi ngắn liên quan đến bài học

- Học sinh suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của học sinh có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

- Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em

đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em

muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm

3 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy

Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning) Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới

* Một số hình thức ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học

+ Giảng dạy bằng bài giảng điện tử

Giảng dạy bằng bài giảng điện tử theo công nghệ E-Learning có ưu điểm là tạo

hứng thú cho cả thầy và trò trong buổi học nhờ có sự truyền đạt và tiếp nhận bài giảng thông qua những hình thức phong phú, đa dạng như hình ảnh, âm thanh giúp cho học sinh tiếp nhận bài giảng dễ hiểu hơn Giáo viên không lo “cháy” giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy, thời gian dành cho công việc viết bảng, vẽ hình, treo tranh ảnh sẽ giảm xuống Giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện trao đổi, thảo luận với học sinh về những vấn đề nảy sinh Qua đó, học sinh được kích thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có thể nêu câu hỏi với giáo viên, giúp cho giờ học thêm sinh động Giáo viên không phải soạn bài giảng nhiều lần mà chỉ cần đầu tư cho lần soạn đầu tiên và cập nhật, chỉnh sửa cho bài giảng tốt hơn vào những lần sau

Tuy nhiên, việc dạy và học bằng bài giảng điện tử cũng có những hạn chế nhất định Muốn có một tiết dạy với bài giảng điện tử có hiệu quả, người thầy giáo phải dành nhiều thời gian cho việc sưu tầm, chuẩn bị chu đáo về tài liệu, kiến thức để có được những hình ảnh minh hoạ, âm thanh phục vụ cho bài giảng Giáo viên phải biết

Trang 20

không thể áp dụng với tất cả các nội dung của từng bài học, có những tiết dạy sẽ không thể đạt hiệu quả tối đa nếu thiếu phương pháp dạy truyền thống, có những tiết học sẽ không giúp học sinh hiểu và nhớ lâu nếu không được hỗ trợ bằng hình ảnh, âm thanh, vì vậy giáo viên cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp giảng dạy bằng bài giảng điện tử và cách dạy truyền thống để có thể phát huy tối đa hiệu quả của việc dạy và học

+ Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng Internet

Ngày nay, giáo viên và học sinh phải có thói quen và khả năng tự học để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tích luỹ kiến thức Tuy nhiên, người dạy và người học thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin do các thư viện truyền thống chưa đáp ứng đủ nhu cầu học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứu của họ Vì vậy, Internet và máy vi tính chính là một phương tiện giúp mỗi người tự học tốt nhất Giáo viên và học sinh có thể tìm kiếm, tra cứu tri thức về mọi lĩnh vực

+ Tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử

Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu là vấn đề bức thiết đặt ra cho mỗi nhà giáo và học sinh Để tăng cường tính chất nghiên cứu, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của học sinh, người dạy, với tư cách là người hướng dẫn quá trình cần phải chỉ ra cho học sinh cách tìm kiếm, khai thác những nguồn học liệu mở trên mạng công nghệ thông tin toàn cầu Có thể nói, với sách điện tử và giáo trình trên mạng Internet, mỗi giáo viên

và học sinh có thể tham nhiều tài liệu khác nhau ở bất cứ thời gian và không gian nào

+ Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học

Quá trình dạy - học cho sinh viên cần đẩy mạnh sử dụng các thiết bị nghe nhìn để tăng hiệu quả tiếp thu, ghi nhớ bài giảng của sinh viên, giảm bớt việc ghi, đọc, chép của giảng viên và học viên Các nghiên cứu giáo dục cho thấy người học chỉ nhớ được 10% những gì đã đọc, 20% những gì đã nghe, khoảng 50% những gì họ nghe và thấy và khoảng 95% những gì họ được làm Một số thiết bị thường dùng trong nhà trường hiện nay là máy chiếu và máy tính nối mạng Học sinh được học tập thường xuyên trong môi trường có các thiết bị điện tử sẽ luôn tăng hứng thú học tập, phát huy khả năng tư duy sáng tạo Phương pháp dạy và học có sự tham gia nhiều hơn của học sinh bằng thảo luận nhóm, nêu ý kiến sẽ phát huy nhiều hơn tính chủ động trong tiếp nhận kiến thức Cùng một thời lượng như nhau, nhưng số lượng kiến thức và kỹ năng học sinh thu nhận lại nhiều hơn, cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn Số lượng bài tập thực hành của học sinh cũng được rèn luyện nhiều hơn Từ đó, kỹ năng

tự học, tự nghiên cứu sẽ phát huy có hiệu quả cao hơn

Trong phương pháp dạy học theo dự án thì học sinh không chỉ được đọc, được nghe nhìn mà còn được trực tiếp làm thành sản phẩm về một đơn vị kiến thức nào đó

Do đó, học sinh sẽ hiểu bài nhanh hơn, thấu đáo hơn và rèn luyện được kĩ năng làm việc với máy tính

+ Gửi, nhận văn bản bằng thư điện tử

Thư điện tử hay email là một hệ thống chuyển nhận thư từ qua các mạng máy tính Một email có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet Nó có thể chuyển mẫu

Trang 21

thông tin (bằng chữ, hình ảnh, âm thanh, phim) từ một máy chủ tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng một thời điểm Điều này rất cần thiết trong việc trao đổi, liên lạc giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh và nó đặc biệt quan trọng trong phương pháp dạy học dự án với kĩ thuật dạy học chia nhóm Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng hệ thống email có thể truy cập ở mọi nơi, mọi lúc, có thể tải email về máy tính để bàn, laptop, máy tính bảng, thậm chí cả trên điện thoại Chúng ta có thể gửi email cho một nhóm đối tượng người sử dụng, như gửi email cho một nhóm học sinh hoặc toàn thể học sinh của lớp Với hệ thống email này, giáo viên

có thể cung cấp cho học sinh những tài liệu và hướng dẫn học sinh hoàn thành nhiệm

vụ học tập Ngược lại, nếu học sinh có những khó khăn, thắc mắc cũng có thể chuyển cho thầy, cô giáo của mình để nhận được những hướng dẫn kịp thời Mỗi khi học sinh viết bài báo cáo thì có thể gửi qua email để giáo viên góp ý, sửa chữa trực tiếp trên máy tính

Nói tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học cho học sinh chính là một trong những hoạt động để đổi mới phương pháp dạy - học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong thời kỳ hội nhập, tạo thuận lợi cho người học

có thể tích luỹ dần kiến thức theo khả năng và điều kiện của mình Dưới tác động của công nghệ thông tin, quá trình kỹ thuật hoá hoạt động giảng dạy trong nhà trường đã diễn ra và có những kết quả đáng chú ý

V HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC

1 Hiệu quả về mặt kinh tế

Để đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học – thí nghiệm – thực hành, mô

hình dạy học phần động cơ đốt trong thì kinh phí đâu tư có thế lên đến hàng trăm triệu đồng, hoặc nếu tổ chức các buổi triển lãm, thăm quan, ngoại khóa cho học sinh để học sinh có thể quan sát tìm hiểu về động cơ đốt trong ước tính kinh phí cũng vài chục triệu đồng (Ví dụ: Trong năm học 2016-2017 trường THPT Yên Khánh B tổ chức cho 50 học

sinh đi tham quan nhà máy nhiệt điện tỉnh Ninh Bình, mặc dù đã được nhà máy hỗ trợ kinh phí đi lại tham quan những cũng phải chi phí khoảng 30 triệu đồng Trường THPT Nho Quan C tổ chức cho học sinh đi học tập trải nghiệm, Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy tổ chức cho học sinh đi học tập trải nghiệm “Về nguồn” chi phí lên đến hàng

100 triệu đồng) Nhưng nếu ta áp dụng phương pháp dạy học theo dự án có ứng dụng công nghệ thông tin thì chi phí cho buổi học là rất nhỏ, bởi vì các em có thể tự mình liên

hệ, giao tiếp với các kỹ sư, công nhân, thợ sửa chữa, người lao động … hoặc lên mạng tìm kiếm những mô hình thí nghiệm ảo hoặc những hình ảnh động minh họa về cấu tạo, nguyên lý hoạt động và cả những ứng dụng của động cơ đốt trong Khi đó nhà trường chỉ cần sắp xếp các phòng học ứng dụng công nghệ thông tin có máy chiếu và máy tính nối mạng là đủ Hơn nữa các phòng học này còn được sử dụng cho nhiều tiết học, ở nhiều môn học, trong nhiều năm học Cùng với sự phát triển về khoa học kĩ thuật thì chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, học sinh cũng có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu bài học theo phương pháp mới đạt hiệu quả cao

2 Hiệu quả về mặt xã hội

Sau quá trình thực nghiệm giải pháp mới để dạy phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11, tôi thấy hầu hết học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa

Trang 22

pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Chúng ta sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực có năng lực cao đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường lao động đầy cạnh tranh trong một xã hội công nghiệp, hiện đại Khi các em nắm được phương pháp và kĩ năng sẽ chủ động, sáng tạo tìm hiểu các tri thức mới, cần thiết, trên phạm vi rộng (kể cả ngoài sách giáo khoa) phục vụ mục đích học tập của mình mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào thầy cô Như vậy thì tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan như hiện nay

sẽ hạn chế được rất nhiều Vì có cầu thì mới có cung, một khi học sinh không còn

nhu cầu học thêm nữa thì các cấp lãnh đạo ngành giáo dục sẽ không phải đau đầu tìm các biện pháp giảm tình trạng dạy thêm nữa Đây là vấn đề nóng bỏng không chỉ thu hút sự quan tâm của giáo viên, học sinh, phụ huynh, của ngành giáo dục, của các cấp chính quyền mà còn của toàn xã hội

Thông qua phương pháp dạy học tích cực nói chung, đặc biệt là dạy học dự án sẽ tạo lập cho các em các kĩ năng sống rất cần thiết như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hòa nhập với cộng đồng, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng tìm kiếm, tổng hợp, phân tích thông tin, kĩ năng làm việc nhóm… và quan trọng hơn là tạo

ra cơ hội cho các em tự mình trải nghiệm khám phá, chia sẻ kinh nghiệm và tự học hỏi, phát huy khả năng sáng tạo, gắn liền khoa học với thực tiễn Giúp các em tự tin khẳng định bản thân, biết trân trọng thành quả lao động, biết yêu thương chia sẻ và góp phần định hướng nghề nghiệp của các em sau này

Từ lâu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã được thực hiện ở rất nhiều nước phát triển trên thế giới Hiện nay ở Việt Nam, tuy khoảng thời gian ứng dụng công nghệ trong giảng dạy tại các trường học còn ngắn, nhưng những lợi ích của điều đó đã được thể hiện rõ nét Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới

Rõ ràng, những cải tiến như trên sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người học và người dạy mà còn có ý nghĩa rất trọng với sự phát triển của cả xã hội và đất nước

VI ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

1 Điều kiện áp dụng

1.1 Giáo viên

Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục Giáo viên vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được

sự chủ động của học sinh trong hoạt động nhận thức

Trước yêu cầu đó, đội ngũ giáo viên hiện nay phải tự trang bị cho mình những kiến thức và kĩ năng cần thiết, thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn thông qua các lớp tập huấn, thường xuyên tự nghiên cứu và áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học

1.2 Học sinh

Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp dạy học tích cực như: giác ngộ mục đích

Trang 23

học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…Ngày nay, học sinh sống độc lập, tự chủ, có trách nhiệm hơn, biết khẳng định vai trò của bản thân, biết chia sẻ và hợp tác, biết tự vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống

1.3 Chương trình và sách giáo khoa

Phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc học sinh phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để học sinh tập giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để học sinh tự nghiên cứu phát triển bài học Do đó theo chương trình sách giáo khoa hiện hành thì trong các tiết dạy giáo viên không nhất thiết phải dạy hết nội dung của bài mà có thể giao cho học sinh về nhà tìm hiểu những nội dung còn lại theo sự hướng dẫn của giáo viên

1.4 Thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm

Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác Chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học Chú trọng thiết bị thực hành giúp học sinh tự tiến hành các bài thực hành thí nghiệm Những thiết bị đơn giản có thể được giáo viên, học sinh tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường

Trong điều kiện các thiết bị dạy học không có đầy đủ hoặc không tự làm được thì vai trò của công nghệ thông tin được phát huy mạnh mẽ Thông qua các ứng dụng của công nghệ thông tin giáo viên và học sinh tìm kiếm tài liệu học tập, cập nhật các hình ảnh, video phong phú, đa dạng Giáo viên có thể dễ dàng chuyển thể các hình ảnh phức tạp thành hình vẽ đơn giản để thuận lợi cho việc nghiên cứu cấu tạo và nguyên lí làm việc khi dạy phần động cơ đốt trong Học sinh cũng có thể sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm, xử lý thông tin, viết báo cáo và thuyết trình các sản phẩm được giao một cách rõ ràng, khoa học và đầy đủ hơn

1.5 Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục

Đánh giá kết quả học tập là qúa trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của

Trang 24

tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn

Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Khi nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực

Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giá như trên việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp Các câu hỏi bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu được xác định

Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh, bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn đầu tư nhiều công sức hơn cũng như phải công tâm hơn

Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo 70% câu hỏi bài tập đo được mức độ đạt trình độ chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi học sinh THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành

cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn

1.6 Trách nhiệm quản lí

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên, đồng thời cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm học sinh, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới phương pháp dạy học ngày càng rộng rãi, thường xuyên và có hiệu quả hơn

2 Khả năng áp dụng

Trên cơ sở phân tích các điều kiện áp dụng ở trên, ta thấy chúng ta hoàn toàn có khả năng áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực ở cấp trung học phổ thông Không cần thiết và bắt buộc phải áp dụng tất cả các phương pháp vào một bài dạy mà giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào phù hợp với từng nội dung kiến thức trong bài, với từng bài trong chương trình Trong mỗi phương pháp, mỗi nội dung lại cần chọn các kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp để việc tổ chức các hoạt động học đạt kết quả cao nhất Trong các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo dự án là phương pháp dạy nhằm bắt nhịp với xu thế hiện đại trong giáo dục để nâng cao năng lực học tập, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Trong DHDA có thể tích hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực khác như phương pháp hợp tác trong nhóm, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp tổ

Trang 25

chức trò chơi, Hiểu được nguyên lý DHDA, giáo viên sẽ tạo thêm được hứng thú

và động lực học tập cho học sinh, từ đó làm cho hoạt động dạy học vừa phong phú vừa gắn bó với thực tiễn

Tuy nhiên để nâng cao chất lượng giáo dục thì mỗi giáo viên phải biết kết hợp

đa dạng các phương pháp dạy học tích cực Biết cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống Biết sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực và sáng tạo Phải tăng cường

sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ dạy học Phải chú trọng phương pháp dạy học đặc thù bộ môn và bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh

Khác với một số môn khoa học tự nhiên khác, môn Công nghệ nói chung và phần Động cơ đốt trong – Công nghệ 11 nói riêng khi sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy rất thuận lợi và có hiệu quả cao Vì phần này có nội dung kiến thức rộng; cấu tạo phức tạp, chi tiết; nguyên lí làm việc trừu tượng, khó hiểu và có nhiều ứng dụng thực tế Do đó, khi dạy phần này cần phải chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học dự án Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ giảng viên

Và hiện nay, hầu như tất cả giáo viên và các trường trung học phổ thông đều đáp ứng được yêu cầu này

Trên đây là nội dung cơ bản của sáng kiến: “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong

dạy học dự án phần Động cơ đốt trong” Những vấn đề cụ thể của quá trình triển khai các giải pháp mới chúng tôi trình bày ở phị lục kèm theo Nhóm tác giả mong nhận được sự

đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp, các nhà khoa học và quản lý giáo dục./

Xin trân trọng cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

TÁC GIẢ

Phạm Thị Thu Hường

Trang 26

* Xác định chủ đề: Mỗi nhóm học sinh có thể lựa chọn một trong những vấn đề, lịch

sử phát triển và thành tựu của động cơ đốt trong Cấu tạo và nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong, những lĩnh vực ứng dụng và thành tựu của động cơ đốt trong, thực trạng ứng dụng của động cơ đốt trong và ảnh hưởng của nó đến đời sống con người trên địa bàn tỉnh Ninh Bình…

* Xây dựng đề cương kế hoạch thực hiện:

- Lịch sử ra đời và phát triển của động cơ đốt trong;

- Những thành từu trên lĩnh vực khoa học và kinh tế của động cơ đốt trong;

- Cấu tạo và nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong;

- Nhưng ứng dụng của động cơ đốt trong trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;

- Tác động của động cơ đốt trong đối với đời sống kinh tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;

- Kế hoạch thực hiện, thời gian thực hiện và phương pháp tiến hành

- Những việc cần làm: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và viết báo cáo

- Thời gian thực hiện dự án: 3 tháng (25/01/2017 đến 25/4/2017)

- Phương pháp tiến hành: tìm hiểu thông tin trên mạng; khảo sát thực địa; phân tích các tài liệu khoa học, báo cáo số liệu của tỉnh, các doanh nghiệp… trên địa bàn tỉnh; phỏng vấn kỹ sư, công nhân, những thợ láp ráp, sửa chữa trên địa bàn tỉnh

- Thực hiện dự án: Lựa chọn điểm khảo sát; khảo sát thực tế thu thập thông tin

từ các nguồn khác nhau, phỏng vấn lãnh đạo các cấp chính quyền, giám đốc các doanh nghiệp, kỹ sư, công nhân, thợ sửa chữa, lắp ráp và những người lao động trực tiếp sử dụng động cơ đốt trong về cấu tạo, nguyên lí làm việc và ứng dụng của động

cơ đốt trong trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

* Giới thiệu sản phẩm: các bài viết, biểu đồ, tranh ảnh, những mẫu vật…

* Đánh giá dự án: Tổ chức cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của từng nhóm; giáo viên tổng kết đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng nhóm

1.2 Dự án nhỏ

* Tên dự án:

1 Tìm hiểu khái quát về động cơ đốt trong

2 Tìm hiểu về các cơ cấu của động cơ đốt trong

3 Tìm hiểu về hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát của động cơ đốt trong

* Xác định chủ đề: Giáo viên giao nhiệm vụ hoặc mỗi nhóm học sinh có thể lựa chọn một trong những nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra:

1.2.1 Chủ đề Khái quát về động cơ đốt trong

Trang 27

- Theo kế hoạch giảng dạy năm học 2017 – 2018, bài 22, bài 23 và bài 24 được xây dựng thành một chủ đề và dạy trong 4 tiết

* Kế hoạch giảng dạy cụ thể như sau:

- Tìm hiểu sơ lược lịch sử phát triển động cơ đốt trong

- Phân tích để thấy được sự phát triển về cấu tạo, nguyên lí hoạt động, công

suất, hiệu suất, nhiên liệu sử dụng, (Giáo viên có thể giới thiệu hình ảnh một số loại động cơ đốt trong đầu tiên và hình ảnh của những nhà phát minh ra chúng trên máy chiếu để minh họa và tạo sự hứng thú của học sinh)

+ Nhóm 3, 4 :

- Tìm hiểu khái niệm và phân loại động cơ đốt trong

- Động cơ hơi nước có phải là động cơ đốt trong không? Em hãy nêu điểm

khác nhau giữa động cơ hơi nước và động cơ đốt trong (Giáo viên giới thiệu hình ảnh một số loại động cơ đốt trong và động cơ hơi nước trên máy chiếu để tạo sự hứng thú của học sinh)

+ Nhóm 5, 6:

- Tìm hiểu cấu tạo chung của động cơ đốt trong

- Dựa vào Hình 20.1 SGK kết hợp với tranh vẽ phóng to, em hãy chỉ rõ các cơ

cấu và hệ thống của động cơ (Tranh vẽ giáo viên chuẩn bị trên máy chiếu)

+ Nhóm 7, 8:

- Tìm hiểu một số khái niệm cơ bản về động cơ đốt trong thông qua hình ảnh

trực quan và mô hình động (Giáo viên chuẩn bị trước bằng vật thật hoặc trên máy chiếu)

- So sánh giữa kì và hành trình có những điểm nào giống và khác nhau

Cuối tiết 1, Giáo viên chia lớp thành 8 nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi nhóm

về nhà chuẩn bị các nội dung còn lại

+ Nhóm 1, 2:

- Phân tích nguyên lí làm việc của động cơ điêzen 4 kì

- Giải thích tại sao động cơ điêzen lại có tỉ số nén cao hơn động cơ xăng

- Trong một chu trình làm việc của động cơ điêzen 4 kì, có mấy kì sinh công,

là những kì nào

+ Nhóm 3, 4:

- Phân tích nguyên lí làm việc của động cơ xăng 4 kì

- Nêu điểm khác nhau về nguyên lí làm việc giữa động điêzen và động cơ xăng

4 kì

+ Nhóm 5, 6:

- Tìm hiểu cấu tạo và phân tích nguyên lí làm việc của động cơ xăng 2 kì

- Nêu điểm khác nhau về nguyên lí làm việc giữa động 4 kì và động cơ 2 kì

- So sánh công suất của động cơ 4 kì và động cơ 2 kì

Trang 28

- Phân tích nguyên lí làm việc của động cơ điêzen 2 kì

- Khí thải của động cơ đốt trong gây ra những ảnh hưởng tiêu cực gì tới môi trường? Em hãy tìm hiểu các biện pháp làm giảm những ảnh hưởng đó

- Bằng những kiến thức mà em tìm hiểu được hãy giải thích các hiện tượng thiên nhiên liên quan đến khí thải có trong thực tế

Tiết 2

- Đại diện các nhóm trình bày nội dung đã chuẩn bị và tự nhận xét các ưu và nhược điểm của nhóm mình, những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dự án Giáo viên nhận xét, bổ sung, gợi ý các giải pháp khắc phục khó khăn và hướng dẫn các nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện và báo cáo lại ở tiết 3 và tiết 4

Tiết 3

- Đại diện các nhóm 1, 2, 3 và 4 báo cáo nội dung mà nhóm mình đã chuẩn bị Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm bạn bằng kĩ thuật “ Hỏi chuyên gia”

- Giáo viên nhận xét, đánh giá và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện và nộp lại sản phẩm vào tiết sau

- Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

Tiết 4

- Đại diện các nhóm còn lại 5, 6, 7, 8 báo cáo nội dung mà nhóm mình đã chuẩn bị Các nhóm khác theo dõi, nhận xét và đặt câu hỏi phát vấn và có thể đặt câu hỏi cho nhóm bạn bằng kĩ thuật “ Hỏi chuyên gia”

- Giáo viên nhận xét, đánh giá và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện và nộp lại sản phẩm bằng email qua hòm thư của giáo viên

- Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

- Phần cuối tiết 4, giáo viên tổ chức hoạt động luyện tập - thực hành thông qua trò chơi “Giải ô chữ”

* Xây dựng đề cương kế hoạch thực hiện:

1 Sơ lược lịch sử phát triển động cơ đốt trong

2 Khái niệm và phân loại động cơ đốt trong

3 Cấu tạo chung của động cơ đốt trong

4 Một số khái niệm cơ bản về động cơ đốt trong

5 Nguyên lí làm việc của động cơ 4 kì

6 Nguyên lí làm việc của động cơ 2 kì

* Kế hoạch thực hiện, thời gian thực hiện và phương pháp tiến hành:

- Những việc cần làm: thu thập thông tin, xử lí thông tin, trao đổi, bàn bạc, thống nhất trong nhóm và viết báo cáo

- Thời gian thực hiện: 1 tuần chuẩn bị và 1 tuần hoàn thiện

- Phương pháp tiến hành: Các nhóm học sinh trao đổi, bàn bạc, thống nhất nội dung, hình thức thể hiện và phương thức trình bày sản phẩm Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân làm báo cáo, tìm kiếm tài liệu khoa học, tìm hiểu thông tin trên mạng, trong thực tế, khảo sát phỏng vấn thợ sửa chữa xe máy, ô tô, kỹ

sư cơ khí…Sau đó dùng kĩ thuật ‘’khăn trải bàn’’ để thống nhất thành sản phẩm của nhóm

Trang 29

- Thực hiện dự án: lựa chọn địa điểm khảo sát trong địa bàn thành phố Ninh Bình hoặc địa phương nơi cư trú, cũng có thể thực hiện ngay tại gia đình (tìm hiểu, phỏng vấn thợ sửa xe máy, sửa ô tô, kỹ sư, công nhân của doanh nghiệp cơ khí …) hoặc trường cao đẳng nghề Lilama… để thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

* Tổ chức cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của nhóm; giáo viên tổng kết đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng nhóm

1.2.2 Chủ đề Các cơ cấu của động cơ đốt trong

- Theo kế hoạch giảng dạy năm học 2017 – 2018, bài 20 và bài 21 được xây dựng thành một chủ đề và dạy trong 4 tiết Nhiệm vụ cụ thể của dự án được giáo viên giao

cho học sinh ở cuối tiết học trước (thông qua phiếu học tập) như sau:

Giáo viên cần yêu cầu học sinh ôn tập các kiến thức về động cơ đốt trong kết hợp với các câu hỏi trải nghiệm về nhà khi học sinh đã được học về động cơ đốt trong ở những bài học trước trong chương trình cấp THPT, chương trình môn công nghệ lớp 11, môn Vật lí tìm hiểu về thân máy, nắp máy và các cơ cấu trên động cơ đốt trong trên thực tế các loại động cơ đốt trong mà các em biết trong gia đình, trong sản xuất, tìm hiểu các thông tin về thân máy, nắp máy, các cơ cấu dùng trên động cơ đốt trong ứng dụng trong thực tế đời sống

Giáo viên chia lớp thành 6 nhóm theo mùa sinh yêu cầu các nhóm thực hiện quá trình tìm hiểu trên thực tế đời sống sản xuất tại các xưởng sản xuất, sửa chữa hoặc thông qua các tài liệu khác như sách, báo tài liệu, phim ảnh, mạng internet về 3 phần kiến thức sau :

+ Nhóm 1, 2:

- Tìm hiểu nhiệm vụ và cấu tạo chung về thân máy và nắp máy

- Tìm hiểu nhiệm vụ và cấu tạo của thân máy? Em có nhận xét gì về đặc điểm cấu tạo thân xilanh của động cơ làm mát bằng nước và làm mát bằng không khí

- Tìm hiểu nhiệm vụ và cấu tạo của nắp máy?

- Tìm kiếm các hình ảnh, video về thân máy và nắp máy hoặc có thể tự ghi hình quay phim trực tiếp về cấu tạo của thân máy, nắp máy trên thực tế

- Tại sao ở đầu nhỏ và đầu to thanh truyền lại phải lắp bạc lót hoặc ổ bi?

- Tìm hiểu nhiệm vụ và cấu tạo của trục khuỷu? Trên má khuỷu là thêm đối trọng để làm gì?

- Tìm kiếm các hình ảnh, video hoặc có thể tự ghi hình quay phim trực tiếp về cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của cơ cấu trên thực tế

- Sưu tầm các chi tiết như pit-tông, chốt pit-tông, xecmăng, thanh truyền và trục khuỷu, má khuỷu, bánh đà của cơ cấu trục khuỷu thanh truyền trên xe máy + Nhóm 5, 6:

- Tìm hiểu về nhiệm vụ và phân loại cơ cấu phân phối khí? Nêu ứng dụng của từng loại?

Trang 30

- Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của từng chi tiết trong cơ cấu phân phối khí dùng xupap trên động cơ đốt trong ?

- Hãy cho biết những dấu hiệu chủ yếu để phân biệt cơ cấu phân phối khí xupap đặt và cơ cấu phân phối khí xupap treo?

- Tìm hiểu nguyên lí làm việc của cơ cấu phân phối khí xupap treo và cơ cấu phân phối khí xupap đặt

- Tìm kiếm các hình ảnh, video hoặc có thể tự ghi hình quay phim trực tiếp về cấu tạo, nguyên tăc hoạt động của cơ cấu phân phối khí trên thực tế

- Sưu tầm các chi tiết của cơ cấu phân phối khí trên động cơ xe máy

* Kế hoạch giảng dạy cụ thể như sau:

Tiết 1

Đại diện nhóm 1 và nhóm 2 báo cáo nội dung về thân máy và nắp máy đã chuẩn bị Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm 1, 2 bằng kĩ thuật “ Hỏi chuyên gia”:

- Thân máy và nắp máy có vai trò như thế nào trong động cơ ?

- Vì sao nói thân máy và nắp máy là khung xương của động cơ ?

- Chỉ ra vị trí lắp đặt của xilanh, trục cam, trục khuỷu ?

- Nắp máy động cơ có nhiệm vụ gì?

Giáo viên nhận xét, bổ sung và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện sản phẩm và báo cáo lại ở tiết 4

- Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

Tiết 2

Đại diện nhóm 3 và nhóm 4 báo cáo nội dung về cơ cấu trục khuỷu thanh truyền đã chuẩn bị Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm 3, 4 bằng kĩ thuật “ Hỏi chuyên gia”:

- Thân máy động cơ làm mát bằng nước có đặc điểm gì trong cấu tạo?

- Thân máy động cơ làm mát bằng không khí có đặc điểm gì trong cấu tạo?

- Căn cứ vào đâu để kết luận xe máy làm mát bằng không khí?

- Tại sao trên cacte lại không có áo nước hay cánh tản nhiệt?

- Xilanh được lắp trong thân xilanh như thế nào? Đặc điểm cấu tạo của xilanh?

- Vì sao mặt trong xilanh còn gọi là mặt gương xilanh?

- Thân máy có thân xilanh đúc liền xilanh khác thân máy có thân xilanh làm rời xilanh ở điểm gì?

Giáo viên nhận xét, bổ sung và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện sản phẩm và báo cáo lại ở tiết 4

- Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

Tiết 3

Đại diện nhóm 5 và nhóm 6 báo cáo nội dung về cơ cấu phân phối khí đã chuẩn bị Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm 5, 6 bằng kĩ thuật “ Hỏi chuyên gia”:

- Dựa vào đâu trên nắp máy để nhận biết động cơ xăng hay động cơ điêzen?

- Vì sao trên nắp máy cần phải có bộ phận làm mát?

- Đối với động cơ làm mát bằng nước trên nắp máy có bộ phận gì?

- Đối với động cơ làm mát bằng không khí trên nắp máy có bộ phận gì?

Trang 31

Giáo viên nhận xét, bổ sung và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện sản phẩm và báo cáo lại ở tiết 4

- Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

Tiết 4

Đại diện các nhóm báo cáo lại nội dung mà nhóm mình đã chỉnh sửa và hoàn thiện Người báo cáo đặc biệt chú ý đến những nội dung mới chỉnh sửa hoặc bổ sung thêm

- Các nhóm khác theo dõi, nhận xét và có thể đặt câu hỏi cho nhóm bạn

- Đại diện các nhóm tự nhận xét các ưu và nhược điểm của nhóm mình, chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện dự án Sau khi kết thúc dự án

đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm gì cho bản thân

- Giáo viên nhận xét, đánh giá và hướng dẫn nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện

và nộp lại sản phẩm bằng email qua hòm thư của giáo viên

- Học sinh ghi chép bổ sung những nội dung mới chỉnh sửa hoặc mới bổ sung theo chuẩn kiến thức của giáo viên

- Trong hoạt động luyện tập – thực hành, giáo viên yêu cầu các nhóm vẽ sơ đồ

tư duy thể hiện nội dung chính của chủ đề các cơ cấu của động cơ đốt trong để củng

cố bài học (Vẽ trên giấy A4, sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn)

* Xây dựng đề cương kế hoạch thực hiện:

1 Giới thiệu chung về thân máy và nắp máy

2 Nhiệm vụ và cấu tạo của thân máy

3 Nhiệm vụ và cấu tạo của nắp máy

4 Giới thiệu chung về cơ cấu trục khuỷu thanh truyền

5 Nhiệm vụ và cấu tạo của pit-tông

6 Nhiệm vụ và cấu tạo của thanh truyền

7 Nhiệm vụ và cấu tạo của trục khuỷu

8 Giới thiệu chung về cơ cấu phân phối khí

9 Cấu tạo của cơ phân phối khí dùng xupap

10 Nguyên lí làm việc của cơ phân phối khí dùng xupap

* Kế hoạch thực hiện, thời gian thực hiện và phương pháp tiến hành:

- Những việc cần làm: thu thập thông tin, xử lí thông tin, trao đổi, bàn bạc, thống nhất trong nhóm và viết báo cáo

- Thời gian thực hiện: 2 tuần chuẩn bị và 1 tuần hoàn thiện

- Phương pháp tiến hành: Các nhóm học sinh trao đổi, bàn bạc, thống nhất nội dung, hình thức thể hiện và phương thức trình bày sản phẩm Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân theo hướng dẫn nội dung cần tìm hiểu của giáo viên tìm kiếm tài liệu khoa học, tìm hiểu thông tin trên mạng, trong thực tế, khảo sát phỏng vấn thợ sửa chữa xe máy, ô tô, kỹ sư cơ khí…Sau đó dùng kĩ thuật ‘’khăn trải bàn’’ để thống nhất thành sản phẩm của nhóm

- Thực hiện dự án: lựa chọn địa điểm khảo sát trong địa bàn thành phố Ninh Bình hoặc địa phương nơi cư trú, cũng có thể thực hiện ngay tại gia đình (tìm hiểu, phỏng vấn thợ sửa xe máy, sửa ô tô, kỹ sư, công nhân của doanh nghiệp cơ khí …) hoặc trường cao đẳng nghề Lilama… để thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

Trang 32

* Tổ chức cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của nhóm; giáo viên tổng kết đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng nhóm

1.2.3 Chủ đề Hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát của động cơ đốt trong

- Theo kế hoạch giảng dạy năm học 2017 – 2018, bài 25 và bài 26 được xây dựng thành một chuyên đề học trong 2 tiết Nhiệm vụ cụ thể của dự án được giáo

viên giao cho các nhóm học sinh (chia theo nhóm mảnh ghép) ở cuối tiết học trước

như sau:

+ Nhóm 1: - Tìm hiểu nhiệm vụ, phân loại hệ thống bôi trơn

- Nếu các nhiệm vụ đó thực hiện không tốt thì ảnh hưởng gì đến động cơ + Nhóm 2: - Tìm hiểu cấu tạo chung của hệ thống bôi trơn cưỡng bức Phân tích cấu tạo và tác dụng của từng bộ phận trong hệ thống bôi trơn

- Tìm kiếm các hình ảnh có liên quan đến hệ thống bôi trơn hoặc sưu tầm một

số bộ phận của hệ thống bôi trơn trên xe máy

+ Nhóm 3: Tìm hiểu nguyên lí làm việc của hệ thống bôi trơn cưỡng bức

+ Nhóm 4: - Tìm hiểu nhiệm vụ, phân loại hệ thống làm mát

- Nếu các nhiệm vụ đó thực hiện không tốt thì ảnh hưởng gì đến động cơ + Nhóm 5: - Tìm hiểu cấu tạo chung của hệ thống làm mát bằng nước tuần hoàn cưỡng bức Phân tích cấu tạo và tác dụng của từng bộ phận trong hệ thống làm mát

- Tìm kiếm các hình ảnh có liên quan đến hệ thống làm mát hoặc sưu tầm một

số bộ phận của hệ thống làm mát trên động cơ xe máy

+ Nhóm 6: Tìm hiểu nguyên lí làm việc của hệ thống làm mát bằng nước tuần hoàn cưỡng bức

* Kế hoạch giảng dạy cụ thể như sau:

Tiết 1

Đại diện các nhóm 1, 2, 3 báo cáo nội dung đã chuẩn bị Đại diện các nhóm tự nhận xét các ưu và nhược điểm của nhóm mình, chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện dự án Sau khi kết thúc đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm gì cho bản thân

Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm 1, 2, 3:

+ Nhóm 1: - Tại sao lại phải bôi trơn cho động cơ?

- Ở động cơ đốt trong, những vị trí nào cần phải bôi trơn?

- Thế nào là bôi trơn bằng vung té?

- Thế nào là bôi trơn cưỡng bức?

+ Nhóm 2: - Trên hình vẽ, bộ phận nào là đối tượng phục vụ của hệ thống bôi trơn cưỡng bức?

- Tại sao trong hệ thống bôi trơn cưỡng bức lại phải có các bộ phận như vậy? Tạm thời có thể bỏ đi bộ phận nào mà hệ thống vẫn làm việc được? Nếu thế thì

có thể gây nên hậu quả gì?

+ Nhóm 3: - Khi đường dầu sau bơm bị tắc thì van nào làm việc, đóng hay mở, dầu đi theo đường nào ?

Trang 33

- Khi nhiệt độ dầu quá cao thì van nào làm việc, đóng hay mở, dầu đi theo đường nào?

Giáo viên nhận xét, bổ sung và hướng dẫn các nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện và nộp lại sản phẩm bằng email qua hòm thư của giáo viên

Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên

Tiết 2

Đại diện các nhóm 4, 5, 6 báo cáo nội dung mà nhóm mình đã chuẩn bị Đại diện các nhóm tự nhận xét các ưu và nhược điểm của nhóm mình, chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện dự án Sau khi kết thúc đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm gì cho bản thân

Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ xung và có thể đặt câu hỏi phát vấn cho nhóm bạn

+ Nhóm 4: - Tại sao lại phải làm mát cho động cơ?

- Ở động cơ đốt trong, những khu vực nào cần phải được làm mát?

- Ống phân phối nước lạnh trong hệ thống có tác dụng gì?

+ Nhóm 6: - Tại sao trong hệ thống làm mát bằng không khí lại phải có các bộ phận như vậy? Tạm thời có thể bỏ đi bộ phận nào mà hệ thống vẫn làm việc được? Nếu thế thì có thể gây nên hậu quả gì?

- Em hãy mô tả đường đi của nhiệt từ các chi tiết bao quanh buồng cháy

- Tại sao động cơ xe máy thường dùng làm mát bằng không khí và không

có quạt gió?

- Tại sao phải luôn giữ cho các cánh tản nhiệt sạch sẽ?

Giáo viên nhận xét, bổ sung và hướng dẫn các nhóm học sinh tiếp tục hoàn thiện và nộp lại sản phẩm bằng email qua hòm thư của giáo viên

Học sinh ghi chép những nội dung chính theo chuẩn kiến thức của giáo viên + Phần cuối tiết 2, giáo viên tổ chức hoạt động luyện tập - thực hành thông qua trò chơi “Đuổi hình bắt chữ” Nội dung như sau:

- Sử dụng hình ảnh các bộ phận trong sơ đồ hệ thống bôi trơn, hệ thống làm mát

→ xác định tên gọi của các bộ phận đó

- Sử dụng sơ đồ nguyên lí làm việc hệ thống bôi trơn, hệ thống làm mát trong các trường hợp Hãy xác định tên gọi từng trường hợp cụ thể

- Sắp xếp sai vị trí các bộ phận trong sơ đồ cấu tạo, sơ đồ nguyên lí làm việc Hãy xác định tên bộ phận sai, sắp xếp lại cho đúng

* Xây dựng đề cương kế hoạch thực hiện:

1 Nhiệm vụ, phân loại hệ thống bôi trơn

2 Cấu tạo của hệ thống bôi trơn cưỡng bức

Trang 34

4 Nhiệm vụ, phân loại của hệ thống làm mát

5 Cấu tạo hệ thống làm mát bằng nước tuần hoàn cưỡng bức

6 Nguyên lí làm việc của hệ thống làm mát bằng nước tuần hoàn cưỡng bức

* Kế hoạch thực hiện, thời gian thực hiện và phương pháp tiến hành:

- Những việc cần làm: thu thập thông tin, xử lí thông tin, viết báo cáo

- Thời gian thực hiện: 1 tuần chuẩn bị và 1 tuần hoàn thiện lại

- Phương pháp tiến hành: Các nhóm học sinh trao đổi, bàn bạc, thống nhất nội dung, hình thức thể hiện và phương thức trình bày sản phẩm Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân tìm kiếm tài liệu khoa học, tìm hiểu thông tin trên mạng, trong thực tế, khảo sát phỏng vấn thợ sửa chữa xe máy, ô tô, kỹ sư cơ khí… Sau đó dùng kĩ thuật ‘’khăn trải bàn’’ để thống nhất thành sản phẩm của nhóm

- Thực hiện dự án: lựa chọn địa điểm khảo sát trong địa bàn thành phố Ninh Bình hoặc địa phương nơi cư trú, trên thực tế tại gia đình (tìm hiểu, phỏng vấn thợ sửa xe máy, sửa ô tô, kỹ sư, công nhân của doanh nghiệp cơ khí …) hoặc trường cao đẳng nghề Lilama… để thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

* Giới thiệu sản phẩm: Một bài thuyết trình kèm hình ảnh minh họa, vật mẫu về hệ thống bôi trơn hoặc hệ thống làm mát

* Tổ chức cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của nhóm; giáo viên tổng kết đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng nhóm

1.3 Một số hình ảnh minh họa trong sản phẩm của học sinh:

1.3.1 BÀI 21: NGUYÊN LÍ LÀM VIỆC CỦA ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG

Ngày đăng: 29/04/2020, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Thông tin trên website của Bộ Giáo dục và Đào tạo http://www.edu.net Link
1. Nguyễn Văn Khôi. Sách giáo khoa, sách giáo viên Công nghệ công nghiệp. NXBGD 2007 Khác
2. Nguyễn Văn Bính, Trần Sinh Thành, Nguyễn Văn Khôi . Phương pháp dạy học KTCN tập I, tập II - NXB giáo dục Khác
3. Trần Sinh Thành (chủ biên). Phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp. NXBGD 2001 Khác
4. Lê Huy Hoàng . Phương tiện dạy học KTCN - NXB ĐHSP Hà Nội – 2005 5. Phạm Minh Tuấn. Động cơ đốt trong. NXBKHKT 2001 Khác
6. Hoàng Minh Tác. Động cơ đốt trong. NXBĐHSPI 2002 Khác
7. Nguyễn Tất Tiến. Nguyên lý động cơ đốt trong. NXBGD 2000 Khác
8. Nguyễn Thị Trà (Chủ biên). Ảnh hưởng của ô tô, xe máy tới môi trường. NXBGTVT 1995.9. Các báo điện tử Khác
12. Thông tin trên website baigiang.violet.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w