ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG VÀ KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHÁO VÀNG Machilus bonii Lecomte PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG GỖ LỚN CHO MỘ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG VÀ KỸ THUẬT TRỒNG CÂY
KHÁO VÀNG (Machilus bonii Lecomte) PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG
GỖ LỚN CHO MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
MÃ SỐ: B2017-TNA-33
Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYỄN THỊ THOA
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG VÀ KỸ THUẬT TRỒNG CÂY
KHÁO VÀNG (Machilus bonii Lecomte) PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG
GỖ LỚN CHO MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
BÁO CÁO TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật trồng cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) phục vụ trồng rừng gỗ lớn cho một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam
- Mã số: B2017 - TNA - 33
- Thuộc chương trình khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2017 - 2018
2 Chủ nhiệm đề tài
Họ và tên: Nguyễn Thị Thoa
Tên tổ chức đang công tác: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Địa chỉ: Xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3 Tổ chức chủ trì đề tài: Đại học Thái Nguyên
Địa chỉ: Phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Trang 4TT Kinh phí Tổng
Trong đó
Thuê khoán chuyên môn
Nguyên vật liệu, năng lượng
Thiết
bị, máy móc
Xây dựng sửa chữa
3 Danh sách các cán bộ tham gia đề tài
3 PGS.TS Trần Quốc Hưng Trường ĐH NL Thái Nguyên Thành viên
9 TS Nguyễn Thị Thu Hoàn Trường ĐH NL Thái Nguyên Thành viên
1 Ghi vị trí cán bộ tham gia: ví dụ: thành viên, thư ký, kế toán,…
Trang 54 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu
STT Các nội dung công việc
chủ yếu
Thời gian (Bắt đầu, kết thúc - tháng … năm) Người, cơ quan
thực hiện Theo kế
hoạch
Thực tế đạt được
1
Nội dung 1: Nghiên cứu đặc
điểm sinh học, sinh thái và đặc
điểm lâm học của cây Kháo vàng
9/2016 - 3/2017
9/2016 - 6/2017
CNĐT và thành viên Trường ĐH NLTN
2
Nội dung 2: Chọn cây trội,
nghiên cứu vật hậu và thu hái,
bảo quản hạt giống
10/2017 -
2018
10/2017 - 2/2018
CNĐT và thành viên Trường ĐH NLTN
3 Nội dung 3: Nghiên cứu kỹ thuật
nhân giống cây Kháo vàng
11/2017 - 6/2018 2 - 6/208
CNĐT và thành viên Trường ĐH NLTN
4 Nội dung 4: Nghiên cứu kỹ thuật
trồng cây Kháo vàng
2 - 11/2018 7 - 8/2018
CNĐT và thành viên Trường ĐH NLTN
5
Nội dung 5: Xây dựng hướng dẫn
kỹ thuật nhân giống và trồng
rừng Kháo vàng
11/2018 11/2018
CNĐT và thành viên Trường ĐH NLTN
III SẢN PHẨM KH & CN CỦA ĐỀ TÀI
Số lượng, quy mô thực hiện
(%) thực hiện
I Sản phẩm dạng I
1.3 Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống
và trồng rừng Kháo vàng
Hướng
II Sản phẩm dạng II
III Sản phẩm đào tạo
Trang 62 Danh mục sản phẩm KHCN đã được ứng dụng vào thực tế
TT Tên kết quả đã được
ứng dụng
Thời gian
Đạt yêu cầu
3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài
thực hiện
Ghi chú
(Tóm tắt kết quả, kết luận chính,
người chủ trì…)
Kết quả thực hiện về mặt nội dung
và kinh phí của đề tài, đảm bảo về mặt tiến độ và chất lượng quy định
Kết quả thực hiện về mặt nội dung
và kinh phí của đề tài, đảm bảo về mặt tiến độ và chất lượng quy định
Kết quả thực hiện về mặt nội dung
và kinh phí của đề tài đảm bảo tiến
độ và chất lượng quy định
Chủ nhiệm đề tài
TS Nguyễn Thị Thoa
Tổ chức chủ trì đề tài
Trang 7BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đơn vị: Đại học Thái Nguyên
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật trồng cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) phục vụ trồng rừng gỗ lớn cho một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam
- Mã số đề tài: B2017 - TNA - 33
- Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Thoa
- Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: 24 tháng
Trồng được 2,0ha mô hình cây Kháo vàng tại vườn giống cây đầu dòng, Viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, góp phần vào công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ cho các tỉnh vùng Đông Bắc
4 Kết quả nghiên cứu
(1) Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái, lâm học của loài Kháo vàng tại khu vực nghiên cứu
(2) Chọn được 20 cây trội Kháo vàng trong tự nhiên để thu hái hạt giống
(3) 01 hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và gây trồng Kháo vàng
(4) Trồng thí nghiệm 2ha mô hình cây Kháo vàng tại Viện Nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
Trang 85 Sản phẩm
5.1 Sản phẩm khoa học
Có 3 bài báo đăng trên tạp chí trong nước:
1 Nguyễn Thị Thoa, Lê Văn Phúc, Nguyễn Thành Công, Đặng Kim Tuyến,Nguyễn Thị Thu Hoàn, Nguyễn Tuấn Hùng (2018), “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và
tái sinh loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại tỉnh Tuyên Quang”, Tạp chí
Rừng và Môi trường, số 90, tr 29-34, ISSN 1859-1248
2 Lê Văn Phúc, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Duy Tuấn, Hồ Ngọc Sơn, Trần Quốc Hưng (2018), “Một số đặc điểm lâm học loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) tại tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm
nghiệp, số 6, tr 69-76, ISSN 1859 - 3828
3 Nguyễn Thị Thoa, Lê Văn Phúc, Nguyễn Tuấn Hùng,Phạm Thu Hà(2018),
“Nghiên cứu khả năng nhân giống bằng hạt và sinh trưởng của cây Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) trong giai đoạn vườn ươm”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT,
số 11, tr 172 - 177
5.2 Sản phẩm đào tạo
- Có 2 thạc sĩ đang thực hiện đề tài:
1 Nguyễn Thành Công (2019), Nghiên cứu đặc điểm lâm học và thử nghiệm
trồng cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc
sĩ Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
2 Nguyễn Duy Tuấn (2019), Nghiên cứu đặc điểm lâm học và kỹ thuật nhân
giống loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc
sĩ Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
- Có 5 sinh viên đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp:
1 Nguyễn Văn Núi (2017), Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng có loài Kháo
vàng (Machilus bonii Lecomte) phân bố tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
2 Nông Thị Nhi (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
3 Nguyễn Văn Kiên (2017), Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) tại xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông - Đại học Thái Nguyên
Trang 94 Nông Bằng Giang (2017), Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) tại xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
5 Vũ Hoàng Phú (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Ngày … tháng …… năm 2019
Nguyễn Thị Thoa
Trang 10MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
Thai Nguyen University
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information
- Project title: “Study on selection of varieties and techniques for
planting Machilus bonii Lecomte to serve large timber plantations in some
northeastern provinces, Vietnam”
- Code number: B2017 - TNA - 33
- Coordinator: Dr Nguyen Thi Thoa
- Implementing institution: Thai Nguyen University
- Duration: 24 months
2 Objective (s)
The objective of the research is to identify breeding techniques and planting
Machilus bonii Lecomte to serve large timber plantations in Thai Nguyen and Tuyen
Quang provinces
3 Creativeness and innovativeness
- The results are the prior for techniques of propagation by seed and planting this species in the study area, and to provide scientific and practical solutions for large timber plantations
- A model of 2,0ha planting Machilus bonii Lecomte species was built in the
seedling garden, Institute of Forestry Research and Development, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry, contributing to training, research, and scientific and technology transfer for the northeastern provinces, Vietnam
4 Research results
(1) The result identified biological, ecological and silviculture characteristics
of Machilus bonii Lecomte species in the study area
(2) 20 plus trees Machilus bonii Lecomte were selected in natural environment
to provide seed for propagation
(3) 01 guideline techniques of propagation by seed and planting Machilus
bonii Lecomte
Trang 11(4) A model of 2,0ha planting Machilus bonii Lecomte species was built at the
Institute of Forestry Research and Development, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
5 Products
5.1 Scientific publications
- There are 3 articles published in national journals:
1 Nguyen Thi Thoa, Le Van Phuc, Nguyen Thanh Cong, Dang Kim Tuyen,Nguyen Thi Thu Hoan, Nguyen Tuan Hung (2018), “Study on characteristics of
structure and regeneration of Machilus bonii Lecomte species in Tuyen Quang province”, Journal of Forestry and Environment, No 90, pp 29-34, ISSN 1859 - 1248
2 Le Van Phuc, Nguyen Thi Thoa, Nguyen Cong Hoan, Nguyen Duy Tuan, Ho Ngoc Son, Tran Quoc Hung (2018), “Silvicultural characteristics of Machilus bonii Lecomte species in Thai Nguyen province”, Journal of Forestry Science and
Technology, No 6, pp.69-76, ISSN 1859 - 3828
3 Nguyen Thi Thoa, Le Van Phuc, Nguyen Tuan Hung,Pham Thu Ha (2018),
“Study on seed propagation and growth of Machilus bonii Lecomte”, Journal of
Argriculture and Rural Development, No 11, pp 172 - 177, ISSN 1859 - 4581
5.2 Training results
- 2 Master thesis:
1 Nguyen Thanh Cong (2019), Study on structure characteristics and
experimentation of planting Machilus bonii Lecomte in Tuyen Quang province,
Masters thesis of Forest Science, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
2 Nguyen Duy Tuan (2019), Study on silvicultural and technical characteristics
of propagation of Machilus bonii Lecomte in Thai Nguyen province, Masters thesis of
Forest Science, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
- There are 5 students who have defended bachelor's thesis:
1 Nguyen Van Nui (2017), Study on the forest structure characteristics with
Machilus bonii Lecomte being distributed in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai
Nguyen province, Bachelor thesis, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
2 Nong Thi Nhi (2017), Study on silviculture characteristics of Machilus
bonii Lecomte in Phu Dinh commune, Dinh Hoa district, Thai Nguyen province,
Bachelor thesis, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Trang 123 Nguyen Van Kien (2017), Study on biological characteristics of Machilus
bonii Lecomte in Trung Ha commune, Chiem Hoa district, Tuyen Quang province,
Bachelor thesis, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
4 Nong Bang Giang (2017), Study on biological characteristics of Machilus
bonii Lecomte in Diem Mac commune, Dinh Hoa district, Thai Nguyen province,
Bachelor thesis, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
5 Vu Hoang Phu (2017), Study on silviculture characteristics of Machilus
bonii Lecomte in Ha Lang commune, Chiem Hoa district, Tuyen Quang province,
Bachelor thesis, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
5.3 Other products
2 hectares of Machilus bonii Lecomte have been planted at the ortet garden of
Research and Development Institute, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
6 Transfer method, application address, impact and benefits of research results
The project has already obtained a guide for propagation and planting
Machilus bonii Lecomte This guideline will be replicated and implemented in the
Northeast provinces through agricultural and forestry extension programs, large timber plantation programs of localities contributing to economic development from afforestation in the study area
Project manager
Trang 13MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1 Những nghiên cứu về sinh thái quần thể cây rừng 4
1.1.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh vật học 7
1.1.3 Những nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae) 10
1.1.4 Những nghiên cứu về Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte.) 11
1.1.5 Những nghiên cứu về nhân giống và trồng rừng cung cấp gỗ lớn 12
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 17
1.2.1 Những nghiên cứu về sinh thái quần thể cây rừng 17
1.2.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh vật học 18
1.2.3 Những nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae) 21
1.2.4 Những nghiên cứu về Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte.) 22
1.2.5 Những nghiên cứu về nhân giống và trồng rừng cung cấp gỗ lớn 26
1.2.6 Những nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Cách tiếp cận 36
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái và đặc điểm lâm học của cây Kháo vàng 47
3.1.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Kháo vàng 47
3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái 49
3.1.3 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Kháo vàng 53
3.1.4 Xây dựng bản đồ hiện trạng phân bố loài Kháo vàng 63
Trang 143.2 Chọn cây trội (cây mẹ), nghiên cứu vật hậu và phương pháp thu hái bảo quản
hạt giống 65
3.2.1 Đặc điểm hình thái cây trội (Cây mẹ) tại khu vực nghiên cứu 65
3.2.2 Nghiên cứu vật hậu 65
3.2.3 Thu hái và bảo quản hạt giống 66
3.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Kháo vàng 68
3.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống tạo cây con từ hạt 68
3.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống tạo cây con từ giâm hom 73
3.4 Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Kháo vàng 76
3.4.1 Xác định lập địa trồng rừng 76
3.4.2 Nghiên cứu kỹ thuật trồng Kháo vàng 77
3.4.3 Tỷ lệ sống và chất lượng cây Kháo vàng sau khi trồng 78
3.4.4 Đánh giá sinh trưởng của cây Kháo vàng ở các công thức thí nghiệm 79
3.5 Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Kháo vàng 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Tồn tại 84
3 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang 50
Bảng 3.2 Hình thái phẫu diện đất đặc trưng nơi có Kháo vàng phân bố 51
Bảng 3.3 Một số thông tin điều tra của loài Kháo vàng tại vùng nghiên cứu 52
Bảng 3.4 Cấu trúc tổ thành và cấu trúc mật độ rừng có loài Kháo vàng phân bố 54
Bảng 3.5 Chiều cao trung bình của lâm phần và của loài Kháo vàng 55
Bảng 3.6 Tổ thành cây tái sinh rừng có loài Kháo vàng phân bố 57
Bảng 3.7 Mật độ tái sinh của loài Kháo vàng ở các cấp chiều cao 60
Bảng 3.8 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 61
Bảng 3.9 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng ngang của loài Kháo vàng 62
Bảng 3.10 Đặc điểm vật hậu loài Kháo vàng 65
Bảng 3.11 Sức sống của hạt Kháo vàng sau 1 tháng bảo quản 67
Bảng 3.12 Thí nghiệm về tỷ lệ sống và nảy mầm của hạt giống 67
Bảng 3.13 Kết quả về ảnh hưởng nhiệt độ của nước đến tỷ lệ nảy mầm 68
Bảng 3.14 Tỷ lệ hạt nảy mầm của hạt Kháo vàng ở các công thức thí nghiệm 69
Bảng 3.15 Sinh trưởng của cây con Kháo vàng ở các công thức thí nghiệm hỗn hợp ruột bầu 70
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây con Kháo vàng giai đoạn vườn ươm 72
Bảng 3.17 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ hom sống của loài Kháo vàng 74
Bảng 3.18 Tỷ lệ sống và chất lượng sinh trưởng của Kháo vàng sau khi trồng 79
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây Kháo vàng sau khi trồng 79
Bảng 3.20 Kết quả theo dõi sinh trưởng của Kháo vàng sau khi trồng 80
Trang 16DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đặc điểm hình thái thân Kháo vàng 47
Hình 3.2 Đặc điểm hình thái lá Kháo vàng 48
Hình 3.3 Đặc điểm hình thái hoa, quả, hạt Kháo vàng 49
Hình 3.4 Bản đồ phân bố Kháo vàng tại tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang 64
Hình 3.5 Thu hái quả Kháo vàng 66
Hình 3.6 Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ nước đến khả năng nảy mầm 68
Hình 3.7 Bố trí công thức thí nghiệm gieo ươm Kháo vàng 71
Hình 3.8 Cây con Kháo vàng giai đoạn vườn ươm 71
Hình 3.9 Giâm hom Kháo vàng 75
Hình 3.10 Hom Kháo vàng sau 60 ngày 78
Hình 3.11 Trồng Kháo vàng tại mô hình Sơn Dương 78
Hình 3.12 Đo sinh trưởng cây Kháo vàng 80
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) là
loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, dễ gây trồng, phù hợp với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái khác nhau Cây cao 25-30 m, thân thẳng, thuôn đều, đườ ng kính ngang ngực đa ̣t 70-100cm, phân cành cao trên 5m Là loài cây có biên độ sinh thái rộng Ở Việt Nam, chúng phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh thuộc các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ,…Thích hợp ở nơi có khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa, lượng mưa bình quân 800-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 20 - 270C Trong vùng phân
bố, cây Kháo vàng sinh trưởng tốt trên đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên đá mácma axit hoặc sa tha ̣ch, phiến thạch Là loài cây ưa sáng, thường mọc ở nơi đất có tầng dầy, nhiều mùn, thoát nước Cây chịu bóng nhẹ khi còn nhỏ, lớn lên
ưa sáng, tốc độ sinh trưởng khá nhanh, mỗi năm tăng trưởng khoảng 1 m về chiều cao và 1cm về đường kính Thích hợp trồng hỗn giao với mô ̣t số loài cây lá rô ̣ng khác nên phương thức làm giầu rừng bằng Kháo vàng triển vo ̣ng tốt Gỗ Kháo vàng lõi có mầu vàng nhạt, mịn thớ, khá cứng và nặng, tỷ trọng 0,7; xếp nhóm VI Gỗ có mùi thơm và khá bền với mối mọt nên thường dùng để đóng đồ gia dụng như bàn, ghế, giường, tủ, dù ng trong xây dựng, giao thông vâ ̣n tải, nguyên liê ̣u gỗ bóc dán
lạng Vỏ cây Kháo vàng dùng để làm thuốc chữa bỏng và chữa đau răng
Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên diện tích, trữ lượng rừng cũng như nguồn gen thực vật rừng nước ta bị suy giảm mạnh, khiến cho khả năng phòng hộ và cung cấp gỗ, lâm sản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế Việc chuyển hướng từ khai thác sử dụng rừng tự nhiên sang sử dụng khai thác từ rừng trồng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tạo thu nhập, ổn định đời sống cho cộng đồng dân cư các dân tộc miền núi là việc làm cần thiết và có tính cấp bách Một nhiệm vụ quan trọng của ngành Lâm nghiệp đang nỗ lực thực hiện, ngoài mục tiêu kinh tế thì các mục tiêu về bảo vệ môi trường sinh thái, phục hồi hệ sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các loài cây bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhiều loài cây bản địa đã được đưa vào trồng rừng và cũng có những loài cây đang được nghiên cứu triển khai có nhiều triển vọng Cây Kháo vàng được lựa chọn là cây bản địa phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn cho các tỉnh Đông Bắc Bộ theo quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN [8] về Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 - 2020
Trang 18Theo kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 - 2020 cho các tỉnh có thế mạnh về trồng rừng thâm canh cần chuyển rừng từ các loài cây trồng có chu kỳ kinh doanh ngắn sang kinh doanh
gỗ lớn có năng suất đạt trên 10m3/năm đối với cây sinh trưởng chậm Đưa tỷ lệ gỗ lớn bình quân (gỗ xẻ có đường kính lớn hơn 15 cm) từ 30 - 40% lượng khai thác hiện nay lên 50 - 60% vào năm 2020 Công tác lựa chọn giống và các biện pháp lâm sinh được xem là một trong những khâu quan trọng đưa năng suất và tăng giá trị của rừng góp phần thực hiện thành công đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp (Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18 tháng 4 năm 2014) [8]
Trước xu thế không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, HĐND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Nghị quyết 40/NQ-HĐND về điều chỉnh Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, bổ sung quy hoạch đến năm 2025, trong đó mục tiêu là tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành lâm nghiệp bình quân đạt 4%/năm; tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,8% Theo đó, đến năm 2025, toàn tỉnh quy hoạch 26.750 ha rừng gỗ lớn, trong đó rừng trồng mới là 3.500 ha, rừng trồng lại sau khai thác là 23.250 ha Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh đã chuyển 7.387 ha rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn, chuyển hóa 24,8 ha rừng gỗ lớn
từ rừng kinh doanh nguyên liệu giấy, mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng lên trên 100 m3/ha/chu kỳ 7 năm đối với gỗ nguyên liệu giấy và trên
120 m3/ha/chu kỳ 10 năm đối với gỗ lớn
UBND tỉnh Thái Nguyên đã ra Quyết định số 2018/QĐ-UBND, ngày 5/7/2017, Quyết định về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hứng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017 – 2020: Phát triển lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ổn định độ che phủ rừng mức 50% trở lên; nâng cao chất lượng và năng suất rừng trồng sản xuất gồm: Trồng rừng gỗ lớn bằng cây mọc nhanh năng suất bình quân đạt trên 15 m3/ha/năm, trồng rừng gỗ lớn bằng cây mọc chậm năng suất bình quân đạt trên 10 m3/ha/năm, trồng rừng thâm canh gỗ nhỏ 15-18 m3/ha/năm Theo Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18 tháng 4 năm 2014, tổng diện tích trồng mới rừng để kinh doanh gỗ lớn, diện tích trồng lại để kinh doanh gỗ lớn của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2014 – 2020 là 12.000 ha
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên
cứu chọn giống và kỹ thuật trồng cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte)
phục vụ trồng rừng gỗ lớn tại một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam
Trang 192 Mục tiêu của đề tài
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Những nghiên cứu về sinh thái quần thể cây rừng
Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các qui luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng
Hầu hết các nghiên cứu phân tích đánh giá về thảm thực vật đều áp dụng phương pháp Quadrat (Mishra, 1968; Rastogi, 1999 và Sharma, 2003) (Dẫn theo Lê Quốc Huy, 2005) [50] Quadrat là một ô mẫu hay đơn vị lấy mẫu có kích thước xác định và có thể có nhiều hình dạng khác nhau Có 4 phương pháp Quadrat có thể được áp dụng đó là: phương pháp liệt kê, phương pháp đếm, phương pháp đếm và phân tích, và phương pháp ô cố định
Rastogi (1999) [126] và Sharma (2003) [128], đã đưa ra công thức tính mật
độ và mật độ tương đối của loài trên mỗi ô tiêu chuẩn quadrat
Raunkiaer (1934) [127]; Rastogi (1999) [126] và Sharma (2003) [128] đưa ra công thức tính tần số xuất hiện của loài trên các ô mẫu nghiên cứu
Độ phong phú được tính theo công thức của Curtis và Mclntosh (1950) Diện tích tiết diện thân là đặc điểm quan trọng để xác định ưu thế loài, Honson và Churchbill (1961), Rastogi (1999), Sharma (2003) đã đưa ra công thức tính diện tích tiết diện thân
và diện tích tiết diện thân tương đối (Dẫn theo Lê Quốc Huy, 2005) [50]
Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI) (Dẫn theo Lê Quốc Huy, 2005) [50] được các tác giả Curtis & Mclntosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968) áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933 - 1934), Baur G (1962), ODum (1971) tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Trang 21Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa
Catinot (1965) [14] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc lâm phần của rừng hỗn loài rụng lá tại Thái Lan cho thấy, đối với tầng tạo tán có thể chia thành 3 tầng rõ rệt Trong đó tầng trên
cùng bao gồm các cây cao trên 15m và loài Giáng hương (Pterocarpus
macrocarpus Kurz) là loài ưu thế, ngoài ra còn một số loài như Cratoxylum formosum Dyer, Lagerstromia duperreana Pierre Tầng thấp hơn bao gồm các cây
có chiều cao từ 10-15 m, các cây ưu thế trội trong tầng này bao gồm Canarium
subulatum Guill, Hularrhena antidysenterica Wall, Ficus hispida Linn.f (Kanit
Muangnil, 2001) [119]
Một trong số những chỉ tiêu quan trọng khi xem xét cấu trúc rừng là chỉ số giá trị quan trọng IVI Jiménez (2001) cho rằng chỉ số IVI có ý nghĩa rất quan trọng trong việc mô tả cấu trúc nằm ngang của rừng Dựa trên các mối quan hệ về tính trội, mật độ, tần suất xuất hiện có thể chia các loài trong quần thể thành 4 nhóm khác nhau bao gồm: mức độ phong phú và tần suất xuất hiện cao, đây là đặc trưng của những nơi mà các loài phân bố đều đặn theo phương nằm ngang (1); mức độ phong phú cao và tần suất xuất hiện thấp, đây là đặc trưng ở những nơi mà các loài
có xu hướng tập trung thành từng đám, các loài xuất hiện riêng rẽ thành từng nhóm nhỏ hoặc lớn khác nhau (2); độ phong phú thấp và tần suất xuất hiện cao, điển hình cho nhóm này là các loài cây riêng lẻ ở vị trí ưu thế (3); độ phong phú, tần suất xuất hiện và tính ưu thế đều thấp, thường đây là các loài có ít ý nghĩa về kinh tế và sinh thái trong quần thể (4)
Theo Balslev và cs (1987), Sabogal (1992) chỉ số giá trị quan trọng IVI được tính bằng số trung bình cộng của tổng các giá trị RD (mật độ tương đối), RF (tần số xuất hiện tương đối), RD0 (tiết diện ngang tương đối): IVI = (RF+RD+RD0)/3, trong đó RD = (số lượng cá thể của một loài)/(tổng số lượng cá thể của tất cả các loài) * 100 RF = (tần số xuất hiện của một loài)/(tổng tần xuất tất cả các loài) * 100
RD0 = (tiết diện ngang của loài đơn)/(tổng tiết diện ngang của tất cả các loài) * 100
Trang 22Áp dụng công thức trên để tính toán chỉ số giá trị quan trọng IVI cho loài J globiflora từ năm 2002 đến 2005 cho 40 ô nghiên cứu định vị tại khu vực rừng quản
lý dựa vào cộng đồng ở Nyangoro, Kitonga, Udekwa (Tanzania), tác giả J.A.Isango (2007) cho thấy giá trị này tăng lần lượt là 6,87% và 37,72% tại Kitonga và Udekwa
Theo Mandaville (1965, 1990), Tackholm (1974), Migahid (1996) và Batanouny (1979), với các loài khác nhau ở các vùng khác nhau, giá trị IVI phụ thuộc rất lớn vào các nhân tố môi trường như độ cao so với mặt nước biển, đất và các nhân tố khí tượng Dựa trên quan điểm và cách tính này, tác giả Ashraf M Youssef và Mohamed A Al Fredan (2008) tính toán các chỉ tiêu sinh lý sinh thái tại
3 khu vực khác nhau của Al-Uqair Trong đó tại vùng bờ biển của Al-Uqair với các
loài ưu thế như Halopeplis perfoliata có giá trị AF và IVI lần lượt là 100% và 84,3%; các giá trị này đối với loài Arthrocnemum macrostachyum lần lượt là 80%
và 51,1%; giá trị AF và IVI của Halocnemum strbilaceum lần lượt là 80% và 48,7% Tuy nhiên đối với một số loài như: Zygophyllum coccinum, Zygophyllum
simplex và Nitraria retusa giá trị IVI là nhỏ nhất, lần lượt là 9,2%; 7%; 5,5% Ở
vùng thí nghiệm thứ 2, loài ưu thế là Suaeda vermiculata có giá trị AF là 100% và
IVI là 56,8% trong tổng số các loài điều tra Các loài đặc trưng ưu thế bao gồm
Salsola arabica (AF là 60%, IVI là 39%), Sasola maritime (AF là 40%, IVI là
29,1%), Haloxylon persicum (AF là 40%, IVI là 25,5%), Cornulaca monacantha (AF là 20%, và IVI là 21,6%) Ở vùng thí nghiệm thứ 3, loài Haloxylon persicum
chiếm ưu thế với giá trị AF là 100%, IVI là 49,5% Các loài đặc trưng ưu thế bao
gồm Salsola maritime (AF là 80%, IVI là 35,8%), Anabasis setifera (AF là 80%, IVI là 31,5%), Zygophyllum coccinum (AF là 60%, IVI là 25,6%) và Zygophyllum
simplex (AF là 60%, IVI là 24,4%) Tính toán các giá trị IVI và AF tại khu vực
nghiên cứu cho thấy loài Haloxylon persicum, Anabasis setifera và Panicum
turgidum là những loài có độ phong phú nhất ở vùng này, chúng được coi như
những loài tiên phong ở vùng sa mạc cát
Theo Burkhard Muller-Using (2005) [112], IVI có thể được sử dụng để minh hoạ sự thay đổi động thái thực vật thông qua các giai đoạn Trong nghiên cứu này
tác giả cho thấy giá trị IVI của loài Quercus rysophylla, Quercus canbyi và Quercus
virginiana lần lượt là 141,4%, 46,1% và 32,5% Như vậy, Quercus rysophylla là
loài có mức độ phong phú và chiếm ưu thế lớn nhất trong lâm phần
Curtis & Mclntosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968) đã áp dụng IVI để biểu thị cấu trúc, mối tương quan & trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật Mishra, 1968 đã đưa ra công thức tính chỉ số giá trị quan trọng như sau:
Trang 23IVI = (RF+RD+RD0), trong đó
RD = (số lượng cá thể của một loài)/(tổng số lượng cá thể của tất cả các loài) * 100
RF = (tần số xuất hiện của một loài)/(tổng tần xuất tất cả các loài) * 100
RD0 = (tiết diện ngang của loài đơn)/(tổng tiết diện ngang của tất cả các loài) * 100
Theo công thức này thì chỉ số IVI của một loài đạt giá trị tối đa là 300 khi hiện trường nghiên cứu chỉ có duy nhất loài cây đó
Cấu trúc phân bố của thảm thực vật thảo mộc trong rừng trồng Tectona
grandis 7 tuổi Kết quả bảng trên cho thấy là hầu hết các loài trong quần thể nghiên
cứu đều có giá trị A/F >0.05 Kết quả IVI cho thấy được trật tự ưu thế trong quần
thể thực vật nghiên cứu, trong đó loài Hyptis suaveolens là ưu thế cao nhất với giá trị IVI cao nhất là 62,66, tiếp theo là Cassia mimosoides (47,39) và Cassia absus
(41,27) Tuy nhiên mức độ ưu thế giữa các loài trong quần thể nghiên cứu này chưa cao đến mức mà một hoặc hai loài chiếm giữ hầu hết giá trị IVI trong tổng số 300
và do đó lấn át mạnh các loài còn lại (Lê Quốc Huy, 2005) [50]
Lê Quốc Huy (2004) [116], trong đã áp dụng công thức trên để nghiên cứu IVI của các loài cây thân thảo và cây bụi trong rừng Thông tại Ấn Độ ở các lâm
phần khác nhau Kết quả cho thấy, loài Parthenium hysterophorus có giá trị IVI cao
nhất (83,7-136,7 trong tổng số 300), đã lấn át sinh trưởng các loài khác
Như vậy, sinh thái học quần thể là một phân ngành của sinh thái học giải quyết động lực học của quần thể loài và cách các quần thể này tương tác với môi trường Sinh thái học quần thể là một lĩnh vực quan trọng đối với sinh học bảo tồn, đặc biệt là đối với sự phát triển của lĩnh vực phân tích khả năng tồn tại quần thể, giúp ta có khả năng dự đoán được xác xuất lâu dài xem liệu một loài có thể tiếp tục sống trong một mảng sinh cảnh được hay không Mặc dù sinh thái học quần thể là một phân ngành của sinh học, nó cung cấp những vấn đề thú vị cho các nhà toán học và thống kê học làm việc trong lĩnh vực động lực học quần thể Trong lâm nghiệp người ta thường áp dụng để tính toán tổ thành sinh thái của mỗi loài trong quần thể bằng chỉ số giá trị quan trọng IVI (%)
1.1.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh vật học
Kết quả nghiên cứu về loài cây Căm xe [63], cây Giáng hương [61], cây Vối thuốc [83] của một số nhà khoa học trên thế giới cho thấy:
Nghiên cứu về hình thái: Trên thế giới nhiều nhà khoa học đã quan tâm mô
tả hình thái loài Căm xe và được Nair và cs (1991), Troup và Joshi (1983), đã tổng hợp tương đối đầy đủ về thân, cành, lá và các cơ quan sinh sản Căm xe có nhiễm sắc thể n =12 (Mehra PN, Hans AS, 1971)
Trang 24Giá trị sử dụng: Gỗ Căm xe cứng, mịn có mầu nâu đỏ rất bền, dùng để xây
dựng nhà cửa, các công trình có tính chịu lực (Cheriyan PV và cs, 1987), dùng làm các công cụ như: cày, bừa, trụ tiêu,… (Gamble, 1972, Chudnoff, 1984) Vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da (Troup và Foshi (1983), vỏ quả để chữa bệnh ho ra máu, ngoài ra còn có thể làm thuốc chữa bệnh lậu, ỉa chảy, xổ giun (Sosef và cs, 1998) Hạt Căm xe có dầu, Protein là loại thực phẩm cao cấp nhưng chưa được sử dụng (Dẫn theo Vương Hữu Nhị, 2004) [63]
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006) [134], Kebler, Sidiyasa (1994) [121], Vối thuốc là cây thường xanh, kích thước từ trung bình đến lớn, có thể đạt tới chiều cao 47m, chiều cao dưới cành có thể đạt 25m, đường kính D1.3 đạt tới 125cm Vỏ dày, bề mặt xù xì, màu nâu đến xám đen, mặt trong của vỏ có màu đỏ nhạt, trong vỏ có sợi gây ngứa Lá hình thuôn đến elip rộng, kích thước lá từ 6-13cm x3-5cm, đáy lá hình nêm, đỉnh lá nhọn, có từ 6-8 đôi gân, cuống lá dài khoảng 3mm Hoa mọc tại nách lá nơi đầu cành với 2 lá bắc, đài hoa đều nhau, cánh hoa màu trắng hồng, có nhiều nhị Nhụy hoa lớn, có 5 ngăn với
từ 2-6 noãn mỗi ngăn Quả nang hình bán cầu, đường kính từ 2-3cm, vỏ quả nhẵn Vối thuốc có thể ra hoa từ tuổi 4, hoa và quả xuất hiện quanh năm, tuy nhiên hoa ra tập trung theo mùa Quả có cánh và phát tán nhờ gió
Gỗ Giáng hương được dùng làm các nông cụ, dùng trong xây dựng, đóng đồ cao cấp Vỏ cây Giáng hương có chứa tanin, nhựa có mầu đỏ dùng nhuộm quần áo (Peass, 1932; Coles và Boyle, 1999), rễ có nốt sần làm giầu đạm cho đất (Saw, 1984) Giáng hương có thân hình đẹp, nên được trồng ở các đường phố,… (Ranthket, 1989; Phuang và Liengsiri, 1994), (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Phân bố và sinh thái: Loài cây Căm xe phân bố tự nhiên ở Bắc bán cầu từ vĩ
độ 12-250 N, các nước châu Á như Ấn độ, Bangladesh, Campuchia, Malaysia, Lào, Singapo, Thái Lan, Việt Nam Châu Phi như: Nigeria, Uganda (Sosef và cs, 1998) Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 37,5 - 47,5 0C, tối thiểu tuyệt đối 2,5 0C; Độ ẩm không khí trung bình 70 – 80 %; Lượng mưa bình quân hàng năm thay đổi từ 1000 - 5000
mm (Troup và Joshi, 1983) Căm xe sinh trưởng được trên nhiều loại đất phát triển trên nền đá mẹ khác nhau như: Đá Granit, Gnai, Phiến thạch, Bazan, Quartzit,… (Troup 1983 Nair và cs 1991, Luna 1996) (Dẫn theo Vương Hữu Nhị, 2004) [63]
Giáng hương có phân bố tự nhiên trong rừng bán thường xanh và rừng khộp
ở Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Cole và Boyle, 1999) Giáng hương thường sống ven suối, nơi gần nguồn nước, ở độ cao 100 – 800 m trên mặt nước biển, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 37,7 - 44,4 0C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 4,4 -
Trang 2511,2 0C, lượng mưa bình quân 890 – 3570 mm/năm (chủ yếu ở vùng có lượng mưa 1270-1520 mm/năm) Giáng hương mọc trên đất phát triển từ các loại đá mẹ khác nhau nhưng tốt nhất trên đất cát pha (Bunyaveijchewin, 1983; Chanpaisang, 1994) (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Nghiên cứu về cấu trúc quần thể: Giáng hương thường mọc hỗn loài với các
loài Căm xe, Gõ đỏ, Bằng lăng, Chiêu liêu, Bình linh, Cẩm liên,… ít khi mọc thành đám (Bunyaveijchewin, 1983; Shahunalu, 1995)
Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của cây: Với loài cây Căm xe là cây chịu
sáng lúc còn nhỏ, cây có khả năng tái sinh hạt, chồi gốc và chồi rễ đều mạnh, rải rác
ở dưới tán rừng (Troup, 1983) Căm xe có khả năng chịu được cháy và sống sót cao hơn một số loài cây khác trong một quần thể, cây lúc còn nhỏ khả năng chịu hạn kém (Vương Hữu Nhị, 2004) [63]
Với loài cây Vối thuốc: là cây chịu rét tốt, cây có thể sống được ở nhiệt độ không khí -3 0C, nếu nhiệt độ thấp duy trì trong thời gian dài thì ngưỡng sinh thái nhiệt là 0-5 0C Nếu ngẫu nhiên có sương giá 3 ngày liên tục thì chỉ những cây non mới bị hại ở đỉnh ngọn (Chetri Deepak B Khatry and Fowler Gary W, 1996) [113] Vối thuốc chịu được nhiệt độ cao Giới hạn sinh thái nhiệt của cây lên tới 37-450C
Do trong tế bào thịt vỏ của Vối thuốc chứa nhiều nước, nên độ ẩm và điểm bốc cháy của cây cao, khả năng chịu nhiệt và chịu lửa cháy của loài cây này rất tốt (Chen -
Li, Wang - XiaoFei; Chen-L; Wang -XF) Vối thuốc là cây ưa sáng, nhưng lúc nhỏ
có khả năng chịu bóng Biểu hiện rõ rệt nhất của đặc tính này là Vối thuốc tái sinh yếu dưới tán rừng rậm, nhưng tái sinh hạt dày đặc tại các lỗ trống trong rừng Vối thuốc có khả năng đâm chồi mạnh sau cháy rừng hoặc sau khi rừng bị sương giá hủy hoại Số chồi bình quân rất lớn, lên tới 8-9 chồi/gốc, có khi tới 15-20 chồi/gốc
Gây trồng và sinh trưởng: Trên thế giới việc gây trồng cây Căm xe chưa
được chú trọng, chỉ trồng thăm dò một vài nơi, cây Căm xe ở rừng tự nhiên thuộc vùng cao Ankola sinh trưởng chậm 10 năm chu vi đạt 15,2cm, trong khi đó cây Căm xe trồng ở vùng thấp Malayattur (Ấn độ) 10 năm thì chu vi đạt 55cm (Luna, 1996), nhìn chung cây Căm xe trồng rừng sinh trưởng khá có nhiều triển vọng
Với cây Giáng hương: nghiên cứu về sinh trưởng ở vườn ươm và rừng trồng,ở giai đoạn 4-6 tháng tuổi trong vườn ươm cây Giáng hương có chiều cao trung bình 20-25 cm (Prosea, 1994) Tỷ lệ sống của cây ở rừng trồng là 84% (Saw, 1984) Ở Thái Lan cây 8 tuổi ở rừng trồng có chiều cao 7,28 m và đường kính 11,58cm, cây 18 tuổi có các chiểu tiêu trên tương ứng là 14,9 m và 25,9 cm (Chanpaisang, 1994) (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Trang 26Một số nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của loài cây Vối thuốc, lĩnh vực này đã được thực hiện tại Quảng Tây - Trung Quốc (Ngô Quang Đê, 2004) [37] và tại Bengal - Ấn Độ năm 1982 (Vũ Văn Hưng, 2004), kết quả chủ yếu mới là đánh giá tình hình sinh trưởng và so sánh sinh trưởng của Vối thuốc với một số loài cây khác, như: Lát hoa, Giổi, Tếch, Wen Dazhi, Kong Guohui, Lin Zhifang và Ye Wanhui (1999) [133] của Viện thực vật Nam Trung Quốc, đã so sánh sự ức chế sinh trưởng cây con
của 4 loài cây á nhiệt đới bởi cường độ ánh sáng, là: Castanopsisfissa, Vối thuốc,
Cryptocarya concinna và Thông đuôi ngựa từ rừng á nhiệt đới Dinghushan Sau khi
cấy cây con 2 đến 3 năm tuổi trong chậu và che sáng ở các mức độ 16%, 40% và 100% trong thời gian 16 tháng Chiều cao và đường kính của Thông đuôi ngựa và
Cryptocarya concinna trong trường hợp không che sáng lớn hơn trong trường hợp che
sáng Tất cả các loài số cành giảm đi khi cường độ ánh sáng giảm đi Các loài
Castanopsis fissa, Cryptocaryaconcinna trong điều kiện che sáng có số lá nhiều hơn
trong điều kiện ánh sáng hoàn toàn, nhưng Vối thuốc thì ngược lại Hai loài
Castanopsis fissa và Vối thuốc sự biến đổi sinh khối trên mặt đất là rất ít, nhưng sinh
khối của rễ lại giảm khi cường độ ánh sáng giảm (Long S.P and Hallgren, 1993) [123]
Nghiên cứu về vật hậu: Ở Thái Lan Giáng hương nẩy chồi vào tháng 2 - 3,
hoa nở và thụ phấn tháng 3 - 4, kết thúc thụ phấn vào đầu tháng 5 (Ramin và Owens, 1998) Quả hình thành từ tháng 5, quả chín vào tháng 10 - 11, khi đó cũng
là lúc bắt đầu rụng (Coles và Boyle, 1999) Giáng hương có khối lượng 1000 quả là
41 g (Hor Yue-Luan, 1993) Quả dài 56,3 - 76,3 mm, rộng 46,5 - 57,7mm, khoang hạt dài 17,6 - 20,8mm, rộng 16,6 -20,3mm (Piewluang, 1996) [61]
Như vậy, khi nghiên cứu về một loài cần bảo tồn và phát triển, các tác giả đã tập trung nghiên cứu về đặc hình thái, sinh thái, vật hậu, đặc điểm sinh lý, gây trồng và phát triển, đây là cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo về chọn tạo, nhân giống, gây trồng
1.1.3 Những nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae)
Họ Long não (Lauraceae) đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm
bởi tính đa dạng, phong phú của nó Người đầu tiên nghiên cứu về taxon này là Jussieu (1789-1824) Tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về các
loài họ Long não (Lauraceae) trong các bộ sách Thực vật chí Ấn Độ với 16 chi và
250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malaixia 12 chi và 200 loài, Đông Dương có 12 chi và 50 loài, Họ Long não trên thế giới có khoảng 55 chi và trên 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và Braxin
Trang 27Theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam [140]: Họ Long não (Lauraceae) thế giới có 32 chi và gần 5000 loài phân bố ở nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ở Đông Nam Á và Brazil
Lauraceae hay họ Nguyệt quế, họ này là một nhóm thực vật có hoa nằm trong
bộ Nguyệt quế (Laurales) Họ này chứa khoảng 55 chi và trên 2.000 (có thể nhiều tới 4.000) loài phân bổ rộng khắp thế giới, chủ yếu trong các khu vực nhiệt đới, đặc biệt là
ở khu vực Đông Nam Á và Brasil Chúng chủ yếu là các loại cây thường xanh thân gỗ hay cây bụi có hương thơm, nhưng chi Sassafras và một hoặc hai chi khác là các loại cây sớm rụng, còn Cassytha (tơ xanh) là chi chứa các loài dây leo sống ký sinh
Các loại cây thân gỗ trong họ Nguyệt quế chiếm ưu thế trong các cánh rừng nguyệt quế trên thế giới, có tại một số khu vực ẩm ướt của vùng cận nhiệt đới và ôn đới thuộc Bắc và Nam bán cầu, bao gồm các đảo thuộc Macaronesia, miền nam Nhật Bản, Madagascar và miền trung Chile
Có ba mục đích sử dụng chính của các loài cây trong họ này Hàm lượng cao của tinh dầu tìm thấy trong nhiều loại thuộc họ Lauraceae Các tinh dầu này là nguyên liệu quan trọng cho nhiều gia vị và sản xuất nước hoa Lê dầu cũng cho quả chứa nhiều tinh dầu hiện nay được trồng nhiều tại khu vực nhiệt đới trên thế giới, một vài loài còn cung cấp gỗ
Cây gỗ có cành non mầu xanh, vỏ có mùi thơm, thường có chồi ngủ đông Lá thường mọc cụm đầu cành, có 3 gân chính hay hệ gân đơn giản Hoa mẫu 3, bao phấn mở cửa sổ, thường có nhị lép và tuyến mật ở gốc chỉ nhị Quả thường có đài dính liền phát triển thành dạng đấu dưới quả
1.1.4 Những nghiên cứu về Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte.)
- Phân loại và đặc điểm hình thái: Kháo vàng có tên khoa học là (Machilus bonii Lecomte.) còn có tên gọi khác là Persea bonii (Lecomte) Kosterm Loài này
được Lecomte miêu tả khoa học đầu tiên năm 1913 Phân loại khoa học như sau:
Vị trí của loài trong hệ thống phân loại được thể hiện như sau:
Trang 28Trong Thực vật chí Trung Quốc [135] [142], Kháo vàng còn có tên là Persea
bonii (Lecomte) Kostermans Cây xanh, cao tới 20m, cành hơi góc cạnh Cuống lá
dài 1 - 1,5cm, nhẵn, lá hình lưỡi mác, gân bên 14 - 16 đôi hoặc nhiều hơn Phân bố
ở đồi núi đá vôi hoặc đất chua trong rừng núi thưa thớt, có độ cao 800 – 1200 m, ở phía Bắc và Nam Quảng Tây, Nam Quý Châu, Hải Nam và Đông Bắc Vân Nam
- Phân bố:
Theo Global plants [141], có 6 mẫu Kháo vàng được thu tại Việt Nam và hiện được lưu giữ tại phòng bảo tàng, trong đó có 2 mẫu ở Missouri Botanical Garden và có 4 mẫu ở Muséum National d’Histoire Naturelle
Theo Global Biodiversity Information Facility (GBIF) [136], loài Kháo vàng
(Machilus bonii Lecomte) phân bố ở Trung Quốc (Quảng Tây, Quý Châu, Vân
Nam) và Việt Nam Còn theo Nguyễn Thị Nhung (2009), Kháo vàng phân bố tự nhiên ở Lào, Cămpuchia và Việt Nam
Machilus là một chi thực vật có hoa thuộc họ Lauraceae Được tìm thấy
trong rừng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới, phân bố ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Borneo, và
Philippines Nó đôi khi gồm cả chi Persea và có khoảng 100 loài Machilus là cây
thường xanh hoặc cây bụi, một số loài phát triển cao hơn 30m [137]
Theo The Plant List [138], Machilus bonii Lecomte là một loài trong chi
Machilus (họ Lauraceae), dữ liệu cung cấp 18/4/2012, với các chi tiết bản gốc:
New Arch Mus Hist Nat., Ser 5, 5: 58, 102 vào năm 1913
Tóm lại, trên thế giới, những nghiên cứu về họ long não, loài Kháo vàng còn
ít chủ yếu tập trung mô tả đặc điểm, phân loại cho loài còn các nghiên cứu khác rất hạn chế, vì vậy vấn đề nghiên cứu về đặc điểm loài Kháo vàng để làm cơ sở cho việc nhân giống và gây trồng là thực sự cần thiết
1.1.5 Những nghiên cứu về nhân giống và trồng rừng cung cấp gỗ lớn
1.1.5.1 Nghiên cứu về nhân giống
(1) Những nghiên cứu về nhân giống hữu tính
Hiện nay nhân giống hữu tính (thông qua sinh sản bằng hạt giống trong các vườn giống, rừng giống ), là phương pháp chủ yếu và quan trọng nhất đối với sản xuất lâm nghiệp
Từ thế kỷ XVIII công tác chọn giống từ hạt giống trong tự nhiên đã được
sử dụng để tái sinh tại các khu vực bị chặt phá Đầu thế kỷ XX những khu rừng giống đầu tiên mới được xây dựng Năm 1918, Sylven đề xuất xây dựng rừng
Trang 29giống bằng nguồn hạt giống lấy từ xuất xứ tốt nhất đã qua khảo nghiệm Ở Bắc
Mỹ Bates (1928) nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc xây dựng các vườn sản xuất hạt giống cây rừng
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 công việc xây dựng vườn giống cũng như khảo nghiệm loài và xuất xứ được đẩy mạnh hơn Năm 1980 trên thế giới có khoảng 25.000ha vườn giống các loại, cụ thể như Liên Xô (cũ) có 10.673 ha, Mỹ có 2.550
ha Năm 1975 Nhật có 1.530 ha Năm 1977 Phần Lan có 2.500 ha, Thụy Điển có
900 ha) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [69]
Nghiên cứu về kỹ thuật gieo vườn ươm và trồng rừng các loài cây bản địa Quả
được thu hái khi đã chín sinh lý, tùy từng loại quả khác nhau mà tiến hành cất trữ khi bảo quản hạt giống, thông thường có nhiều loại hạt bảo quản khô thì cất trữ trong chai, lọ, túi nilon, hoặc thùng kín ở nhiệt độ trong phòng 20 - 30 0C có thể bảo quản lâu hơn khi tiến hành bảo quản khô lạnh với nhiệt độ từ 0 - 10 0C (Coles và Boyle, 1999), có thể bảo quản được ít nhất 1 - 3 năm, (Saw, 1984) (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Một số loại hạt giống cây rừng không bảo quản khô được thì tiến hành bảo quản trong cát hoặc đất có ẩm độ cao từ 50 – 60 % Đối với loại hạt này thời gian bảo quản được rất ngắn chỉ từ 1 - 2 tháng (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Cách xử lý nẩy mầm của hạt giống cây rừng đối với hạt bảo quản khô, phổ biến tại các vườn ươm hiện nay, ở ngoài nước cũng như ở trong nước, là ngâm quả, hạt trong nước với các nhiệt độ khác nhau, thời gian ngâm khác nhau, sau đó vớt ra để ráo nước rồi tiến hành ủ trong túi vải hàng ngày rửa chua khi hạt nẩy mầm thì đem gieo Đối với hạt bảo quản ẩm thì không cần xử lý bằng nước ở các nhiệt độ khác nhau, (Chanpaisang, 1999), (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [63] Nên trồng rừng bằng cây con có bầu khi cây
đủ tiêu chuẩn xuất vườn, mật độ trồng theo quy trình kỹ thuật của từng loài
(2) Những nghiên cứu về nhân giống vô tính
Nhân giống vô tính là nhân giống sinh dưỡng đang được đưa vào sử dụng ngày càng nhiều Nó đóng vai trò quan trọng trong công tác cải thiện giống cây rừng từ nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều thành tựu mới Cụ thể có
một số loài cây trồng rừng quan trọng như Các loại bạch đàn (Eucalyptus) và bạch đàn lai ở Brazin, Công Gô và Trung Quốc; Vân Sam (Picea) ở châu Âu; thông radiata (Pinus radiata) ở New Zeland; thông Caribe (Pinus carribaea) và thông lai
P caribaea x P elliottii ở Australia; thông P Taeda và P.elliottii ở châu Mỹ Một số
khác đang được ứng dụng ở diện hẹp hoặc ở tầm quốc gia như Phi lao ở Trung Quốc và Thái Lan, một số loài tre trúc ở Thái Lan và Ấn Độ
Trang 30Từ thế kỷ thứ XII các nhà khoa học đã phân loại thực vật theo hình thức sinh sản vô tính và hữu tính, trong bản phân loại có 50 loài cây gỗ Nhiều cây trồng cảnh quan ở các vùng nông thôn và đô thị ở châu Âu đã được nhân giống vô tính bằng hom
từ nhiều thế kỷ qua cụ thể như dòng vô tính Liễu, dòng Dương Lombardy, dòng Ngô đồng London, là những dòng vô tính cổ nhất được tạo ra từ khoảng 300 năm trước
Từ năm 1828, cây hom Vân sam (Picea abies) ra rễ đầu tiên đã được con
người tạo ra, song không được đưa vào thực tế sản xuất lâm nghiệp Phải chờ 120 năm sau thành công của nhân giống Vân sam mới được đưa vào sử dụng phục vụ cho mục tiêu chọn giống, trong đó dùng cho xây dựng vườn giống là chính chứ chưa được trồng rừng bằng cây hom
Nhân giống sinh dưỡng trong ngành lâm nghiệp đã được áp dụng trên 100 năm nay Năm 1840 người Pháp tên là Marier de Boisdyver ở vùng Phontennoblo, đã ghép
10.000 cây Thông đen xuất xứ từ Korzika (Pinus nigra ssp Lariciot) lên gốc ghép cây
Thông đen non trẻ nhằm nhân rộng xuất xứ có giá trị và để sản xuất hạt giống phục vụ trồng rừng Sau này, năm 1880 người Hà Lan đã xây dựng các vườn giống dòng vô tính ở đảo Giava (Indonexia) nhằm làm tăng hàm lượng Kilin của cây Canhkina
(Cinchona ledgeriana) Người ta cũng xây dựng các vườn giống dòng vô tính vào năm
1919 ở Malaixia để làm tăng lượng mủ của cây cao su (Hevea brasiliensis)
Tại Nhật Bản đầu thế kỷ XX đã có một số tài liệu nói về sử dụng hom ra rễ
của cây Liễu sam (Cryptomeria japonica) vào trồng rừng
Năm 1948, nhà nghiên cứu nổi tiếng người Đức là R Kleinschmit đã bắt đầu chương trình nhân giống cây Vân sam ở cộng hòa Liên bang Đức, còn Ruden cũng bắt đầu chương trình này ở Na Uy Họ tập trung vào tìm hiểu các kỹ thuật giâm hom trước hết là cho cây 10 tuổi sau đó cho các cây ở độ tuổi lớn hơn, nhưng khó khăn cây càng lớn tuổi nhân giống bằng hom càng khó khăn Đến thập kỷ 70 của
thế kỷ XX trong thực tế sản xuất chỉ có một số ít chi thực vật như Dương (Populus), Liễu (Salix) và Liễu sam (Cryptomeria), được nhân giống rộng rãi bằng phương pháp sinh dưỡng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [69]
Nhân giống sinh dưỡng được thực hiện cho cây Căm xe ở Bangladesh, cho thấy: hom Căm xe lấy từ cây 3 năm tuổi thì thành công hơn hom lấy từ cây 6 năm tuổi và cây
đã trưởng thành (Ghani AKMO, Sarker AG và cs, 1993) (Vương Hữu Nhị, 2004) [63]
Nhân giống sinh dưỡng được thực hiện cho cây Giáng hương, cho thấy: hom lấy từ cây hạt được xử lý bằng thuốc bột IBA và giâm trong bầu nilon cho tỷ lệ ra rễ cao hơn đối chứng (Saw, 1984) Hom xử lý IBA ở các nồng độ 25, 50, 100 ppm sau
3 tháng tỷ lệ ra rễ ở các công thức xử lý IBA là 30%, trong lúc công thức đối chứng không ra rễ (Chanpaisang, 1994) (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [61]
Trang 31Nhận xét: Nhân giống sinh dưỡng đã được áp dụng vào thực tế sản xuất từ
nhiều thế kỷ qua ban đầu chỉ để trồng cây cảnh quan, sau này được đưa vào sản xuất Sự phát triển của trồng rừng dòng vô tính của các nước trên thế giới là những bài học tốt cho công tác trồng rừng tại nước ta, song phải mất nhiều năm mới có được các kết quả như hiện nay, vì thực tế đã chứng minh để trồng rừng vô tính thành công cần phải có một chiến lược, một kế hoạch cụ thể, bao gồm các giải pháp
kỹ thuật đồng bộ và đầu tư đủ lớn từ khâu chọn giống, khảo nghiệm chọn dòng, nhân giống, trồng, quản lý rừng trồng Cây rừng thường có luân kỳ dài, trong khi
đó các dòng vô tính chỉ xem xét và chọn lọc về sinh trưởng là chính
1.1.5.2 Nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn
Appanah S và Weiland G (1990) [129] đã tổng quan những kinh nghiệm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, tiến trình lịch sử về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng Các tác giả đã thảo luận về các nguyên tắc sử dụng các loài cây tiềm năng cho trồng rừng gỗ lớn, hơn 40 loài cây đã có hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng lấy gỗ Mayhew J.E và Newton A.C (1998) [105] trình bày các tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh cây gỗ lớn thương mại nổi tiếng được gọi là Mahogany
(Swietenia macrophylla)
Năm 2009, một nhóm nghiên cứu ở Malaysia đã trồng khảo nghiệm 6 loài cây bản địa họ Dầu và 3 loài cây không phải họ Dầu, đây đều là những loài cây bản địa có khả năng cung cấp gỗ lớn trên đất rừng thoái hóa Sau 6 năm, loài Cóc hành
(Azadirachta exselsa (Jack) Jacob) tăng trưởng cao nhất do thích nghi tốt nơi có khí
hậu khắc nghiệt, đất đai nghèo dinh dưỡng và khô chặt (James Edgar Dandy, 1928) [118] Trong một nghiên cứu khác, Mohd Zaki Hamzah và cộng sự (2009) [124] đã
trồng thử nghiệm 5 loài cây bản địa là Azadirachta exselsa, Shorea leprosula,
Hopea pubescens, Cinnamomum iners và Intsia polembanica nhằm kinh doanh gỗ
lớn theo phương thức làm giàu rừng theo đám, lỗ trống tại Peninsular cho kết quả khả quan Cây trồng trong mô hình sinh trưởng tốt cả về chiều cao và đường kính
Beadle Chris (2006) [114] khi nghiên cứu về nuôi dưỡng rừng Keo và Bạch đàn tạo gỗ lớn cho rằng rừng tạo gỗ lớn yêu cầu có đoạn thân thẳng, tròn đều, ít khuyết tật và kích thước đủ lớn để có thể làm gỗ xẻ, do đó các biện pháp kỹ thuật chủ yếu được áp dụng là tỉa cành, tỉa thưa kết hợp bón phân Hạn chế kích thước cành là khâu kỹ thuật quan trọng trong tạo chất lượng thân cho gỗ lớn Đối với Keo
và Bạch đàn, cành có kích thước lớn hơn 20 mm rất dễ bị xâm nhiễm bệnh sau khi tỉa cơ giới hoặc chết tự nhiên Trồng rừng mật độ cao để hạn chế phát triển cành ngang và tỉa cành tạo độ thẳng thân (form pruning) thường được áp dụng để hạn chế
Trang 32nhược điểm trên Ngoài ra, tỉa cành nhỏ (lift pruning) cũng được áp dụng sớm để tránh tạo mấu mắt trên gỗ Việc tỉa cành có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây nếu cường độ tỉa quá cao làm giảm đáng kể diện tích lá cho quang hợp Tuy nhiên, đối với loài cây mọc nhanh như keo và bạch đàn, sự ảnh hưởng này ít hơn
Jane L Medhurst và Chris L Beadle (2001) [117] đã thí nghiệm tỉa thưa
rừng Bạch đàn (Eucalyptus nitens) từ mật độ 1140 cây/ha xuống các mật độ từ 100 -
600 cây/ha và kết luận mật độ thích hợp nhất cho trồng rừng gỗ lớn chu kỳ 20 - 25 năm là 200 - 300 cây/ha Tuy nhiên, mật độ này có thể không phải là tối ưu cho chu
kỳ ngắn hơn Chất lượng lập địa cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất rừng sau tỉa thưa vì đối với những lập địa xấu khả năng cung cấp dinh dưỡng có hạn nên cường
độ tỉa thưa cao cũng không giúp cây sinh trưởng nhanh hơn đáng kể Do đó tỉa thưa thường phải kết hợp với bón phân
Qua các thông tin nói trên cũng cho thấy ở một số nước đã có các khảo nghiệm về chọn loài cây trồng và kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn trên nhiều vùng khí hậu với các dạng lập địa khác nhau, nâng cao hiệu quả kinh tế và phòng hộ môi trường
Theo đánh giá của FAO (2002), hiện các cây nhập nội như Acacia, Eucalyptus, Gmelina, Hevea, Tectona, Casuarina, Pinus và Swiietenia chiếm hơn 75% diện tích rừng trồng ở khu vực Đông Nam Á Các rừng trồng thuần loài làm giảm đa dạng sinh học, là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề sinh thái khác như giảm mực nước ngầm, thoái hoá đất, sâu bệnh hại bùng phát, vv (Urijenhock,
1994, Kjaer, 1997; Cossalter and Pye-Smith, 2003) Do đó, trồng rừng theo hướng hỗn giao, tăng cường sử dụng các loài cây bản địa đang được khuyến khích rộng rãi Các loài cây bản địa lá rộng đã được quan tâm nghiên cứu ở rất nhiều nước, đặc biệt tại các nước Đông Nam Á, thuộc nhiều chương trình nghiên cứu lớn ở quốc gia và quốc tế, chẳng hạn như chương trình cây họ dầu của Treelink-Fospa, Face Foundation, Center of internatioanal forestry research Trong xu hướng hiện nay, các nghiên cứu và dự án trồng rừng, phục hồi rừng tập trung giải quyết các vấn đề theo hướng tiếp cận chuyển từ các hoạt động mang tính áp đặt với thiên nhiên sang quản lý phục hồi rừng theo hướng gần gũi thân thiện với thiên nhiên, lấy các điều kiện tự nhiên, thiên nhiên làm tâm điểm của vấn đề để mô phỏng, thực hiện và quản
lý bền vững (Sturm, 2004) Nhằm đạt được mục tiêu này, sẽ không gì khác ngoài việc sử dụng cây bản địa và quản lý bền vững các lâm phần hỗn giao cây bản địa lá rộng cho các mục tiêu lâu dài Mục tiêu này sẽ đạt được theo cách trồng mới cũng như phục hồi làm giàu rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh Vấn đề này đòi hỏi phải có đầy đủ các cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn liên quan đến đặc điểm sinh
Trang 33lý - sinh thái của từng loài cây riêng rẽ, trên cơ sở các phép phân tích định lượng sinh trưởng các đặc điểm sinh lý sinh thái cá thể (tốc độ tăng trưởng tương đối, tốc
độ đồng hóa thực, tỷ lệ diện tích lá, tỷ lệ khối lượng lá, phân tích đường cong sinh trưởng ) (Noggle và Fritz, 2002; Hegazy và cộng sự 2004); và các đặc điểm này phải được nghiên cứu trong mối tương tác và ứng xử với từng loài riêng rẽ cũng như với cả tổng thể quần thể Vấn đề này đã được tiến hành nghiên cứu tương đối đầy đủ và ngày càng chuyên sâu hoàn thiện hơn ở nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ…
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về sinh thái quần thể cây rừng
Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta Thái Văn Trừng (1978, 1999) [98, 99] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi
ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống
ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Rừng tự nhiên nhiệt đới là các kiểu rừng có cấu trúc sinh thái phức tạp nhất
về thành phần loài, tầng thứ và dạng sống thể hiện sự phong phú thông qua chỉ tiêu đa dạng loài Các chỉ tiêu đa dạng về loài của rừng tự nhiên là tỉ số hỗn loài (số loài/ số cây) Trong rừng tự nhiên Việt Nam tỉ lệ số loài biến động từ 1/5 đến 1/13 (nếu số cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 10cm trở nên trong 1ha bình quân là 500 cây thì số loài biến động từ 38 - 100 loài/ha) Cấu trúc tổ thành loài nghiên cứu thể hiện về tầm quan trọng sinh thái của mỗi loài trong quần thể, các chỉ tiêu định lượng về tổ thành loài thường được dùng là giá trị IV (Important Value) tính bằng % Giá trị này được tính bằng số cây (Ni/N), hay theo thiết diện ngang (Gi/G), hoặc tổng 2 chỉ tiêu này (Ni/N+Gi/G)/2 Các loài có giá trị IV% > 5 được xếp vào các loài cây ưu thế
Trang 34Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc đường kính D1.3 được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các tác giả sau: Đồng Sĩ Hiền (1974) dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân
bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) [100, 101]
đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng, Trần Văn Con (1991) [26] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đăklăk, Lê Sáu (1996) [80] đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên, Bùi Văn Chúc (1996) [21] đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn Lâm trường sông Đà ở các trạng thái rừng IIA, IIIA1 và rừng trồng, làm cơ
sở cho việc lựa chọn loài cây,
Trần Văn Con (2009) [23], đánh giá về đa dạng thực vật và cấu trúc tổ thành thực vật tiến hành phân tích số loài cây gỗ (s/ha), số cá thể của mỗi loài (Ni/ha) và của lâm phần (N/ha), tính toán tỷ lệ hỗn loài (Hl), độ ưu thế (Dominance) được tính bằng giá trị quan trọng (IV%) theo Daniel Marmillod; chỉ
số đa dạng Shannon-Wiener (H')
Ngô Kim Khôi (2002) [56], đã đưa ra một số mô hình toán định lượng đa dạng sinh học loài như chỉ số Simpson, lý thuyết thông tin (H), hàm số liên kết Shannon -Wearer (H'), Chỉ số hợp lý (J) cho 7 trạng thái rừng ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
Lê Quốc Huy (2005) [50], đã đưa ra phương pháp luận nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học gồm các chỉ số sau: Chỉ số mức độ quan trọng IVI, Chỉ số
đa dạng sinh học loài H của Shannon and Weiner’s, Chỉ số mức độ chiếm ưu thế
-Cd, Chỉ số tương đồng - SI
Ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về sinh thái học quần thể thông qua các nghiên cứu cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ của rừng, thông qua những đặc điểm này để lựa chọn các loài cây trồng phù hợp để trồng hỗn giao trong các mô hình làm giàu rừng, trồng rừng bằng các loài cây bản địa
1.2.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh vật học
Hoàng Xuân Tý và cs (2003) [104] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh lý,
sinh thái của cây Huỷnh (Tarrietia javanica Blume) và cây Giổi xanh (Michelia
mediocris Dandy) Kết quả nghiên cứu cho thấy Huỷnh là loài cây mọc tự nhiên tại
Trang 35các khu rừng nghèo đến trung bình, mọc hỗn loại với nhiều loài cây lá rộng khác như Táu, Vạng, Gõ, Lim xanh, Trường, Trám (Trà My - Quảng Nam) hoặc Táu,
Gõ, Ươi, Chua (Quảng Bình) và luôn chiếm trên tầng cao của rừng Trong khi đó Giổi phân bố tương đối rộng hơn, có thể tìm thấy các “nhóm sinh thái” tạm thời hoặc ổn định của Giổi với một số loài cây lá rộng khác tại các khu rừng nhiệt đới
ẩm thương xanh như: Giổi, Kháo, Sồi, Chẹo tại Bắc Hà - Lào Cai; Giổi, Sồi, Re, Trám trắng ở Chiêm Hoá - Tuyên Quang; Giổi, Kháo vàng, Dung ở Ba Vì - Hà Tây; Giổi, Kháo, Gội, Re, Vối thuốc ở Hương Sơn - Hà Tĩnh; Giổi, Re, Trám, Xoay ở Kon Hà Nừng - Gia Lai Cũng trong nghiên cứu này, Hoàng Xuân Tý và cộng sự đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý của cây Huỷnh và cây Giổi Các chỉ tiêu này bao gồm nhu cầu ánh sáng (xác định bằng phương pháp giàn che Turskii với các mức che sáng hoàn toàn, che 20%, 40%, 60% và 80%), nhu cầu dinh dưỡng và nhu cầu về nước
Trong đề tài: “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học và biện pháp kỹ thuật gây
trồng cây Chò chỉ Parashorea chinensis tại vùng phòng hộ đầu nguồn sông Đà”,
Đoàn Đình Tam (2007) [82] đã bố trí các thí nghiệm về chế độ dinh dưỡng khoáng, nước và ánh sáng cho Chò chỉ giai đoạn vườn ươm Một số chỉ tiêu sinh lý và sinh trưởng của cây được nghiên cứu là cường độ quang hợp, cấu tạo giải phẫu lá, hàm lượng diệp lục, chiều cao, đường kính, RGR Kết quả cho thấy: lượng phân bón NPK thích hợp nhất cho Chò chỉ giai đoạn vườn ươm là 0,29gN + 0,95gP + 0,23g K; tỷ lệ che sáng thích hợp là 50% ánh sáng tự nhiên; và độ ẩm đất thích hợp là 25,25% Đồng thời, đề tài cũng đã đưa ra được bảng chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của Chò chỉ qua hình thái cây
Huỳnh Văn Kéo và cs (2003) [57] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý
sinh thái cây Hoàng đàn giả Dacrydium elatum ở vườn quốc gia Bạch Mã Các chỉ
tiêu sinh lý được sử dụng để nghiên cứu là: hàm lượng sắc tố, cường độ quang hợp, điểm bão hòa, điểm bù ánh sáng, hàm lượng nước trong lá, áp suất thẩm thấu trong mô lá, hàm lượng các chất khoáng trong lá Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hoàng đàn giả là cây chịu bóng ở giai đoạn còn non, nhưng giai đoạn trưởng thành là cây ưa sáng Hàm lượng sắc tố ở cây non cao hơn cây trưởng thành; trong khí đó cường độ quang hợp, điểm bù và điểm bão hòa ánh sáng ở cây trưởng thành lại cao hơn cây non Trong lá, tỷ lệ giữa nước tự do và nước liên kết < 1, áp suất thẩm thấu 15 - 21 atm Hàm lượng N ở mức trung bình, hàm lượng P ở mức khá, hàm lượng K ở mức thấp
Trang 36Nghiên cứu xác định một số đặc điểm sinh lý sinh thái một số loài cây rừng chủ yếu làm cơ sở xây dựng biện pháp thâm canh rừng đạt kết quả kinh tế cao và ổn định hệ sinh thái, Trương Thị Thảo (1995) [88] đã sử dụng phương pháp che sáng của Turskii và cải tiến để bố trí các thí nghiệm che sáng cho cây Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá là sinh trưởng chiều cao, đường kính và hàm lượng diệp lục của cây Kết quả chỉ ra rằng: Dầu nước, Sao đen, Ràng ràng và Giổi xanh thuộc nhóm cây ưa bóng Tỷ lệ che bóng thích hợp cho các loài này ở giai đoạn 1 năm tuổi là 100%, 75% và 50% (che 4 giờ đầu buổi sáng + 4 giờ cuối buổi chiều + 4 giờ giữa trưa, trong đó Giổi xanh không cần che 4 giờ giữa trưa)
Nguyễn Hữu Cường (2013) [30], nghiên cứu mô ̣t số đă ̣c điểm lâm ho ̣c loài
Pơ mu (Fokienia hodginsii) ta ̣i xã San Sả Hồ thuô ̣c Vườn quốc gia Hoàng Liên đã
nghiên cứ u về đă ̣c điểm hình thái loài pơ mu, đă ̣c điểm sinh thái, đă ̣c điểm cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, thành phần loài cây đi kèm, đă ̣c điểm tái sinh và đã đưa
ra kết quả: cấu trúc tổ thành tầng cây cao luôn có Pơ mu phân bố, có 14 loài cây đi
kèm với Pơ mu, tái sinh Pơ mu ở ngoài tán chiếm tỷ lê ̣ cao nhất với 50%
Trần Ngo ̣c Hải và cs (2016) [43], nghiên cứu mô ̣t số đă ̣c điểm loài Vù hương
(Cinnamomum balansae Lecomte) tại Vườn quốc gia Bến En thấy rằng: Vù hương phân bố rải rác ở khu vực núi đất đô ̣ cao từ 50m trở xuống, đi ̣a hình tương đối bằng phẳng, trong các tra ̣ng thái rừng IIb, IIIA1, IIIA2 Thành phần các loài khá đa da ̣ng nhưng Vù hương có số lượng ít nên tổ thành không cao, không có vai trò kiến ta ̣o hoàn cảnh rừng, không thấy xuất hiê ̣n Vù hương tái sinh ngoài tự nhiên vì vâ ̣y đây
là loài có nguy cơ bi ̣ đe doa ̣ cao, cần phải bảo tồn
Tóm lại: Các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của Kháo vàng, Dẻ đỏ và Giáng hương Nhưng còn một số vấn đề chưa được đề cập đầy đủ hoặc đã được đề cập đến nhưng chỉ là các khuyến nghị
mà chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể hoặc mới chỉ là các nghiên cứu từng phần Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái mới chỉ đưa ra được các đặc điểm về phân bố (điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đặc điểm về quần xã thực vật) Các thông tin về chỉ tiêu sinh thái quần thể như các đặc điểm về cấu trúc chức năng, dạng phân bố và vai trò, vị trí của các loài nghiên cứu trong dãy trật tự ưu thế gần như là một khoảng trống chưa được nghiên cứu sâu Trong khi đó, nghiên cứu tương tác cạnh tranh hoá học chưa được nghiên cứu, mặc dù đây là chỉ tiêu quan trọng để xác định mức độ phù hợp của các loài cây trong việc trồng rừng hỗn loài Những mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi nghiên cứu một cách toàn diện các chỉ tiêu sinh lý sinh thái trong đó phải quan tâm đến cả giai đoạn tuổi vườn ươm và quá trình tạo rừng
Trang 371.2.3 Những nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae)
Nghiên cứu xác định thành phần loài và phân loại họ Long não (Lauraceae) ở Việt Nam phải kể tới các tác giả Lecomte người Pháp (1907 - 1951) [115], Lê Khả Kế (1969 - 1976) [58]; Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [16]; Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2003) [46] đã vẽ hình và mô tả các loài thuộc họ Long não với 243 loài thuộc 18 chi Nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Long não là công trình của Nguyễn Kim Đào (2003) Tác giả đã nghiên cứu về đa dạng và phân bố của các loài trong họ Lauraceae ở các khu vực khác nhau trên cả nước Kết quả được tổng hợp và giới thiệu trong "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" với 265 loài thuộc 21 chi
Theo các tài liệu tập “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2003 [46] và "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" của Trần Hợp, 2000 [49] họ Long não có những đặc điểm như sau:
- Dạng sống: Các chi thuộc họ này thường gặp là những cây gỗ lớn (C parthenoxylon), gỗ trung bình hay gỗ nhỏ (Lindera aggregata), có khi cây bụi (L viridis), ít khi là dây leo ký sinh (chi Cassytha) Cây thường sống lâu năm
- Dạng thân: Thân gỗ, hiếm khi thân bò (chỉ có 2 loài Cassytha capillaris, C filiformis), thường có thân tròn, rất hiếm khi gặp thân vuông hay có cạnh Cây có
thể phân cành nhiều hay ít Nhánh và cành non thường tròn, không có lông, một số
có lông (L glutinosa), hay có cạnh (Endiandra firma) Lông bao phủ thường là màu
nâu xám, sôcôla, hoặc lông mịn lúc non Cành non màu xanh, thường có chồi ngủ đông Trong thân có tế bào tiết dầu thơm, vì thế vỏ thường có mùi thơm
- Lá: Thường gặp là lá đơn nguyên, mọc cách, ít khi mọc đối, kích thước lớn
nhỏ khác nhau, có nhiều hình dạng như hình bầu dục tròn dài (C magnificum), bầu dục dài (Persea mollis) hay thon hẹp (Beilschmiedia poilanei, L elongata); gốc lá
chót buồm hay hình tròn hoặc nhọn; chóp lá có thể nhọn hay tù hay dạng kéo dài; lá
thường chụm ở chót nhánh, mép lá nguyên; gân lá hình lông chim (L.umbellata) hay có 3 gân chính từ gốc giống như gân hình cung (C sericans) hay hệ gân đơn
giản; lá nhẵn hay chỉ có lông ở một mặt hoặc có lông ở cả 2 mặt, thường có màu nâu; không có lá kèm; lá có tế bào tiết dầu thơm
- Cụm hoa: Hoa nhỏ mọc thành cụm, hình chùy hay hình xiêm tán giả ở đầu
cành hay ở nách lá (C camphora, L.glutinosa) Hoa thường hướng lên ngọn
- Hoa: Thường gặp là hoa đều, mẫu 3, lưỡng tính, có khi đơn tính Bao hoa 6
mảnh, xếp 2 vòng Nhị 9 xếp 3 vòng, đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép ở gốc chỉ nhị, nhị thường mang 2 túi mật Bao phấn 2-4 ô, mở bằng lỗ nắp đậy Bộ nhụy thường
có một lá noãn (đôi khi 3 dính lại) tạo thành bầu 1 ô
Trang 38- Quả: Thuộc loại quả hạch hay quả mọng, thường có đài dính liền phát triển
thành dạng đấu dưới quả, hay đế hoa lớn bao quanh lấy quả trông như bầu dưới; quả thường không lông, xoan hoặc tròn
Nhiều loài trong họ Long não được khai thác và sử du ̣ng vào các mu ̣c đích khác nhau như:
- Nhóm cây làm thuốc: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Quế rừng (C iners),
Bộp lá xoan ngược (Actinodaphne obovata), Bời lời chanh (Litsea cubeba),…
- Nhóm cây cho gỗ: Quế bời lời (C polydelphum), Bời lời trung bộ (L griffithi var annamensis), Quế thanh (C cassia), Re hương (C balansae)
- Nhóm cây cho tinh dầu: khá phong phú vớ i một số đại diện như: Re cuống
dài (C longepetiolatum), Quế thanh (C cassia), Long não (C camphora), Bời lời nhớt (L glutinosa), Bời lời đắng (L umbellata), Re trắng mũi mác (Phoebe
lanceolata), Re hương (C balansae)…
Trần Ngo ̣c Hải và cs (2016) [43], nghiên cứu mô ̣t số đă ̣c điểm loài Vù hương
(Cinnamomum balansae Lecomte) tại Vườn quốc gia Bến En thấy rằng: Vù hương phân bố rải rác ở khu vực núi đất đô ̣ cao từ 50m trở xuống, đi ̣a hình tương đối bằng phẳng, trong các tra ̣ng thái rừng IIB, IIIA1, IIIA2 Thành phần các loài khá đa da ̣ng nhưng Vù hương có số lượng ít nên tổ thành không cao, không có vai trò kiến ta ̣o hoàn cảnh rừng, không thấy xuất hiê ̣n Vù hương tái sinh ngoài tự nhiên vì vâ ̣y đây
là loài có nguy cơ bi ̣ đe doa ̣ cao, cần phải bảo tồn
1.2.4 Những nghiên cứu về Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte.)
- Phân loại và đặc điểm hình thái: Kháo vàng có tên khoa học là (Machilus
bonii Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) Loài này còn có tên gọi khác là:
Kháo vàng thơm; Vàng giền; Rè bon; Kháo hoa vàng Cây cao 25 - 30 cm, thân thẳng, thuôn đều, đường kính ngang ngực đa ̣t 70-100cm, phân cành cao trên 5 m
Vỏ mỏng có mùi thơm, khi già vỏ bong vảy từng mảng
Lá đơn, mo ̣c cách, hình trứng ngược, đuôi hình nêm, lá có chiều rộng 4- 6cm, dài 14-15cm, mặt trên lá nhẵn màu xanh lục, mặt dưới lá phớt trắng, lá cũng
có mùi thơm Hoa tự viên chuỳ ở nách lá Hoa lưỡng tính, bao hoa có 6 thuỳ bằng nhau hình thuôn, ngoài có phủ lông ngắn Có 9 nhị, xếp thành 3 vòng, 6 nhị ngoài không tuyến, bao phấn 4 ô, ba nhị ở trong có hai tuyến ở gốc Quả hình cầu, đường kính 1-1,5cm, cánh đài tồn tại và xoè ra ở gốc quả Quả chín có mầu tím đen, ngoài phủ một lớp phấn trắng, cuống quả có mầu nhạt Bao hoa tồn tại khi quả rụng
(Nguyễn Thị Nhung, 2009) [64]
Trang 39- Phân bố: Ở Việt Nam phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh
thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai Kháo vàng thường sống trong các quần xã thực vật gồm Dẻ,
Trám, Re gừng, Lim xanh, Ràng ràng (Nguyễn Thị Nhung, 2009) [64]
- Đặc điểm sinh thái: Thích hợp ở nơi có khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa, lượng mưa bình quân 800-2500mm/năm, nhiệt độ bình quân 20 - 270C Trong vùng phân bố, cây Kháo vàng sinh trưởng tốt trên đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên đá mácma axit hoặc sa tha ̣ch, phiến thạch
Theo Nguyễn Thị Nhung (2009) [64], Kháo vàng là loài cây ưa sáng, thường mọc ở nơi đất có tầng dầy, nhiều mùn, thoát nước Cây chịu bóng nhẹ khi còn nhỏ, lớn lên ưa sáng, tốc độ sinh trưởng khá nhanh, mỗi năm tăng trưởng khoảng 1m về chiều cao và 1cm về đường kính Tái sinh hạt và chồi tốt Thích
hợp trồng hỗn giao với mô ̣t số loài cây lá rô ̣ng khác nên phương thức làm giàu rừng bằng Kháo vàng triển vo ̣ng tốt
Khi viết về thảm thực vật của Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng tỉnh Quảng Ninh, Cổng thông tin Chi cục Kiểm Lâm Quảng Ninh cho rằng, Kháo vàng cùng với các loài cây khác như Re hương, Re gừng, Dẻ cau, Dẻ gai, Phay sừng, Thị đá, Nhội, … đã tạo nên tầng cây gỗ ưu thế sinh thái và là tầng chính của rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp phân bố ở độ cao <700
m - kiểu rừng chính trong khu bảo tồn, có chiều cao trung bình từ 10 - 15 m, độ khép tán ngang cao
- Giá trị sử dụng: Gỗ Kháo vàng giác lõi phân biệt, giác trắng, lõi có mầu
vàng nhạt, mịn thớ, khá cứng và nặng, tỷ trọng 0,7, xếp nhóm VI Gỗ có mùi thơm
và khá bền với mối mọt nên thường dùng để đóng đồ gia dụng như bàn, ghế, giường, tủ, dùng trong xây dựng, giao thông vâ ̣n tải, nguyên liê ̣u gỗ bóc dán la ̣ng
Vỏ cây Kháo vàng dùng để làm thuốc chữa bỏng và chữa đau răng rất tốt Nguyễn Thị Nhung (2009) [64]
Năm 1977, Bộ Lâm nghiệp [6] đã ban hành bảng phân loại tạm thời các loài
gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước cho 354 loài cây gỗ được chia thành 8 nhóm
gỗ cơ bản, trong đó Kháo vàng được xếp vào nhóm VI cùng với 68 loài khác, nhóm này cho gỗ nhẹ, màu gỗ nhạt, thường là những loài sinh trưởng nhanh, tiên phong
ưa sáng, chiếm tỷ lệ tổ thành cao trong các rừng phục hồi hoặc thứ sinh nghèo kiệt,
gỗ nhóm này có nhiều công dụng và có giá trị cao
- Chọn giống và tạo cây con: Theo Nguyễn Thị Nhung (2009) [64], cây lấy
giống phải là cây đạt 15 tuổi trở lên, sinh trưởng tốt, thân thẳng, tán rộng và đều,
Trang 40không bị sâu bệnh và đã có từ hai vụ quả trở lên Phải lấy hạt từ cây giống, từ vườn giống hoặc rừng giống Hạt làm giống phải có đường kính 1,2 - 1,4 cm, 1 kg hạt có
500 - 600 hạt, tỷ lệ nảy mầm trên 65% Kháo vàng ra hoa tháng 3 - 4, quả chín vào tháng 10 - 11, lúc chín vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng nâu, hạt có màu nâu vàng Thời vụ thu hái tốt nhất vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 Dùng sào có buộc ngoắc ở đầu để ngoắc từng chùm khi quả chuyển màu hoặc nhặt hạt khi quả chín rụng xuống Nghiêm cấm chặt cành ảnh hưởng đến năng suất vụ sau
Khi thu hái về cần loại bỏ tạp chất và quả nhỏ rồi ủ vào cát ẩm 3 - 4 ngày, sau
đó đãi sạch vỏ, đem gieo ươm ngay hoặc bảo quản Do hạt Kháo vàng nhanh mất sức nảy mầm nên khi thu hái và chế biến xong nên gieo ươm ngay, nếu chưa gieo ngay thì bảo quản trong cát vừa đủ ẩm hoặc bảo quản lạnh ở nhiệt độ dưới 50C nhưng thời gian bảo quản không quá 1 tháng vì hạt Kháo vàng nhanh mất sức nảy mầm
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [71], viết về bảo tồn nguồn gen cây rừng đã đưa ra bảng thông tin về tháng thu hái quả và số hạt/kg của một số loài cây rừng phục vụ bảo tồn nguồn gen, theo đó, Kháo vàng có số hạt/kg là: 240-260 hạt/kg; thu hái vào thời gian tháng 10 đến tháng 11 hàng năm
- Kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng: Kháo vàng có biên độ sinh thái rộng nên
có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, có thể trồng ở miền Nam nơi
có lượng mưa bình quân 1500 - 2500mm/ năm, nhiệt độ bình quân 20 - 27oC Kháo vàng ít kén đất, có thể trồng ở các loại đất còn tính chất đất rừng, thích hợp với các loại đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên đá mác ma axit hoặc sa thạch, phiến thạch,… đất có hàm lượng chất dinh dưỡng nghèo đến trung bình
Theo Nguyễn Thị Nhung (2009) [64], mật độ trồng thích hợp là 1100 cây/ha,
cự ly 3m x3m, có thể trồng mật độ 1330 cây/ha, cự ly 3mx2,5m hoặc 1660 cây/ha,
cự ly 3mx2m Trồng thuần loài có thể tận dụng trồng xen cây nông nghiệp 2 năm đầu bằng các biện pháp nông lâm kết hợp hoặc trồng cây cốt khí phù trợ nhằm cải tạo đất Trồng bằng cây con có bầu, khi trồng cần rạch bỏ vỏ bầu, lấp đất đến cổ rễ
và lèn chặt đất, chú ý cây phải đặt thẳng đứng ở giữa hố
Cây Kháo vàng có thể trồng hỗn giao với nhiều loài cây bản địa như Re gừng, Dẻ đỏ, Giẻ cau, Lim xanh, Xoan đào, Sồi phảng và có thể trồng hỗn giao theo hàng, dải với keo Hoặc trồng theo rạch khi trồng làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt hoặc cải tạo rừng phòng hộ kém hiệu quả
Đánh giá về thực trạng và kết quả nghiên cứu trồng rừng cây bản địa ở Việt Nam, Nguyễn Xuân Quát và Lê Minh Cường (2013) [75], về các loài cây bản địa đã được đề xuất cho trồng rừng theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp có 49 loài cây bản