1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiên trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu các công tác huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại xã dương thành, huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

86 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vấn đề trên, được sự cho phép của ban giám hiệu nhà trường và ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiên trạng và đề

Trang 1

ĐẶNG THỊ HỒNG

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ DƯƠNG THÀNH - HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên nghành : phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế &PTNT Khóa học : 2015 – 2019

THÁI NGUYÊN – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG THỊ HỒNG

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ DƯƠNG THÀNH - HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên nghành : phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế &PTNT Khóa học : 2015 – 2019 Giáo viên hướng dẫn : ThS Cù Ngọc Bắc

THÁI NGUYÊN – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô khoa kinh tế và phát triển nông thôn đã truyền đạt cho em những kiến thức về lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian học tập ở trường Thực tập tốt nghiệp là thời gian tốt nhất cho em củng cố lại kiến thức đã học áp dụng vào thực tế một cách đúng đắn, sáng tạo và mang lại hiệu quả nhất

Xuất phát từ vấn đề trên, được sự cho phép của ban giám hiệu nhà trường và ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn em

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiên trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu các công tác huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại xã Dương Thành, huyện Phú Bình , tỉnh Thái Nguyên ’’ Để hoàn thành đề tài ngoài sự nỗ lực của bản

thân, em xin chân thành sự giúp đỡ của:

Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã quan tâm, tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

UBND xã Dương Thành, một số hộ giađình tại các thôn đã hỗtrợ giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo hướng

dẫn Th.s CÙ NGỌC BẮC đã tận tâm hỗ trợ em về phương pháp nội

dung trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Do thời gian có hạn và trình độ bản thân còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự tham gia góp

ý kiến của quý thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên Đặng Thị Hồng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế của xã Dương Thành qua 3 năm

2016 - 2018 43

Bảng 4.2: Hiện trạng dân số và lao động của xã Dương Thành 44

Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất của địa phương 46

Bảng 4.4: Hiện trạng đường giao thông của xã Dương Thành 47

Bảng 4.5: Tình hình thực hiện các tiêu chí Nông thôn mới xã Dương Thành 56

Bảng 4.6 Tổng hợp sự đóng góp kinh phí tiền mặt xây dựng các công trình nông thôn của các hộ điều tra 58

Bảng 4.7 Tổng hợp sự đóng góp ngày công tham gia xây dựng công trình công cộng của các hộ điều tra 59

Bảng 4.8: Sự tham gia của người dân trong các công việc triển khai trên địa bàn xã, thôn của các hộ điều tra 60

Bảng 4.9 Người dân, cán bộ tham gia hiến đất xây dựng các công trình công cộng 61

Bảng 4.10.Tổng hợp số liệu về trình độ cán bộ xã, thôn 62

Bảng 4.11 Tình hình tập huấn cán bộ phụ trách XD NTM xã Dương Thành 63

Bảng 4.12 Nội dung các lớp tập huấn 64

Bảng 4.13: Đánh giá của người dân về công tác tuyên truyền, vận động, huy động của cán bộ xã, thôn 65

Bảng 4.14: Kết quả của công tác huy động 67

Trang 5

MTQG Mục tiêu quốc gia

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn NTM Nông thôn mới

PTNT Phát triển nông thôn

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

UBND Ủy ban nhân dân

VSMT Vệ sinh môi trường

VHXH Văn hoá – Xã hội

XĐGN Xóa đói giảm nghèo

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3.Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1.Ý nghĩa khoa học: 3

1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn: 4

PHẦN II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Tổng quan một số lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng 5

2.1.1 Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 5

2.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn 6

2.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn 8

2.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM 10

2.2 Một số cơ chế chính sách huy động sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam 13

2.2.1 Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng 13

2.2.2 Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng 14

2.2.3 Quy chế dân chủ cơ sở 15

2.2.4 Cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng trong chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH 17

2.2.5 Cơ chế huy động cộng đồng trong chương trình MTQG xây dựng NTM 19

2.3 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới 21

2.3.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới 21

Trang 7

2.3.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội 22

2.3.3 Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập 23

2.3.4 Phát triển Văn hoá - Xã hội - Môi trường 25

2.3.5 Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh 26

2.3.6 Các tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới 28

2.4 Một số bài học kinh nghiệm trên Thế giới và trong nước 28

2.4.1 Bài học quốc tế 28

2.4.2 Bài học trong nước 32

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 38

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 38

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 38

3.2 Thời gian thực tập 38

3.3 Nội dung nghiên cứu 38

3.4 Phương pháp nghiên cứu 39

3.4.1.Thu thập số liệu nghiên cứu 39

3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 40

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Dương Thành 41

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

4.1.3 Hiện trạng sử dụng đất 45

4.1.4 Đánh giá chung 50

4.2.Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của xã Dương Thành 51

4.2.1 Công tác chỉ đạo, điều hành 51

4.2.2 Thành lập tổ chức bộ máy xây dựng nông thôn mới 52

Trang 8

4.2.3 Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn 53

4.3.Tình hình thực hiện công tác huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu 57

4.3.1 Sự tham gia đóng góp của người dân xây dựng NTM 57

4.3.2 Đánh giá về cán bộ thực hiện công tác huy động nguồn lực 62

4.3.3 Các nội dung tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng NTM 67

4.3.5 Một số nguyên nhân dẫn đến việc huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM còn khó khăn 69

4.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động nguồn lực, vận động người dân trong xây dựng nông thôn 71

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện Nghị quyết

26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM giai đoạn 2010- 2020 và đến năm 2016 chính phủ ban hành quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020

Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình các địa phương đều nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng nhưng vai trò đó chưa được phát huy đầy đủ.Chưa có giải pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong khi đây chính là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công của chương trình xây dựng NTM

Dương Thành là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng huyện đã đạt được nhiều thành tích trong quá trình thực hiện chương trình Sau 5 năm thực hiện chương trình, sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản có bước tiến mới về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo

Trang 10

hướng tích cực, tỷ lệ hộ nghèo giảm, kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được củng cố, đầu tư xây dựng; diện mạo nông thôn từng bước thay đổi; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Mặc dù vậy, trong quá trình thực hiện chương trình đã bộc lộ một số tồn tại như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình XDNTM chưa đầy đủ; còn xuất hiện tư tưởng “trông chờ”, “ỷ lại” vào nhà nước Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban quản lý chương trình, ban phát triển thôn còn hạn chế, còn mang tính chung chung, chưa có sự phân công, phân nhiệm

rõ ràng trách nhiệm của các thành viên trong các tổ chức; do vậy chưa khơi dậy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và từng người dân trong xây dựng NTM; Công tác tuyên truyền, phổ biến; công khai các nội dung có vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hạn chế, chưa sâu rộng nên người dân chưa hiểu rõ Quy hoạch ở một số xã còn bất cập, nhất là quy hoạch về hệ thống đường GTNT, hệ thống kênh mương nội đồng còn chưa sát và đúng với thực trạng của xã; công tác

xã hội hoá nguồn lực còn chưa chủ động, nhất là việc vận động con,

em xa quê và chính người dân trên địa bàn Công tác kiểm tra, giám sát quá trình triển khai các nội dung, kết quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức, cơ quan chưa được quan tâm thực hiện một cách thường xuyên Để góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM trên

địa bàn xã Dương Thành em lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng

và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại xã Dương Thành huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên”

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá công tác huy động nguồn lực của người dân trong quá trình tham gia thực hiện xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn xã Dương Thành – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động nguồn lực trong việc xây dựng nông thôn mới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu

- Phân tích và đánh giá hiện trạng của công tác huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân của những tồn tại và vướng mắc đó

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

1.3.Ý nghĩa của đề tài

1.3.1.Ý nghĩa khoa học:

-Thông qua quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài là cơ hội cho

em học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp dụng những kiến thứ đã học vào thực tế, tích lũy những kiến thức thực tế khi tiếp xúc trực tếp với người dân, đồng thời bổ sung kiến thức còn thiếu và kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân

- Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân, nhằm phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra đề tài còn là cơ hội để em được nghiên cứu tìm hiểu về tình hình kinh tế xã hội phát triển cơ sở hạn tầng nông

Trang 12

thôn tại địa phương Từ đó có được cơ sở để so sánh sự phát triển của địa phương với các xã khác trong khu vực theo tiêu chuẩn nông thôn mới

- Rèn luyện kĩ năng xây dựng đề án phát triển kinh tế xã hội Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới

1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn:

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Dương Thành có những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương

- Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá hiện trạng huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra cần giải quyết và tháo gỡ

- Giúp địa phương phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế yếu kém nhằm thực hiện tốt hơn chương trình xây dựng nông thôn mới để từng bước cải thiện đời sống nhân dân

Trang 13

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan một số lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng

2.1.1 Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng

2.1.1.1 Cộng đồng

Trong xây dựng NTM, nguồn lực cộng đồng được xem là những đóng góp về tiền của và công sức của người dân và cộng đồng, không chỉ cho các công trình công cộng của xã, thôn, mà còn cho chính các hoạt động phát triển sản xuất, chỉnh trang nơi ở của hộ gia đình

Khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau, đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: xã hội học, dân tộc học, y học Khái niệm cộng đồng thường dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và đặc tính xã hội ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ điển tiếng Việt giải thích: “Cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung,

ví dụ: Đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung, Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm

lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung [7]

2.1.1.2 Nguồn lực cộng đồng

Một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho

Trang 14

chính họ (Gord Cunningham, 2006) Nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau [11]:

- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên): Là các nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng Ví dụ: Đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…

- Các nguồn tài sản vật chất: Là các công trình được xây dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận)

- Các nguồn tài sản về con người: Gồm các kỹ năng, kiến thức

và năng lực của các thành viên trong cộng đồng

- Các nguồn tài sản xã hội: Mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin

- Các nguồn tài sản tài chính: Là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng

2.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn

2.1.2.1 Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn,

là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì:

- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình

- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương mà quá trình phát triển phải dựa vào đó

- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát triển

- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một

kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)

Trang 15

- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển

đi nơi khác

2.1.2.2 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng

Theo các phân tích ở trên thì vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn được xác định là rất quan trọng Các nguồn lực cộng đồng có thể huy động cho phát triển nông thôn cũng rất đa dạng Chính vì thế, những năm vừa qua, cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được thực hiện phổ biến ở nhiều chương trình, dự

án phát triển nông thôn trên thế giới

Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình dự án sử dụng phổ biến Mỗi chương trình dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ

sở hạ tầng ở khu vực nông thôn…

Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều tranh luận, đó là cách hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng” Có ý kiến cho rằng, ở các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông thôn là rất quan trọng do phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất nhiều tổ chức khác nhau áp dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã được thực hiện tại các quốc gia này Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được tạo ra từ phía bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu - phát triển) chứ bản

Trang 16

thân cộng đồng không tự tổ chức phát triển Điều này tạo đặt ra vấn đề

là “sự tham gia” hay “dựa vàocộng đồng” nằm ở đâu? Nhiều câu hỏi

cũng được đặt ra về sự bền vững của những tác động phát triển này cũng như câu hỏi về việc cộng đồng có được tăng cường sức mạnh để

tự ra quyết định của mình hay không

Cũng có nhiều câu trả lời cho những tranh luận trên, trong đó đáng chú là khái niệm phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng

do Jody Kretzmann và John McKnight (1993) đưa ra Đây là một cách tiếp cận phát triển cộng đồng đề cao việc sử dụng những kỹ năng và sức mạnh đã và đang hiện hữu ngay trong cộng đồng nông thôn hơn là

việc lôi kéo, trông chờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài Cụm từ “dựa vào cộng đồng” ở đây đề cập đến tính chủ động, tự phát triển, trong đó

khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tạo ra sự tiến triển cho chính bản thân họ (capacity-driven), đối lập với cách tiếp cận truyền thống là dựa theo nhu cầu (needs-driven) mà đã khiến cho cộng đồng phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài

2.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Trong phát triển nông thôn có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau Những năm gần đây khái niệm phát triển nông thôn có sự

tham gia được sử dụng phổ biến trên thế giới (participatory rural development) Hai tác giả Cohen và Uphoff (1979) cho rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển, và hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như vậy”

Các lĩnh vực tham gia thay đổi tuỳ theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kỳ mục tiêu nào và không được bỏ qua Cohen

Trang 17

và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của sự tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) Ra quyết định; (2) thực hiện; (3) hưởng lợi; (4) đánh giá

Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin (1987) nhận thấy dự án có

3 pha và 5 hình thức tham gia là: (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế); (2) thực hiện (thực hiện và thiết kế lại); (3) bảo dưỡng

Khung phân tích Cohen và Uphoff có mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế

Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan (1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: Đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định

- Tham gia đóng góp: Theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh

đến sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án Ví dụ như các dự án

về y tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn trong sự tham gia và thực sự là cơ sở để thành công

- Tham gia tổ chức: Đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm

vi của lý thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Rất ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ

Trang 18

không đồng ý về bản chất và phát triển của sự tổ chức Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức mà sẽ dùng như là phương tiện cho

sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như HTX, Hội nông dân… Hay các tổ chức này xuất hiện và tự

cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia Cán bộ phát triển nhìn nhận có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức

- Tham gia trao quyền: Khái niệm về sự tham gia như là sự áp

dụng trao quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi hơn trong những năm gần đây Tuy nhiên, đó là một khái niệm khó định nghĩa

và gây ra nhiều cách giải thích khác nhau Một số coi trao quyền là sự phát triển các kỹ năng và khả năng giúp người dân nông thôn quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức, dịch vụ phát triển hiện có, một số khác lại coi đó là cơ bản và cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc mà họ cho rằng cần thiết cho sự phát triển của mình [12]

2.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

2.1.4.1 Cơ chế, chính sách phát triển nông thôn:

Cơ chế được hiểu là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện Ở Việt Nam, từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa

như là những quy định về quản lý Trong cuốn “Ba bàn tay: Thị trường, nhà nước và cộng đồng - ứng dụng cho Việt Nam”, tiến sỹ Đặng Kim Sơn nói đến cơ chế như là “một công cụ, phương pháp, giải

Trang 19

pháp để đạt mục tiêu điều chỉnh quan hệ xã hội của các tác nhân trong xã hội”

Ngày nay, từ “cơ chế” thường đi đôi với từ “chính sách”, thể

hiện những biện pháp của nhà nước để tác động tới xã hội (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ tiền tệ, các công cụ quản lý hành chính khác, các công cụ kinh tế) Chính sách chính là động lực được nhà nước hỗ trợ, cho phép hoặc cấm đoán

Như vậy, “cơ chế, chính sách” nhấn mạnh đến nguyên tắc, cách làm, luật chơi và các quan hệ ứng xử giữa các tác nhân “Cơ chế, chính sách” được thiết lập bởi các quy định chính thức (quy tắc,

luật pháp, hiến pháp) hoặc không chính thức (quy tắc ứng xử, các hành vi đạo đức tự áp đặt) với các đặc tính buộc phải tuân thủ theo

Đối với phát triển nông thôn, nói đến “cơ chế, chính sách” cần quan tâm đến vai trò của Chính phủ và các tổ chức liên quan trong

phát triển nông thôn Trong tài liệu “Chương trình Phát triển nông thôn” của Chính phủ xuất bản năm 1996 có đề cập: Phát triển nông

thôn là một công tác phức tạp, nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân, của tất cả các tổ chức cũng như sự hỗ trợ của nhà nước; phát triển nông thôn có sự hợp tác giữa Chính phủ và nhân dân; phát triển nông thôn là công việc của chính người dân nông thôn với sự giúp đỡ tích cực của Chính phủ

Vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là vai trò lãnh đạo Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan, tổ chức và các lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn to lớn này Việc xây dựng cơ chế chính sách cho xây dựng NTM cũng chính là một vai trò của Chính phủ [12]

2.1.4.2 Nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

Trang 20

Trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã” do Bộ

NN&PTNT xuất bản tháng 8 năm 2010, “nguồn lực cộng đồng” trong xây dựng NTM gồm:

- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục

vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn NTM; cải tạo lại vườn

ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp

Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nguồn lực” hay “nội lực” của cộng đồng chính là những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng NTM bằng các nguồn lực khác như: đất đai, các tài sản khác (nguyên vật liệu, cây cối, hoa màu, công trình), trí tuệ, năng lực, sự tham gia ý kiến hoặc các mối quan hệ xã hội mà người dân có được để tạo ra sự phát triển chung cho cộng đồng [14]

2.1.4.3 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng NTM

Căn cứ các lý luận và định nghĩa đã phân tích ở trên, trong phạm vi đề tài này, cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng NTM là những cơ chế phát huy sự tham gia (tham gia đóng góp, tham gia trao quyền, tham gia tổ chức…), trên quan

Trang 21

điểm tiếp cận dựa vào nội lực cộng đồng, để phát huy vai trò chủ thể

và sức mạnh của cộng đồng, phục vụ cho các lợi ích chung của cộng đồng, hướng tới đạt mục tiêu xây dựng thành công mô hình NTM

2.2 Một số cơ chế chính sách huy động sự tham gia của cộng đồng

ở Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước phải lấy dân làm gốc Gốc có vững, cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Người cũng rất tâm đắc với câu nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong” Lời dạy của Bác khẳng định sức mạnh

to lớn của nhân dân không chỉ trong bảo vệ tổ quốc, mà còn trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Xác định vai trò quan trọng của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã

có nhiều chủ trương, chính sách với phương châm chủ đạo: “Của dân,

do dân, vì dân”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nhà nước

và nhân dân cùng làm”, “lấy dân làm gốc”…[11]

Liên quan đến công tác huy động sự tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển nông thôn ở Việt Nam, có một số cơ chế chính sách đáng chú ý sau đây:

2.2.1 Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng

Ngày 16 tháng 04 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 24/1999/NĐ-CP về quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn

Nghị định xác định rõ một số vấn đề sau:

- Việc huy động các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) phải do nhân dân bàn bạc và quyết định trên cơ sở dân chủ, công khai, quyết định theo đa số

Trang 22

- Mức độ huy động đóng góp của nhân dân, mức miễn, giảm cho các đối tượng chính sách xã hội do nhân dân bàn bạc và quyết định căn cứ vào thu nhập bình quân và khả năng đóng góp của nhân dân trên địa bàn

- Việc huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân, quản lý và

sử dụng các khoản đóng góp đó để xây dựng CSHT của xã được thực hiện theo phương thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

- Các xã thành lập Ban giám sát công trình để giám sát quá trình huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân Các thành viên của Ban giám sát do nhân dân bàn và quyết định cử ra trong số đại diện hộ gia đình trong xã

- Hình thức huy động đóng góp của nhân dân có thể bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động

- Việc thi công công trình phải ưu tiên sử dụng lao động và lực lượng thi công tại xã, chỉ mời thầu và tổ chức đấu thầu với lực lượng thi công ngoài địa bàn xã trong trường hợp công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, tính chất phức tạp mà lực lượng của xã không đảm nhận được

Có thể thấy, Nghị định 24 đã nêu rõ vai trò của nhân dân khi được vận động tham gia đóng góp các khoản tự nguyện phục vụ xây dựng CSHT ở địa phương Khi đóng góp tiền của, sức lao động, người dân được quyền thảo luận mức đóng góp, được quản lý các khoản đóng góp của mình và được ưu tiên trực tiếp tham gia các hoạt động xây dựng CSHT từ nguồn lực mà mình đóng góp [11]

2.2.2 Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng

Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng được ban kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 04 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Đây là một hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã nhằm theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về

Trang 23

quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu

tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư… Một số nét chính là:

- Quyền giám sát đầu tư của cộng đồng là quyền mà người dân sinh sống trên địa bàn xã được giám sát các dự án đầu tư thông qua Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

- UBND các cấp có trách nhiệm xem xét, giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật mà cộng đồng yêu cầu

Ban giám sát của cộng đồng có trách nhiệm yêu cầu chủ đầu

tư, các nhà thầu báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin làm rõ những vấn đề mà cộng đồng có ý kiến

- Chủ đầu tư có trách nhiệm công khai hoá thông tin về quản lý đầu tư theo quy định của pháp luật, trả lời, giải trình, cung cấp các thông tin khi cộng đồng yêu cầu

Các quy định được nêu trong quy chế này hiện nay vẫn đang được áp dụng trong Chương trình MTQG xây dựng NTM Ở các xã điểm cũng đã hình thành Ban giám sát của cộng đồng để giám sát các hoạt động đầu tư xây dựng NTM Quy chế này nêu rõ vai trò giám sát của cộng đồng và trách nhiệm của các đơn vị liên quan Tuy nhiên, quy chế chưa đề cập đến năng lực giám sát của cộng đồng, đặc biệt đối với các công trình kỹ thuật phức tạp, hoặc thù lao cho cộng đồng khi tham gia giám sát Vấn đề đặt ra là liệu cộng đồng có đủ khả năng giám sát không, có được hướng dẫn, đào tạo để giám sát các hoạt động đầu tư tại địa phương không, và có sẵn sàng tham gia giám sát

mà không có hỗ trợ kinh phí không…[11]

2.2.3 Quy chế dân chủ cơ sở

Nhằm đảm bảo quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã, ngày

Trang 24

20 tháng 04 năm 2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh

số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Một số nội dung trong thực hiện dân chủ cơ sở là:

- Những nội dung phải công khai cho dân biết: Gồm 11 nội

dung như kế hoạch phát triển KT-XH, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách xãhàng năm; dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện; việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư; chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất… Hình thức công khai có thể bằng cách niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân, UBND xã, công khai lên

hệ thống truyền thanh, công khai thông qua trưởng thôn để báo đến nhân dân

- Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp là: Chủ

trương và mức đóng góp xây dựng CSHT, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

- Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định gồm hương ước, quy ước của thôn bản; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn; bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng

- Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan

có thẩm quyền quyết định gồm các dự thảo kế hoạch phát triển

KT-XH cấp xã; quy hoạch sử dụng đất; kế hoạch triển khai các chương trình, dự án; dự thảo đề án thành lập mới, chia đơn vị hành chính…

- Những nội dung nhân dân giám sát gồm tất cả các hoạt động

mà chính nhân dân được biết qua công khai, những hoạt động dân bàn

và quyết định, biểu quyết hoặc tham gia ý kiến

Trang 25

Như vậy, theo Pháp lệnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, người dân được biết công khai tất cả các chương trình, kế hoạch phát triển ở địa phương mình sinh sống, được tham gia bàn và quyết định, được tham gia góp ý kiến và được giám sát mọi hoạt động mà mình có quyền tham gia Pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, thôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã [11]

2.2.4 Cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng trong chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH

Chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH do Ban bí thư chỉ đạo thực hiện tại 11 xã điểm trong 3 năm (2009 - 2011), nhằm xây dựng các xã điểm trở thành mô hình thực tế về NTM, đồng thời thử nghiệm đổi mới một số cơ chế, chính sách không phù hợp với phương pháp tiếp cận xây dựng NTM dựa vào nội lực cộng đồng như cơ chế quản lý sử dụng vốn ngân sách hỗ trợ, cơ chế quản lý xây dựng cơ bản… Trên cơ sở đó tổng kết rút kinh nghiệm về nội dung, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy nhanh, đảm bảo tính nhân rộng của mô hình khi thực hiện chương trình MTQG trên phạm vi cả nước

Phương châm thực hiện mô hình NTM cấp xã là dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã điểm để phát huy sự đóng góp của người dân và cộng đồng Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở mô hình

tự đề xuất và thiết kế trên cơ sở bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định thông qua cộng đồng Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo,

tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần… Cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng

Trang 26

Để huy động các nguồn lực cho hoạt động thí điểm tại 11 xã điểm, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 08 tháng 09 năm 2009 hướng dẫn cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã điểm Thông tư xác định nguồn lực và ngày công lao động của nhân dân, cộng đồng trong xã là một trong những nguồn lực

để tổ chức thực hiện Đề án của Ban bí thư Việc quản lý vốn được thực hiện như sau: Đối với các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm từ 50% trở lên thì thực hiện theoquy định của Thông tư này; đối với các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn chiếm dưới 50% thì việc thực hiện quản lý vốn do cộng đồng và Ban quản lý xây dựng NTM xã tự bàn bạc thống nhất

Cơ chế huy động vốn thực hiện trên nguyên tắc huy động tối đa nguồn lực của địa phương; huy động sức dân (nhân lực, vật lực) đóng góp tự nguyện, tích cực để xây dựng làng quê của mình (với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm); huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp [11]

Điểm đáng lưu ý trong cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng NTM là:

- Các đối tượng (dự án) ngân sách trung ương hỗ trợ 100% gồm: Chi phí cho công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm

xã; xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm

y tế xã; xây dựng nhà văn hoá xã; hệ thống cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng NTM cho cán bộ xã, thôn, cán bộ HTX và chủ trang trại

- Các đối tượng còn lại, căn cứ trên cơ sở điều kiện KTXH, cũng như điều kiện tựnhiên của từng vùng, ngân sách trung ương sẽ

hỗ trợ một phần từ nguồn bổ sung có mục tiêu để thực hiện Đề án;

Trang 27

phần còn lại do ngân sách địa phương hỗ trợ, doanh nghiệp đầu tư, nhân dân đóng góp và huy động từ cộng đồng

- Mức hỗ trợ cho từng đối tượng (dự án) cụ thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định, đảm bảo nguyên tắc số tiền

hỗ trợ từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% tổng chi phí thực hiện của từng đối tượng của Đề án

Như vậy, trong Chương trình thí điểm xây dựng NTM của Ban

bí thư, Ngân sách Trung ương hỗ trợ 100% kinh phí cho 06 công trình

hạ tầng cấp xã (đường giao thông, trạm y tế, trụ sở xã, trường học, nhà văn hoá, công trình cấp nước hợp vệ sinh) và 02 hoạt động (công tác quy hoạch, công tác đào tạo kiến thức NTM cho cán bộ) Các nội dung khác trong Đề án NTM của mỗi xã, nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% Phần còn lại (30%) các địa phương huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp,… Trong thông tư không nêu rõ 30% này có thể quy từ việc hiến đất làm công trình hay công lao động hay tiền mặt [11]

2.2.5 Cơ chế huy động cộng đồng trong chương trình MTQG xây dựng NTM

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về chương trình MTQG xây dựng NTM, Bộ NN&PTN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 04 năm 2011 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM Nguyên tắc thực hiện cũng xác định phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để ra quyết định và tổ chức thực hiện

Trang 28

Trong hướng dẫn của Thông tư 26 không chỉ rõ các bước huy động nguồn lực cộng đồng hay cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, chỉ có một số nội dung đề cập đến vai trò tham gia của người dân và cộng đồng là:

- Trong nội dung về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý NTM xã có xác định Ban quản lý xã có nhiệm vụ tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện, giám sát các hoạt động thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã

- Ở cấp thôn, cộng đồng thôn trực tiếp bầu Ban phát triển thôn Khi xây dựng NTM, Ban phát triển thôn tổ chức lấy ý kiến của người dân tham gia góp ý vào bản quy hoạch, bản đề án xây dựng NTM của xã; tổ chức vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua; tự giám sát cộng đồng các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn thôn

- Đề án NTM của xã bắt buộc phải được người dân, cộng đồng

và các đối tượng có liên quan tham gia, đóng góp ý kiến

- Đối với các dự án phát triển hạ tầng KT-XH: Chương trình khuyến khích người dân, cộng đồng tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng KT-XH trên địabàn xã Khi lựa chọn nhà thầu xây dựng CSHT, chương trình khuyến khích thực hiện hình thức giao cộng đồng dân cư hưởng lợi trực tiếp từ công trình, nhóm thợ, cá nhân trong xã có đủ năng lực thực hiện xây dựng

- Về vốn đầu tư cho chương trình, ngoài vốn ngân sách và các nguồn vốn tín dụng, doanh nghiệp, còn có các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã, các khoản huy động từ cộng đồng Cơ chế huy động vốn xác định huy động tối đa nguồn lực của địa phương Tuy nhiên, chương trình MTQG chưa có Thông tư hướng dẫn về cơ chế tài chính (Thông tư 174/TT-BTC chỉ mới áp dụng cho 11 xã

Trang 29

điểm), nên các địa phương chưa nắm được cách thức cụ thể trong việc huy động, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán vốn cho xây dựng NTM

2.3 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu của chương trình:

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật

tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa [14]

Một xã đạt NTM thì cần phải đạt những tiêu chí sau:

2.3.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định thành công của chương trình xây dựng NTM Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, xây dựng quy hoạch NTM có 7 bước gồm:

Bước 1 Xác định nội dung quy hoạch: Quy hoạch NTM là quy

hoạch không gian và quy hoạch hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, bao gồm: Quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp với thời hạn 10 - 15 năm

Bước 2 Quy trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch: Do UBND

xã làm chủ đầu tư và trình UBND huyện phê duyệt quy hoạch

Bước 3 Công bố quy hoạch: Hồ sơ công bố quy hoạch gồm quyết

định phê duyệt quy hoạch, báo cáo thuyết minh, các văn bản pháp

lý liên quan

Bước 4 Cấp giấy phép xây dựng tại xã: Sở Xây dựng có thẩm

quyền cấp phép công trình của tổ chức được xây dựng ven quốc lộ, tỉnh lộ UBND huyện cấp phép xây dựng của các tổ chức xây dựng tại

Trang 30

xã UBND xã cấp phép xây dựng nhà ở của dân theo quy hoạch được phê duyệt

Bước 5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: UBND xã thực hiện

chức năng kiểm tra, giám sát trực tiếp hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng trên địa bàn mình quản lý Quyết định xử lý theo quy định của pháp luật

Bước 6 Hồ sơ quy hoạch xây dựng NTM: Hồ sơ quy hoạch

chung gồm bản vẽ với sơ đồ vị trí xã và liên hệ vùng, tỷ lệ 1/5.000 - 1/10.000 thể hiện liên kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng, các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của xã Định hướng phát triển điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp được lập theo tỷ lệ 1/5.000 Bản vẽ định hướng hạ tầng kỹ thuật, kể cả thuỷ lợi và giao thông nội đồng…

Bước 7 Kinh phí lập quy hoạch xây dựng: Định mức chi phí lập

quy hoạch chung NTM từ 80 - 115 triệu đồng tuỳ theo quy mô dân số mỗi

xã Chi phí lập quy hoạch chi tiết trung tâm xã và từng điểm dân cư trên địa bàn xã là 8,5 triệu đồng/ha Chi phí lập quy hoạch chi tiết hệ thống thuỷ lợi, giao thông nội đồng cho mỗi xã khoảng 10 - 15 triệu đồng

2.3.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội

Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới là nông thôn có một bộ mặt đổi mới, trong đó xây dựng cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống cho người dân Đối với cơ sở hạ tầng như đường giao thông: liên xóm, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thống, hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu

Trang 31

tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu của đời sống

và sản xuất

Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất như hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân

cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế

là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường

Xây dựng NTM không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển Tuy nhiên, cần phải xác định rõ quy mô và mức độ phục vụ của các công trình an sinh xã hội

để đảm bảo các công trình đó có quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng

2.3.3 Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập

Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản

để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xã hội được thực hiện Sau khi đã có thu nhập bảo đảm cuộc sống, người dân mới có điều kiện xây dựng những công trình phục vụ đời sống cho gia đình họ và đóng góp cho sự phát triển chung

Trang 32

Trong các nội dung xây dựng NTM thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá là quan trọng nhất Tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng có điều kiện để sản xuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuất hàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phương nào có điều kiện phát triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá và cần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại để tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng NTM

Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bước giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương trong xây dựng NTM cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và ngành nghề Trong những năm qua, công tác khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư đã được triển khai mạnh mẽ và thu được nhiều kết quả, nhưng công tác khuyến công còn là những lĩnh vực tương đối mới mẻ, chưa được triển khai nhiều trên địa bàn nông thôn Có điều này là do bản thân ngành nghề nông thôn, hoạt động kinh doanh trên địa bàn nông thôn nói chung còn rất hạn chế Để có thể đẩy mạnh khuyến công thì các địa phương phải có ngành nghề và nhiều người hoạt động ngành nghề (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ) Thông qua hoạt động khuyến

Trang 33

công, các xã xây dựng nông thôn mới có thể phát triển nguồn lực con người để từ đó không những nâng cao trình độ nhiều mặt nhất là phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các ngành nghề truyền thống có sự kết hợp bổ xung các công nghệ mới phù hợp với tiến trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn

2.3.4 Phát triển Văn hoá - Xã hội - Môi trường

Việc phát triển văn hoá là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, giải phóng sức tư duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính người dân và cho cộng đồng Giải phóng tư duy trí tuệ được xem là sức mạnh nội sinh của cộng đồng cư dân nông thôn trong công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung

và xây dựng NTM nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hoá khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại

là mẫu người nông dân mới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn ở nước ta

Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn Chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có những nội dung thiết thực trong việc xây dựng con người vừa có trình độ chuyên môn vừa có văn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài Trong xây dựng NTM, không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng

mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tính thiết thực và được cộng đồng tham gia Do đó xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội luôn luôn phải đi đôi với những nội dung của những hoạt động này

Địa phương xây dựng NTM cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng

Trang 34

con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều kiện thiết yếu để phát triển nông thôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng để tăng trưởng một cách bền vững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường cũng là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp hơn, hơn nữa nếu có điều kiện kết hợp giữa bảo vệ môi trường với phát triển cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn còn tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái Trong nội dung giữ gìn và bảo vệ môi trường của xây dựng NTM, trước mắt đó là cuộc vận động về một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không có rác thải vứt bừa bãi, không

có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra các cánh đồng, ao hồ mà không được xử lý Tiếp theo là việc cả cộng đồng cùng tham gia đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh trong các xóm làng, xây dựng

hệ thống xử lý nước thải và thu gom rác thải Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống và là lá phổi xanh trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

2.3.5 Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh

Yêu cầu cấp thiết trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là xây dựng được hệ thống chính trị, xã hội ở địa phương thật sự trong sạch và vững mạnh là điều rất quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ tại địa phương về chuyên môn nghiệp vụ để có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của người dân Người nông dân giờ đây đang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình rất

Trang 35

cần có sự định hướng, có người dẫn dắt Để nông dân làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơn cho nông dân nâng cao trình độ về sản xuất, quản lý, thị trường…

Xây dựng hệ thống chính trị tại địa phương không thể không nhắc đến tính dân chủ ở cơ sở Đặc biệt sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM (trong đó tất cả những nội dung của chương trình xây dựng này đều cần có sự tham gia góp ý kiến cũng như

sự đồng thuận của cộng đồng) là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêu cuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, văn minh và hiện đại

Như vậy năm nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới

bao gồm:(1)Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch; (2) xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội; (3) phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; (4) phát triển văn hóa xã hội

- môi trường; (5) củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh tại cơ sở là năm yêu cầu cơ bản phải luôn được gắn kết với

nhau Trong quá trình xây dựng NTM cũng phải đánh giá xem một địa phương có khả năng xây dựng mô hình NTM hoặc đã trở thành một

mô hình NTM hay chưa? Tuy nhiên đây là vấn đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta nhìn chung còn nghèo và cơ

sở vật chất, khoa học kỹ thuật lạc hậu thì yêu cầu đồng thời phải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó khả thi Tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được

Trang 36

thay đổi cho phù hợp và đảm bảo để công cuộc xây dựng NTM theo chủ trương của Đảng thu được thắng lợi [14]

2.3.6 Các tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới

Tiêu chí để xây dựng mô hình NTM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm

2009 gồm 19 tiêu chí, được chia thành 5 nhóm cụ thể:

2.4 Một số bài học kinh nghiệm trên Thế giới và trong nước

2.4.1 Bài học quốc tế

Trên thế giới có nhiều chương trình phát triển nông thôn theo hướng tiếp cận dựa vào cộng đồng Một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài là:

2.4.1.1 Phong trào làng mới Saemaul Undong của Hàn Quốc

Chiến dịch Saemaul Undong của Hàn Quốc bắt đầu từ năm

1970 với mục tiêu nâng cao điều kiện sống của người dân nông thôn Chính phủ Hàn Quốc tập trung vào các dự án đem lại sức sống mới cho cộng đồng làng xã như sửa sang nhà cửa, mở rộng đường, xây

Trang 37

cầu, đường nội đồng, trung tâm cộng đồng, các cơ sở cung cấp nước, tăng thu nhập cho người dân thông qua trồng trọt để thu hoa lợi, thực hiện và duy trì chiến dịch xóm làng sạch sẽ và chiến dịch tiết kiệm, cải thiện chế độ ăn uống, thực hiện các chiến dịch chi tiêu thông minh, đọc sách, đào tạo… Các nội dung của Saemaul Undong gần tương đồng với chiến lược phát triển đồng bộ kinh tế - xã hội trong chương trình MTQG về NTM hiện nay ở Việt Nam Cách làm của Hàn Quốc, chủ trương hỗ trợ một phần nguồn vốn từ ngân sách, phần còn lại dựa vào sự tích cực và năng động của cộng đồng Người dân được chủ động quyết định nội dung ưu tiên cho phát triển và tự chịu trách nhiệm toàn bộ về thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình Mức hỗ trợ của nhà nước giảm dần song song với mức gia tăng các nguồn vốn do cộng đồng đóng góp Nhờ sự tích cực của cộng đồng cũng như chính sách hỗ trợ hợp lý của nhà nước, phong trào Saemaul Undong được đẩy mạnh, chỉ sau 4 năm thu nhập của người dân nông thôn đã cao hơn thành thị, hầu hết các xã đã có thể độc lập về mặt kinh tế

Một số bài học chính rút ra từ kinh nghiệm của chương trình Saemaul Undong của Hàn Quốc là:

- Chính phủ có một quyết tâm chính trị cao, đặt ra mục tiêu và thường xuyên dùng nhiều hình thức, chính sách để tác động, can thiệp, tạo điều kiện để đạt được các mục tiêu đó

- Saemaul Undong được phát động thành một phong trào rộng khắp toàn quốc, được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, quyết tâm tham gia thi đua Các cơ chế chính sách thực hiện giúp người dân phát huy vai trò, năng lực của mình Hình thức biểu dương, khen thưởng giúp các làng xã tích cực phấn đấu (làng nào làm tốt được hỗ trợ nhiều thêm, làng nào không đạt kết quả tốt sẽ không được nhà nước hỗ trợ)

Trang 38

- Cán bộ các làng được tập trung đào tạo, được trang bị đầy đủ nhận thức về trách nhiệm, vai trò của mình để dẫn dắt làng xã của mình xây dựng làng mới

- Nỗ lực của chính bản thân người dân Trong cái đói khổ, được

sự hỗ trợ một phần của nhà nước, họ càng quyết tâm lao động để vượt khó Họ không mang tâm lý trông chờ, ỷ lại sự đầu tư của nhà nước

mà xác định nếu không tự phát huy nội lực bản thân thì không thể thoát nghèo

- Cơ chế chính sách thực hiện Saemaul Undong của Hàn Quốc tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân phát huy vai trò làm chủ, tự bàn bạc, lựa chọn ưu tiên làm gì [13]

2.4.1.2 Phong trào mỗi làng một sản phẩm ở Nhật Bản

Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One Village, one Product – OVOP) hình thành và phát triển đầu tiên tại Nhật Bản Qua gần 25 năm, sự thành công và kinh nghiệm của phong trào đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên khắp Nhật Bản mà còn lôi cuốn rất nhiều các quốc gia khác quan tâm tìm hiểu và áp dụng (Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Malawi…)

Phong trào OVOP có 3 nguyên tắc cơ bản để thực hiện và phát triển: Hành động địa phương nhưng suy nghĩa toàn cầu;tựchủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Mỗi địa phương tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào OVOP là việc nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường Sau hơn 20 năm áp

Trang 39

dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu…

Phong trào OVOP được một nhóm nông dân ở thị trấn Oyama, quận Oita, Nhật Bản, khởi xướng từ những năm 60 thế kỷ trước “Hãy trồng mận và hạt để đi nghỉ ở Hawaii” là khẩu hiệu thúc đẩy người dân Oita hành động Sau mấy năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi sản phẩm đã tạo nên sự thành công lớn của HTX Oyama

Năm 1979, phong trào OVOP được quận Oita coi là chính sách phát triển nông thôn chủ yếu của quận Chính quyền quận đã có những

hỗ trợ về kỹ thuật, xúc tiến bán hàng và hệ thống giải thưởng cho những thực hành tốt nhất Quận cũng đã thành lập Viện nghiên cứu và thử nghiệm phục vụ OVOP; hỗ trợ cải tiến và phát triển sản phẩm; tổ chức triển lãm, hội chợ Oita; phát động cuộc vận động sản xuất và tiêu dùng địa phương; thành lập Công ty “Một làng, một sản phẩm Oita”; xây dựng trạm nghỉ dọc đường

Kinh nghiệm từ OVOP có thể áp dụng cho hoạt động xây dựng NTM ở Việt Nam tại những địa phương có làng nghề và có sản phẩm đặc sản Các cơ quan quản lý các cấp cũng đã có những hỗ trợ nhất định, nhằm giúp các địa phương phát hiện được thế mạnh của mình và tìm cách bán sản phẩm ra thị trường

Người dân ở Việt Nam có kỹ năng sản xuất khéo léo, tạo ra được nhiều sản phẩm độc đáo, nhiều đặc sản có giá trị cao, song chưa tham gia tốt trên thị trường, chưa có cách quản lý khoa học để sản phẩm có chất lượng tốt Mặt khác, trong nội bộ nhiều làng, do tập quán giữ bí quyết làng nghề nên chưa có sự chia sẻ Vì vậy, để khơi dậy năng lực và thúc đẩy người dân phát triển các ngành nghề của

Trang 40

mình, công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM cần lồng ghép giới thiệu những bài học kinh nghiệm hay trong nước và trên thế giới

2.4.2 Bài học trong nước

2.4.2.1 Chương trình xây dựng NTM cấp xã giai đoạn 2010 -2015:

Thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị, Ban kinh tế Trung ương cùng với Bộ NN&PTNT, các Bộ, ngành và địa phương bắt đầu triển khai xây dựng mô hình

điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” từ năm 2001 Chương trình được triển

khai tại 14 xã điểm của Bộ NN&PTNT (sau tăng lên thành 18 xã điểm vào năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình này được gọi là chương trình phát triển NTM cấp xã

Triển khai chương trình, Bộ NN&PTNT đã cùng Ban Kinh tế Trung ương soạn thảo và ban hành Đề cương số 185/KTTW-BNN ngày 7 tháng 5 năm 2001 về việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn (cấp xã) theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá Đề cương được gửi đến tất cả các tỉnh, thành phố kèm theo Chỉ thị số 49/2001/CT-BNN/CS ngày 27 tháng 4 năm 2001 của

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về xây dựng mô hình thí điểm phát triển nông thôn [4]

Chương trình được Bộ NN&PTNT xác định là một trong những chương trình trọng tâm năm 2001 và các năm tiếp theo, do vậy cần được tập trung chỉ đạo và có sự phối hợp của các đơn vị có liên quan trong toàn ngành

Một số kết quả chương trình đã thực hiện được là đào tạo cho cán bộ các xã điểm; triển khai quy hoạch cho 18 xã điểm; lồng ghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm

Ngày đăng: 29/04/2020, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Hữu Hồng (2008), Bài giảng phát triển cộng đồng, Đại học Nông Lâm Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Hữu Hồng
Năm: 2008
1. Báo cáo chính xây dựng NTM xã Dương Thành – Huyện Phú Bình – Tỉnh Thái Nguyên Khác
6. Chương trình thí điểm NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (2009-2011) Khác
9. Kinh nghiệm chương trình OCOP của tỉnh Quảng Ninh Khác
10. Kinh nghiệm xây dựng NTM huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 11. Chu Tiến Quang (2005), Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn, thực trạng và giải pháp Khác
13. Đặng Kim Sơn, Phan Sỹ Hiếu (2001), Phát triển nông thôn bằng bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul Undong) ở Hàn Quốc Khác
14. Bộ NN&PTNT (2009), Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã. II. Tài liệu Internet Khác
1. Alison Mathie, Gord Cunningham (2002) From clients to citizens: Asset-based community development as a strategy for community-driven development Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w