LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tên đề tài:"Tìm hiể
Trang 1CÀ THỊ NGUYỆN
Tên đề tài:
"TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THÁI TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CHIỀNG HOA
HUYỆN MƯỜNG LA - TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Khoa: Kinh tế & PTNT Khóa học 2015 – 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2CÀ THỊ NGUYỆN
Tên đề tài:
"TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THÁI TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CHIỀNG HOA
HUYỆN MƯỜNG LA - TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Khoa: Kinh tế & PTNT Khóa học 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Ngọc
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tên đề tài:"Tìm hiểu vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Chiềng Hoa huyện Mường La - tỉnh Sơn La”
Có được kết quả này lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo Thạc sĩ Trần Thị Ngọc -Giảng viên khoa Kinh tế và phát triển nông thôn giáo viên hướng dẫn em trong quá trình thực tập Cô đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em những kiến thức lý thuyết và thực tế cũng như các kỹ năng trong khi viết bài, chỉ cho em những thiếu sót và sai lầm của mình để em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất Cô luôn động viên và theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người truyền động lực cho em, giúp
em hoàn thành tốt đợt thực tập của mình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các phòng, cán bộ UBND xã Chiềng Hoa đã nhiệt tình giúp đỡ em, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phục vụ cho bài báo cáo Ngoài ra, các cán bộ xã còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác, đó là những ý kiến hết sức bổ ích cho em sau này khi ra trường Đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này
Em cũng xin cảm ơn người dân xã Chiềng Hoa đã tạo điều kiện cho em trong thời gian ở địa phương thực tập
Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Sau nữa em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên em trong những lúc khó khăn
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2019
Tác giả
Cà Thị Nguyện
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân biệt Giới và Giới tính 5 Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 28 Bảng 4.2: Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng chính
của xã năm 2018 32 Bảng 4.3: Số lượng gia súc, gia cầm của xã Chiềng Hoa
giai đoạn 2016 -2018 33 Bảng 4.4: Lao động xã Chiềng Hoa chia theo giới tính
giai đoạn 2016 – 2018 35 Bảng 4.5: Tình hình chung của các hộ điều tra 37 Bảng 4.6: Cơ cấu phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng,
chính quyền và đoàn thể năm 2018 40 Bảng 4.7: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý điều hành sản xuất 41 Bảng 4.8: phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 2018 44 Bảng 4.9: Phân công lao động trong trong hoạt động nội trợ
và chăm sóc con cái 2018 46 Bảng 4.10: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 48 Bảng 4.11: Phân công lao động trong Hoạt động kinh doanh
hàng hóa và dịch vụ 2018 50 Bảng 4.12: Phân công lao động trong hoạt động
sản xuất lâm nghiệp năm 2018 51 Bảng 4.13: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng năm 2018 52 Bảng 4.14: Quan điểm của các hộ nông dân về các công việc
và vai trò phụ nữ trong gia đình 54 Bảng 4.15: Nhận thức của các hộ nông dân về việc học của con gái 55
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa về mặt học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 8
2.1.3 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 9
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 10
2.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ
trong phát triển kinh tế gia đình 14
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
2.2.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 16
2.2.2 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 23
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
3.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 25
Trang 6PHẦN 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 31
4.2 Thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn xã
Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La 37
4.2.1.Thông tin chung về các hộ điều tra 37
4.3 Thực trạng hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
trên địa bàn xã Chiềng Hoa 39
4.3.1 Hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội tại địa bàn xã 39 4.3.2 Thực trạng vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 41
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ
trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La 56
4.4.1 Thuận lợi 56
4.4.2 Khó khăn 56
4.5 Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ
xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong phát triển kinh tế hộ 58
4.5.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ 58
4.5.2 Nâng cao trình độ cho người phụ nữ 59
4.5.3 Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 60
4.5.4 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động cộng đồng 61
4.5.5 Trong việc thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình dự án phát triển của địa phương cần đặc biệt quan tâm đến vai trò, sự tham gia của phụ nữ 61
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 64
5.2.1 Đối với Nhà nước 64
Trang 75.2.2 Đối với các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương 64 5.2.3 Đối với người đối với phụ nữ dân tộc Thái 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã và đang đóng góp phần làm giàu cho xã hội hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể về lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội Phụ nữ cũng không ngừng làm phong phú nền văn hóa văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nơi nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và va trò của mình trong xã hội Suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Cuộc sống đổi mới đất nước của Đảng và Nhà nước, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vườn lên cuộc sống và hoàn thành xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, phụ nữ vừa làm con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát kinh tế gia đình mỗi phụ
nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam
Trang 10Chiềng Hoa là một xã miền núi, vùng sâu vùng xa của huyện Mường
La với mật độ dân số khá đông đúc Trong đó thì phụ nữ chiếm trên 55% tổng dân số và lao động nữ chiếm số đông, chủ yếu là lao động trong sản xuất trực tiếp trong lĩnh vực nông nghiệp Ngày ngày hộ làm việc tần tảo sớm hôm chăm sóc cho gia đình chăm lo cho con cái, thế nhưng vai trò của phụ nữ đến nay chưa được khẳng định rõ rệt.những quan niệm xưa cũ về họ vẫn được duy trì, phụ nữ chỉ cần chăm lo tốt cho chồng con và làm việc gia đình, việc đồng áng, trong khi trên lĩnh vực kinh tế - chính trị tiếng nói của họ vẫn chưa được khẳng định Đây là lý do để em nghiên cứu đề tài
Quá trình phát triển kinh tế ở vùng nông thôn nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung nhiều câu hỏi được đặt ra rằng: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong qua trình phát triển và nâng cao năng lực cho phụ nữ?
Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn xã Chiềng Hoa trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế địa phương và nâng cao vị thế của phụ nữ tại địa phương
Xuất phát từ tính cấp thiết trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Chiềng Hoa - huyện Mường La – tỉnh Sơn La”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trên địa bàn xã Chiềng hoa – huyện mường La – tỉnh Sơn La trong phát triển kinh tế hộ, từ đó phân tích những thuận lợi khó khăn và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ tại địa phương
Trang 111.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể góp phần là tài liệu tham khảo cho các cán bộ, ban ngành liên quan có thêm những căn cứ để xây dựng các chương trình dự án nhằm thúc đẩy vai trò phụ nữ trong sản xuất phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Giới tính, giới
Giới tính và giới là hai thuật ngữ đã trở nên quen thuộc Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người vẫn nhầm lẫn và tranh cãi về ý nghĩa của hai khái niệm này hoặc cho rằng cả hai không có gì khác biệt hoặc chỉ muốn nói đến hai nhóm người: phụ nữ và nam giới Sự không rõ ràng này thường dẫn đến những quan niệm không đúng về sự khác biệt giới dẫn đến bỏ qua sự đa dạng của vấn đề giới trong xã hội Do đó, co một sự phân biệt tách bạch giữa hai khái niệm này cần thiết, đặc biệt với những người làm công tác xã hội
* Giới tính: là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các nhà
sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính nam và nữ: nam giới và nữ giới
* Giới: Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò
của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học , nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mag liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể “giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ”
Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng cho xã hội Theo SEAGEP (2001) giới và giới tính được định nghĩa như sau:
Trang 13Giới tính: là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ không thể thay đổi được Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò cua nam và
nữ veef mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính Ví dụ như việc mang thai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính
Giới: là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nên văn hóa và thời gian, do vậy giới có hể thay đổi được Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc ngắn
Khác với vấn đề giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa nam giới và phụ nữ , khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội do các nhóm xã hội con người tạo da ra Những quan niệm về giới luôn nảy sinh từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội hội khác nhau (theo Nguyễn Đức Truyến và Nguyễn Thị Nguyệt Minh,2000) Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau giữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi thực hiện so sánh các nền văn hóa, giữa các tầng lớp xã và các nhóm dân tộc trong cùng một nền văn hóa, hoặc thay đổi theo thời (theo Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An, 2002)
Bảng 2.1 Phân biệt Giới và Giới tính
Giới
Giới mô tả chúng ta thể hiện nam tính và nữ
tính
Giới là:
- Được xây dựng bởi nên xã hội: nó là những
vai trò, trách nhiệm và hành vi mong đợi ở
nam và nữ trong một văn hóa hoặc xã hội cụ
thể
- Văn hóa: những yếu tố của giới khác nhau
giữa các nền văn hóa và bên trong các nền văn
hóa
- Những vai trò của giới là được học tập:
chúng phát triển và thay đổi theo thời gian
Giới tính
Giới tính mô tả chúng ta là nam hay
nữ Giới tính:
- Sinh học: đó là những đặc tính thể chất đã có từ khi chúng ta sinh ra
- Phổ biến: những đặc tính về tình dục giống nhau trên toàn thế giới, nam giới có dương vật và phụ nữ có âm đạo ở tất cả các nước
- Bạn được sinh ra với giới tính của bạn: điều này không thể thay đổi
Trang 142.1.1.2 Đặc trưng, nguồn gốc, sự khác biệt về giới
* Đặc trưng cơ bản về giới
- Do dạy và học mà có
- Đa dạng ( khác nhau giữa các vùng miền )
- Luôn biến đổi
- Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới
Trong gia đình, bắt đầu từ từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử và dạ
dỗ khác nhau tùy theo nó là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, trang phục, hành vi, cách ứng xử mà cha mẹ, gia đình, nhà trường và xã hội trông chờ ở con trai và con gái Đồng thời họ cũng hướng dẫn, dạy dỗ trẻ em trai và trẻ em gái theo những quan điểm riềng và cụ thể Đứa trẻ được dạy dỗ và phải luôn điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình sao cho phù hợp với khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới đã được quy định
Sau khi đã hình thành các đặc điểm như vậy, nhà trường và các tập quán xã hội lại tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể mỗi giới (ví dụ: nam thì học thêm các môn kỹ thuật, xây dựng, nữ học thêm các môn nữ công, may thêu )
Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật cũng có nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới (ví dụ: ưu tiên nữ trong các nghề y tá, thư ký, nam trong nghề lái xe, cảnh sát )
* Sự khác biệt về giới
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới,
họ sống thiên về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Vì vậy phân công lao động giữa hai giới có sự khác biệt Thiên chức của người phụ nữ là làm vợ, làm me, chăm sóc con cái và gia đình nên
họ gắn bó với con cái và gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới
Trang 15Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và nhanh nhẹ hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và công việc xã hội Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Hơn nữa do các tác động định kiến xã hội, hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thường ít có cơ hội tiếp cận cái mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm Mặt khác, phụ nữ thường bị ràng buộc bởi gia đình và con cái do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã hội và cơ hội thăng tiến trong công việc Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng cách giữa hai giới trong xã hội
2.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới thực tế
Là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ
nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng để thực hiện tốt vai trò được xã hội công nhận thì sẽ giúp họ làm tốt vai trò sẵn có của mình
Là những nhu cầu được hình thành từ điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là
sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể
* Lợi ích giới (nhu cầu giới chiến lược)
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch
về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng hướng bình đẳng
Trang 16Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị và văn hóa cụ thể
* Bình đẳng giới
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có được địa vị như nhau, có cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng cũng như lợi ích của sự phát triển
Bình đẳng giới không có nghĩa nam giới và phụ nữ phải như nhau, mà
là sự giống nhau và khác nhau giữa nam giới và phụ nữ phải được công nhận
- Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
2.1.2 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình
Có rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa thế nào là hộ có thể nêu một số quan điểm cần quan tâm khi nhận định hộ
* Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
Trang 17- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung
Theo một từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngô ngữ thì hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công
Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình,nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình
* Kinh tế hộ gia đình: Kinh tế hộ nông dân là “ các nông hộ thu hoạch
các phương tiện sống từ đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một tốc độ không hoàn chỉnh”
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội trong đó có các nguồn lực như : đất đai, lao động, tiền vốn, và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ , ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”
2.1.3 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đôi khi được coi như nhau nhưng thực chất chúng có những nét khác nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới sự phát triển kinh tế
Trang 18Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của vấn đề
lí luận kinh tế Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: “Tăng trưởng kinh
tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản, lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định”
Trong khi đó phát triển kinh tế được hiểu là: “Một quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định trong đó bao
gồ cả tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế” Phát triển kinh tế xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân bằng việc phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng lao động văn hóa
Các nước trên thế giới trong phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng đều phải quan tâm đến mục tiêu phát triển đó là:
- Tăng khả năng sẵn có và mở rộng việc phân phối các loại hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống như phương tiện, nhà ở, y tế và bảo vệ cho tất cả các thành viên trong xã hội
- Tăng mức sống tức là ngoài mục tiêu tăng thu nhập ra còn phải tạo thêm việc làm, cải thiện công tác giáo dục và chú trọng hơn đến giá trị văn hóa, nhân văn
- Mở rộng sự lựa chọn về y tế - xã hội cho các thành viên và các quốc gia bằng cách giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc về lệ thuộc không chỉ đối với những người và những quốc gia khác nhau mà còn đối với những áp lực của
sự nghèo đói
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm trên 55% trong tổng dân số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với công việc đàm nhiệm công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
Trang 19nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng do mang thai, sinh đẻ
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chúc vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69%
Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chưa đạt và có xu hướng giảm dần
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và
xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
2.1.4.1 Vai trò của người phụ nữ trong hoạt động sản xuất phát triển kinh tế gia đình
Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ đề quan trọng trong đời sống các gia đình Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình
Trang 20Cùng với chồng, người vợ cũng trở thành người tạo ra thu nhập chính.Ở nông thôn khi mà người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động chính, họ là chủ thể chính trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn Ở thành phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ Và khi người làm trong các công sở thì lương tháng của họ thì cũng đồng nghiệp nam Hiện nay thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người đóng vai trò quan trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ
Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt là các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại, phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
2.1.4.2 Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăn sóc các thành viên trong gia đình Nhiều quan niện cho rằng đây là những công việt vặt và không quan trọng Đây cũng chính là lí do mà vai trò và địa vị của người phụ
nữ bị hạ thấp, là cơ sở căn bản tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ Trong nền
Trang 21văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của đại gia đình, tính gia trưởng của đàn ông được đề cao Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là nhưng nhân vật phụ thuộc và vai trò của họ hết sức mờ nhạt Gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè lên vai của người phụ nữ và hầu như chưa có sự chia sẻ của người chồng, người nam giới
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch vụ và trang thiết bị trong gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so với nam giới
Trong việc nuôi dạy con cái, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn Phần lớn các công việc cho ăn, chăm sóc dạy học phần lớn do người mẹ đảm nhiệm, nhất là thời kỳ em bé còn nhỏ Sức khỏe và trình độ cũng như kiến thức của người
mẹ giúp cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn Phụ nữ cũng được giao trách nhiệm chăm sóc người gia, người bệnh, người tàn tật Họ phải làm việc vất
vả, thời gian dài nhưng không tạo thu nhập ở hoạt động này so với chồng, họ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn, thậm chí còn bị hiểu lầm bởi sự khó tính của người già, người bệnh
Rõ ràng vai trò của phụ nữ trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc nhằm nuôi dưỡng và tái sản xuất lao động của các thành viên trong gia đình Nhưng việc đồng thời phải thực hiện hai vai trò quan trọng là làm kinh tế và nội trợ trong gia đình đã làm cho họ tốn rất nhiều thời gian và trí lực Hiện nay do cho các quan hệ kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng quan hệ giới hầu như chưa có những chuyển biến kịp thời Do vậy phụ nữ thay vì được giải phóng, được chia sẻ trong xã hội hiện đại thì vô hình chung họ trở thành gánh chịu trách nhiệm và chịu nhiều thiệt thòi
Trang 222.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
2.1.5.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở nông thôn
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Á nên còn lưu giữ rất nhiều những phong tục tập quán kể cả những phong tục cổ hủ lạc hậu Ở nông thôn, nơi mà sự tiếp cận cơ chế thị trường rất chậm, văn minh thường đến sau cùng, nên những tư tương “trọng nam khinh nữ” có cơ hội cản trở phụ nữ nông thôn tham gia vào các hoạt động xã hội, người dân không dám mạnh bạo làm ăn, hạn chế tính năng động sáng tạo và đương nhiên cản trở vai trò của người phụ
nữ Đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số, nơi mà quan niệm về giới và vai trò của giới vẫn còn xu hướng đề cao vai trò của nam giới hơn Họ cho rằng chỉ
có nam giới mới có khả năng đảm đương được các công việc được xem là quan trọng của gia đình, cộng đồng và xã hội
Ngoài gánh nặng công việc gia đình người phụ nữ còn bị cộng đồng đối
xử bất bình đẳng, họ rất ít có cơ hội tham gia các hoạt động, hưởng thụ văn hóa tinh thần và tiếp cận với các dịch vụ thông tin Công việc chính của phụ
nữ được thừa nhận là chăm sóc con cái, nội trợ và luôn lệ thuộc vào chồng và con trai Còn các hoat động học tập, thi cử và quản lý đất nước là do nam giới chi phối
2.1.5.2 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của người phụ nữ
Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện nghe nhìn và sách báo đến người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi , trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội
mà họ phả giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vây, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ
Trang 23lệ này là 10% Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tao trong cả nước; chỉ
có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học là 0,016%, tỷ này ở nam giới là 0,077% ( gấp 5 lần so với nữ giới ) Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghè nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới
Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
2.1.5.3 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Do phụ nữ phải đảm nhiệm một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để
họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm bắt thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải các thông tin khác
Do vậy, khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ còn rất nhiều hạn chế
2.1.5.4 Yếu tố chủ quan
Một yếu tố không thể không nhắc đến vai trò của phụ nữ đó là nguyên nhân chủ quan do chính họ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Chính họ cũng cho rằng những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái là công việc của người phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về việc đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình, như vậy vô hình chung họ công nhận cái
Trang 24định kiến của xã hội Vậy nên, công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần, họ không có thời gian cho việc tham gia các hoạt động xã hội, họ tự đánh mất vai trò và vị trí của mình trong gia đình và xã hội
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại Có nhiều nguyên nhân cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn lâm vào vòng luẩn quẩn cua sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vây, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với
nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng có thêm nền văn minh nhân loại
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1.1 Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực vật chất, phụ nữ là một lực lương trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ con tái sản xuất ra con người để duy trì phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phu nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoa, xã hội, an ninh quốc phòng và ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi
Trang 25nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu để đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Đảng và nhà nước ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế,văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào qua trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ
nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định quốc phòng an ninh ở địa phương thay đổi diện mạo khu vực nông thôn ở Việt Nam
2.1.4.1 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất phát triển kinh tế gia đình – xã hội nông hộ
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nước có nền nông nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm 50%, nhưng họ là người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ
nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ
mạ, chăm sóc lúa, sát gạo
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ trong nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
Do sự gia tăng tự nhiên só người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80- 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó: lao động nữ chiếm 55%
Trang 26Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc là phải quay về nông thôn làm việc
Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào những năm 90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất đi nguồn tiêu thụ hàng hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
Ngoài ra, cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh nên nhiều hợp tác xã lâm thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nông
* Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ: sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ
nữ Bác nhấn mạnh: “ Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người” Người cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội Thế nên, người đã yêu cầu các ngành, các địa phương phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của người, Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với vấn đề phụ nữ như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ Chính trị “Về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới”, Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng khóa VII “về một số vấn đề công tác các cán bộ trong tình hình mới” Năm
1995, tại Hội nghị lần thứ IV của phụ nữ liên Hiệp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh ( Trung Quốc ), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cương lĩnh hành động vì
sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường
Trang 27quyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới Mỗi quốc gia xây dựng chiến lược của nước mình nhằm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh Tại Hội nghị này, chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu Tiếp đó, tiếp đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt Chiến lược và kes hoạch hành động quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: đói với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ của người vợ, người mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc
Cùng phụ nữ cả nước, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ cho phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ làm tốt vai trò, vị trí của mình
2.2.2 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
2.2.2.1 Về vấn đề sức khỏe
Sức khỏe là một tài sản hết sức quan trọng đối với con người, đối với phụ nữ thì sức khỏe lại càng quan trọng hơn, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình Những bà mẹ khỏe mạnh sẽ sinh ra những đứa con khỏe mạnh Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khỏe cho phụ nữ là phương tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con người Mặc dù những năm qua,
Trang 28Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, như nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “ Đến năm 1992 Việt Nam đứng hàng thứ hai về tỷ lệ người lớn biết chữ và là một trong những đứng đầu
về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong các nước ESEAN” Tuy nhiên, vẫn còn một số vẫn đề đặt ra về sức khỏe phụ nữ trong nông thôn
* Về sức khỏe thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt
Nam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu trên đã phản ánh thực tế: sức khỏe của phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc biệt là sức khỏe của phụ nữ các vùng nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,25 và 63,7% Điều tra mức sống dân cư lần 2 (2000) cho thấy: tỷ lệ đau
ốm của người dân khá cao, nông thôn cao hơn thành thị,phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%) Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi được xem là “sung sức” hơn cả như: 25-29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn cao hơn nam giới từ 10% đến 12% Theo chúng tôi sức khỏe của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau đây:
+ Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhảm khối công việc nhiều hơn nam giới Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn va căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thừơng lao động vất vả trong thời gian mang thái, trong thời này họ vẫn lao động bình thường , thậm trí vẫn lao động nặng trong những tháng cần chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi
+ Môi trường ô nhiễm: với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên đồng ruộng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hóa chất Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam có nhiều hồ, ao tù Đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông thôn ( tắm, giặt giũ ) đồng thời tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở
Trang 29+ Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là Việt Nam còn có hiện tượng tảo hôn Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng b ời nhiều nguyên nhân văn hóa - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ muốn nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muojn sẽ không có cơ hội nhận ruộng vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm ) Lấy chồng sớm dẫn đến hệ quả là bên việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con sự thiếu hiểu biết về dân số - kế hoạch hóa gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều
+ Dinh dưỡng không đảm bảo: năm 1995, một cuộc khảo sát quốc gia
về mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu protein đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng 1 (chỉ số
về khối lượng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Thiếu máu cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng Hb dưới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới Suy dinh dưỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến tai sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con cái Hiện nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng
* Sức khỏe về tinh thần
Đời sống văn hóa nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hóa, thiếu nơi vui chơi giải trí, hội hop sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và kinh tế, hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Đời sống văn hóa ở vùng nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn Do vậy, xóa bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hóa ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hóa nông thôn, làm điều cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông thôn
Trang 30về pháp luật, lối sống văn hóa Hơn nữa, còn ngăn chặn va loại bỏ những các tật xấu như: mê tín, cơ bạc, số đề, bói toán
2.2.2.2 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực hiện giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với thiếu hụt về cả năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh Sự nghiệp công nghiệp nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm được tích lũy theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một quan điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguông nhân lực nữ để phát triển nông thôn
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La Chiềng Hoa
- Thực trạng hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã - Phân tích những khó khăn, trở ngại trong việc phát huy vai trò của phụ nữ xã Chiềng Hoa trong phát triển kinh tế hộ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ xã Chiềng Hoa - huyện Mường La - tỉnh Sơn La trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
* Chọn địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu phải đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường, chủ yếu là người dân tộc Thái…để làm rõ được vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình Tôi chọn ra 3 bản đại diện để nghiên cứu: bản Pia, Nà Cưa, Huổi Lay
Trang 32e là sai số cho phép
N là tổng số hộ trong khu vực nghiên cứu
Sau khi lựa chọn vùng nghiên cứu, tiến hành chọ ngẫu nhiên ra 60 hộ nghiên cứu từ dành sách các hộ gia đình, đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm khá, trung bình khá, nghèo Kết quả như sau:
- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về vấn đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hộ
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 33vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: Qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra 60 hộ đã chọn, thu thập
thông tin bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp
Thu thập thông tin sơ cấp là các thông tin được thu thập trực tiếp thông qua các cuộc điều tra, phóng vấn các cán bộ, người lao động Thu thập các thông tin này giúp cho ta thấy được nguyên nhân của những tồn tại, và những các ứng phó của địa phương giúp ta phân tích rõ từ đó đề xuất kiến nghị và có những biện pháp kịp thời
* Phương pháp phỏng vấn vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi:
Thu thập các số liệu bằng hệ thống các câu hỏi đã được soạn thảo trước
- Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở
- Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin chung về hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về ngành nghề phân loại hộ và vốn vay của h ộ
3 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động sản xuất
4 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động cộng đồng
5 Nhóm thông tin về tiếp nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ
6 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động khác: Tái sản xuất, khinh doanh hàng hóa, dịch vụ
7 Nhóm thông tin về một số ý kiến đóng góp nhằm nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ
3.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
3.4.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Dựa vào số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp và phân tích, đánh giá
Trang 34vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Các số liệu định lượng được tổng hợp trên phần Exel
3.4.3.2 Phương pháp thông kê so sánh
Các số liệu được so sánh thông qua các năm, các nhóm hộ giàu, khá, trung bình, nghèo để thấy được sự khac nhau về thực trạng vai trò của người phụ nữ qua các năm cũng như trong từng nhóm hộ Từ đó có thể đưa ra nhận xét, đánh giá
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý:
Xã Chiềng Hoa là xã vùng III của huyện Mường La cách trung tâm huyện 29,61 km, đường xá đi lại khó khăn, dân cư sống thưa thớt, nằm dọc 2 ven bờ Sông Đà: phía Đông giáp với xã Chiềng Công, Chiềng Ân, phía Nam giáp với xã Pắc Ngà huyện Bắc Yên, phía Tây giáp với xã Mường Chùm, phía Bắc giáp với xã Tạ Bú, Chiềng San
Tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha; xã có 1.536 hộ và 7 233 nhân khẩu Trong đó nam: 3.831 người; Nữ: 3.403 người; có 4.013 lao động, có 21 bản Mật độ dân số bình quân 102 người/km2, gồm 2 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống (dân tộc Thái và dân tộc Mông)
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Chiềng Hoa có địa hình phức tạp, nằm dọc 2 ven bờ Sông Đà, bị chia cắt bởi các khe suối lớn, nhỏ, phần lớn là các dãy núi cao, độ dốc tương đối lớn, đất bạc màu, tầng canh tác mỏng, độ cao trung bình 700m so với mặt nước biển
4.1.1.3 khí hậu
Xã Chiềng Hoa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và được chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào tháng 6, 7, 8 Mùa khô
từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau cộng với gió tây khô nóng làm cho mùa này thiếu nước nghiêm trọng
+ Lượng mưa trung bình 1.500- 1.800 mm/năm
+ Lượng bốc hơi nước trung bình từ 750- 800 mm/năm Tổng số giờ năng bình quân 1.825 giờ/năm
4.1.1.4 Thủy văn
Xã Chiềng Hoa nguồn nước chính phục vụ cho đời sống, sinh hoạt và sản
Trang 36xuất gồm Dân cư sống thưa thớt, nằm dọc 2 ven bờ Sông Đà: phía Đông giáp với
xã Chiềng Công, Chiềng Ân, phía Nam giáp với xã Pắc Ngà huyện Bắc Yên, phía Tây giáp với xã Mường Chùm, phía Bắc giáp với xã Tạ Bú, Chiềng San
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
2.2.2 Đất xây dụng công trình sự nghiệp 5,45 0,077 2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 0,07 0,001 2.2.4 Đất sử dụng vào mục đích công cộng 96,74 1,364
2.4 Đất sông, ngòi, kênh, rạch,suối 368,42 5,195
(Nguồn: Ban địa chính xã Chiềng Hoa, 2018)
Trang 37Chiềng Hoa tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha, đất có hai loại đất chính sau: + Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi: Nhóm đất này có tầng đất dày 0,6 – 1,2m, thành phần cơ giới trung bình và nhẹ Đất có hàm lượng mùn và đạm ở tầng mặt khá nghèo lân nhưng kali trao đổi giàu Ở những nơi có độ dốc lớn thích hợp trồng cây lâm nghiệp, tạo rừng đầu nguồn, những nơi thấp hơn có địa hình thoải hoặc lượn sóng thì có thể trồng các cây ăn quả, rau cỏ có nguồn gốc ôn đới, các cây đặc sản như quế, hồi
+Nhóm đất đỏ vàng: Tầng đất dày trên 1,5m, thành phần cơ giới trung bình và nặng, thường có kết cấu cục, hạt, lớp đất mặt khá tơi xốp, hàm lượng mùn khá, đạm tổng số trung bình, nhưng các chất dinh dưỡng khác như lân và kali tổng số cũng như chỗ tiêu đều nghèo Đây là loại đất có diện tích lớn nhất
và là loại đất có tính chất tốt trong các loại đất đồi núi, hiện đang được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệp Thích hợp trồng các loại cây cao su, sở, cà phê và một số loại cây nông sản như: ngô, lạc, sắn, lúa nương Những địa điểm bị xói mòn đất nên trồng các cây lâm nghiệp.Ngoài hai loại đất chính ra trong xã còn có các loại đất khác như: Đất mầu nâu vàng trên mẫu chất phù sa cổ, đất feralít biến đổi do trồng lúa nước, số lượng không đáng kể nằm rải rác trên địa bàn xã Qua bảng 4.1 cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên chiếm 87,552% Là tiềm năng cho phát triển nông - lâm nghiệp của toàn xã
* Tài nguyên khoáng sản:
Trên địa bàn xã đang triển khai khoan thăm dò để tìm kiếm nguồn khoáng sản trong lòng đất chưa phát hiện nguồn khoáng sản lớn
* Tài nguyên nhân văn:
Tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha; xã có 1.536 hộ và 7 233 nhân khẩu Trong đó nam: 3.831 người; Nữ: 3.403 người; có 4.013 lao động, có 21 bản Mật độ dân số bình quân 102 người/km2, gồm 2 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống (dân tộc Thái và dân tộc H’mông)
Trang 38- Thành phần dân tộc:
+ Dân tộc thái: có 1,373 hộ; có: 6.326 người chiếm 87,46%
+ Dân tộc mông: có 163 hộ; có: 907 người chiếm 12,54%
Xã Chiềng Hoa là vùng đất cổ được hình thành và phát triển sớm trong lịch sử, trong quá trình đấu tranh và phát triển nhân dân các dân tộc xã Chiềng Hoa luôn luôn giữ những nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hóa truyền thống, của dân tộc mình, xong có sự hòa nhập giữa các nền văn hóa làm phong phú, đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc chung của nhân dân xã Chiềng Hoa Trên địa bàn xã không có làng nghề truyền thống Trình độ dân trí không đồng đều Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp Uỷ Đảng, Chính quyền xã Chiềng hoa, cán bộ và nhân dân đoàn kết, thống nhất
4.1.1.7 Tài nguyên du lịch
Mỗi mảnh đất là một nền văn hóa mang bản sắc riêng Xã Chiềng Hoa
là xã vùng sâu, vùng xa Nơi có công trình thủy điện kỳ vĩ, có lòng hồ mênh mang nước, có bản làng đậm đà bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em Cùng với tiềm năng du lịch thủy điện, du thuyền trên lòng hồ sông Đà Du lịch văn hóa cộng đồng dân tộc Thái có các lễ hội văn hóa truyền thống như:
Lễ hội Khuống, lễ hội Khắp Then, lễ hội Mừng cơm mới Đây chính là cơ
sở, điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ - du lịch
Trang 394.1.1.8 Nhận xét chung
Thuận Lợi: Xã Mường La có địa hình, khí hậu và đất đai phù hợp với việc phát triển các ngành nông – lâm nghiệp Cần phát triển nền kinh tế ổn định vững chắc, khai thác triệt để lợi thế của địa phương, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tập trung tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chú trọng đến việc đầu tư giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng, hiệu quả
Khó khăn: Là một xã miền núi địa hình bị chia cắt nhiều, trình độ dân trí không đồng đều, sản xuất nông nghiệp là chính, các ngành nghề chưa phát triển, nguồn vốn ít, hoạt động thương mại, dịch vụ chậm phát triển và còn đơn
lẻ, dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chậm, hàng năm lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất còn xảy ra ở một số vùng canh tác ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn xã
4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Bối cảnh thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2018 Chiềng Hoa là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Mường La Trình độ dân trí không đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Đời sống người dân trong xã phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông lâm nghiệp, xong việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế, trong khi giá vật tư nông nghiệp còn
ở mức cao, giá nhiều nông sản hàng hóa thiếu ổn định, đặc biệt giá thịt lợn hơi xuống thấp làm ảnh hưởng đến thu nhập của nhân dân Năm 2018 do ảnh hưởng của đợt mưa lũ đầu tháng 10 và cơn bão số 2 làm thiệt hại rất lớn về nhà cửa, hoa màu và tài sản của nhân dân ước thiệt hại khoảng 81,8 tỷ đồng xong dưới sự quan tâm lãnh đạo của Đảng ủy, HĐND – UBND xã, sự quyết tâm của các ban, ngành đoàn thể xã, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế – xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2018 đạt được những kết quả quan trọng cụ thể như sau:
Trang 40- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2018 đạt 52066 tấn
- Hướng dẫn và thực hiện các thủ tục hành chính cho người lao động đi làm ăn xa Đăng ký cho 1 công dân đi xuất khẩu lao động
- Tỷ lệ hộ nghèo là 41,28%
- Tỷ lệ hộ cận nghèo là 9,2 %
- Tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin đạt 95%
- Tỷ lệ người sử dụng nước hợp vệ sinh là 70%
- Tỷ lệ hộ được xem Đài truyền hình Việt Nam, nghe Đài tiếng nói Việt Nam 100%
- Tỷ lệ đàn gia súc, gia cầm đạt 85,5%
Bảng 4.2: Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng chính
của xã năm 2018 Chỉ tiêu Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Ban địa chính xã Chiềng Hoa, 2018)
Diện tích gieo trồng đạt kế hoạch NQHĐND xã giao , tuy nhiên do cơn
lũ lịch sử 9 – 13/8/2017 đã làm vùi lấp cây gỗ, ruộng vườn cuốn trôi nên diện tích cho thu hoạch giảm
Trong sản xuất nông nghiệp: Xác định cây Lúa là cây trọng tâm, cây Ngô là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế
- Về sản xuất lương thực: Hàng năm gieo cấy lúa hết diện tích, giống lúa lai cho năng suất cao được đưa vào sản xuất, tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2018 đạt 52066 tấn
- Về sản xuất ngô: Phát huy tiềm năng và điều kiện cụ thể của địa phương xác định cây ngô là cây cho nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân, hàng năm được nhà nước hỗ trợ vốn, kỹ thuật để cải tạo và trồng mới, hiện